Hôn Em Trước Đã

Lượt đọc: 268 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Thứ Hai, ngày 22 tháng Tám năm 2011

Sáng nay tôi kể cho Annie về mẹ, và tôi lo lắng về những hậu quả có thể xảy đến - tôi không nghĩ chị sẽ kể cho bất cứ ai - ít hơn sự thật tôi buột miệng ra. Tôi nghĩ có thể tôi bị ảnh hưởng bởi ma túy. Tất nhiên tôi không dùng, nhưng mọi người xung quanh tôi dùng, và không khí đượm mùi khói ngòn ngọt khó tránh được không hít phải và có thể gây suy yếu tinh thần tôi.

Chuyện là thế này. Vào tầm ba giờ chiều. Tôi bị Annie gọi dậy, chị thông báo đã đến giờ chuẩn bị cho “Tiệc trăng tròn”. Tôi được biết, cứ đến ngày rằm, những cư dân của Cộng đồng sẽ nấu nướng ăn uống cùng nhau, và mọi người đều được trông đợi “góp phần”. Tôi giải thích với chị rằng tôi không hay biết về phong tục này và sẽ không tham gia, nhưng chị nói, “ề thôi đi, dậy nào”, cuối cùng tôi phải rời tấm đệm, đi theo chị và lũ trẻ tới bãi đất trống.

Bên ngoài cái lều lớn hình nón, gian bếp tạm đã được dựng lên, Vải mấy dụng cụ nấu ăn thô sơ cũ kĩ và những xô đựng rau đặt trên những cái bàn kê mê. Có mấy người lăng xăng xung quanh, băm chặt, khiêng vác và nhìn chung đang tiêu tốn năng lượng nhiều hơn cả tuần cộng lại. Giờ tôi đã biết mặt hầu hết mọi người qua những lần hỏi han: Davide với cái quần short cũn cỡn; Johanna, người Đức với những cái đinh bạc gắn trên lông mày; Maria, với mái tóc búi thành những búi nhiều màu và xả vòng, như những ngón tay, người đàn ông Pháp lắm mụn. Deirdre, một trong số ít người ở Cộng đồng không gầy - mà còn to cao, như cái tủ lạnh – có vẻ như là tổng phụ trách, và tuyên bố chúng tôi sẽ làm món rau hầm. Tôi được phát một cái Xô và được phân việc thái cà rốt, cùng với Annie, Milo và Bandit, một người đàn ông Tây Ban Nha mảnh khảnh.

Khi bắt đầu, tôi nhận ra mình khá thích việc thái rau củ này, tôi chăm chú thái thành những hình tròn đều nhau, mỗi miếng dày khoảng một centimet. Tôi xếp chúng như những đồng xèng trong casino, mười miếng một Cột. Tính chất tuần tự của Công việc khiến cho suy nghĩ của tôi trôi lang thang, và tôi bắt đầu nhớ đến những bữa ăn trưa ở nhà bà Margaret. Mẹ và tôi đến thăm bà ba lần trong năm, vào ngày Tặng Quà, Chủ nhật Phục sinh và ngày sinh nhật bà, bà lúc nào cũng có món cà rốt đóng hộp. Đó là những lần duy nhất tôi ăn rau. Mẹ bảo đấy là ý hay, hầu hết các bậc phụ huynh đều bắt con mình ăn rau hàng ngày.

Tôi không biết vì sao chúng tôi gọi bà là bà Margaret;

240

.

không phải tôi còn có bà ngoại khác để phân biệt đâu. Bà Sống ở khu nhà dành cho người già ở Kent và luôn bật lò sưởi, kể cả vào lễ Phục sinh. Khi mẹ bắt đầu không chịu được nhiệt độ cao, bà vẫn không giảm nó xuống. “Tất cả chúng ta đều có bệnh tật”, bà nói, như thể bệnh thấp khớp của bà tương đương với bệnh MS của mẹ. Bà đã sống ở Elm Tree Court lâu lắm rồi, từ khi ông ngoại Geoffrey của tôi mất năm 1994, nhưng hình như bà vẫn khó chịu khi Ở đó. Bà luôn than phiền về nhân viên không làm đúng việc, và những người ở cùng khác quá già. Bà cũng nghĩ tất cả mọi người đang tìm cách lợi dụng và lừa tiền bà; kể cả con gái bà. Mẹ sẽ mang đến những hộp bánh quy, một chai rượu sữa Bailey và bà Margaret sẽ săm soi đầy vẻ nghi ngờ, ngửi ngửi chai rượu và giường kính lão đọc tên các thành phần, như hi vọng tìm thấy một chất độc được liệt kê trong đấy. Rồi bà sẽ dọn một bữa ăn kinh khủng, như một cái ức gà khô, và luôn luôn đi cùng những miếng cà rất nhỏ hình tròn mềm nhũn, ghê người này.

Tôi chưa bao giờ nghĩ ra được điều gì để nói với bà, và bà cũng chẳng quan tâm nhiều đến tôi, kể cả vào sinh nhật bà khi, theo gợi ý của mẹ, tôi tặng bà một tuyển tập DVD tôi thu lại những đoạn hay nhất của chương trình truyền hình Bargain Hunt. Lần duy nhất bà tươi tỉnh là vào năm 2007 khi chúng tôi nghĩ tôi có thể vào đại học; khi mẹ kể chuyện này, bà liền hỏi khi nào tôi sẽ đi và hỏi mẹ về kích thước phòng ngủ của tôi và liệu cái tủ áo to đùng, xấu xí của bà có kê vừa trong đó không. Trên chuyến tàu trở về, mẹ giải thích là bà Margaret nghĩ rằng sau trận đau tim của ông ngoại, đáng lẽ mẹ nên mời bà về sống cùng ở phố Leverton, dù rằng đã có lần bà đến chơi và biết chúng tôi chỉ có hai phòng ngủ. Bà nghĩ mẹ đã phạm sai lầm khi không kết hôn, nếu thế mẹ ắt sẽ có ngôi nhà lớn hơn. Bà có phần “cổ hủ” về chuyện bố tôi không sống cùng.

Chuyến thăm tiếp theo, khi bà phát hiện ra chúng tôi đã quyết định không chọn trường đại học, bà gắt gỏng hơn bình thường. Khi tôi với tay lấy chiếc bánh quy thứ ba, bà liền kéo cái hộp ra xa, và tuyên bố: tôi quá béo. “Chị nuông chiều nó quá”, bà bảo với mẹ, như thể tôi không có mặt ở đó. “Một đứa trẻ béo ú, kỳ quặc. Chị sẽ chẳng bao giờ tìm được ai rước nó khỏi tay chị đâu.” Bình thường mẹ đối xử lịch sự với bà, nhưng lần đó mẹ nổi giận và nói không bao giờ muốn tôi “bị rước khỏi tay mẹ” và rằng nếu “nuông chiều quá” theo ý bà là để tôi được làm chính mình và yêu thương tôi, thì mẹ sẽ tiếp tục làm thế, cảm ơn bà.

Khi mẹ không thể xuống Kent thăm bà được nữa, chắc chắn bà Margaret cũng không lên London. Bà thậm chí không đến đám tang. Thay vào đó bà gửi cho tôi một bài diễn văn để tôi đọc hộ. Con gái Susan của tôi là một đứa tré ngoan có nhiều sở thích và thú vui. Mặc dù cuộc sống trưởng thành của nó không hoàn toàn đáp ứng được những hứa hẹn thời trẻ, nó chịu đựng những thất bại với một sự dẻo dai và phần lớn hoàn cảnh do nó tự tạo ra.

Khỏi cần nói, tôi không đọc nó.

Tôi chìm đắm trong những suy nghĩ nên tốc độ thái đã chậm lại, đến khi con dao của tôi chỉ đặt lên củ cà rốt. Cơn mơ màng của tôi bị phá vỡ khi Deirdre đặt tay lên vai tôi.

“Có thể nhanh tay lên chút được không?”

Tôi nhìn quanh, thấy những người khác đã xong việc và những cái vạc lớn bằng kim loại đã tỏa hơi trên bếp lửa. Tôi thái thật nhanh và hoàn thành việc cung cấp cà rốt. Trong lúc món hầm đang được nấu, mọi người tản mát xung quanh, ngồi xuống đất và hút những điếu thuốc bé xíu cứ vài phút phải châm lại một lần. Annie đã quay về xe tải để thay tã cho đứa bé, nên tôi ngồi xuống cạnh một Ông già với bộ ngực phủ lông trắng và đội mũ rộng vành mà tôi đã bắt chuyện vào ngày thứ hai tôi ở đây. Phía bên kia ông ta là một cặp đôi tôi không tài nào nhận ra ngay trong ánh lửa bập bùng.

“Hey, cô thế nào”, ông già đó hỏi, rồi quay sang cặp đôi. “Cô ấy đã đi taxi từ sân bay về đây đấy.”

Xem ra đây là cách mà tôi được biết tới ở nơi này. Người đàn ông hỏi, “Cô mất bao nhiêu tiền?”

Khi tôi trả lời, anh ta lại có phản ứng miệng há tay huơ quen thuộc, rồi nói với người bạn gái, “Năm ngoái cũng có một người phụ nữ đến Granada bằng taxi, em nhỏ không?” Tôi vốn không chú ý lắm, nhưng nghe đến đây tôi lập tức cảnh giác, nhớ đến email Tess nhận được không lâu sau khi trả phòng, từ người bạn Jennifer bảo rằng - tôi cho là nhầm lẫn – đã nhìn thấy cô tại Alhambra ở Granada.

“Khi nào vậy?” Tôi hỏi.

Tháng Tám, họ nói.

Tôi cho họ xem tấm ảnh của Tess, họ hội ý với nhau rồi nói đúng, đó có thể là cô.

Đó là phản hồi chắc chắn nhất tôi nhận được cho những câu hỏi của mình. Hỏi sâu hơn thì cặp đôi nói họ đã ở đây hai tháng vào mùa hè năm ngoái, và chắc chắn cô đã ở đây khi họ đến. Sau khi họ đến được vài ngày thì cô đi Granada, rồi trở về Cộng đồng, cổ lưu lại khoảng một tuần nữa rồi đi. Họ không biết cô đã đi đâu. Cô đã cắm trại một mình, như tôi đã đoán. Tôi những tưởng cô ắt sẽ khép mình, nhưng hình như không: cô khá hòa đồng, họ nói, và thường tham gia những sinh hoạt chung của cộng đồng.

Tôi hỏi người phụ nữ đó đã nói những gì.

“Cô ta không nói nhiều”, người đàn ông đáp. “Cô ta trầm lặng.”

“Cô ta bảo cô ta thích vòng cổ của tôi”, người phụ nữ nói.

“Bộ dạng cô ấy thế nào?” Tôi hỏi.

