Như Nguyệt

Lượt đọc: 61 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
III

❊ ❊ ❊

Thôi, việc tống chung báo hiếu Thánh thượng đã xong, ta phải cáo từ, trở về động Giáp trước - Thân Cảnh Phúc nói với công chúa Động Thiên.

- Phụ hoàng vừa mới nằm xuống, hoàng gia đang trong cơn đau đớn, thiết tưởng phò mã cũng nên lưu lại đây, chờ cho mọi người khuây khỏa, rồi hãy trở về, sao nỡ vội ra đi như vậy - Động Thiên giọng khẩn khoản.

- Ta cũng muốn ở lại, nhưng không hiểu cái cung cách xử sự của triều đình ra làm sao nữa. Một người giỏi công việc trị nước như bà Ỷ Lan, thì không lập lên làm nhiếp chính, lại tôn một người không hiểu gì về chính sự như bà Thượng Dương lên cầm quyền, bà ta là người nhiều tham vọng, lại ưa xu nịnh, nếu bà nắm quyền trong tay, e rằng thiên hạ sẽ đại loạn. Ta là phận con rể, không nên can thiệp vào chuyện nội bộ của hoàng gia, lại là tù trưởng ngoài biên, không có quyền dự vào triều chính, lẽ ra không nên bàn ra tán vào chuyện quốc gia đại sự. Nhưng nghĩ rằng họ Thân nhà ta đã được các tiên đế thương tưởng, ba đời được kén làm phò mã, bổn phận ta là phải làm phên giậu vững bền cho triều đình ở biên giới, nên ta rất quan tâm đến những chuyện xảy ra trong triều, vì gốc có vững, ngọn mới xanh tốt được. Hiện nay người Tống vẫn như con hổ đói rình rập bên kia biên giới, chỉ chờ ta sơ hở là nhảy sang cắn nuốt. Chúng thường mang vàng lụa ra mua chuộc tù trưởng các khê động, chiêu dụ họ làm nội ứng cho chúng phản lại triều đình nếu ai không nghe theo thì chúng dùng sức mạnh uy hiếp. Trong tình hình này, nếu người cầm quyền không có chính sách sáng suốt và cứng rắn, e rằng họ sẽ vì tham lợi và sợ uy Tống, mà quy phục Tống hết. Phên giậu đã bỏ ngỏ, thì trong nhà yên ổn làm sao. Dòng họ ta chịu ơn của hoàng triều sâu nặng, không bao giờ lại cam tâm phản bội, nhưng còn các tù trưởng khác thì biết sao được. Vừa rồi, ta có đến yết kiến Lý Thái úy, ngài cũng khuyên ta nên về ngay động Giáp, để giữ lấy mảnh đất địa đầu, đề phòng âm mưu của Tống và bọn tay sai của chúng. Nhất là một khi chính quyền lại nằm trong tay Thượng Dương, thì hay dở thế nào khó mà biết trước. Theo ý công chúa, thì giữa Thượng Dương và Ỷ Lan ai là người xứng đáng làm nhiếp chính?

Động Thiên khó xử:

- Đối với thiếp thì hai người đều là mẹ cả, nhưng Thượng Dương là đích mẫu lại có công nuôi nấng thiếp từ khi thiếp vừa mới lọt lòng, nên thiếp với Thượng Dương dĩ nhiên là có ân tình nhiều hơn. Còn Ỷ Lan thì đối với thiếp cũng rất tốt, nhưng ngặt vì chỉ ở phận hoàng phi nên không thể vượt quyền chánh hậu được. Việc cử người lên làm nhiếp chính là do các đại thần trong Nội các bàn bạc và quyết định, thiếp là nữ nhân ngoại tộc, không có quyền can thiệp. Cứ theo ý thiếp, thì Thượng Dương là chính thất của tiên đế, lại là đích mẫu của tự quân, dẫu sao về danh nghĩa cũng thuận hơn Ỷ Lan. Cứ cho là Thượng Dương không có tài trị nước chăng nữa, nhưng nếu được quần thần hết lòng giúp rập, tin rằng cũng không đến nỗi nào. Nếu bỏ trưởng lập thứ, trái với điển lệ từ xưa, e sẽ sinh ra biến loạn.

Thân Cảnh Phúc bực bội:

- Công chúa nói như vậy là cách xử sự lúc thái bình vô sự, còn hiện nay nước ta đang ở trong cảnh nguy cơ như trứng để đầu đẳng, nếu không có người vững tay chèo lái con thuyền quốc gia trong cơn sóng gió thì nguy hiểm lắm. Tôi cho rằng nếu không để Ỷ Lan hoàng thái phi và Thái úy Lý Thường Kiệt nắm chính quyền, thì sẽ sinh ra biến loạn.

Động Thiên nói:

- Thiếp cũng thấy... - Nàng toan nói gì, nhưng bỗng ngừng bặt Nếu phò mã thấy cần trở về động Giáp, thì cứ trở về, thiếp phải ở lại đây cư tang cho trọn đạo hiếu.

Thân Cảnh Phúc dứt khoát:

- Thôi tạm biệt nàng, ta phải lên đường - Dứt lời, Thân Cảnh Phúc quay mình đi, Động Thiên nghĩ sao lại chạy theo, gọi với:

- Phò mã! Phò mã! Đừng đi vội! Thiếp có câu chuyện này muốn nói với chàng.

