Tôi đang ở trên chiếc máy bay màu cam Dorito, bay về Luton. Hay đúng hơn là không phải: chúng tôi đã ngồi trên mặt đường nhựa ở sân bay Malaga được bốn mươi lăm phút, và không biết sẽ còn ở đây đến bao giờ. Hình như có một vấn đề với “những biện pháp an toàn trong điều hành sân bay”, mà tôi luận ra là không có đủ phi hành đoàn. Những hành khách khác hình như đã từ bỏ việc chờ đợi, song người đàn ông ngồi cạnh tôi tỏ rõ sự khó chịu vải việc tôi dùng laptop. Nó choán hết chiếc bàn nhựa nhỏ, và khuỷu tay tôi thỉnh thoảng lại lạc sang “chỗ” của ông ta. Ông ta đang ngồi với hai cánh tay to bự khoanh trước ngực, nhìn chằm chằm trước mặt. Có lẽ ông ta cũng là người tôi đã ngồi cạnh trong chuyến bay đến đây. Đây có thể chính là chiếc máy bay đã chở tôi một tuần trưỐC: nó chắc chắn có cùng thứ không khí nặng mùi như vậy.
Đây không phải là chiếc máy bay. Ý tôi không phải là chiếc máy bay đang bị dừng - đưa tôi về nhà hiện giờ.
Hai ngày trước tôi đã định đổi vé và kéo dài thời gian ở lại Cộng đồng.
Tôi chưa sẵn sàng cho lắm để viết về chuyện xảy ra ngày hôm qua và lý do tôi phải đột ngột lên đường. Tuy nhiên tôi muốn hoàn thành bản tường thuật về nguyên do đã đưa tôi đến Tây Ban Nha lúc đầu. Nó cách điểm cuối không còn bao xa.
Chúng ta đã đến đoạn tôi nói vải cảnh sát toàn bộ sự liên quan của tôi vải Tess và Adrian. Quả thực, những gì xảy ra tiếp theo được tổng kết khá đơn giản: không có gì cả.
Nói thế tức là sau nhiều tháng điều tra, không có hành động luật pháp nào áp dụng cho tôi. Về chuyện mạo danh trên mạng, họ không thể khép tội tôi. Hình như họ chỉ có thể khởi tố nếu việc mạo danh được dùng để quấy rối hoặc lừa gạt dẫn đến sự mất tích của một nạn nhân cụ thể, và tôi thì không hề làm những chuyện đó.
Đối với vụ tự sát, việc không tìm thấy xác có nghĩa là Tess chính thức được xếp vào mục “người mất tích”, chứ không phải là đã chết. Luật pháp tuyên bố rằng nếu một người nói với bạn rằng họ định tự sát, bạn không bắt buộc phải thông báo VỚi nhà chức trách, nhưng nếu bạn nói hay làm bất cứ điều gì có thể coi là khuyến khích thì bạn có thể bị buộc tội hỗ trợ hoặc tiếp tay cho việc đó. Cảnh sát hỏi đi hỏi lại tôi có nói hay làm gì có thể được hiểu như khuyến khích Tess không. Hoàn toàn không, tôi đáp. Họ tra xét các email của chúng tôi nhưng không tìm thấy gì chỉ ra rằng Tess đã từng chùn bước trước khao khát tự kết liễu cuộc đời mình, và tôi cũng không làm gì để khuyến khích cô.
Tôi không nói với họ về thời điểm đó trên Skype, khi cô khóc.
Việc tôi nhận tiền từ Tess làm phức tạp mọi chuyện Ở mức độ nào đó, nhưng tôi đưa cho họ các hóa đơn và những tính toán của mình, họ kết luận rằng không thể nói tôi thu lợi từ tám mươi tám bảng một tuần được. Cuối cùng, họ quyết định rằng khởi tố tôi là không phù hợp với lợi ích chung. Người họ thực sự muốn là Adrian.
Từ lúc bị trông thấy ở Gatwick, anh ta đã biến mất, và hóa ra anh ta đã xóa dấu vết của mình khá kĩ lưỡng. Như tôi đã đề cập, website Red Pill được lưu trữ bởi máy chủ đặt ở Brazil, dễ bề cho Adrian cung cấp các thông tin giả, nên lần ra địa chỉ IP của anh ta cũng vô ích. Hộ chiếu của anh ta cũng là giả. Và bất chấp việc ảnh anh ta được dán khắp nơi, người ta vẫn không tài nào tìm thấy anh ta. Dù tin tức được tung ra không biết mệt mỏi, song vẻ ngoài của anh ta không có đặc điểm nào để phân biệt VỚI hàng triệu người đàn ông khác, da trắng trung niên, đậm người trên khắp thế giới. Ác quỷ dưới lốt phó giám đốc của hàng Dixons.
Căn cứ vào phản ứng cuồng loạn này, tôi có thể hiểu vì sao Adrian cảm thấy mình phải biến mất. Tuy nhiên, tôi lấy làm lạ vì anh ta không xuất hiện để đưa ra ý kiến riêng, và giải thích những căn nguyên đằng sau. Dùng một ứng dụng chặn địa chỉ IP, anh ta có thể dễ dàng post một video lên YouTube hoặc đưa ra tuyên bố trên mạng mà không đánh động cảnh sát về chỗ ở của mình. Có lẽ anh ta cảm thấy chẳng ích gì, những người lên án anh ta ắt chẳng thay đổi suy nghĩ.