Người phụ nữ nhún vai. “Cô ta an tĩnh”, nghĩa là nó toát ra vẻ “bình thản và vui tươi” theo ngôn ngữ hippy. Rồi cô ta nói thêm, “Tôi nhớ rồi. Tên cô ta là Joan.”

Theo cách nhấn giọng của cô ta, tôi nghe nhầm cái tên thành “John”.

“Nhưng đó là tên con trai mà.”

“Không, không”, cô ta nói. “J-O-A-N.”

Joan, các bạn nhỏ không, là tên con mèo của Tess, con mèo đã mất tích. Đó có thể là một sự trùng hợp, và tôi cố không trở nên quá kích động. Vả lại, dù cho cô “Joan” này là Tess đi nữa, tôi vẫn không tiến thêm bước nào trong việc tìm hiểu chuyện gì đã xảy ra với cô. Tuy nhiên, cho đến giờ, đây là phát hiện tích cực nhất, và tôi thấy hài lòng vì mối nghi ngờ cô đã đến cộng đồng này được chứng minh là đúng.

Cặp đôi quay về trò chuyện với nhau, còn tôi nhìn chằm chằm vào đống lửa. Tôi luôn luôn thích lửa; tôi thường đốt lửa trong mảnh vườn sau ở phố Leverton mỗi khi đi học về. Ở đây, khoai tây được nướng bên rìa đống lửa, tôi quan sát lớp vỏ của chúng nhăn lại rồi chuyển sang đen. Giờ đây nhiều người đã tụ tập xung quanh, cho thức ăn chín, và nói chuyện rôm rả bằng đủ mọi thứ tiếng át cả tiếng trống bongo và guitar thường trực. Một người đàn ông lôi ra một cây gậy dài và tạo ra âm thanh thô tục khi anh ta thổi nó.

Khi món hầm cuối cùng cũng sẵn sàng, mọi người xúm quanh những cái vạc, cầm những chiếc đĩa thiếc

245

LES

13

hình như là tự trang bị. Chẳng ai nhắc nhở rằng chúng tôi phải tự mang đĩa, và tất nhiên tôi chẳng có cái nào, nhưng Annie đã mang cho tôi một chiếc dự trữ trong xe tải. Tôi đợi đến khi hàng người đã thưa thớt mới bước lên xin người phục vụ một ít rau hầm và lấy ba miếng bánh mì trắng dày cộp. Tôi ngồi xuống cạnh Annie và Milo, đang định ăn thì Deirdre phát ra một tiếng, kiểu “Ommmm”. Những người khác đáp lời, “Ommmm”, rồi cùng đồng thanh: “Cám ơn vì món ăn!”

Tôi vốn định ăn thật nhanh rồi về lều nhưng tôi thấy mình vẫn ngồi lại sau khi ăn xong. Tôi ngạc nhiên thấy mình đang cảm thấy thật dễ chịu. Khi đêm buông xuống, mọi người đều mặc áo hoodie, giống tôi, và tôi cảm thấy tương đồng với họ hơn so với ban ngày khi họ nằm phơi nắng. Tôi nhìn quanh tất cả những người ở đó, đội mũ trùm, gương mặt chập chờn ánh lửa và trò chuyện VỚi nhau, nghĩ rằng trong họ thật đẹp. Hơn cả thế: vào giây phút ấy, tôi có cảm tưởng rằng họ không chỉ là những người nước ngoài xa lạ tình cờ mà chúng tôi đều cùng một đội, như một bộ lạc nghỉ đêm trước một hành trình dài hay một trận đánh. Trẻ con chạy lăng xăng, đút những miếng hầm cho lũ chó - bọn này, tôi để ý thấy, lại lẳng lặng nhổ ra. Trăng sáng vằng vặc và sà xuống thấp trên nền trời, những vì sao nhấp nháy như đang gửi cho tôi những tin nhắn bằng mã Morse. Một số người chốc chốc lại ném vỏ cam vào đống lửa, tạo ra một mùi hương khoan khoái,

246 SIA

còn một mùi thơm ngọt mà hắc khác. Khi tôi bắt đầu nhận thấy, dường như ai cũng đang hút trừ tôi - ngay cả Annie cũng nhận một hơi thuốc lá, và tôi trông thấy Bandit đang khoe với người hàng xóm trầm trồ của mình một cái que gì đó rất đậm mùi trông giống cây kẹo bông xanh lá.

Ngồi bên cạnh tôi là một người phụ nữ lớn tuổi tên là Esme, có mái tóc xám tết những bím nhỏ, bộ ngực phẳng lì và đang say sưa bàn luận với một người đàn ông ngồi lom khom phía trước mình về ưu khuyết điểm của việc chạy xe bằng năng lượng dầu thực vật. Phía bên này tôi, Annie đang nói chuyện với Synth, một phụ nữ tóc bện cô tuổi chị và cũng mang theo mấy đứa con đến đây. Tôi lắng nghe câu chuyện của họ. Annie đang kể về đồ gỗ nhà mình, và chị muốn bắt đầu sử dụng tre để làm chúng ra sao. Synth hỏi chị định tìm nguyên liệu ở đâu.

“Trung Quốc”, Annie đáp

“Cô hài lòng với nó chứ?” Synth hỏi.

“À”, Annie nói. “Nó là chất liệu rất phù hợp.”

Synth lắc đầu, rồi bắt đầu giảng giải điều gì đó, song phần lớn bị chìm đi vì người đàn ông nọ bắt đầu thổi cây gậy thô lỗ của mình. Khi anh ta dừng lại lấy hơi, tôi nghe thấy Synth nói, “… còn lũ gấu trúc?”

Annie cười.

“Ồ, tôi nghĩ có đủ tre ở đó. Mà chẳng phải chỉ còn lại tám con gấu trúc thôi sao?” Đến đây, Synth còn hăng hái hơn, bàn tay dài xương xấu của chị ta xỉa vào không khí theo lời nói. “Chúng không được giúp đỡ vì Trung Quốc xuất khẩu tất cả tre. Chúng cần ăn hàng tấn mỗi ngày.”

Vẻ mặt Annie đã rất bực bội khi tôi nhìn Sang, hai má chị đỏ ửng. Tôi nghiêng người qua, cao giọng để Synth có thể nghe thấy.

“Để lũ gấu trúc chết đói thì có gì sai?”

Cả Synth và Annie đều quay sang nhìn tôi

. “Ý cô là sao?” Synth hỏi.

“Tuyệt chủng là một phần của sự sống trên trái đất. Và nếu lũ gấu trúc vô dụng, không tự lực đương đầu được với cuộc sống, thì chúng ta nên để chúng chết đi. Nhất là nếu chúng là trở ngại đối với những loài quan trọng hơn. Chúng ta không nên đa cảm. Chúng ta chỉ nên cứu những thứ đáng được cứu.” 72

Giờ đến lượt Synth trở nên khó chịu. “Cô nói lạ thật, và…”

Chị ta bị cắt ngang bởi sự xuất hiện của Bianca, người phụ nữ nhỏ thó cạo trọc đầu đã nói chuyện với tôi vào ngày thứ hai. Bà ta khom người trước mặt tôi và bắt đầu nói rì rầm. Tôi không nghe được trong tiếng lách tách của đống lửa nên phải ghé sát vào cho đến khi má tôi gần như chạm vào mà bà ta thì tôi mới nghe ra rằng bà ta vẫn đang nói về cái toilet và vì sao tôi nên sử dụng một nơi chung.

FU. LOTTIE MOGGACH

“Tôi không thể tin bà vẫn bám dai dẳng chuyện đó!” Tôi đáp lại. “Tôi có đủ cứt đái phải xử lý trong đời rồi, OK, và tôi không muốn nhìn thấy cái của bà.” Và rồi, để cho rõ, tôi nói thêm, còn to hơn, “Tôi đã từng phải chùi đít cho mẹ tôi đó.”

Tôi nghĩ mình ngạc nhiên y như Bianca trước sự bộc phát này. Như tôi nói đấy, tôi đã bị say khói thuốc xung quanh. Song lúc đó nói ra như vậy thật sảng khoái. Bianca ném cho tôi một ánh mắt lạ lùng và quay sang nói với Esme, còn tôi chuyển sự chú ý trở lại Annie và Synth. Synth vẫn đang liến thoắng, và tôi nghe được từ “nghiệp”. Chữ này liên quan tới cái gì tôi không biết, nhưng nó đánh vào một cái gì đó trong tôi và tôi lại cảm thấy buộc phải xen vào.

“Nghiệp không tồn tại”, tôi nói.

Một lần nữa, Annie và Synth nhìn sang. Synth nói, lần này bằng giọng thận trọng, “Tôi không có ý thô lỗ và cô có quyền bày tỏ quan điểm, nhưng có bao nhiêu tuổi rồi? cô biết những gì nào?”

“Nó là – tôi cố nghĩ ra từ Tess sẽ sử dụng - thứ VỞ vấn. Vớ vẩn. Cuộc đời không công bằng. Chẳng có thánh thần nào ban thưởng cho chị vì làm việc thiện đâu. Mẹ tôi là một người tốt chưa từng làm chuyện sai trái, và bà mắc bệnh MS.”

Annie quàng tay qua vai tôi, tôi không giãy ra.

“Ôi, tội nghiệp cô. Chuyện đó thật khó khăn.” Rồi Synth lại nói tiếp, gõ vào lưng Annie để chị chú ý. Annie quay lại với chị ta, vẫn quàng tay ôm tôi, và tôi nghe họ khôi phục cuộc trò chuyện mà chẳng lọt tai chữ nào. Tôi nhìn những người khác quanh đống lửa, tất cả đều đang mạnh ai nấy nói, và giờ không còn cảm giác tất cả ở cùng một đội nữa, thay vào đó, tôi thấy không ai thực sự quan tâm người khác đang nói gì. Họ ra vẻ chăm chú, nhưng thực ra họ chỉ muốn nói chứ không cần nghe. Họ được gì khi thật lòng quan tâm đến điều tôi nói chứ?

Tôi bóp mạnh đầu gối Annie, để chị quay sang tôi. Mặt Synth nhăn lại bực bội vì bị xen ngang.

“Tôi đã giết mẹ mình”, tôi nói, bằng giọng hạ thấp. Cánh tay Annie đột nhiên nặng trĩu trên vai tôi.

“Ý cô là sao?” Chị khẽ hỏi.

“Tôi đã giết bà. Bằng morphine.”

Chị lặng thinh. Đống lửa đang rít lên chói tai, những tiếng nói khác lùi xa hàng dặm. Rồi tôi nhấc tay chị khỏi vai mình, đứng lên và quay về lều.