Nhưng Thân Cảnh Phúc đã đi khuất. Động Thiên nét mặt đầy vẻ ưu tư, thẫn thờ trở lại cung.

---❊ ❖ ❊---

Thấy Thượng Dương mời vào cung bàn việc, Quách Sĩ An khấp khởi mừng thầm, cho là vì ý kiến mình bàn nên lập Thượng Dương làm nhiếp chính đã đến tai Thượng Dương, nên bà cảm kích, muốn cất nhắc cho mình.

Quách Sĩ An vốn là một nhà nho, hết sức bài xích Phật giáo.

Trước đây được đọc bài Biểu can việc rước xương Phật của Hàn Dũ, ông ta hết sức hâm mộ. Đến khi sang sứ Tống, được gặp Âu Dương Tu đang giữ chức Quan văn điện đại học sĩ, là người nối theo cái chí của Hàn Dũ, nên rất kính trọng lại được đọc bài ký Túy ông đình của Tu, càng thêm phục văn chương thượng quốc. Ngoài Âu Dương Tu, Quách Sĩ An còn được gặp các danh nho như Tư Mã Quang, Tăng Củng, Tô Thức... và hai anh em nhà Lý học Trình Hạo và Trình Di, người đã phát huy thêm cái đạo của Khổng Tử, ông cho rằng Nho học đến thời Tống đã đến độ cực thịnh, chỉ cần học tập lời dạy của Tống nho cũng đủ để tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ. Nhất là khi gặp tể tướng Vương An Thạch, vừa là một bậc đại nho, lại là một nhà chính trị có tài kinh bang tế thế, ông ta càng khâm phục sát đất. Vương An Thạch đã mời sứ ta đến phủ tể tướng chơi, không những hậu đãi, mà còn tỏ ra tình ý ân cần, thăm hỏi tình hình phương nam, chỉ mong dân ta được thấm nhuần cái ơn giáo hóa của Trung Quốc. Quách Sĩ An cảm kích trước sự biệt nhỡn của An Thạch đối với mình, thầm mong sẽ có cơ hội báo đáp, bằng cách khuyên triều đình ta nên thần phục Tống. Nhưng dưới triều Thánh Tông một ông vua có chí tự cường. Quách Sĩ An không thể thực hiện được ý đồ ấy. Nay Thánh Tông đã mất, Thượng Dương là đàn bà nắm chính quyền, ông ta tin rằng sẽ dễ bề lung lạc.

Vì vậy khi vào gặp Thượng Dương, thấy bà ta hỏi: “Khanh đi sang sứ Tống thấy tình hình Tống thế nào?”, Quách Sĩ An đã trả lời:

- Văn vật Trung Nguyên hết sức phồn thịnh, tiếp nối được cái di phong của thời Tam đại12 ngày xưa.

Thượng Dương trề môi:

- Ta không hỏi về văn vật, mà hỏi về chính trị và vũ bị của nhà Tống kia!

Quách Sĩ An nói:

- Tâu lệnh bà, cả về chính trị và vũ bị cũng rất vững mạnh.

- Khanh bảo chính trị và vũ bị của Tống mạnh, sao lại cứ bị Liêu và Tây Hạ ăn hiếp mãi.

- Tâu lệnh bà, đó là sự thể trước đây, còn sau khi Vương An Thạch lên làm tể tướng, tình hình thay đổi hẳn, nhờ khéo vận dụng tân pháp, nên Tống mỗi ngày một cường thịnh.

- Tân pháp hay như thế nào, khanh nói cho ta nghe.

- Tâu lệnh bà, Tống trước kia vẫn bị Liêu, Hạ lấn át, nhưng từ khi vua Hy Ninh13 lên ngôi, biết dùng Vương An Thạch, một nho thần có tài kinh tế, làm tể tướng. Vương An Thạch lập ra tân pháp trong đó có những phép như sau :

Mộ dịch là bỏ lệ bắt làm xâu, mà tùy theo nghèo giàu nạp tiền để thuê người làm thay.

Quân thâu là trong việc thuế cống, có thể lấy chỗ gần thay chỗ xa, lấy cái đắt thay cái rẻ, để thâu cho đều.

Nông điền, thủy lợi là phép mở mang ruộng cày, lấy nước vào ruộng.

Thanh miêu là lúc lúa còn xanh, nhà nước cho dân vay tiền trước, đến lúc gặt phải trả vốn và lời hai hoặc ba phần.

Thị dịch là lập công vụ mua hàng khi rẻ, rồi phát cho các nhà buôn, bán lấy lãi, hoặc để cho dân gian lúc cần tiền có thể tới cầm cố đồ vật với một lợi tức vừa phải chăng.

Phương quân điền, hay Phương điền là đạc điền theo từng khoảng vuông để định thuế lệ.

Lại còn phép Bảo giáp là bỏ bớt cấm binh, tức là lính mộ, phải trả tiền tốn, mà dùng dân binh. Họp mười nhà thành một bảo, có bảo trưởng coi, năm bảo là một đại bảo, có đại bảo trưởng coi, mười đại bảo thành một đô bảo có đô bảo trưởng coi. Nhà nào hai đinh, thì bắt một để vào bảo. Không cầm khí giới như trước, trái lại sai các bảo tập võ nghệ. Phép bảo mã là phát ngựa cho các bảo và cho tư gia tình nguyện nuôi, hoặc nhận cấp tiền để tự mua lấy. Mỗi nhà được một hay hai con. Hàng năm có quan khám nghiệm. Lúc hữu sự thì bảo đinh phải ra lính và các ngựa phải nộp quan...