Song tôi thấy thất vọng về anh ta. Sự im lặng của anh ta đồng nghĩa với việc chỉ có một chiều trong câu chuyện, và sự nhất trí chắc nịch rằng anh ta là một kẻ độc ác, đã lợi dụng những người “cả tin” như tôi cho mục đích của mình. Cố nói điều gì ngược lại cũng chỉ như hét vào trong gió. Tất cả đều cho rằng tôi chịu sự chi phối của anh ta “bị tẩy não” - trong khi tôi chỉ ra điều mà tôi nghĩ bất cứ người nào sáng suốt cũng sẽ hiểu: đó là Adrian phạm sai lầm và xử lý kém, nhưng không nhất thiết kéo theo tất cả những điều anh ta nói hay đại diện, đều là sai. -
Chữ “tất cả”, ý tôi muốn nói tới cảnh sát và Jonty. Tôi đã kể cho cậu ta những chuyện xảy ra khi tôi từ nhà ga trở về căn hộ, sau khi được tại ngoại. Tôi thực sự không có nhiều lựa chọn, vì cậu ta đã từ nhà bố mẹ trở về, và tôi bắt gặp cậu ta trong căn phòng đã bị lục tung, đang nhìn chằm chằm chiếc bàn, nơi chiếc laptop của tôi được thay thế bằng mảnh giấy của cảnh sát liệt kê những thứ họ đã lấy đi trong quá trình lục soát. Tôi không thể nghĩ ra một lời giải thích hợp lý cho chuyện đó.
Jonty tiếp nhận tin tức tốt đến ngạc nhiên, còn có phần cường điệu, mắt cậu ta mở lớn và tay ấp lên miệng khi tôi giải thích tình hình cô đọng nhất có thể. May thay, cậu ta đã đọc câu chuyện trên báo, nên cũng biết sơ sơ; song, tất nhiên, điều này có nghĩa cậu ta xem Adrian như một tên ác thú. “Tội nghiệp Leila”, cậu ta liên tục lẩm bẩm, nắm chặt cánh tay tôi. “Ôi lạy Chúa. Tên khốn đó. Tội nghiệp, tội nghiệp Leila.”
Hôm đó, tôi chẳng còn hơi sức để giải thích với cậu ta; vả lại, sau trải nghiệm ở nhà ga, tôi chào đón sự ân cần và đồng cảm của cậu ta. Nhưng sáng hôm sau, cậu ta lại lôi chủ đề ấy ra và tôi được dịp nói rõ với cậu ta, rằng Adrian không phải hoàn toàn là con quỷ như báo chí vẽ ra và tôi đã tự hành động theo quyết định của mình. Lần này phản ứng của cậu ta có chừng mực hơn.
“Nghe này, tôi sẽ không giả vờ là mình không chóng mặt bởi tất cả những chuyện này”, cậu ta nói, khi tôi dứt lời. “Tôi chưa hiểu hết. Nhưng tôi biết cô là người tốt, và tôi chắc chắn cô sa chân vào đó với những ý định tốt đẹp.”
Tuy nhiên, chưa dừng lại ở đó. Với hứng thú dạt dào về vụ việc, bạn biết là cậu ta sẽ tham gia ngay. Cậu ta ngấu nghiến các tin tức và, bởi vì laptop của tôi vẫn ở chỗ cảnh sát, Jonty tự nguyện cập nhật cho tôi mọi diễn biến. “Có người nghĩ họ đã trông thấy Adrian ở Brussels”, cậu ta hét qua cửa phòng tắm, khi tôi đang gội đầu. Một buổi sáng, cậu ta đi vào bếp trong lúc tôi đang làm bánh mì nướng pho mát và bảo tôi nên xem xét đi gặp bác sĩ tâm lý.
“Sao tôi phải làm thế?” Tôi hỏi.
“Tôi môi đọc trên internet về hội chứng Stockholm”, cậu ta nói, “khi người ta bảo vệ kẻ lạm dụng họ. Tôi nghĩ có thể cô bị mắc hội chứng đó.”
“Đừng có lố bịch.”
“Cô luôn miệng biện hộ cho hắn và cô không hối tiếc về những chuyện đã xảy ra…
“Tôi chưa bao giờ làm thế”, tôi nổi cáu. “Tôi chỉ đưa ra quan điểm hoàn toàn hợp lý là tình huống không đơn giản như anh và tất cả những người khác đang mặc định.”
Nhưng có một khía cạnh của vụ việc mà tôi chưa sẵn sàng thảo luận: Tess. Nhiều lần Jonty mở miệng định hỏi chi tiết về sự liên quan của tôi với cô, và tôi chặn đứng những câu hỏi của cậu ta; cuối cùng cậu ta cũng hiểu được thông điệp. Việc Adrian được công khai, trở thành đề tài mổ xẻ bàn tán là một chuyện, nhưng Tess – tôi muốn giữ cô cho riêng mình.
Nhiều tuần qua đi. Những phát hiện về tung tích của Adrian thưa dần rồi biến mất hẳn, và không có manh mối mới, truyền thông chĩa mũi dùi vào nhân vật khác. Tuy nhiên, vụ việc vẫn âm thầm được điều tra, dù rất chậm chạp, hình ảnh cái bàn trống liên tục nhắc nhở tôi điều đó. Sau chín tuần, cảnh sát môi trả lại laptop cho tôi - nhưng khi tôi hỏi họ mất bao nhiêu buổi làm việc vỔi nó, viên cảnh sát thừa nhận rằng phần lớn thời gian nó nằm ở trong kho. Anh ta nói thêm là tôi không nên nín thở chờ kết quả điều tra; rất có khả năng tôi sẽ không hay tin gì cho đến Tết. “Đó là một vụ phức tạp”, anh ta nói, “Chưa từng có tiền lệ trước đây.”
Thực ra tôi không nhớ cái laptop cho lắm vì nó dính líu đến Connor. Tránh xa nó quả là một sự nhẹ nhõm, ít ra là lúc đầu. Ngày ngày, tôi ngủ là chính, nhưng tôi cũng mở một thùng sách mà mình chưa từng khui ra và đọc lại những cuốn sách yêu thích hồi bé. Đương nhiên không phải cuốn The Princess Bride. Nhưng được vài tuần, tính mới lạ của tình trạng offline bắt đầu phai nhạt, tôi liền hỏi mượn iPad của Jonty.