Mười phút sau, Annie trở về. Tôi nghe tiếng chị đặt Milo và đứa bé vào giường trong xe tải, rồi tiếng chân chị đến gần căn lều. Chị quỳ xuống và kéo khóa cửa.

“Cô có muốn nói chuyện không?” Chị hỏi.

“OK”, tôi trả lời, và bắt đầu kể cho chị tất cả. Từ lần đầu tiên mẹ tôi ngã xuống, vào một tối thứ Bảy năm 2002,

ESTE

250 khi bà đang bị chậu nước ngâm chân chứa đầy nước ấm từ bếp lên. Vẻ mặt mọi người ở đường Kentish Town khi chúng tôi đi qua, dạt ra tránh đường vì họ nghĩ bà say rượu, và cách tôi chạy theo bảo với họ rằng không phải thế. Những cái bỉm. Cái tời kéo. Hai bàn tay vô lực nằm liệt trong lòng bà.

Annie hỏi tôi về cái đêm cuối cùng, tôi giải thích những khó khăn khi tích lũy morphine, vì các y tá canh chừng nghiêm ngặt, nên tôi đã nghĩ ra một kế hoạch. Các y tá đã đưa cho chúng tôi một tấm bảng mỏng có các biểu tượng cảm xúc, từ tươi cười đến khổ sở, mà họ gọi là thang đau. Khi họ đến vào buổi sáng và hỏi đêm qua mẹ tôi thế nào, tôi bảo rằng bà đã chỉ vào mức cao nhất của sự khó chịu trên thang đau, ngay cả khi không phải. Thế là họ kê cho một lượng morphine thẳng vào chai truyền dịch nối với cánh tay bà. Khi họ đi rồi, tôi sẽ tháo chai truyền ra và gạn một ít morphine trên cùng, cho vào một cái lọ cất trong tủ lạnh. Cái lọ là từ lọ thuốc trị chấy tôi mua ở hiệu thuốc và rửa sạch, tôi bảo Penny rằng tôi có vấn đề dai dẳng với lũ chấy để bà ta không bén mảng gần cái lọ - thêm cái lợi nữa là bà cũng tránh xa tôi luôn.

Tôi tiếp tục gạn morphine cho đến khi có một lượng tương đối. Sau đó, vào một tối thứ Bảy - điều này quan trọng, vì y tá không đến vào các ngày Chủ nhật - tôi truyền số morphine ấy vào một cách từ từ, trong thời gian

251

ASSASS hai mươi tư tiếng đồng hồ. Mẹ tôi rơi vào hôn mê và không lâu sau đó thì qua đời. Vào sáng thứ Hai, tôi chờ các y tá đến và họ rung chuông gọi bác sĩ. Giấy chứng tử ghi nguyên nhân của cái chết là do những biến chứng phát sinh từ bệnh MS.

Điều đó, tôi nói thêm với Annie, không hoàn toàn sai. Annie hỏi mẹ tôi có yêu cầu tôi cho bà morphine không.

“Không”, tôi nói. “Khi ấy bà không thể nói được nữa.”

“Trước đó bà có nhắc đến cái chết không đau đớn không?” “Không”, tôi nói. “Chúng tôi không nói về những chuyện như vậy.”

“Vậy làm sao cô biết đó là điều bà muốn?”

Tôi đáp rằng tôi chỉ biết thôi. Tôi nhìn thấy điều đó hàng ngày trong ánh mắt bà.

Annie chầm chậm gật đầu, gương mặt chị im lìm và nghiêm trang, rồi siết tay tôi.

“Tốt nhất tôi nên về.”

Chị kéo lại khóa lều và đứng lên, tôi lắng nghe tiếng chân chị và tiếng động của cửa xe tải khi chị kéo nó đóng lại.

Tôi không muốn tạo ấn tượng rằng tôi đang bỏ bê Công việc của Tess và giao tiếp thường xuyên với Connor. Điều đó hoàn toàn không đúng. Tuy nhiên đúng là không tốn quá nhiều công sức để giữ cho cuộc sống của cô tiếp diễn trôi chảy. Sau cơn náo động ban đầu của việc đến Sointula, cô đã ổn định nơi căn hộ mới và công việc dạy học cho Natalie. Nhóm nhỏ người quen của cô đã hình thành. Qua thực hành, việc viết và ứng xử như Tess đã trở nên dễ dàng hơn nhiều và tôi gần như không phải nghĩ trước khi ấn nút “gửi” các tin nhắn. Phần lớn Công việc của tôi là phản hồi trước những tin tức về đời sống các bạn của Tess trên Facebook

Hình như hầu hết mọi người đều chỉ biết đến mình - kể cả với một người nổi bật như Tess, nó là một trường hợp “xa mặt cách lòng”. Sau vài tuần, những người bạn thân thiết nhất cũng ngừng tỏ ra quan tâm đến cuộc sống của cô - quan tâm thực sự, ý tôi là không chỉ là một câu hình thức “Mọi chuyện thế nào?” đưa thêm vào một bài viết tự nói về bản thân. Khi tôi đăng tấm ảnh đầu tiên của Tess | Sointula lên Facebook, nó nhận được sáu mươi bảy lượt “thích”; tấm ảnh tôi dùng một tháng sau chỉ nhận được hai lượt.

Tôi hơi buồn vì bao chuẩn bị công phu của tôi thế là phí hoài – rõ ràng sẽ không có ai hỏi vì sao những người Phần Lan lại chọn định cư ở Sointula, hay Natalie vẽ được gì ngày hôm đó, hay Tess được điểm mấy trong kỳ thi trung học phổ thông (điểm B). Tuy nhiên nó khiến công việc của tôi dễ dàng hơn, và cho tôi dành nhiều thời gian Với Connor hơn.

253

24:

Đã có sự thay đổi đối với tôi sau vụ việc ở cửa hiệu sandwich. Tôi bắt đầu nghĩ về anh ta theo cách khác. Và không lâu sau đó – năm hoặc sáu ngày – anh ta viết một câu khiến cho tôi nghĩ rằng tình cảm của anh ta cũng đã sang số.

Trước hết, tôi nên giải thích rằng chúng tôi đang trao đổi về cuốn sách The Princess Bride. Connor hỏi hồi bé tôi thích đọc sách gì, vì cô con gái Maya của anh ta bắt đầu tập đọc và anh ta đang băn khoăn nên mua sách gì cho con bé. Tôi đề xuất cuốn The Princess Bride, không nhắc đến chuyện nó vẫn là cuốn sách yêu thích của tôi. Ngày hôm sau, ở cuối một email vô thưởng vô phạt khác về một buổi biểu diễn ca nhạc anh ta đi xem tối hôm trước, anh ta viết:

Hey, và hãy nhớ - hôn anh trước đã.

Hồn anh trước đã. Câu nói chẳng mang ý nghĩa gì Với tôi, nó không có trong những email và thư mục của Tess. Tra Google, thì ra đó là tên một bộ phim của Ý về những người yêu nhau bị chia cắt và suốt đời họ trông ngóng nhau. Bộ phim phát hành năm 2003, trong thời gian Connor và Tess đang gặp gỡ nhau, nó là nguồn gốc hợp lý cho câu nói.

Nhưng Connor đã không viết hoa câu đó, mà tôi dám chắc anh ta sẽ làm thế nếu nó là tên một bộ phim. Giống như tôi, anh ta kĩ tính trong những chuyện như vậy. Khả năng lớn nhất là nó là một trò đùa riêng tư, một gợi nhắc đến điều gì đó một trong hai người đã nói với người kia hồi họ còn bên nhau. Theo tôi không thể là sự trùng hợp khi anh ta đưa nó ra quá sớm sau cuộc trò chuyện của chúng tôi về cuốn The Princess Bride và nó có cùng số chữ và âm tiết với câu, “Xin theo ý em.”

Nếu bạn xa lạ với cuốn The Princess Bride, “Xin theo ý em” là câu mà nam chính, Westley, nói với Công chúa Buttercup như một mật mã của “Anh yêu em.”

Xin theo ý em. Hôn anh trước đã. Anh yêu em.

Tôi thường không nhảy ngay đến kết luận, nhưng trong trường hợp này kết quả có vẻ rõ ràng.

Bước tiếp theo là xem xét tôi cảm thấy ra sao về tiến triển này. Không lâu la gì: việc Connor yêu tôi làm tôi rất vui, và theo bản năng muốn đáp lại tương tự.

Tuy nhiên, tôi thấy có vẻ vô lý, nếu không muốn nói là không thể nào, khi “yêu” một người ta chưa bao giờ gặp. Tôi liền tìm hiểu, tham khảo những định nghĩa khác nhau của cảm xúc với những cảm nhận của tôi về Connor, và hài lòng khi khám phá ra sự tồn tại của cái được mô tả là một kiểu trạng thái “tiền-yêu”, gọi là say nắng.

Một trạng thái bị hấp dẫn về nhận thức và cảm xúc hoặc thậm chí ám ảnh với một người khác, bị nếm trải một cách không tự nguyện và đặc điểm là có khao khát mãnh liệt được đối phương đáp lại tình cảm.

Mô tả này phù hợp với những cảm xúc của tôi, và tôi kết luận rằng tôi đang say nắng Connor. Tôi quyết định phương án tốt nhất - điều mà Tess ắt sẽ làm - là không chấp nhận ngay lập tức lời tỏ tình. Cho nên tôi và Connor tiếp tục trao đổi email như bình thường, và phải bốn ngày sau, ở cuối một email nói về buổi dạy vẽ cho Natalie ngày hôm đó, tôi mới ký đáp lại:

Hôn em trước đã xxx Câu trả lời của anh ta:

!xxx

Trong tin nhắn tiếp theo, anh ta viết tắt thành H.a.t.đ. Tôi bắt chước theo, và kể từ đó chúng tôi đều ký tên cuối email như thế, mật mã riêng của chúng tôi. H.a.t.d - H.e.t.d.

Vậy là tôi chính thức bước vào trạng thái say nắng. Một trong những triệu chúng tôi phát hiện ra là khao khát gắn mình vải những thứ anh ta thích, để cảm thấy gần anh ta hơn thay cho sự hiện diện thực sự của anh ta. Mặc dù những email của anh ta vốn đã cung cấp nhiều thông tin về Sở thích và thú vui của anh ta thời điểm đó tôi đã ăn ba túi khoai chiên vị pho mát và hành mỗi ngày, và cắm đầu đọc về trượt ván tuyết và nhiếp ảnh, hai sở thích chủ đạo của anh ta - tôi vẫn khao khát nhiều hơn. Tôi nghĩ ra một trò chơi email kỳ cục mà ở đó chúng tôi so sánh với nhau những sở thích và sở đoản của mình mười năm trưỐC, thời điểm cuối cùng chúng tôi gặp nhau, tới bây giờ, để xem chúng tôi đã thay đổi ra sao. Tôi khá tự hào về sáng kiến này,

256 vì nó không chỉ cung cấp thông tin về anh ta, mà còn cho tôi cơ hội thể hiện Tess đã thay đổi thế nào kể từ lần cuối anh ta gặp cô. Tóm lại là cô đã trở thành một người khác.