Thượng Dương tấm tắc:

- Hay quá! Nếu để Tống thực hiện xong phép bảo giáp và bảo mã, quân lực hùng mạnh, họ có muốn sang lấy nước ta cũng dễ như trở bàn tay. Chi bằng cứ nên quy phục trước là hơn...

- Lệnh bà nói đúng đấy. Nếu xin nội phụ vào Trung Quốc, thì dân ta cũng được hưởng tân pháp của Vương tể tướng, lo gì dân không giàu, dân giàu thì nước mạnh, lúc ấy ta muốn đòi quyền tự chủ cũng không muộn.

Thượng Dương vui vẻ:

- Nếu vậy khanh hãy thay ta thảo một tờ biểu đạo đạt tình ý để Tống triều hiểu tấc lòng thành của ta muốn xin đem nước Nam nội phụ vào Trung Quốc, nép mình nhờ ơn che chở như hoa quỳ, rau hoắc hướng về ánh vầng dương vậy. Nhớ lời lẽ cho thật là cung kính, nhu huận, nghe chưa?

- Lệnh bà cứ yên tâm, chữ nghĩa thánh hiền mà thần học được chỉ đắc dụng trong những lúc này. Nhưng lệnh bà cần phải giữ thật kín chuyện mới được. Lệnh bà hẳn chưa quên bài học đau xót của Cù Thái hậu ngày trước!

Thượng Dương sầm mặt lại:

- Nhưng Thường Kiệt không phải là Lữ Gia! Quyền tể tướng hiện nay trong tay Lý Đạo Thành kia mà!

Quách Sĩ An nhếch cười:

- Nếu vậy thì lệnh bà đánh giá nhầm rồi! Đạo Thành chỉ Nho có một nửa thôi, còn một nửa vẫn là Phật! Ông ta chỉ Nho ở chỗ trọng đích hơn thứ, còn cái lẽ dĩ đại sự tiểu14 thì ông ta không chịu đâu, bởi nghĩ rằng “Chúng sinh nhất thiết bình đẳng!” nước ta cũng ngang hàng với Trung Quốc. Nếu đem chuyện xin nội phụ nhà Tống ra bàn với ông ta thì hỏng chuyện ngay.

Thượng Dương hiểu ra:

- Ta hiểu ý khanh rồi. Khanh hãy vào trong ngự phòng của ta mà thảo cho được kín đáo.

Thượng Dương chỉ cho ông ta lối vào ngự phòng. Ông ta vui mừng đến muốn nhảy lên, nhưng e bất kính trước mặt Thái hậu nên lại cố tình làm ra vẻ khoan thai nho nhã.

---❊ ❖ ❊---

Tờ biểu gửi đi đã hơn một tháng, Thượng Dương chắc mẩm rằng nó đã đến Biện kinh, kinh đô nhà Tống, nên yên tâm lo việc trừ khử Thường Kiệt và Ỷ Lan. Về Thường Kiệt, bà ta định đẩy ông đi bằng cách cử ông làm Kinh phỏng sứ vào thanh tra vùng Thanh Hóa, Nghệ An. Ở vùng tây nam dân thường nổi lên chống các thuộc lại, dân Man Lào lại hay tới quấy rối. Năm trước, Thánh Tông cũng đã từng cử Thường Kiệt vào kinh phỏng vùng này, ông phủ dụ dân, khôn khéo, nên tất cả năm châu, sáu huyện, ba nguồn, hai mươi bốn động đều quy phục và được yên ổn. Đến nay thấy Thánh Tông mất, mà Thượng Dương lên cầm quyền lại dung túng cho bọn thuộc lại tham nhũng, nên dân chúng bất bình, lại nổi lên chống triều đình. Nếu cử Thường Kiệt đi, viện cớ ông là người siêng năng, cẩn thận, khoan hồng, lại từng quen việc, chỉ có mình ông mới đảm đương chức trách ấy, thế tất ông không thể từ chối. Nếu ông từ chối, thì sẽ mang tiếng coi nhẹ việc nước hơn là quyền chức ở triều đình, bà ta sẽ viện cớ ông bất tuân thánh chỉ, đem ông ra trị tội thì không ai còn kêu ca, phàn nàn vào đâu được nữa.

Bà sai thảo một đạo chiếu, phong Thường Kiệt làm Kinh phỏng sứ Thanh Nghệ, bắt ngày mai phải lên đường nhậm chức.

Sau đó bà tính đến chuyện Ỷ Lan. Hiện nay còn khuyết một chân coi sóc lăng mộ Thánh Tông, bà định cử Ỷ Lan vào chức ấy. Phận gái chồng mất, phải thủ tiết thờ chồng, thì việc coi sóc lăng mộ chồng là bổn phận phải làm, nếu từ chối thì sẽ mang tiếng là lỗi đạo tam tòng, thiên hạ sẽ cười chê. Rồi sẽ vịn cớ kháng mệnh mà bắt giam vào lãnh cung, ngoài quyền nhiếp chính, bà còn là chủ tam cung lục viện, muốn làm gì mà chẳng được. Nhưng bà còn e ngại ông vua tí hon, ngày nào cũng vào vấn an đích mẫu xong, lại sang vấn an sinh mẫu, e rằng Ỷ Lan sẽ xúi giục con chống lại bà. Bữa đó, khi vua Thái Ninh vào vấn an bà, bà bảo:

- Từ nay con đừng sang cung mẹ nhỏ nữa nhé!