Đến giữa mùa xuân, Jonty quyết định đã đến lúc dọn dẹp núi thư rác ngoài hành lang. Chuyện đó thỉnh thoảng cậu ta có nhắc tới nhưng chưa bao giờ xắn tay làm – nó đã trở thành một kiểu “chuyện cười kinh điển” giữa chúng tôi - nhưng thứ Bảy hôm đó, cậu ta tuyên bố “hôm nay là ngày tốt”, và xách mấy bao rác màu đen xuống dưới nhà. Mấy phút sau, cậu ta xuất hiện ở cửa phòng tôi, cầm một phong bì. “Thứ này bị vùi giữa những tờ quảng cáo pizza. Của cô đấy. Có vẻ hấp dẫn.”
Tôi không có thói quen nhận thư, và chắc chắn không phải những lá thư viết tay lỗi thời, với địa chỉ người gửi đề ở góc trên cùng bên trái. Khi mở ra, điều đầu tiên tôi nhận thấy là lá thư rất ngắn. Thứ hai là nó đến từ mẹ của Tess.
Leila thân mến,
Tôi muốn gặp cháu. Cháu có thể sắp xếp thời gian để đến nhà tôi không? Xin hãy gọi cho tôi. Tôi tin là cháu biết số. Marion William.
Tôi nhìn nó trân trân. Jonty vẫn lừng khừng Ở ngưỡng cửa.
“Nào nào”, cậu ta hối thúc. “Từ ai vậy?”
Tôi nhớ một câu mà mấy đứa con gái ở trường thường nói khi bị đám con trai quấy rầy và họ muốn trò chuyện yên ổn.
“Ồ, vấn đề của phụ nữ ấy mà. Anh không hiểu đâu.”
Jonty ngẩn ra, nhưng vẫn đi xuống dưới nhà. Tôi tiếp tục nhìn lá thư. Tôi biết rất nhiều về Marion nhưng chưa từng trông thấy chữ viết tay của bà. Màu mực xanh nghiêng sang phải đều tăm tắp, điểm một chút hoa mỹ, như chữ P và L viết hoa to hẳn lên. Sau vài phút, tôi dứt sự tập trung khỏi cách trình bày trên giấy và chú tâm vào nội dung lá thư.
Nó đề ngày cách đây hai tuần. Nếu Jonty không quyết định dọn đống tờ rơi quảng cáo, nó ắt sẽ nằm ngoài hành lang một tháng nữa; có khi là một năm nữa. Tôi khó có thể trông thấy nó. Tôi có thể vứt nó đi. Nhưng tôi không ấp ủ những ý nghĩ ấy được lâu. Dù nản chí trước viễn cảnh một cuộc gặp gỡ, nhưng tôi biết đó là việc đúng đắn.
Tôi cảm thấy rạo rực hài lòng trước quyết định dũng cảm này, cho đến khi nhận ra bước tiếp theo là gọi điện cho Marion. Mặc dù tôi đã nói chuyện với bà trước đó, trong vai Tess, không phải là cuộc gọi dễ chịu, và ý nghĩ phải làm chuyện đó lần nữa, Ở vai tôi, thật giằng xé. Thay vào đó, tôi chờ đến tối thứ Tư, tôi biết bà sẽ ở chỗ nhóm đọc sách, và để lại một lời nhắn đề xuất ngày và giờ vào tuần sau. Tôi đưa ra số di động của mình. Khuya hôm đó, bà gọi lại, tôi cho nó sang voicemail và nghe lời nhắn của bà ngay sau đó. Giống như lá thư của bà, nó ngắn gọn và đi thẳng vào điểm chính. Được, thời gian phù hợp với bà; và nếu tôi định đi tàu đến Cheltenham thì tôi nên bắt taxi và chỉ đường cho tài xế thật chính xác, bằng không ông ta sẽ bỏ qua chỗ rẽ. Tôi nghuệch ngoạc ghi lại những chỉ dẫn, và đang tra Google về giờ tàu thì tôi sực nghĩ ra, những ngón tay tôi sững lại trên bàn phím: Làm sao Marion tìm ra tên và địa chỉ của tôi?
Qua những bức ảnh, tôi biết ngôi nhà trông ra sao: một ngôi nhà lớn, song lập với những bức tường trắng và dây thường xuân phủ kín phía trước như mái tóc xõa xuống một lối xe chạy quanh co với những lùm cây tròn viền quanh. Một trong những tác phẩm điêu khắc của Marion, một món kim loại tua tủa giống như cái cào, đặt trên một bệ cột cạnh cửa chính.
Khi chiếc taxi lăn bánh lạo xạo trên lối đi rải sỏi, tôi thấy bà đứng đợi sẵn bên ngoài. Bà mặc chiếc quần bó màu đỏ và tôi nhớ một trong những email cuối cùng Marion gửi cho Tess, trước khi mọi chuyện vỡ lở. Trong đó, bà nói mình đang định phẫu thuật cắt bỏ những tĩnh mạch bị dãn ở hai chân, nhưng như thế nghĩa là sẽ phải mặc quần cho đến khi những vết sẹo mờ đi. Tôi tự hỏi phải chăng bà đã phẫu thuật rồi, hay là dù gì đi nữa thì bà vẫn sẽ mặc quần. Ý nghĩ vẩn vơ này lập tức kéo theo một cảm giác chao đảo, như thể hiện thực thình lình nhảy vào, và tôi phải cưỡng lại thôi thúc bảo tài xế tiếp tục chạy hết lối đi quanh co và quay ra nhà ga.