Connor gửi danh sách của mình trước, cùng với các chú giải. Phim: Scarface

Sách: Quý ông tử tế (đúng, anh biết. Anh đang trung thực mà, OK?)

Âm nhạc: Eminem

2011

Phim: Lost in Translation

Sách: Nghệ nhân và Margarita (anh mất tám năm để đánh vật với nó nhưng em đã đúng, nó thật tuyệt).

Âm nhạc: nhóm XX

Đến lượt tôi. Lựa chọn cho Tess “cũ” của năm 2002 thật dễ: Tôi có bao nhiêu danh sách thông tin liên quan Soạn từ những cuộc trò chuyện của chúng tôi và những biên lai mua sắm của cô.

Phim: Three Colours Blue

Sách: Rừng Na uy của Haruki Murakami

Âm nhạc: Sáu tổ khúc cho cello độc tấu của Bach Với Tess “mới” của năm 2011, sau khi cân nhắc tôi

DEA

RSS

quyết định chọn một tổng hòa những sở thích của cô, tôi - và Connor.

Phim: Chúa Nhẫn: Hiệp hội Nhẫn.

Sách: Anna Karenina

Âm nhạc: nhóm XX (ngạc nhiên chưa!)

Đêm đó, tôi download album của ban nhạc mới được yêu thích của chúng tôi, nhóm XX, và nghe ba lần. Khi ngấm được nhạc thì thấy nó khá hay. Tôi cũng tải về Scarface và Lost in Translation và xem cả hai. Scarface dở tệ, vô cùng bạo lực, may mà nó không còn là bộ phim yêu thích của Connor nữa. Lost in Translation khá hơn, mặc dù chẳng có gì thực sự xảy ra và tôi không thực sự hiểu thông điệp của nó. Nhưng theo tôi thấy, nó nói về hai con người thích nhau, thế là hay rồi. Cũng trong nỗi háo hức được hiểu Connor rõ hơn, chiều hôm sau tôi quanh quẩn ở dãy đồ nhà tắm ở Tesco hít ngửi các loại kem cạo râu khác nhau trong một cố gắng xác định loại có hương chanh tôi ngửi thấy trên người anh ta ở cửa hiệu sandwich. Cuối cùng một người đàn ông la lối tôi vì tội mở các bao bì, nhưng tôi đã tìm thấy một mùi khá giống, liền mua nó về và bôi vào cổ tay hàng ngày.

Chúng tôi tiếp tục viết cho nhau. Một trong những điều làm tôi ngạc nhiên là việc đó mới dễ làm trường, bọn con gái luôn nói về những quy tắc”, phải nói gì và hành xử thế nào để khiến một thằng con trai thích mình. sao.

“Đừng gọi lại. Không được quá sốt sắng.” Nhưng với Connor mọi cái tôi nói dường như đều đúng, và dường như làm anh ta thích tôi hơn.

Hai tuần sau khi Connor lần đầu ký hôn anh trước đã, một chuyện xảy ra đã tạm thời chuyển hướng quan tâm của tôi khỏi anh ta.

Đến lúc đó, tôi đã để ba lời nhắn vào máy trả lời tự động của Marion – là những biến thể của “Con xin lỗi đã không nghe máy, con vẫn ổn” mà Tess và tôi đã thu âm. Sau cái thứ ba, bà đã gửi một email.

Con yêu, con vốn biết là mẹ có buổi đọc sách nhóm vào thứ Tu, hãy cố gắng gọi cho mẹ vào một giờ khác. Mẹ gọi di động cho con nhưng luôn không được. Con đã lắp đường dây cố định chưa? Chúng ta thực sự phải nói chuyện.

Tôi vừa bực mình vừa hả dạ. Xét cho cùng tôi đã nêu những nghi ngại của mình bởi cả Tess và Adrian rằng Marion sẽ không bằng lòng chỉ với những tin nhắn trong máy trả lời tự động và sẽ đòi hình thức liên lạc lớn hơn. Tuy nhiên tôi không thấy hoảng sợ, như tôi có thể thế nếu chuyện này xảy ra vào giai đoạn đầu dự án. Nó chỉ như một cơn nấc cụt, thay vì một thảm họa, một cơn nấc cụt có thể giải quyết bằng sự khéo léo.

Tôi nghe lại một đoạn nói chuyện được ghi âm đi Tess, để xem liệu tôi có thể chỉnh được giọng mình cho giống giọng Tess không. Không được. Giọng tôi cao hơn nhiều,

259

NAS cách phát âm của tôi quá “lịch sự”, và tôi phát hiện ra mình không phải kẻ bắt chước tự nhiên: những cố gắng của tôi nghe rất tức cười. Kể cả khi tôi nói thật nhỏ, để lợi dụng chứng ngễnh ngãng của Marion, và thêm vào hiệu ứng âm thanh lạo xạo của đường truyền dài chất lượng kém, tôi không nghĩ nó sẽ đạt yêu cầu.

Nghe lại những bản ghi âm các cuộc trò chuyện đêm khuya của chúng tôi khiến tôi vô tình rơi vào tâm trạng buồn bã, trầm tư, phải mất một thời gian tôi mới có thể tập trung vào vấn đề trước mắt. Khi đó tôi nhìn ra có thể có một cách sử dụng các bản ghi âm. Tôi thu lại những bài nói của Tess dài tới mấy tiếng đồng đồng hồ kia mà, tất cả những nguyên liệu thô có thể cần đến, và có thể có một phần mềm giúp tạo ra những câu mới từ những chữ và âm thanh riêng lẻ.

Một buổi lùng sục trên Google cho thấy đúng là có phần mềm như vậy: một chương trình chuyển đổi giọng nói với một thiết bị âm thanh giả lập. Bước đầu là nhập giọng của Tess vào chương trình, thu âm giọng của tôi, rồi so sánh hai cái, chỉnh sửa bằng thiết bị cân bằng tín hiệu âm thanh và kỹ thuật giảm nhiễu. Khi hai cái tương đương nhau, những lời của tôi sẽ được chuyển thành lời của Tess khi tôi nói qua một microphone của máy tính.

Đúng là bước phát triển kỳ diệu, chiều hôm đó, tôi gạt hết những việc khác sang một bên. Sau khi download lậu một bản phần mềm tôi nhập vào bài nói dài mấy tiếng đồng hồ của Tess, một công việc khá tỉ mẩn. Rồi tôi làm một bản thử nghiệm, chầm chậm đọc thứ gần nhất tôi nhìn thấy - một tờ thực đơn đồ ăn mang đi từ quán ăn dưới nhà – và thu thành quả vào một máy ghi âm. Nó không thành công. Từng từ đơn - “cơm”, “bánh ngan”, “tôm” - thì có thể chấp nhận, nhưng về tổng thể lại nghe không giống Tess, và cả đoạn có chất lượng kém đến mức không thể đổ tại đường truyền dài được.

Nhiều giờ tiếp theo, tôi lặp đi lặp lại quy trình, điều chỉnh các nút cân bằng âm thanh để tìm một tổ hợp đúng của cao độ, ngữ điệu và âm sắc. Mỗi lần ghi âm, tôi lại cho thêm vài dòng mà tôi nghĩ có thể ghép vào cuộc nói chuyện điện thoại giữa tôi và Marion: “Miếng thịt cừu ngon lành ngập trong nước sốt cay ngây béo. Mẹ ạ, đó là quyết định đúng đắn nhất trong đời con. Gà nấu bơ và phủ hạnh nhân. Bố có hợp với nhân viên chăm sóc mới không? Thật tuyệt vì cái vòng cổ của mẹ có mặt trong tạp chí Harper’s Bazaar.”

Cuối cùng, còn một điểm tôi nghĩ nghe sẽ không thuyết phục như Tess, nhưng đến lúc đó khó mà khách quan được, và tốt nhất là thử bản mô phỏng trước khi dùng nó cho Marion. Đầu tiên, để đảm bảo giọng tôi nghe không như trước, tôi gọi điện cho Rashida. Lâu rồi chúng tôi không nói chuyện, nhưng nó vẫn là người biết tôi rõ nhất, sau mẹ. Tôi bấm số di động của nó, cẩn thận giấu Số mình trước, hi vọng nó không đổi số kể từ lần cuối chúng tôi nói chuyện với nhau. Như dự đoán, nó nghe máy.

“Tô! Cậu biết mà - tó!”

“Tôi xin lỗi, nhưng…”

“Chào, là tớ đây”, tôi nói qua phần mềm. “Ai cơ?” “Cậu thật sự không nhận ra tớ sao?” Tôi hỏi. “Có phải Kerry không?” Nó hỏi lại. “Chắc tôi nhầm máy rồi”, tôi nói, hài lòng, và cúp máy.

Tiếp theo là một thử nghiệm thực sự: một người biết Tess. Sau khi cân nhắc kĩ lưỡng, tôi chọn một người bạn của cô, Shell, người mới đây đã thông báo mình sinh con đầu lòng trên Facebook. Cũng là một lý do chính đáng để Tess liên lạc, những dòng trạng thái cập nhật của Shell toàn nói về sự bận bịu của mình, nên tôi nghĩ cô ấy sẽ vui khi được tán gẫu một lúc.

Một người phụ nữ nghe máy, giọng mệt mỏi. “Xin chào?” “Ai cơ?”

“Shell, là tớ đây!”

“Tô! Chúc mừng cậu về Ludo nhé.”

“À, cảm ơn. Xin lỗi, ai vậy?” Tôi không muốn dẫn hướng cô ấy bằng cách đưa tên Tess ra, nhưng tôi quyết định một manh mối thì chấp nhận được.

“Tớ xin lỗi vì lâu rồi không liên lạc”, tôi nói. “Sắp xếp mọi chuyện ở đây hơi hỗn loạn một chút.” Khi cô ấy không trả lời, tôi thêm vào, “rồi còn chênh lệch giờ giấc các thứ nữa.”

“Ôi trời đất”, cuối cùng Shell cũng thốt lên. “Tess đó hả?”

Tôi mỉm cười với chính mình. Shell và tôi trao đổi thêm mấy câu bông đùa trước khi tôi giả vờ là điện thoại hết pin và cúp máy.

Cuối cùng, tôi cảm thấy đã sẵn sàng cho Marion. So với lần đầu tiên tôi để lại tin nhắn ghi âm vào máy trả lời tự động của bà, tôi thấy bình tĩnh và tự tin, mặc dù lần này là một hành động mạo hiểm hơn nhiều. Tôi gọi lúc sáu giờ hai mươi phút tối giờ GMT. Bàn tay tôi vững vàng khi ấn số điện thoại nhà bà. Bà nghe máy sau năm hồi chuông. Giọng bà to và rõ như giọng Tess, nhưng hơi nhấn âm.