Vua Thái Ninh15 ngây thơ hỏi lại:

- Sao thế hở mẹ lớn?

Thượng Dương giọng bí mật:

- Vì mẹ nhỏ mới mắc một chứng bệnh hay lây, nếu con sang thăm, con sẽ bị lây bệnh. Mẹ lớn thương con, nên mới nhắc nhở con như vậy, con nghe hay không là tùy con, nhưng đừng nói cho mẹ nhỏ biết, e mẹ nhỏ sẽ buồn mà bệnh càng nặng thêm...

Vua Thái Ninh tuy nhỏ nhưng vốn thông minh và biết thương mẹ, nên vẫn cứ sang vấn an Ỷ Lan. Tới nơi, cậu ngắm nghía mẹ kỹ lưỡng một hồi, khiến bà mẹ phải ngạc nhiên:

- Sao hôm nay con lại nhìn mẹ chăm chú thế?

- Mẹ lớn bảo mẹ có bệnh, mà con nhìn nét mặt mẹ vẫn hồng hào khỏe mạnh, chẳng có vẻ gì là có bệnh cả.

Ỷ Lan giật mình:

- Mẹ lớn bảo mẹ có bệnh à?

- Vâng, mẹ lớn bảo mẹ có bệnh hay lây, cấm con không được vào thăm mẹ, e rằng sẽ lây bệnh của mẹ.

Ỷ Lan thầm nghĩ, Thượng Dương muốn cách ly con mình với mình chắc là có chuyện gì đây. Hay là chuyện bức biểu văn lọt vào tay mình đã bị Thượng Dương phát giác ra rồi, nên mụ định ra tay trị mình và Lý Thường Kiệt trước. Ỷ Lan liền dặn con:

- Con ạ, mẹ không có bệnh gì hết, vì mẹ lớn thương mẹ, nên mới lo lắng cho mẹ đấy thôi. Mẹ dặn con câu này nhé, ngày mai ra triều, khi thấy bác Lý Thường Kiệt ra trước ban tâu: “Chứng cớ đã rõ ràng, xin Bệ hạ định đoạt”, thì con phải nói ngay câu này: “Nếu đầy đủ chứng cớ, thì trẫm giao cho quan đô hộ phủ sĩ sư xét xử rồi tâu lên”, chỉ một câu ấy thôi, con học cho thuộc, rồi nhớ thật kỹ vào, nghe chưa. Chỉ một câu ấy là con có thể chữa khỏi bệnh cho mẹ rồi đấy!

- Vâng, nếu chỉ có một câu ấy thôi, thì con thuộc làu được mẹ ạ! Quan Thị giảng dạy con cả một bài trong Kinh Thi mà con còn thuộc được cơ mà. Đây này, con đọc lại cho mẹ nghe nhé:

Thái thái quyển nhĩ,

Bất doanh khuynh khuông.

Ta ngã hoài nhân,

Khi bỉ chu hàng.

Bài thơ này quan Thị giảng lại dịch ra nôm rằng:

Hái rau quyển nhĩ luôn tay,

Hái đi hái lại chưa đầy gió nghiêng.

Nhớ ai chợt cảm tình riêng,

Bâng khuâng vứt gió lăn chiêng giữa đàng.

Con nghe người ta nói lúc mẹ gặp cha con thì mẹ đang đi hái dâu, chẳng khác gì bà vợ Chu Văn Vương ngày xưa, hái rau quyển nhĩ, hết lòng giúp chồng nên nghiệp lớn. Khi Văn Vương mất, bà làm bài thơ này tỏ ý nhớ chồng. Nay cha con đã mất, mẹ có vứt giỏ lăn chiêng giữa đàng như bà vợ Văn Vương hay không, hở mẹ?

Ỷ Lan nghẹn ngào ôm chầm lấy con, nói qua hai hàng nước mắt:

- Con tôi giỏi lắm, con biết thương mẹ lắm!

- Ơ kìa, chỉ có thế thôi mà mẹ đã khóc à? Biết thế con đừng đọc bài thơ cho mẹ nghe làm gì. Con xin lỗi mẹ, đã làm cho mẹ buồn...

Buổi thiết triều sớm hôm sau, ba hồi chuông trống nhã nhạc vang lên, thái giám ẵm vua Thái Ninh đặt lên ngại, sau rèm đã thấp thoáng bóng Thượng Dương thái hậu ngồi nghe chính. Sau khi bá quan đã bốn lần phủ phục và tung hô vạn tuế trở về yên vị, bỗng Thái úy Lý Thường Kiệt xuất ban, tâu:

- Tâu Thái hậu, hạ thần đã tiếp chiếu cử làm Kinh phỏng sứ Thanh Nghệ, sáng nay lên đường nhận chức, xin bái tạ Thánh thượng và Lệnh bà, nhưng trước khi đi, có điều muốn hỏi - Ông rút trong tay áo ra một cuộn giấy - Tờ biểu này là của ai, tâu lệnh bà...