Chiếc xe dừng lại chỗ Marion đang đợi, tôi bước xuống và đứng trước mặt bà. Bà không nói gì, chỉ nhìn tôi một lượt, gương mặt bà kín bưng. Tôi có thể nhìn thấy Tess trong vóc dáng và cái mũi tẹt của bà. Bà sáu mươi bảy tuổi, già hơn mẹ tôi nhiều, nhưng trông bà –chính xác là không trẻ hơn, nhưng như thể bà được tạo ra với những nguyên liệu cao cấp hơn. Tóc đen và dài, nước da nâu như căng ra và bóng mịn. Tess kể với tôi là bà đã căng da mặt. Bà đeo một viên lam ngọc trên chuỗi vòng cổ, và nhỏ bé hơn tôi nghĩ, hai cánh tay bà khẳng khiu như cây thuốc kẻ.
Bà bảo tài xế đợi - “hai mươi phút nữa cô ta sẽ rời di” và quay vào nhà, không ngoái lại xem tôi có đi theo không. Phòng ngoài lát gỗ treo đầy tranh và đồ đạc cổ tối màu tỏa mùi được đánh bóng. Mẹ không bao giờ cho bọn con chạm vào mớ đồ cổ của mẹ, Tess đã viết Ở một trong những lá thư buộc tội của cô. Khi chúng tôi đi qua một cánh cửa mở, Marion quay người đóng nó lại, nhưng tôi kịp liếc thấy một cái tời kéo màu be, giống với cái của mẹ tôi. Ngôi nhà im ắng và tôi tự hỏi ông Jonathan ở đâu, và liệu tôi có phải gặp ông không.
Marion dẫn tôi vào phòng khách và ra hiệu cho tôi ngồi. Chiếc sofa màu hồng nhạt vô cùng thanh nhã khiến tôi lo những cái chân mảnh dẻ của nó sẽ gãy răng rắc khi tôi ngồi xuống. Marion an tọa trong một chiếc ghế mạ vàng lộng lẫy, cách xa năm bước. Tôi đã ước đoán được nhìn thấy nhiều hơn bóng dáng của bố Tess, vì trong những email, Marion thường kể ông đang xem tivi bên cạnh bà. Tôi đã hình dung một chiếc giường bệnh viện kê trước tivi, giống như của mẹ tôi, nhưng tôi không thể mường tượng bất kỳ thiết bị bằng nhựa lạc quẻ nào trong gian phòng như viện bảo tàng này.
Cuối cùng, Marion cất tiếng: “Vậy, cháu là cô gái đã đóng giả làm con gái tôi.” “Vâng”, tôi nói. “Tôi đã nói chuyện với cháu trên điện thoại. “Vâng.” “Nhưng trông cháu không giống Tess.” Câu nói có vẻ kỳ cục, tại sao tôi phải giống chứ? “Không ạ”, tôi nói. “Cháu béo.”
“Cháu không quá béo!” Tôi nói. “Cháu mặc size mười sáu.”
Im lặng bao trùm. Trước đó, tôi tưởng Marion đã gần như bị đo cơ mặt, nhưng bây giờ tôi có thể thấy những cái giật giật ở lông mày, như thể mặt bà muốn nhắn lại nhưng không thể được.
Tôi quyết định đã đến lúc cho bài phát biểu mà tôi đã chuẩn bị.
“Bác Marion…
“Đừng gọi tôi là Marion!” Bà cắt ngang.
“Bà Williams, Tess đã đề nghị cháu giúp cô ấy chỉ vì cô ấy không muốn làm bà buồn khổ. Cô ấy đã cố gắng để bà không đau đớn. Cháu biết bà và cô ấy có một số khúc mắc, nhưng cháu dần hiểu rõ cô ấy và cháu biết trong thâm tâm, cô ấy yêu bà…” “Tôi đã nói chuyện với cháu qua điện thoại”, bà ngắt lời. “Vâng”, tôi nói, tự hỏi tại sao bà cứ nhắc lại lời mình như thế.
“Nó có bảo cháu viết email đó không? Email về việc chúng tôi bắt đầu lại từ đầu, làm bạn bè?”
“Không ạ”, tôi thú nhận. “Thế mà cháu khẳng định là hiểu nó.”
“Cảnh sát nói cháu chưa từng gặp nó”, Marion nói. “Vâng.”
Tôi định bảo rằng chúng tôi đã nói chuyện rất nhiều, rằng tôi đã đọc tất cả email của cô ấy, nhưng Marion tiếp tục như thể bà không muốn nghe.
“Cháu có thực sự nghĩ rằng tôi sẽ vui khi không bao giờ gặp lại con gái mình nữa?”
“Cô ấy nói bà sẽ rất lo cho ông Jonathan. Bà sẽ không thể bỏ ông ấy lại và không cách nào bà bay đến Canada được.”
“Có lẽ vậy trong vài tháng trước mắt”, bà nói. “Nhưng… mãi mãi ư? Làm sao cháu có thể cho rằng chuyện đó sẽ thực hiện được?”
“Nó chỉ kéo dài trong sáu tháng thôi”, tôi nói.
“Sau đó thì sao?”
Tôi nhớ đến câu Adrian đã nói ở Heath. “Cháu sẽ dần dần giảm bớt sự tiếp xúc… giống như một cái Công tắc giảm độ sáng trên cuộc sống của cô ấy.”
Marion nhìn tôi như thể tôi bị điên.
“Tess rất được yêu mến”, bà nói, dằn từng chữ như nói với một đứa trẻ. “Không chỉ chúng tôi. Nó có nhiều bạn bè. Cháu không nghĩ đến lúc nào đó, sẽ có người muốn tới thăm nó, hoặc đề nghị lo chi phí cho nó quay về đây? Khi bố nó mất thì sao? Cháu thực sự cho rằng nó sẽ không về dự đám tang ư?”
“Không”, tôi đáp. Giọng nhỏ đến mức chính tôi cũng gần như không nghe thấy.
“Tôi nghĩ cháu đã đánh giá thấp mức độ yêu mến mà con bé nhận được”, Marion nói. “Có lẽ cháu không hiểu được điều đó. Tôi nghe nói cháu là một kẻ cô độc buồn bã. Không gia đình. Không bạn bè.”