“A lo?”

“Mẹ, con đây.”

“Tess? Là con sao?”

“Xin lỗi mẹ, đường truyền này tệ quá.”

“Tess, đã hai tháng rồi đấy. Ở bên đó thế nào?”

263

לל “Ồ, con hạnh phúc lắm, mẹ. Đây là quyết định sáng suốt nhất con từng đưa ra.”

“Ừ, thế thì mẹ mừng. Mẹ đã xem ảnh của con. Căn hộ trông yêu lắm. Cuối cùng con có mua chiếc ghế dài đó không?”

“Có ạ. Bố có khỏe không ạ?”

Một khoảng lặng. “Không được khả quan. Ông ấy đang trở nên rất yếu. Tess, mẹ không nghĩ mẹ có thể xoay Xả được.”

“Ôi mę.”

“Con có ổn không? Giọng con nghe là lạ.”

“Không không, con rất ổn.”

Một khoảng dùng nữa. “Ông ấy hỏi về con mấy lần. Hỏi con đã đi đâu. Dạo này thì không hỏi nữa, mà là hồi đầu khi con mới đi. Con nói chuyện với ông ấy nhé?”

Tôi chưa kịp nói gì thì đã nghe tiếng bước chân của Marion, có lẽ đi về phía ông Jonathan. Chuyện này không nằm trong kế hoạch, và tôi định gác máy thì sực nhớ ra: ông Jonathan bị bệnh Alzheimer nặng. Ông thậm chí không nhỏ được tên các con mình, huống hồ là giọng chúng nghe ra sao. Tôi liền giữ máy.

Tôi nghe thấy Marion rì rầm nói gì đó với ông Jonathan, rồi tiếng ông đằng hắng khi ông cầm máy. “B6?” Trong vài giây không có tiếng trả lời, chỉ có tiếng thở. Rồi, “A lô?”

Giọng ông cẩn thận và run run, như thể đây là lần đầu tiên ông nói chuyện điện thoại.

“Bố, con đây. Tess. Con gái bố đây.”

Im lặng kéo dài. Rồi, “bọn họ cứ dịch ghế của tôi.” “Tess đây ạ.

“Tôi không cần biết cô là ai. Cảm phiền cô bảo lũ đáng ghét đó đừng có dịch chuyển ghế của tôi nữa.”

Từ mở đầu hiền lành giọng ông nhanh chóng tăng âm lượng lẫn độ giận dữ: chữ “c” bị gằn mạnh. Rõ ràng, việc Jonathan nhận ra tôi không phải con gái ông sẽ không thành vấn đề. Ông lại rơi vào im lặng, và tôi nghe thấy, Ở đằng sau, tiếng một người thổn thức.

Đúng lúc tôi chuẩn bị cúp máy thì Marion trở lại. Nếu chính bà đã khóc, mà chắc chắn là như vậy, thì cũng không còn dấu vết nào trong giọng bà.

“Cô là ai?” Bà nói với tôi, to và rành rọt.

Tôi lập tức cúp máy, tim đập dữ dội đến mức cảm giác như nó sẽ để lại một chỗ thâm tím trên ngực tôi.

Mất một lúc – thực sự là vài giờ – tôi mới hồi phục lại để xem xét những gì vừa xảy ra. Tôi tua đi tua lại câu nói của Marion “Cô là ai?” trong đầu. Mặc dù tông giọng bà đơn giản và bình thản, nhưng nó quay vòng vòng trong đầu tôi vói đủ mọi ngữ điệu và cường độ khác nhau. Cô là ai? cô là AI? cô Là ai?

Cách giải thích logic nhất là câu nói nhắm vào một người khác trong phòng. Có lẽ một nhân viên chăm sóc mới đã vừa bước vào cửa, không thông báo. Hoặc có thể bà nói theo nghĩa bóng với Jonathan, một câu hỏi tu từ về việc người chồng mà bà biết đã đi đâu mất rồi. Nhưng dù là trường hợp nào đi nữa, giọng bà ắt cũng sẽ ở xa.

Sau vài giờ nghĩ nát óc, tôi quyết định đã đến lúc xin Adrian lời khuyên.

Như đã kể trước đó, tôi lấy làm tự hào rằng mình chưa bao giờ nhờ vả Adrian điều gì liên quan đến dự án Tess. Tôi muốn anh nghĩ tôi có năng lực, mạnh mẽ và rằng anh đã quyết định đúng khi chọn tôi cho việc này - vả lại, đến thời điểm ấy mọi chuyện quả thực khá thuận lợi. Tuy nhiên giờ đã đến lúc. Tôi muốn được trấn an rằng có ngoặt này sẽ không làm dự án bị trật đường ray, và được chỉ dẫn cần làm gì. Tôi viết cho Ava Root một lời nhắn trên Facebook kể sơ về cuộc điện thoại và đề nghị gặp để chúng tôi có thể thảo luận sự việc.

Anh không hồi âm - trong hai, rồi năm, rồi mười hai tiếng bồn chồn. Tôi kết luận rằng tôi không còn cách nào khác ngoài việc thử liên lạc với anh trên email Red Pill của anh.

1 Tiếng Anh là “Who are you?” nên không phân biệt đối tượng nam hay nữ. Nhớ đến lệnh cấm Công khai dự án Tess, lời nhắn của tôi chỉ nói rằng tôi cần gặp anh gấp.

Ba tiếng sau tôi nhận được câu trả lời: Có thật là gấp không?

Thật kỳ cục, tôi nghĩ, vì nó là việc gấp chiếm trọn nội dung lời nhắn của tôi kia mà.

Tôi trả lời rằng đúng. Anh liền bảo tôi anh sẽ đến một trung tâm mua sắm tên Westfield vào ngày hôm sau, và tôi có thể gặp anh ở đó lúc một giờ chiều.

Tôi vốn nghĩ mình khá quen thuộc với các trung tâm mua sắm, nhưng nơi này, Westfield, không hề giống những nơi tôi từng đến. Xuống tàu điện ngầm ở Shepherd’s Bush ngày hôm sau tôi hòa vào một đám đông tràn đến một khu phức hợp rộng lớn và sáng choang đến mức khiến Brent Cross trông như một cửa hàng tồi tàn nơi góc đường. Quy mô khó mà cảm thụ hết được: trần nhà dường như cao tới một dặm và những cửa hàng kéo dài vô tận, xây bằng hàng mẫu Anh kính sáng loáng. Nó không chỉ gây choáng ngợp về kích cỡ, mà về cả số lượng người. Tất cả dường như đều là người trẻ. Ở Brent Cross, có rất nhiều phụ nữ như mẹ tôi: những bà lớn tuổi mặc áo choàng chống nước màu tím bước chân chậm chạp. Ở đây tất cả đều có tuổi tôi hoặc trẻ hơn, những cô gái trang điểm đậm và – tôi cho rằng - ăn mặc quá trưng diện, như thể họ đang đi dự tiệc chứ không phải đi mua một cái quần tất hay bất cứ thứ gì ở đây. Một cô gái dừng lại bên cạnh tôi để nghe điện thoại có lông mi dày và dài một cách kỳ dị đến mức gần như không mở được mắt.

Tất nhiên tôi không trang điểm hay chú ý cách ăn mặc. Tôi đã tính mặc lại bộ đồ đã mặc trong cuộc gặp đầu tiên ở Heath, nhưng phát hiện ra một vệt pho mát chảy từ trên xuống, và dù sao đi nữa, tôi cảm thấy bây giờ tôi và Adrian cũng coi như bạn bè thân thiết nên tôi không cần ăn vận chỉn chu. Vì vậy tôi mặc bộ đồng phục thường ngày là áo hoodie và quần thể thao.

Khi tôi dạo bước trong trung tâm mua sắm tìm cửa hàng Boots (noi Adrian hẹn gặp), với tất cả những cô gái gầy nhẳng lượn lờ xung quanh, một cảm giác cũ như đang trở lại, thứ cảm giác lâu rồi tôi không có: ý thức được mình khác biệt. Không phải tôi để tâm, mà tôi cảm thấy nó. Giống như tôi trở lại làm Leila, trong khi những tháng gần đây, nhất là từ khi tôi nói chuyện với Connor, tôi không cảm thấy thế không phải như một người hoàn toàn khác, chỉ là không như con người cũ của tôi mà thôi.

Tôi quyết tâm không để những cảm xúc này làm sao lãng khỏi nhiệm vụ trước mắt. Sau mười phút đi lòng vòng, tôi hỏi thăm mấy người xem Boots nằm ở đâu nhưng câu hỏi của tôi chỉ nhận được những cái nhún vai, nên tôi đành tiếp tục đi quanh khu mua sắm sáng loáng hi vọng tình cờ gặp nó.

Và rồi, trước mặt tôi khoảng hai mươi mét, tôi trông - thấy một người đàn ông đi ra từ một cửa hàng. Tôi nhận ra cái áo sơ mi trước tiên nó chính là chiếc áo nhung kẻ màu xanh lam anh mặc trong những podcast và trong cuộc gặp của chúng tôi Ở Heath. Anh đang xách một túi nilon đỏ vải chữ Tie Rack in trên đó.

Adrian đi rất nhanh và tôi sợ anh sẽ chìm nghỉm trong đám đông, nên tôi luống cuống đuổi theo và gọi tên anh. Lúc đầu, anh không nghe thấy và vẫn đi tiếp, chỉ đến khi tôi đuổi kịp và đặt tay lên vai anh thì anh mới quay lại, với vẻ mặt ngạc nhiên bực bội. Khi nhận ra tôi, anh điều chỉnh lại nét mặt thành nụ cười gượng gạo.

“Chào em”, anh nói.

“Em không thể tìm thấy Boots”, tôi nói.

“Anh không có nhiều thời gian”, anh nói. “Ta kiếm chỗ nào ngồi đi?” Anh cất bước, tôi theo sau. Lần đầu tiên tôi để ý thấy thân hình anh có hình dáng kỳ quặc: vai anh hẹp và xuôi dưới lớp áo sơ mi, hông rộng như hông phụ nữ. Anh và tôi đều trông khác biệt giữa một rừng người trẻ nhanh nhẹn, bóng mượt. Gian đại sảnh ồn ào tiếng nói và những băng ghế đã kín chỗ, nên chúng tôi đành phải đứng, cách đó mấy mét có một quầy hàng nhỏ với một người đàn ông trẻ đang ngả người ra ghế để cho một phụ nữ múa một sợi chỉ trên mặt mình. Tôi không hiểu được họ đang làm gì, nhưng dù là gì đi nữa thì làm thế ở nơi công cộng cũng thật khó coi.