Thượng Dương thái hậu thấy Thường Kiệt cầm cuộn giấy vàng trong tay giở ra, mặt tái như chàm đổ, đang lúng túng chưa biết trả lời ra sao thì Thường Kiệt đã hướng về vua Thái Ninh nói:

- Tâu bệ hạ, Thượng Dương thái hậu tự tiện thảo biểu dâng vua Tống xin đem nước ta nội phụ vào Trung Quốc. Phò mã Thân Cảnh Phúc đã bắt được người mang biểu khi y lén lút qua ải Chi Lăng, nên gửi về trình nạp. Chứng cớ đã rõ ràng, xin bệ hạ định đoạt.

Thượng Dương toan cất tiếng nói, thì vua Thái Ninh đã dõng dac:

- Nếu đầy đủ chứng cớ, thì trẫm giao cho quan đô hộ phủ sĩ sư xét xử rồi tâu lên.

Thật đúng như tiếng sét giữa trời quang. Từ khi lên ngôi vua Thái Ninh chỉ ngồi làm vì, mọi việc đều do Thái hậu ngồi sau rèm phán bảo, mà bây giờ là lần đầu tiên vua cất tiếng, giọng lại đường bệ chẳng khác gì một người đã trưởng thành.

Nghe vua phán, hai quan đô hộ phủ sĩ sư Ngụy Trọng Hòa và Đặng Thế Tư lật đật bước ra khỏi ban, quỳ trước mặt vua, tâu:

- Tâu bệ hạ, bệ hạ đã phán truyền, chúng thần xin lĩnh mệnh.

Dứt lời, Ngụy Trọng Hòa thét lớn:

- Cấm vệ quân, mau bắt Thượng Dương giải về phủ sĩ sư cho ta xét xử.

Thượng Dương vội chạy ra níu lấy áo vua, năn nỉ:

- Bệ hạ, chẳng lẽ bệ hạ lại đành lòng nhìn đích mẫu của bệ hạ bị người khác bắt đi hay sao, như vậy còn ra thể thống gì nữa! Bệ hạ hãy truyền lệnh đi, truyền buông tha cho ta!

Vua Thái Ninh không biết nói sao thì Lý Đạo Thành đã bước ra quỳ tâu:

- Tâu bệ hạ, có câu hình phạt không đến với người thân của vua và bậc tôn quý, xin Bệ hạ để cho Nội các họp bàn, rồi sẽ tâu lên chín bệ.

Lý Thường Kiệt bước ra nói:

- Tâu bệ hạ, trước đây cũng chính Nội các đã quyết định tôn Thượng Dương thái hậu làm nhiếp chính, sau đó lại không đề phòng theo dõi, để cho Thượng Dương tự tiện thảo biểu gửi sang nhà Tống, như vậy chính Nội các cũng mắc tội chọn lầm người và không xem xét, sao giờ có thể để cho Nội các xét xử được. Niếu không muốn để cho đô hộ phủ sĩ sư xét xử, thì xin để công đồng nghị án, đô hộ phủ sĩ sư sẽ dựa vào lời khai của tội phạm và nhân chứng, cũng như ý của đình thần, mà làm bản án dâng lên ngự lãm để quyết định hình phạt.

Hoàng Kiện cũng bước ra tâu:

- Thần cũng lạm dự trong hàng Nội các, tự nhận mình mắc tội thất sát, nên xin được rút chân ra khỏi Nội các. Bệ hạ xử phạt thế nào hạ thần cũng xin vâng.

Đào Tông Nguyên thành khẩn nói:

- Thần xin nhận tội là trước đây à uôm không dám mạnh dạn bày tỏ ý mình, nên mới xảy ra cơ sự, có hại cho nước, thần cũng tình nguyện xin chịu xử phạt.

Chỉ có Quách Sĩ An là mặt cắt không còn hột máu, ông ta biết rằng nếu bị xét hỏi, thế nào Thượng Dương cũng sẽ khai ra mình, để hòng nhẹ tội, nên bước ra quỳ mọp trước sân, vái lạy lia lịa, dập đầu nói:

- Thần xin nhận tội đã thảo dùm Thượng Dương thái hậu từ biểu, nay đã biết lầm lỗi, cúi xin Bệ hạ khoan hồng được phần nào thần được nhờ phần ấy.

Lý Thường Kiệt nói:

- Quách Sĩ An khai là ông ta đã thảo tờ biểu giùm Thượng Dương thái hậu, như vậy là vụ án đã thành, xin Bệ hạ giao cho đô hộ phủ sĩ sư thẩm vấn, làm bản án rồi tâu lên.

Vua Thái Ninh ngồi nghe từ nãy đã bắt đầu vỡ ra đầu đuôi câu chuyện, nên phán:

- Trẫm chuẩn y lời tâu của quan Thái úy. Nhưng còn về Thượng Dương thái hậu thì trẫm đứng ra bảo lãnh để tạm giam bà ta vào lãnh cung, cho phủ sĩ sư cử người vào thẩm vấn, cấu thành tội trạng rồi quyết định sau.

Hai nội thị tiến ra lột mũ phượng và áo bào của Thượng Dương, rồi giải vào lãnh cung.

Vua truyền bãi triều. Các quan đều lui ra, chỉ có Quách Sĩ An bị giải về phủ sĩ sư để hỏi cung thêm.