Tôi hơi giật mình. Làm sao bà biết được những điều này? Tôi mở miệng định hỏi nhưng không tiếng nào bật ra, và tôi kinh hoàng nhận thấy thay vào đó hai mắt tôi rưng rưng nước mắt. Tôi cúi nhìn tấm thảm. Nó mang màu xanh đậm, lấm tấm vài đốm trắng, giống như gầu. Tôi nghĩ đến chuyện Tess kể về Isobel, vợ của Nicholas - chị ta đã đặt những tấm phủ bằng nhựa lên các lưng ghế khi ông Jonathan thi chơi để bảo vệ nó khỏi mái tóc nhọn của ông.
“Nó đã gặp kẻ đó như thế nào?” Bà hỏi. “Adrian ư? Cháu không biết.”
“Đừng cố bảo vệ hắn nữa.”
“Cháu quả thực không biết”, tôi nói. “Cháu đoán là họ gặp gỡ trên Red Pill.”
“Cái trang mạng đó à? Tess không quan tâm đến mấy cái đó. Nó không… như cháu.” Bà ngừng lại. “Chúng có phải là tình nhân không?”
Ý nghĩ này khá là sốc, nhưng tôi cố gắng không phản ứng.
“Cháu không biết.”
“Nhưng tôi tưởng cháu biết tất cả về con gái tôi”, bà nói một cách cay độc.
Tiếp tục là khoảng lặng. Một lần nữa, tôi nhìn đi nơi khác. Trên chiếc bàn cà phê là một chồng sách và tạp chí bóng bẩy gọn ghẽ và một xấp nhỏ tờ rơi quảng cáo lẫn thư rác, chắc là cũng sắp được cho vào thùng rác. Chúng nhắc tôi nhớ đến việc tìm thấy thư của bà trên hành lang nhà mình.
לל “Làm sao bà tìm ra tên và địa chỉ của cháu?” Tôi hỏi. Marion thở dài, như thể nó là một câu hỏi chán ngắt. “Một người bạn của chồng tôi có quen biết với lực lượng chức năng, ông ấy đã dò hỏi.”
“Ồ - hẳn là bà muốn nói tới chú Frank!” Tôi thốt lên, niềm vui xâu chuỗi được sự việc nhất thời át đi cảm giác khó chịu vì bị điều tra. “Frank, người không phải là chú ruột của Tess, đã là một chánh thanh tra cho đến khi buộc phải về hưu sớm do bị tố cáo nhận số tiền…” “Phải”, Marion lạnh lùng nói.
Đúng lúc đó, vang lên một tiếng động trong nhà, một tiếng trầm đục, tôi nghĩ chắc là từ ông Jonathan.
“Tôi xin phép một lát”, Marion nói, như thể chúng tôi đang ở một buổi tiệc trà lịch sự, và nhanh nhẹn rời khỏi phòng. Tôi nghe tiếng bà ngoài sảnh, gọi to, “Helen!” Tôi ngắm những tranh ảnh trên tường, nhận ra một trong những bức tranh của Tess, những vòng tròn xanh lá đồng tâm bị rạch vào những vệt đỏ. Có những bức ảnh Marion hồi trẻ, trông đẹp rực rỡ ở một xứ lạ mà tôi đoán là Chile, mấy bức ảnh Tess và Nicholas lúc nhỏ. Hầu hết những ảnh này tôi đã thấy, nhưng có một bức của Tess hoàn toàn mới đối với tôi: một tấm ảnh kỷ yếu nhà trường chụp cô Ở tuổi thiếu niên, với cặp mắt tô đen và mái tóc buộc cao. Nụ cười của cô giống như nụ cười trong bức ảnh đầu tiên tôi được nhìn thấy, bức ảnh tại bữa tiệc, nơi cô đang trao đổi ánh mắt ranh mãnh với người chụp ảnh.
Marion trở lại, ngồi xuống chiếc ghế mạ vàng, bắt tréo hai chân ở mắt cá.
“Helen là nhân viên chăm sóc mới của bà à?” Tôi hỏi. “Chuyện gì xảy ra với Kirsty vậy?”
Mắt Marion nheo lại.
“Chuyện gì xảy ra với Kirsty không phải việc của cô, bất cứ chuyện gì xảy ra trong ngôi nhà này đều không phải việc của CỐ.” Giọng bà vút lên, và tôi để ý hai bàn tay bà nắm chặt lại, nhưng những móng tay quá dài để nó khép hẳn vào thành nắm đấm. “Sao cô dám! Sao cô dám! Tess là con gái tôi. Cô tưởng là cô hiểu nó, nhưng không đâu. Cô không hiểu nó chút nào. Tôi là mẹ nó. Tôi mới hiểu nó.”
Lưỡi tôi ngứa ngáy muốn chỉnh lại lời bà - đã từng hiểu nó – nhưng tôi kìm lại.
“Cô biết không, cô chẳng tỏ vẻ gì hối hận về việc mình đã làm”, bà tiếp tục. “Với tôi. Với tất cả chúng tôi. Với cuộc sống đã mất của nó. Cô không có trái tim à?”
Tôi nuốt khan và bắt đầu nói.
“Cháu tin vào sự tự chủ đối với cơ thể của mỗi người, và…”
“Im đi!” Marion thét lên, mặt đỏ bừng. “Im đi, im đi, im đi!”
Một phút yên lặng. Thực ra là hơn một phút. Tôi nghĩ cơn bùng nổ làm bà sốc không kém gì tôi. Marion lần lượt lau hai mắt bằng ngón tay, cái móng tay đỏ rực lướt qua dưới lông mi, và khi cất tiếng, giọng bà đã điềm tĩnh trở lại.
“Tại sao nó đi Tây Ban Nha?”
Tôi nhăn trán, bối rối. “Khi nào ạ?”