1269 Adrian dường như không để ý.

“Vậy là, có vấn đề về Tess hả?”

“Vâng, em đã nói với anh rồi”, tôi nói. “Với Marion, mẹ cô ấy.” Tôi kể lại tình huống với cú điện thoại một lần nữa, và trong lúc nói tôi nhận thấy ánh mắt Adrian không đặt lên tôi, giống như ở Heath ngày hôm đó, mà đảo quanh sảnh và, một lần liếc xuống đồng hồ ở cổ tay trái. Mặt anh nom cũng khác: hôm trước tôi nhớ má anh hồng hào, nhưng giờ da anh tái sạm. Đến chiếc quần vải chino của anh cũng nhăn nhúm và lôi thôi.

Sự thay đổi trong cách hành xử của anh quá rõ rệt khiến tôi hoang mang, và khi anh ngó vào cái túi của mình, như để kiểm tra những thứ trong đó có mất đi đâu không, tôi tạm dừng câu chuyện và hỏi anh có ổn không.

“Cái gì?” Anh hỏi, như không tin nối điều tôi vừa nói. Tôi ấp úng. “À, mọi chuyện với anh vẫn ổn chứ?”

“Ừ, tất nhiên”, anh nói. “Cực kỳ ổn. Mà anh chỉ có vài phút thôi, anh e rằng…”

Tôi tường thuật nhanh về cuộc điện thoại, cảm thấy phần nào bối rối trước thái độ của anh. Có lẽ vì vậy mà tôi kết thúc bằng một nhận xét nhằm vào anh: em đã bảo anh rồi mà.” CG

Cuối cùng mắt Adrian cũng gặp mắt tôi và anh nói, chậm từng chữ. “Nghĩa là sao?”

270

WA

leta

ES

“Em đã bảo anh chuyện này sẽ xảy ra”, tôi nói, “ngay từ đầu dự án. Em đã bảo chắc chắn là Marion sẽ muốn nói chuyện với Tess qua điện thoại vào một lúc nào đó, và rằng đó sẽ là vấn đề.”

Adrian gật đầu, nhìn qua vai tôi tới người phụ nữ Ở trong quầy của cô ta.

“Nếu em đã lo ngại về dự án như thế, tại sao em còn bắt tay vào làm?” Anh nói.

Tôi mở miệng toàn trả lời, nhưng không chữ nào bật ra.

“Anh đã chẳng dạy em phải suy nghĩ độc lập sao?” Anh tiếp tục.

“Vâng, nhưng…”, tôi đáp, nghe thấy giọng mình nào núng. “Anh đã cam đoan với em nó sẽ ổn thỏa. Nên Tess cũng vậy.”

Nghe đến đây, Adrian buông ra một tiếng cười ngắn. “Em đưa chuyện này ra với cô ấy nữa à?”

“Không, em không thể, vì cô ấy…”, tôi định nói, nhưng nhận ra Adrian coi đây là một trò cười.

Anh lại nhìn đồng hồ. “Anh thực sự phải đi rồi. Nghe này, Leila, anh tin em sẽ có những hành động mà em cho là tốt nhất. Em nắm được tình hình và những người liên quan rõ hơn bất cứ ai, và em là một cô gái thông minh.”

Anh đưa tay ra để tôi bắt. “Anh tin tưởng em, Leila”,

271 ASIAN HÔN EM TRƯớc ĐÃ

anh lặp lại. “Mà này, phần đóng góp của em trong cuộc tranh luận May mắn có Tồn tại không vào tuần trước rất xuất sắc đấy.”

Tôi chẳng hề góp lời vào mạch tranh luận đó trên trang web và mở miệng định bảo anh như thế, nhưng rồi lại ngậm miệng vào.

“Vậy, tạm biệt”, anh nói, và quay bước hòa mình vào đám đông.

Sau một lúc, tôi gọi với theo anh. Anh quay người, vẻ nôn nóng.

“Gì vậy?”

“Anh và Tess đã gặp nhau như thế nào?”

Anh cau mày. “Sao em hỏi vậy?”

“Em chỉ tò mò thôi”, tôi đáp.

“Cô ấy đến một trong những buổi diễn thuyết của anh ở New York”, anh nói, sau một lúc. “Mùa hè năm bây giờ là năm nào nhỉ? – 2004, anh nghĩ vậy. Chủ đề là Tự nhiên hay không Tự nhiên. Anh nghĩ cô ấy thấy hứng thú với nó. Cô ấy đặt rất nhiều câu hỏi trong buổi nói chuyện, sau đó đã tiếp cận anh ở tiền sảnh. Bọn anh đã duy trì liên lạc.”

Rồi anh đưa tay chào và biến mất vào đám đông.

Nhưng tôi biết rõ, Tess chưa bao giờ đến New York. “Thật xấu hổ làm sao”, cô thốt lên trên Skype vào một buổi tối. “Tôi luôn định đi nhưng chẳng hiểu sao mãi chưa đi được.” cô kể tôi nghe về một trò chơi các bạn cô thường chơi tại bữa tiệc là tất cả phải kể tên một việc họ chưa từng làm nhưng cho rằng những người khác ắt đã làm, và cô luôn giành phần thắng với việc chưa bao giờ đến New York.

“Tôi sẽ chơi giải trò đấy”, tôi đã nói.

“Thế à?” cô đáp lại.

“Đúng, vì tôi chưa từng được hôn.”

Cô cười ngặt nghẽo, nghĩ đây là câu nói đùa.

Dù sao đi nữa. Tôi chỉ có thể đoán rằng Adrian đã lầm và nhầm Tess với người khác. Nhưng ngay cả cho qua chi tiết ấy, cuộc gặp gỡ của chúng tôi vẫn không phải một thành công. Trên chuyến đi dài bằng tàu điện ngầm trở về nhà, tôi điểm lại tất cả những việc đã xảy ra kể từ cuộc gặp đầu tiên ở Heath, song vẫn không sao lý giải được sự thay đổi thái độ của anh với tôi. Anh tỏ ra hài lòng với những báo cáo của tôi: cho đến giờ, mọi chuyện vẫn suôn sẻ và đây là lần đầu tiên tôi nhờ anh giúp đỡ.

Kết luận khả dĩ duy nhất là một cái gì đó khác đang làm anh đau đầu, không liên quan đến tôi hay dự án, một cái gì đó hoàn toàn lấn át khiến anh không thể tập trung. Việc này tất nhiên đáng lo, nhưng tôi cảm thấy ưu tiên trước mắt là cần giải quyết vấn đề Marion.

Thật ra không mất quá lâu để đưa ra cách xử trí: xét cho cùng, các lựa chọn của tôi rất ít ỏi. Ngừng liên lạc sẽ không sáng suốt – nó chỉ thổi bùng mối nghi ngờ của bà ấy mà thôi - tuy nhiên gọi một cú điện thoại nữa thì không được. Sẽ phải là một email. Cách giải quyết nhạy bén duy nhất cho vụ “Cô là ai?”, tôi quyết định, là làm ngơ nó và thay bằng một “hành động bày tỏ” nồng thắm mà tôi biết sẽ làm vui lòng Marion, với hi vọng sự ngạc nhiên và sung sướng của bà sẽ thay thế bất cứ mối nghi ngờ nào còn vương vấn.

Đây là những gì tôi thảo ra khi về nhà ngày hôm đó. Mẹ thân yêu,

Con vẫn chưa hết run sau cuộc điện thoại hôm thứ Ba. Con xin lỗi vì đã cúp máy, con chỉ quá bàng hoàng khi thấy bố tình trạng như vậy. Con cứ tưởng sự việc ở Pháp hè năm ngoái với miếng pho mát đã tệ lắm rồi, nhưng không ngờ nó có thể tệ hơn nữa. Thật khó khăn vì con ở quá xa và không thể làm được gì giúp mẹ.

Con rất khâm phục cách mẹ ứng phó với chuyện này. Con biết mình chưa từng nói vậy trước đây, và con xấu hổ vì đã không làm thế. Đến nay con đã nhìn ra mọi chuyện và hối tiếc những năm tháng chúng ta đã bất hòa. Lỗi lầm hầu hết là ở con việc ở Harrod ra! - và con nghĩ khi đó con đã biết vì sao con quá bảo thủ và tức giận với mẹ. Dù sao đi nữa, con chỉ thuốc nói rằng con nghĩ mẹ là một người mẹ tuyệt vời đối với con và con cũng ngưỡng mộ mẹ ở tư cách cá nhân. Con chỉ mong được mạnh mẽ như thẹ trừ vụ khi con đến tuổi mẹ - và được xinh đẹp như mẹ nữa.

Con không nhớ đã kể chưa nhưng ở đây con gặp được một chuyên gia tâm lý tài giỏi, Trish. Cô ấy đang giúp con khám phá bản thân - một quá trình kỳ thú, đôi lúc đáng sợ. Hôm qua, con đã kể với cô ấy về bố, mẹ, cuộc điện thoại, và con cảm thấy tồi tệ ra sao về mọi chuyện, cô ấy đã khuyên con hãy viết hết ra nên con đã viết ra đây! - sau đó dành ra một khoảng thời gian để chiêm nghiệm và thực hiện quá trình hàn gắn. Nên con mong mẹ sẽ không bận lòng nếu chúng ta không nói chuyện trong một thời gian. Con biết khi nó kết thúc, con sẽ trở thành một người tốt hơn - một người phù hợp làm con gái của mẹ.

Tess x

Tôi vừa nhấn nút “gửi” thì lại nảy ra một tình huống hóc búa mới: lần này là với Connor.

Trong một email, bao gồm những chi tiết thú vị nhưng vụn vặt về một ngày của mình, anh ta đã hỏi với vẻ bông lớn trong phần tái bút. Kế hoạch của tôi cho cuối tuần tỏi là gì.

Đến giờ thì không có kế hoạch nào cả, tôi trả lời. Chắc là kết hợp đi dạo trên bãi biển, cố đọc hết cuốn “A Suitable Boy” và uống mấy lít trà rooibos với Leonora thôi.

Anh ta: Thế còn kết hợp dạo quanh một thành phố mới hấp dẫn, thong thả ăn trưa và MỐng espresso Martini với anh thì sao?

Tôi: Anh đang nói về cái gì vậy, thể thao à? Anh ta: Anh được điều đến văn phòng ở Toronto mấy ngày. Tình cờ không?

Thoạt đầu tôi nghĩ mình có một lối thoát dự phòng an toàn.

A, một ý tưởng hay ho, nhưng em nghèo kiết xác. Anh có nhận ra là Toronto cách Vancouver hai ngàn dặm không? Anh tưởng em có khả năng dạy tất cả các tiết học nghệ thuật cần thiết để mua được vé máy bay trước thứ Sáu tuần sau sao?