Buổi thiết triều lần sau, quần thần đều dâng biểu tấn tôn Ỷ Lan hoàng thái phi lên làm Linh Nhân hoàng thái hậu kiêm Nhiếp chính.

Tờ biểu dâng lên vua, vua sai một viên thái giám mang vào cung trình Ỷ Lan. Lát sau viên thái giám ra, nói với các quan:

- Hoàng thái phi có sai tôi ra thưa với văn võ bá quan, các ngài có lòng yêu mến mà công cử Hoàng thái phi chức ấy, người rất lấy làm cảm kích, nhưng xin các ngài thể tình cho. Nếu người nhận chức bây giờ, e rằng thiên hạ sẽ cho là người tranh giành quyền chức với Thượng Dương hoàng thái hậu. Xin để cái án Thượng Dương xét xong xem rõ đen trắng ra sao, lúc ấy hãy bàn đến chuyện chức tước.

Hoàng Kiện đứng lên tâu:

- Nhờ công công chuyển lời giùm lên Hoàng Thái phi, người nói như vậy là do tấm lòng nhân đức, nhưng còn xã tắc, thương sinh thì sao. Hiện nay thánh thượng còn trong tuổi ấu xung, nếu không có người giúp rập việc trị nước, thì nguy hại cho xã tắc không nhỏ. Thiếu người đứng ra lèo lái con thuyền quốc gia, thì thương sinh biết trông cậy vào ai. Xin Hoàng thái phi rộng xét mà nhận lời cho, thì xã tắc may lắm, thương sinh may lắm.

Viên thái giám lại chuyển lời vào cho Ỷ Lan. Lát sau ông ta ra nói với mọi người:

- Hoàng thái phi nói rằng chỉ cần văn võ bá quan đồng tâm hiệp lực, giúp rập nhà vua, làm tai mắt cho triều đình, làm rường cột cho đất nước, thì việc khó khăn đến đâu cũng vượt qua nổi. Hà tất cứ phải cần đến một kẻ nữ nhi xuất thân ở chốn quê mùa, chưa thông sách vở như Ỷ Lan này...

Đào Tông Nguyên đứng lên nói:

- Tài trị nước chăn dân của Hoàng thái phi đã được chứng tỏ từ hồi sinh thời Tiên đế, sao lệnh bà cứ cố tình thoái thác làm gì. Nếu lệnh bà mà không nhận lời, thì lũ chúng tôi sẽ kéo cả vào cung rập đầu ở trước thềm, đến khi nào người nhận lời mới chịu đứng dậy.

Viên thái giám truyền đạt ý của bá quan với Ỷ Lan. Lát sau, Ỷ Lan mạng che mặt từ trong cung ra, nói với bá quan:

- Thưa cùng văn võ bá quan, chỉ vì một mình tôi mà khiến các vị phải nhọc lòng suy cử, thật tôi lấy làm không phải. Thể theo ý của mọi người, tôi xin nhận chức, chỉ mong các vị hết lòng giúp đỡ, chỉ bảo cho điều hay lẽ phải, để làm được những việc lợi dân ích nước, như vậy là tôi thỏa lòng rồi.

Lý Thường Kiệt đứng lên nói:

- Xin mời Hoàng thái hậu ngồi lên ngai nhiếp chính, cho quần thần được chiêm ngưỡng uy nghi.

Vua Thái Ninh đứng lên dắt mẹ đến ngồi trên long ỷ. Nhã nhạc nổi lên, quần thần đều bái lạy và tung hô vạn tuế.

Linh Nhân hoàng thái hậu bắt đầu làm việc, bà cao giọng hỏi: Quan Đô hộ phủ sĩ sư, vụ án Thượng Dương xét xử đến đâu rồi?

Mẫn Ngụy Trọng Hòa và Đặng Thế Tư bước ra quỳ trước điện. Ngụy Trọng Hòa nói:

- Tâu Bệ hạ, tâu Lệnh bà thần đã cho thẩm vấn Quách Sĩ An, y chỉ khai là thảo giùm Thượng Dương bài biểu, chứ không phải là đồng mưu với Thượng Dương, y cũng không nhận lời làm việc cho Tống. Thần đã cho tra khảo mấy lần, nhưng y đều một mực cung xưng như vậy.

Đặng Thế Tư nói:

- Tâu Bệ hạ, tâu Lệnh bà, thần đã vào trong lãnh cung thẩm vấn Thượng Dương, bà ta chỉ khai là tự ý nhờ Quách Sĩ An thảo biểu, nhờ người tâm phúc mang sang bên nhà Tống, ngoài ra không có một tay chân nào hết.

Linh Nhân nói:

- Việc này còn nhiều uẩn khúc, không phải chỉ trong một lúc mà làm sáng tỏ hết được. Nay hãy cứ giam Thượng Dương và Quách Sĩ An lại đã, chờ bao giờ tìm ra bọn tay chân của Thượng Dương còn lẩn lút trong bóng tối, lúc ấy sẽ xét xử sau. Còn những người khác, thì các khanh định hình phạt như thế nào?

Ngụy Trọng Hòa dâng lên một tờ giấy:

- Đây là bản án chúng thần vừa sơ thảo, xin dâng lên để Bệ hạ và Lệnh bà định đoạt.

Linh Nhân đọc xong rồi nói:

- Ta giao bản án này cho quần thần đình nghị, vậy các khanh có ý kiến gì cứ việc tâu lên, ta sẽ tham chước ý mọi người mà định đoạt. - Bà trao bản án cho Ngụy Trọng Hòa rồi nói - Khanh hãy tuyên đọc lên cho mọi người nghe.