“Và… hôm đó. Mùa hè năm ngoái. Cảnh sát nói nó đi phà đến Tây Ban Nha, đi Bilbao. Sau đó họ không tìm ra dấu vết nào của nó nữa. Nó đi đâu?”
Tôi cố gắng dung nạp thông tin mới này.
“Cháu không biết cô ấy đã làm chuyện đó”, cuối cùng tôi nói.
“Ồ thật sao?” Giọng bà đầy nghi ngờ.
“Cháu thề”, tôi nói, cảm thấy nước mắt chực trào ra. “Chúng cháu không hề nói về chuyện đó. Đó là chuyện chúng cháu không hề bàn tới.”
“Xác nó ở đâu?”
“Cháu không biết.”
“Nó đã làm cách nào? Chuyện gì đã xảy ra?” “Cháu không biết! Thật sự cháu không biết.”
“Tôi cần biết”, bà nói, nhưng lặng lẽ, như nói với chính mình hơn là với tôi. Chúng tôi ngồi đó, lặng thinh hồi lâu, nhưng khác những lần im lặng trước đó – không quá gượng gạo, chỉ nặng nề thôi.
Rồi Marion lên tiếng, bình thản, “Cô đi được rồi!” Tôi thận trọng nhấc mình khỏi sofa. Hai bàn tay bà đan vào nhau trong lòng và đầu bà ngoảnh khỏi tôi, nhìn vào tường.
“Cháu xin lỗi”, tôi nói. Ý tôi là xin lỗi vì đã làm bà buồn, chứ không phải xin lỗi vì những gì tôi đã làm, và tôi định nói rạch ròi ra, nhưng rồi lại thấy không nên. Tôi bước ra phòng ngoài bóng lộn, tăng tốc khi cảm thấy ngực mình nghẹn ứ, và chật vật lao ra ngoài đến chỗ bồn hoa trước khi nôn thắc nên tháo, ngay đằng sau tác phẩm điêu khắc của Marion.
“Ôi trời”, người tài xế thốt lên khi tôi ngồi vào ghế sau. “Cô đã nôn hết chưa đấy?”
Tôi gật đầu, ông ta đưa tôi tờ khăn giấy.
Ý nghĩ tìm hiểu chuyện gì đã xảy ra với Tess đến với tôi trên chuyến tàu về nhà. Tôi ngồi ở chiếc ghế sát cửa sổ, khi con tàu thong thả chạy qua miền thôn quê ảm đạm, và nghĩ về gương mặt bà Marion: đôi lông mày giật giật đó, câu “Tôi cần biết” đó. Và khi ấy, tôi quyết định sẽ dùng kiến thức của mình về Tess để tính toán lịch trình khả dĩ nhất của cô sau khi trả phòng, và cố gắng tìm ra câu trả lời cho những câu hỏi của Marion.
Thông tin Tess đến Tây Ban Nha đã làm tôi bất ngờ, tôi cho rằng bất cứ phát hiện nào về những hoạt động trước khi trả phòng của cô ắt đã có rồi. Rốt cuộc, tôi phỏng đoán cô đã tự sát rất sớm sau đó, nếu không phải vào chính hôm đó. Nhưng tôi còn có phản ứng khác khi nghe tin, mà tôi phải xấu hổ thừa nhận là không hợp lý chút nào: một cơn bực bội vì Tess đã lẻn đi sau lưng tôi. Sau khi trả phòng, tôi phải nắm quyền kiểm soát chứ. Tôi cứ nghĩ cuộc sống của cô nằm trong tay tôi.
Tôi không còn giữ những email của Tess để làm việc nữa, những tài khoản của cô đã bị khóa khi mọi chuyện được đưa ra ánh sáng. Tuy nhiên, tôi vẫn còn trí nhớ và Google. Tôi còn có một manh mối khác, nó có thể thu hẹp diện tìm kiếm: email Tess đã nhận, mười ngày sau khi trả phòng, từ Jennifer - bạn Cô, người cho biết đã trông thấy cô tại Alhambra ở Granada. Lúc ấy, tôi cho là nhận nhầm người và không mấy để ý, nhưng bây giờ, kết hợp thông tin về chuyến phà của cô, nó trở nên đáng chú ý.
Càng nghĩ về sự mâu thuẫn thời gian ấy, tôi càng thấy khả năng cao là đã có một khoảng trống giữa thời điểm trả phòng và hành động thực sự của CỐ.
Cũng hợp lý thôi nếu Tess sang một quốc gia khác để làm điều đó, một nơi mà cô dễ bề từ bỏ chính mình theo cách khiến cô không thể bị nhận dạng. Và một khi Tây Ban Nha, cô ắt sẽ bị rơi vào quên lãng, thoát khỏi danh tính cũ: một người vô danh, không có trách nhiệm VỚi bất cứ ai. Trong hoàn cảnh đó, chẳng có gì Vô lý nếu cô dành ra vài ngày suy nghĩ, dần dần chấp nhận điều mình sắp thực hiện.
Tất nhiên, chuyện cô bị trông thấy ở Granada không có nghĩa là cô Ở gần đó. Thành phố này nằm ở đầu bên kia Tây Ban Nha so với Bilbao, nơi cô đã đặt chân đến; nếu cổ đã đi xa đến thế, rất có thể cô còn đi xa hơn. Nên dù rất muốn chỉ tập trung vào thành phố đó và khu vực lân cận, tôi vẫn phải mở rộng những lựa chọn khác.
Tiếp đến, tôi xem xét kiểu địa điểm mà Tess sẽ đến Tây Ban Nha. Tiêu chí cơ bản là giản dị, giống những tiêu chí tôi đã sử dụng để chọn Sointula: một nơi nào đó hoang sơ và có phong cách hippy, trái ngược với London. Nhưng trong trường hợp này, tôi nghĩ khả năng là Tess sẽ bị thu hút tới một nơi có ý nghĩa đối với cô, hoặc bảo đảm bầu không khí cô mong muốn. Tóm lại, tôi nghĩ có thể cô đã trải qua những ngày mất tích, trước khi trả phòng ở một chốn quen thuộc với mình.