Câu trả lời của anh ta: Anh bao.

Tôi nghĩ thật nhanh.

Khi thật, anh biết không? Em sực nhớ mình đã hứa đến thăm Sheila. Một bà lão em gặp trên phà. Bà tàn tật và em đã hứa sẽ đến chơi cả ngày Chủ nhật với bà.

Anh ta: Sắp xếp lại được không?

Tôi: Bà tàn tật mà! Mắc kẹt trong nhà, chẳng ai thăm non, một quý bà buồn bã, đáng mến.

Anh ta: Chà, nếu bà ấy tàn tật thì bà vẫn ở đây vào cuối tuần sau, đúng không? Bà sẽ thông cảm thôi. Đến Toronto chơi với anh đi. Ăn chơi tới bến vài ngày.

Tôi: Em bỏ rượu rồi.

Anh ta: Vậy thì chúng ta sẽ uống Lucozade. Sữa lắc tiểu mạch thảo. Gì cũng được! Thôi nào, Heddy, chúng ta không thể bỏ qua dịp này được. Đây là cơ hội trời cho. Bình thường Richard là người phải đi nhưng vợ anh ta mới sinh con. Sẽ không có làn thứ hai đầu. Đó chính là định mệnh, em không thấy sao?

Trong thư trả lời tôi quyết định chỉnh sửa phương pháp đã áp dụng với Marion, cách đây vài giờ.

OK, em xin nói thật. Em không thể gặp anh. Xin hãy hiểu cho em. Em đã kể cho anh một phần những chuyện xảy ra với em, và lý do em phải rời London. Em cảm thấy mình đang khá hơn, nhưng chưa hồi phục hoàn toàn. Phải, chúng ta đã có những khoảng thời gian vui vẻ nhưng nó cũng là một giai đoạn khó khăn trong đời em. Em đã dùng rất nhiều ma túy, say sưa nghiện ngập, nóng giận thất thường… tất cả những chuyện này giờ đây em phải tránh xa nếu muốn tốt cho mình. Em nghĩ rằng nếu em gặp anh thì chúng sẽ mua về, khi đó em sẽ tiêu đời, Công Cuộc phục thiện tan tành. Em sẽ nhảy phà đến Vancouver mỗi tối để thác loạn, lởn vởn trong những quán bar chật chội bẩn thỉu, chuốc lấy rắc rối. Em rất muốn gặp anh, nhưng hãy tin em khi em nói đó không phải là ý hay. Chúng ta có thể gặp nhau khi - nếu em về London chơi. Đồng ý chứ?

Câu trả lời của Connor đến sau ba mươi lăm phút căng thẳng.

OK. Đồng ý. Nhưng nếu em không về sớm, anh sẽ đến đó tìm em.

Cảm ơn anh. Tôi trả lời. Chúng ta vẫn có thể viết thư chứ? Tất nhiên, anh ta đáp. Nó là thứ giúp anh qua được một ngày. Một lần nữa, phản ứng đầu tiên của tôi trước vụ việc này là thỏa mãn về tài xử lý khéo léo của mình với một tình huống vô cùng hóc búa, và tự hào với cách vận dụng trôi chảy tông giọng và từ ngữ của Tesss. Tuy nhiên nó cũng gieo mầm một ý nghĩ, và chỉ trong vài giờ sau đã lớn nhanh đến mức át hết những suy nghĩ khác.

Tôi có thể gặp lại Connor. Không chỉ nhìn anh ta, như trong cửa hàng sandwich, mà thực sự gặp và nói chuyện với anh ta. Và có lẽ anh ta và tôi có thể bắt đầu mối quan hệ. Một mối quan hệ thực sự.

Bạn thấy đấy, tôi cảm thấy chuyện giữa chúng tôi đã phát triển đến mức độ không còn cần đến Tess nữa, và có thể loại cô ra khỏi phương trình. Việc “Tess” bề ngoài mới là người Connor bày tỏ tình yêu - chứ không phải tôi, Leila – không khó để giải thích. Đến thời điểm này trong trừ lần trao đổi mới nhất ra nội dung những email tôi viết cho Connor chủ yếu là của tôi, tức là suy nghĩ và cảm xúc của tôi, không phải của “Tess”. quá trình

Và hãy nhớ một điều. Connor đã không gặp Tess chín năm qua, từ lúc cô, và anh ta, là những người rất khác (Anh không trách em đã đá anh, một buổi tối anh ta viết, anh từng là một kẻ ngu ngốc. Những nông nổi của tuổi trẻ, và những điều tương tự). Khi Connor liên lạc với cô lần đầu tiên, anh ta không yêu cô; anh ta chỉ, anh ta đã nói, tìm lại một người bạn cũ. Chỉ qua những trao đổi email, với từ ngữ Của tôi, anh ta mới nảy sinh tình cảm với cô lần nữa. Chính tôi là người tạo ra tình yêu đó. Tôi.

278

S

Tuy nhiên có một vấn đề về ngoại hình. Từ những email cũ của họ thì rõ ràng Connor thấy Tess rất hấp dẫn. Có rất nhiều nhận xét trong những dòng chữ đó. Nóng bỏng. Quái vật sexy. Người đàn bà trong mơ của anh. Và quả thực cô Sở hữu những đặc trưng hình như được cho là đáng khao khát ở phụ nữ: mắt to, cằm nhỏ, và gương mặt hình trái tim.

Song những đường nét của cô vẫn có khiếm khuyết. Như tôi từng đề cập, hai mắt cô quá xa nhau và một mắt hơi nhỏ hơn mắt còn lại. Dù mắt tôi không to bằng mắt cô, nhưng hai mắt đối xứng hơn. Thêm nữa, mắt cổ đen còn mắt tôi xanh, màu mắt mà đàn ông thích hơn vì chúng gợi nhắc đến đôi mắt các em bé. Cô còn để tóc ngắn, trong khi đàn ông thích tóc dài. Và cô gầy gò không có những đường cong nổi bật, dấu hiệu cho khả năng sinh sản và do đó thu hút phe khác giới.

Tuy nhiên lợi thế lớn nhất của tôi so với Tess là tuổi tác. Tôi trẻ hơn cô mười lăm tuổi. Trong những email của họ, Tess và các bạn cô thường nói đến chuyện đàn ông thích phụ nữ trẻ hơn mình ra sao. Nghe như họ coi đó là yếu tố quyết định, một yếu tố xóa sổ hết những yếu tố khác. Cá là cô ta trẻ hơn, họ sẽ nói thế khi bàn về cô bạn gái mới của một người quen. Những cô ả 25 tuổi. Tớ cảm thấy mình là đồ cổ. Tôi có cái mà họ thèm muốn hơn bất cứ thứ gì: tuổi trẻ. Hơn nữa, tôi cho rằng trông tôi còn trẻ hơn cái tuổi hai mươi ba. Tôi không có nếp nhăn trên mặt, trừ một nếp gấp rất mờ nhạt giữa hai lông mày vì phải tập trung trước máy vi tính.

Kết luận lại, tôi nghĩ có khả năng lớn, riêng về ngoại hình, Connor sẽ thấy tôi hấp dẫn như Tess, nếu không muốn nói là hơn.

Nhưng có một trở ngại chính. Nếu Connor yêu Tess, điều đó sẽ dập tắt hứng thú với những phụ nữ khác. Nếu chúng tôi gặp nhau, rất có thể lòng chung thủy với cô sẽ khiến anh ta không trò chuyện đủ độ lâu cần thiết để nảy sinh những mối tương đồng và “giao cảm” giữa hai chúng tôi. Anh ta đã nhiều lần đề cập trong email rằng anh ta đã bỏ về Sớm khỏi những sự kiện giao tế vì anh ta thấy những người ở đó tẻ nhạt, vì bọn họ không phải là em.

Cuối cùng, tôi kết luận, cần phải cho Tess kết thúc mối quan hệ của họ trước cuộc gặp của tôi với Connor ngoài đời. Như thế anh ta sẽ cảm thấy tự do khi giao tiếp với một người phụ nữ “mới”. Ngày hôm sau, Tess gửi cho Connor một email.

Anh yêu. Em đã suy nghĩ kĩ. Chuyện này thật điên rồ. Em ở đây. Anh ở kia. Lúc nào em cũng nghĩ đến anh, và điều đó không tốt chút nào. Chúng ta hãy trả tự do cho nhau! Chắc chắn có hàng triệu người phụ nữ ở London mong ước được ở bên anh, em đang cướp anh khỏi họ. Đàn ông độc thân ngoài ba mươi hiếm như những con kỳ lân vậy. Đúng không?

Và rồi, trong một phút dâng trào, tôi viết thêm: Thực ra, em nghĩ có một cô gái em nên mai mối cho anh. Hai người rất giống nhau, em nghĩ hai người sẽ thích nhau ngay lập tức.

Câu trả lời của anh ta đến rất nhanh.

Em đang nói cái quái gì vậy, Heddy? Đừng có ngớ ngẩn. Có thể có hàng triệu phụ nữ ngoài kia, nhưng họ không phải là em. Anh không quan tâm đến bất kỳ ai khác. Đừng có xúc phạm anh.

Bạn có thể hình dung phản ứng của tôi trước việc này hỗn loạn như thế nào. Một phần vui vì tình cảm mãnh liệt của anh ta; một phần lại mất tinh thần. Tôi quyết định thử lại, lần này với cách thức cương quyết hơn.

OK, em sẽ thẳng thắn với anh. Trước kia anh đã hỏi em có người nào khác không, em đã nói không? Điều đó không hẳn là đúng. Có một người. Mới chớm nở thôi, nhưng em thực sự thích anh ấy. Anh ấy không xuất sắc như anh, nhưng anh ấy điềm đạm, tốt bụng và em nghĩ anh ấy có thể tốt cho em. Anh ấy cũng có lợi thế là không cách xa bốn ngàn dặm. Anh nghĩ sao?

Một lần nữa, câu trả lời của anh ta đến tức thì.

Anh nghĩ sao ư? Anh nghĩ rằng anh muốn khóc, và anh nghĩ anh muốn nhảy ngay lên một chiếc máy bay và bay đến đó lắc cho em một trận. Nói đi, gã này là ai?

Một email nữa nối đuôi gần như ngay lập tức. Chỉ có một dòng.

12811

Nếu em thực sự nghiêm túc về chuyện này, thì anh không thể tiếp tục viết cho em nữa. Anh xin lỗi.

Ngực tôi nghẹn cứng, như bị đổ đầy bê tông, và hai bàn tay rũ xuống trên bàn phím. Mất một lúc tôi mới hồi lại để đủ sức trả lời, những ngón tay gõ yếu ớt.