Ngụy Trọng Hòa đỡ lấy trịnh trọng đọc:

- Thái sư Lý Đạo Thành là người chủ trương tôn lập Thượng Dương lên làm nhiếp chính, sau đó lại không để ý theo dõi để bà ta tự tiện làm biểu nộp cho nhà Tống, xin phạt tội thiếu trách nhiệm gây tai hại cho nhà nước, giáng xuống làm viên ngoại lang.

Thái phó Hoàng Kiện cũng a dua với Đạo Thành, tôn lập Thượng Dương, xin phạt tội không tròn phận sự, giáng xuống làm Thiếu bảo.

Phụ quốc Đào Tông Nguyên à uôm không có chủ kiến, xin phạt tội trì nghi bất quyết, giáng xuống làm Thiếu phó.

Quan Thiếu sư Phí Gia Hữu bước ra nói:

- Việc tôn lập Thượng Dương, Lý Đạo Thành là đầu vạ, nếu không trị tội nặng sao cho nghiêm phép nước, răn những người sau. Xin cách tuột quan tước, đuổi về dân dã, mới là đúng tội.

Lý Thường Kiệt bước ra tâu:

- Tâu lệnh bà, quan Thái sư chỉ có lỗi xét nhầm người, nhưng không đồng mưu với Thượng Dương trong việc dâng biểu cho nhà Tống, vả chăng đã có công lao tự tiên triều, nay xin khoan miễn cho, để tỏ ân đức của triều đình, mong lệnh bà xét lại.

Các quan quỳ tâu xin cứ y theo bản án mà đô hộ phủ sĩ sư đã tâu lên. Linh Nhân suy nghĩ một hồi, rồi nói:

- Ta châm chước ý kiến của các khanh, thấy Đạo Thành chỉ có tội xét nhầm người, nên quyết định giáng xuống làm Binh bộ thị lang. Hoàng Kiện có lỗi nhưng đã biết hối, nay giáng chức xuống làm Thiếu úy, Đào Tông Nguyên chỉ e dè không dám nói thẳng chứ không phải theo bè phái Thượng Dương, nay giáng chức xuống làm Thiếu sư, Ngụy Trọng Hòa là người cương trực, liêm khiết, xét xử công minh, nay ta phong cho chức Thái bảo. Đặng Thế Tư là người làm việc mẫn cán, nay ta phong cho chức Phụ quốc. Phò mã Thân Cảnh Phúc, lưu ý canh phòng, bắt được kẻ gian ta sẽ ban cho vàng lụa để thưởng công...

Thấy Linh Nhân phán xét đâu ra đấy, các quan đều khâm phục. Lý Đạo Thành, Hoàng Kiện, Đào Tông Nguyên được giảm tội, đều cúi đầu bái tạ.

Ít lâu sau, Linh Nhân lại cử Lý Đạo Thành làm Tả gián nghị đại phu, ra coi châu Nghệ làm công việc phủ dụ, yên dân mà Thường Kiệt đã làm lúc trước. Còn Lý Kế Nguyên cũng được chuyển từ chức Tả đô cấm vệ chỉ huy sứ, sang làm Hành quân chiêu thảo sứ, chỉ huy thủy quân, để chuẩn bị khi có chiến tranh xảy ra. Lý Thường Kiệt được thăng Kiểm hiệu thái úy, kiêm chức Đô nguyên soái, chỉ huy toàn bộ binh mã trong nước. Lý Thường Hiến, em Lý Thường Kiệt, được phong chức Đại tướng quân, chỉ huy lục quân theo anh đánh giặc.

Ở triều về, Đào Tông Nguyên tấm tắc khen ngợi:

- Linh Nhân hoàng thái hậu trị tội Lý Đạo Thành, nhưng vẫn dùng con ông ta là Lý Kế Nguyên, chẳng khác gì vua Thuấn giết Cổn, dùng Vũ ngày xưa16.

Vốn xuất thân từ nông dân, nên sau khi lên làm Nguyễn phi, Ỷ Lan rất quan tâm đến đời sống của nông dân.

Nông dân thời bấy giờ chia ra nhiều loại. Loại thứ nhất là những nông dân cày ruộng tịch điền, tức là ruộng mà vào dịp lễ tịch điền, vua thường đích thân xuống cây để làm gương cho dân chúng. Những nông dân này được nhà nước nuôi cấp trâu bò, điền phí, giống má, song lại phải cày cấy không công cho nhà nước. Họ không phải là nô lệ vì, có thể họ vẫn có gia đình, ruộng đất khẩu phần ở quê nhà, hơn nữa họ vốn là thần dân của nhà nước. Do đó, họ gần với thân phận người nông nô, bị bóc lột ở hình thức tô lao dịch.

Loại thứ hai là những nông dân cày ruộng sơn lăng (lăng mộ vua) hay ruộng thờ. Đây là loại nông dân tự do được ưu đãi tô thuế nhẹ, lại được miễn mọi nghĩa vụ khác.