Theo tôi biết, Tess chưa đến Granada trước đó, nhưng cô đã có “những kỳ nghỉ mini” ở cả Barcelona và Madrid; lần đầu tiên với một người bạn trai ngắn ngày tên Boris, người mà cô đã cãi vã trong bữa trưa ngày đầu tiên, gọi anh ta là “đồ hèn” khi anh ta không dám mút đầu một con tôm, và lần sau với một nhóm phụ nữ trong dịp cuối tuần của hội chị em “chán đời”. Tuy nhiên sau khi tra những thành phố đó trên Google, tôi chắc chắn khó có khả năng cô đến hai nơi ấy. Chúng ồn ào và đông đúc, không phải những điểm đến hiển nhiên cho những ai khao khát sự yên bình. Nhưng tra yên tĩnh + hẻo lánh + Tây Ban Nha rõ ràng sẽ không giúp tôi đi được quá xa.
Không có những đầu mối chắc chắn, cuộc tìm kiếm của tôi nhanh chóng nguội lạnh, mặc dù tôi vẫn tiếp tục dành một ít thời gian hàng ngày cho nó. Thực ra, bước đột phá không đến trong nhiều tháng mỉa mai thay, khi tâm trí tôi không đặt ở nhiệm vụ trước mắt. Tôi còn mải nghĩ đến Connor.
Thậm chí sau tất cả quãng thời gian vừa rồi, anh ta vẫn xâm chiếm những ý nghĩ của tôi, bất chấp chúng tôi không còn liên lạc. Sau cuộc đối đầu của chúng tôi, anh ta đã gửi một email cuối cùng, hai tiếng sau khi anh ta bỏ tôi mà đi ở Temple. Nó ở trong hòm thư của Tess khi tôi bật điện thoại sau khi ra khỏi đồn cảnh sát, hóa ra đó là một khoảng hẹp giữa lời khai nhận của tôi và thời điểm những tài khoản email và Facebook của cô bị khóa.
Nó ngắn ngủi và cô đọng.
Thỏa thuận thế này. Cô không nói với Chrissie, và tôi không nói với cảnh sát. OK?
Tôi trả lời, Tôi đã nói với cảnh sát rồi, nhưng tôi sẽ không nói với Chrissie.
Tôi dừng lại. Tôi có vô vàn câu hỏi. Nhưng tôi quyết định chỉ hỏi một câu.
Câu “Hồn anh/em trước đã” từ đâu ra? Nó mang ý nghĩa gì? Phản hồi của anh ta đến sau ba mươi giây.
Tôi không biết.
Ý anh là sao? Tôi hỏi.
Tôi không biết, anh ta nói. Có lần Tess nói câu đó, chẳng nhớ trong hoàn cảnh nào. Nó cứ thế trở thành một câu chuyện ngốc nghếch giữa chúng tôi, một trò đùa riêng tư. Và đó là giao tiếp cuối cùng của chúng tôi. Nhưng, như tôi đã nói, nhiều tuần sau đó, anh ta chưa bao giờ rời xa những ý nghĩ của tôi. Như thể có một bộ phim không ngừng chiếu trong đầu tôi về anh ta với Công việc thường ngày, chủ yếu gồm những chi tiết vụn vặt, không đáng chú ý mà tôi đã tận mắt chứng kiến hoặc có thể hình dung sống động. Bàn tay anh ta di chuột khi làm việc trước máy tính; cái gật đầu chào của anh ta với người đàn ông sau quầy sandwich; cách anh ta khoác áo khoác khi rời văn phòng. Tuy nhiên đến đoạn cuộc sống ở nhà anh ta với Chrissie và lũ trẻ, thì cuộn băng trống trơn.
Tôi hồi tưởng sự trao đổi thư từ giữa chúng tôi, âm thầm xem đi xem lại những email của anh ta để xem liệu có manh mối nào tôi nên lưu ý, nhớ lại cảm giác khi tôi nhận một tin nhắn, hoặc gửi đi cái mà tôi coi là câu trả lời đặc biệt dí dỏm. Hoạt động này làm tôi cảm thấy nặng trĩu vì buồn, như một cái khăn tắm ướt sũng; rồi thỉnh thoảng tôi sẽ gặp phải những cơn giận dữ đột ngột không biết trút vào đâu.
Sáng hôm đó tôi ngồi trước laptop, những ý nghĩ thường trực quay cuồng trong đầu, còn bề ngoài tôi ra vẻ tiếp tục tìm kiếm tung tích của Tess… Vài tuần trở lại đây, việc này đã hạ xuống mức tra Google những tổ hợp Câu chữ khác nhau liên quan đến đi lại, Tây Ban Nha và Granada, rà qua các kết quả với hi vọng tôi sẽ vấp phải một đầu mối tiềm năng hoặc lóe lên một hồi ức. Tôi cuộn qua một trang quảng cáo những chuyến bay của EasyJet tối Granada, trang web tôi đã bắt gặp rất nhiều lần trước đây. Tuy nhiên ngày hôm ấy, tên của hãng hàng không cộng Với những ý nghĩ về Connor 6 giây phút đó đã nảy ra một ta liên tưởng, tôi liền tập trung vào nó cho đến khi nhỏ lại hoàn toàn.
Những ngày đầu trao đổi thư từ, tôi – Tess đã gửi cho Connor một email tiêu chuẩn miêu tả Sointula, nó nhiều màu sắc như thế nào và vân vân.
Nó có bầu không khí tuyệt vời, em nghĩ chắc hẳn nó nằm trên một đường thẳng bí ẩn. Em thấy rất hạnh phúc ở đây, lần đầu tiên em có thể suy nghĩ và hít thở trột cách tự do.