Loại thứ ba là nông dân cày ruộng công làng xã, trong diện dân “nội vi tử” hay “bị phong hộ”. Họ được chia ruộng đất công làng xã, song đồng thời là những người lĩnh canh ruộng đất của nhà nước - đứng đầu là vua. Dĩ nhiên họ phải nộp tô, thuế và một số nghĩa vụ khác cho nhà nước. Họ được tự do về con người nói chung, có thể tự do rời nơi này sang ở nơi khác, tự do đi lại.

Mỗi nông dân cày ruộng công đều có nghĩa vụ đi lính và đi làm một số công tác lao động phục dịch các công trình công cộng như đê điều, kênh máng... hay các công trình tư nhân như cung điện, lăng tẩm đền đài, chùa chiền, vườn thượng uyển.

Về tô thuế, đầu đời Lý ruộng công có hai loại:

Ruộng quốc khố thượng đẳng mỗi mẫu thu 6 thạch 80 thăng, trung đẳng mỗi mẫu thu 4 thạch, hạ đẳng mỗi mẫu thu 3 thạch.

Ruộng thác đao thượng đẳng, mỗi mẫu thu 100 thăng, trung đẳng 3 mẫu thu 100 thăng, hạ đẳng 4 mẫu thu 100 thăng17.

Thấy tô ruộng như vậy quá nặng, Ỷ Lan đã xin vua giảm bớt cho dân, nếu ai không có thóc có thể nộp tiền thay thế. Có một, hai mẫu thì nộp tiền 1 quan, có ba bốn mẫu thì nộp tiền 2 quan, có từ 5 mẫu trở lên thì nộp tiền 3 quan. Tô ruộng mỗi mẫu nộp 80 thăng thóc, tức giảm 20 thăng.

Ỷ Lan lại chăm lo việc đắp đê phòng lụt cho dân. Trước đó, ở hai bên sông Phú Lương (sông Cái) đều có đê ngăn nước. Một con đê chạy từ sông Đáy đến sông Hải Triều (thuộc phủ Khoái Châu), sông Phù Vạn. Một đê chạy từ sông Bạch Hạc (Việt Trì) đến các vùng sông Lô, sông Đại Lũng và Cửa Mạnh, cửa Ninh thì dứt. Mỗi bên đều cao ba thước, rộng năm trượng... Năm nào cũng vậy các quan coi đê phải lo đốc thúc dân phụ cận, không kể sang hèn già trẻ đều phải đi đắp, chỗ nào thấp thì giá cao lên, chỗ nào lở thì bồi bổ lại. Đến mùa hè hoàn công, đây là việc làm hàng năm. Ỷ Lan ra lệnh hàng năm cứ mùa nước lớn, vào tháng sáu, tháng bảy viên đê sứ phải thân đi tuần hành, thấy chỗ nào non phải tu bổ ngay, hễ biếng nhác không làm tròn nhiệm vụ để đến nỗi trôi dân cư, ngập lúa mạ, sẽ tùy tội nặng nhẹ mà khiển phạt.

Tháng 9 năm Đinh Tỵ18, Ỷ Lan thân hành đốc suất việc đắp đê sông Như Nguyệt dài 67.380 bộ. Chính con đê này đã trở thành phòng tuyến vững chắc của quân ta trong cuộc kháng chiến sau đó.

Đứng trên con đê Như Nguyệt mới đắp thêm cao rộng, Ỷ Lan bỗng nhớ đến câu thơ Trương Cửu Linh đời Đường:

Tự quân chi xuất hĩ,

Bất phục lý tàn ki.

Tư quân như nguyệt mãn,

Dạ dạ giảm thanh huy19

Ỷ Lan nhớ trước đây mình từng thề hứa với vua Thần Vũ: “Mối tình của thần thiếp đối với bệ hạ chẳng khác gì trăng sáng”. Tuy sau khi vua qua đời, nàng nhớ vua như mặt trăng đầy, đêm đêm hao gầy vầng sáng, nhưng nàng không bắt chước người quả phụ trong thơ Đường, không thiết gì đến việc canh cửi. Mà lại lại thấy mình càng phải làm việc nhiều hơn, làm cả phần mà vua Thần Vũ để lại.

Nàng đi đến các làng làm nghề dệt, khuyến khích việc trồng dâu nuôi tằm. Làng xóm đêm đêm vọng lên tiếng xa quay rào rào, tiếng khung cửi lách cách, tiếng chày nện vải thình thịch cần mẫn. Trường An nhất phiến nguyệt. Vạn hộ đảo y thanh20. Đó là nhịp điệu lao động chuyên cần của xóm làng, của đất nước được nàng phát động nên ngày càng sôi nổi, dồn dập.

Từ xa vắng đến tiếng nhạc của dàn bát âm trong điệu hát múa Lý liên. Ỷ Lan mường tượng đến cảnh những cô đào làm động tác múa bơi chải, sóng nước, chim bay cá lặn và bông sen dập dờn vờn nước, khoa trương tay chân có bước lên bước xuống nhưng bao giờ cũng hoàn chỗ cũ. Ít có khi xén ngang đội hình hay kết tròn nhảy xa. Điệu múa tạo nên hình ảnh bông sen tượng trưng cho quốc giáo, cho lý tưởng của cái đẹp, với dáng lả lướt, chập chờn, huyền ảo...

Vầng trăng lên tới giữa trời, sáng như gương, soi rõ tấm lòng nàng.

---❊ ❖ ❊---


Nguồn: TVE 4U
Được bạn:Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 28 tháng 5 năm 2026

« Lùi
Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của hoài anh