Và hồi âm của Connor theo kiểu:
Nhưng sao lại là Canada? Ít nhất em phải chiều chuộng cái khuynh hướng hippy của mình ở nơi nào đó có đường bay EasyJet chứ.
Khi ấy, tôi chẳng nghĩ ngợi nhiều. Giờ đây tôi bập vào nó. Tôi bắt đầu bằng việc xem danh sách những điểm đến do hãng hàng không này phục vụ nhưng không thu được gì: Granada là một trong hàng tá điểm đến ở châu Âu. Thêm một tiếng đồng hồ nữa tra Google VÔ ích, tôi kết luận chẳng còn cách nào khác ngoài viết email hỏi Connor biết những gì về nơi hippy mà anh ta nhắc đến.
Viễn cảnh giao tiếp với anh ta lần nữa làm trào lên một đợt adrenalin, mãnh liệt như cảm giác tôi có khi nhìn thấy anh ta bằng xương bằng thịt. Tôi không ngăn được mình nghĩ về ngày trưỐC, khi mà dù viết cho nhau hơn chục lần mỗi ngày, tôi vẫn rạo rực vui sướng khi nhận một email từ anh ta; cảm giác như chúng tôi là thành viên của một câu lạc bộ tí hon không cho phép ai khác đặt chân vào, chỉ có chúng tôi biết điều lệ. Trong thoáng chốc, tôi nảy sinh khao khát được vô tư quay lại thuở đó đến ứa nước mắt. Rồi ký ức về sự phản bội và vô cảm của anh ta trong cuộc gặp ở Temple lại tràn về. Tôi cố gắng tập trung vào chúng, để sự giận dữ và tổn thương khiến tôi cứng rắn lên.
Tất nhiên, trước đó tôi đã trao đổi với Connor qua tài khoản email của Tess, nhưng cách đó không thực hiện được nữa. Còn địa chỉ email của tôi ghi đầy đủ tên tôi và tôi không muốn để lộ. Cho nên trước hết tôi tạo một tài khoản mới, nặc danh. Tôi suy nghĩ một cái tên sao cho phù hợp: nó phải lập tức gây chú ý, vì có nguy cơ anh ta sẽ liệt ngay người nhận vô danh vào mục spam. Tôi cân nhắc tên kissmefirst@gmail.com, nhưng có thể anh ta sẽ không mở nó nếu biết là do tôi gửi, nên tôi quyết định dùng tên nữ ca sĩ mà anh ta kể với tôi là anh ta rất yêu thích hồi đi học: Carol Decker.
Dòng tiêu đề là Xin chào lần nữa và giọng tôi sặc mùi Công việc, không có bất cứ đả động nào đến những gì đã qua giữa chúng tôi. Không, tôi không phải là Carol Decker. Tôi là Leila, bạn của Tess. Chúng ta đã gặp nhau cách đây không lâu gần văn phòng anh. Hiện giờ tôi cần sự giúp đỡ của anh. Tôi đang giúp Marion - mẹ của Tess, tiến hành tìm kiếm nơi cô ấy có thể từng xuất hiện, và tôi mong anh nói rõ hơn một chi tiết được anh nhắc đến trong một email gửi cho Tess hồi mùa hè. Email đề cập một địa điểm “hippy” cô ấy từng đến bằng máy bay của hãng EasyJet. Đó là nơi nào vậy?
Bốn mươi phút sau, anh ta trả lời.
Tôi không có ý định sa vào một cuộc trao đổi dài dòng, nên tôi sẽ không nhận xét về tính mỉa mai cực độ trong nhiệm vụ cao cả của cô khi giúp mẹ của Tess tìm con gái. Nhưng đây là thông tin cô cần: nhiều năm trước, khi chúng tôi còn bên nhau, Tess kể cô ấy đã trải qua mùa hè năm ngoái với một cộng đồng hippy nào đó ở Alpujarras. Bơi khỏa thân dưới sông, phê pha quanh đống lửa trại, giao lưu với nữ thần Gaia và những người Pháp nồng nhiệt, đại loại thế. Tôi không biết tên.
OK?
Đừng liên lạc với tôi nữa.
Hết sức phấn khích với thông tin này, tôi không cảm thấy quá tổn thương bởi giọng điệu thù địch của Connor. Alpujarras, theo như tôi tìm hiểu, nằm gần Granada, và Google cho biết chỉ có một cộng đồng lâu năm trong vùng. Nửa tiếng sau, tôi đã đặt vé máy bay.
Khi đó mọi chuyện đầy triển vọng. Tôi dám chắc rằng cô đã đến đó; rằng Cộng đồng ấy sẽ nắm giữ manh mối về cái chết của cô. Nhưng kết quả là con số không. Đúng là có một cặp đôi ở đó nghĩ rằng có lẽ họ đã thấy Tess vào mùa hè năm ngoái, nhưng họ không chắc chắn. Như thế chưa đủ. Và ngay cả khi tôi xác định chắc chắn rằng cô đã đến đó, thì cô đã đi đâu sau khi rời đi vẫn là điều bí ẩn; cô đã chết ở đâu. Tôi không tiến được bước nào trong việc tìm kiếm thi thể cô.
Bây giờ tôi cảm thấy xấu hổ vì đã dấn thân vào nhiệm vụ này, không lường trước được những trở ngại. Tất cả những gì tôi có thể hài lòng là tôi đã không nói với Marion mình đến đây, nên bà sẽ không nuôi hi vọng để rồi thất vọng.
Cuối cùng chúng tôi cũng ở trên không trung. Tôi phải cất laptop đi khi máy bay cất cánh, tôi nhìn ra cửa sổ, nhất thời chỉ trông thấy một màu trắng bên dưới, như thể mây đã rời khỏi bầu trời. Rồi tôi nhận ra đó là khu nhà kính, một miếng vá bằng plastic trắng phủ lên vùng đất từ dãy núi ra tới biển.