Không, không, đừng nói thế. Chúng ta không thể ngừng viết được. Chuyện với người đàn ông này không hề nghiêm túc. Trái tim em thuộc về anh, anh biết mà. Xin đừng ngừng viết.

Sau một phút như tra tấn, hồi âm của anh ta đến. Được.

Tôi nhắm mắt và thở phào nhẹ nhõm. Khi tôi mở mắt ra, một email khác đang chờ.

Tái bút: Hôn anh trước đã.

Bất chấp nỗi sợ, tôi không sao rũ bỏ được nhu cầu gặp Connor bằng xương bằng thịt một lần nữa. Sau một ngày chẳng nghĩ được gì khác, tôi kết luận dù sao cũng chẳng có gì để mất khi bố trí một cuộc gặp. Cho dù nó không dẫn đến kết quả như mong muốn, một cuộc gặp trực tiếp ít nhất sẽ bổ sung cho kho hình tượng của tôi về anh ta.

Nhưng phải thừa nhận rằng tôi vẫn ấp ủ hi vọng nó sẽ dẫn đến một cái gì đó lớn hơn; rằng mối “giao cảm” giữa chúng tôi sẽ đủ mạnh để thắng thế lòng chung thủy của anh ta với Tess. Một vũ khí chủ chốt trong kho vũ khí

282

LINE

của tôi là tôi nắm rõ những sở thích và sở ghét của anh ta, do đó có thể mau chóng đưa những chủ đề đó vào cuộc trò chuyện.

Tình cờ gặp anh ta là chuyện đơn giản. Tôi biết anh ta ra ngoài với đồng nghiệp vào hầu hết các tối thứ Sáu, thường là “uống chia tay” người nào đó. Vì thế đến tối thứ Sáu tiếp theo, ngay khi đăng nhập, tôi dùng giọng vui đùa hỏi anh ta tối đó làm gì?

Ồ, như mọi khi, làm mấy cốc với các quý ông ở quán bar. Hôm nay ai sẽ đi?

Justin.

Là người nào nhỉ?

Anh ta kể cho tôi nghe những câu chuyện thú vị về nhiều đồng nghiệp của mình.

Anh chàng lực sĩ làm bán thời gian, luôn trữ những hộp Tuperware ức gà trong tủ lạnh ấy.

A ha, đúng rồi, Justin Khổng lồ. Vậy cuộc vui tổ chức ở đâu? Một lỗ nẻ nào đấy ở Shorediich.

À, một chốn quen cũ. Tôi kiểm tra nhanh hồ sơ của Tess trong thời gian đó. Electricity Showrooms vẫn hoạt động à? Từ dạo đó em chưa đến sao? Hừm. Không, quán Leccy đóng cửa mấy năm rồi.

Thế bọn nhóc dễ thương giờ đi đâu?

Chuyện đó anh không biết. Nhưng lớp đàn ông trung niên

RS ..one

283

IS không hề dễ thương như bọn anh sẽ đến quán bar The Dragon. Biết nó không?

Sau khi vội vàng tra Google để biết được quán bar The Dragon đã mở cửa vài năm, tôi viết, Biết chứ, em đã có mấy buổi tối chán chết ở đó. Đi chơi vui nhé!

Thật dễ dàng.

Lúc đó là sáu giờ mười lăm phút tối giờ GMT, nên tôi phải rời nhà đi xuống Shoreditch gần như ngay lập tức. Tôi đã chuẩn bị sẵn trang phục - chân váy tua rua dài màu đen và cái áo hoodie mới nhất – và gội đầu trước. Tôi cũng lôi đồ trang điểm của mẹ ra: một hũ phấn má và ít phấn phủ đã vẽ rạn trong cái hộp nhỏ nhưng vẫn dùng được. Dù tôi biết Connor không phải kiểu người nông cạn và coi trọng những cái bên trong, nhưng tôi không ngây thơ: chẳng hại gì khi trưng ra bộ dạng đẹp nhất của mình. Trước khi rời căn hộ, tôi viết cho Tess một dòng trạng thái nói rằng cô sẽ vào đất liền cả ngày hôm nay, và nhét vào túi cuốn The Princess Bride.

Tôi chưa bao giờ đến Shoreditch, dù bọn con gái Ở trường đến đó suốt. Thực ra sau khi xem những bức ảnh họ chơi tối ở đó được đăng lên Facebook, tôi đã thề không bao giờ đặt chân đến chốn ấy. Cảnh tượng trông rất khó chấp nhận, đầy những người nhễ nhại mồ hôi trong những bộ đồ dị hợm, chen chúc lẫn nhau và cười toe toét ngờ ngẩn. Mấy người đàn ông mà bọn họ cặp kè còn trang điểm

284

SA

phấn son, và vẻ mặt họ thể hiện rõ rằng họ hết sức tự hào về điều này.

Tôi xuống ga tàu điện ngầm Old Street ngay trước bảy giờ tối, và định vị GPS trên điện thoại chỉ tôi đến một con phố nhỏ nhem nhuốc, cách năm phút đi bộ. Quán bar nhìn bên ngoài không giống cho lắm, nhưng bên trong đã khá đông thực khách, nói chuyện ồn ào át cả tiếng nhạc. Trái với lo sợ của tôi, nhiều người trong số họ trong bình thường - đa số mặc đồ công sở – song tôi phát hiện có một phụ nữ hình như mặc áo ngược, và một người đàn ông tóc nhuộm để kiểu spiky. Một số bàn đã có người nhưng tôi tìm đến một cái ghế ở quầy bar, gọi một cốc nước cam và mở cuốn sách ra, làm ra vẻ đang đọc, nhưng luôn để mắt đến cửa ra vào.

Bảy giờ bốn mươi phút, Connor đến. Khi thấy anh ta đẩy cửa vào, tôi cảm thấy cú sốc adrenalin ta thường bị khi không nhìn dưới chân và bước hụt. Anh ta mặc bộ vest màu lam sẫm rất giống bộ hôm trước, chỉ có những sọc ké dày hơn một chút, tôi nghĩ anh ta trông rất ổn, vui vẻ và đầy sức sống. Anh ta đi cùng hai người đàn ông, một trong Số đó chính là người ở hiệu bánh sandwich, và một người phụ nữ tóc nâu cắt ngắn, mặc bộ vest đen ôm sát. Tôi quan sát Connor khi anh ta quét mắt quanh căn phòng. Phát hiện ra một nhóm người, anh ta kêu lên, “A ha!” và len qua đám đông đi về phía họ. Có bảy người trong nhóm

285

anh ta vừa gia nhập, tất cả đều mặc đồ công sở, cánh đàn ông cầm những vại bia còn phụ nữ cầm rượu vang trắng. Connor VỖ lưng một người đàn ông và nói gì đó, khiến người này cười phá lên. Đồng nghiệp của anh ta, người ở cửa hiệu sandwich, đi vòng quanh nhóm, nhưởng mày chỉ vào CỐc của họ, sau đó đi về phía quầy bar.

Tôi không lường trước được Connor sẽ ở trong một nhóm đông như thế, không biết làm thế nào để lại gần và bắt chuyện với anh ta. Tôi rời khỏi cái ghế trước quầy bar và len lỏi trong đám đông cho tối lúc đứng cách họ vài mét, trong tầm nghe. Tôi tiếp tục giữ cuốn sách lên, mặc dù đứng đọc giữa đám đông trông chẳng tự nhiên chút nào. Connor vẫn đang nói chuyện với người đàn ông mà anh ta vỗ lưng, và tôi nghe thấy câu “điển hình quá đi chứ!” nhưng không biết nó nói về cái gì. Người đó, tôi suy luận, chính là Justin Khổng lồ. Hai bắp tay anh ta căng phồng dưới lớp áo sơ mi hồng, và cổ anh ta không nhỏ hơn đầu là mấy.

Justin bắt đầu nói về người nào đó tôi nghe không rõ tên, kể một câu chuyện là anh ta, Justin, một lần bắt gặp người đó ở trong bếp của văn phòng đang làm một việc không nên làm. Những người khác dường như đều biết chuyện này và cười sằng sặc, nghiêng ngả thân hình trong con cười. Sau đó một người khác xen vào và bắt đầu nói về chuyện đi Latvia. Tôi không nghe được tất cả chi tiết nên rất khó để theo kịp. Nhưng tôi để ý thấy cả nhóm dường như đều nôn nóng chờ đến lượt mình kể một câu chuyện hoặc pha trò. Rồi đến người đàn ông đeo kính giống đôi kính của anh trai Tess, Nicholas, kể một chuyện tiếu lâm kết thúc bằng, “Cô ta đã nói thế đấy”, làm bùng lên một tràng cười lớn trong nhóm.

Connor cười và gật gù trong tất cả những câu chuyện của đồng nghiệp nhưng tôi nhận thấy mắt anh ta không nhìn vào diễn giả, mà lang thang quanh phòng, như đang tìm ai đó. Anh ta cũng hay xem đồng hồ. Một đồng nghiệp của anh ta lẻn đến rủ anh ta đi toilet cùng, y như mấy nữ sinh ở trường. “Không, tớ không có nhu cầu”, Connor đáp. Tôi nghĩ lại điều anh ta nói về việc anh ta thấy những hoạt động giao tế VÔ nghĩa vì không có Tess. Tôi muốn đến chạm vào cánh tay anh ta và nói, “Em đây.”

Khi tất cả đã uống cạn Cốc của mình thì một người khác lại chỉ đi quanh một vòng, y như cách đồng nghiệp của Connor đã làm. Nếu họ mua đồ uống theo vòng, thì sắp đến lượt Connor. Đó sẽ là cơ hội để tôi tiếp cận anh ta một mình. Để chuẩn bị trước, tôi chen vào sâu hơn đám đông quanh quầy bar để có vị trí thuận lợi nói chuyện với anh ta khi thời cơ đến. Không có chỗ để đọc sách ở vị trí bình thường, tôi phải gio nó lên sát mặt, nhòm qua mép sách theo dõi tình hình.

Hóa ra còn ba vòng mua đồ uống nữa mới đến lượt Connor, tha hồ thời gian cho tôi quan sát. Anh ta có chỏm lông tơ phía trên hai tai và ba nốt ruồi dọc đường chân tóc, và thường nghiêng đầu về một bên mỗi khi lắng nghe. Anh ta đứng một tay đút túi quần còn tay kia cầm cốc bia, vai đeo một túi da lớn. Tôi khao khát muốn biết trong túi có gì. Tôi để ý đến những nếp nhăn quanh mắt anh ta và cảm thấy ghen tị với những người đã làm anh ta cười trong quá khứ. Thật ngốc nghếch đúng không?

Cuối cùng, đến lượt Connor mua đồ uống. “Được rồi, các vị. Như cũ hả?” Anh ta nói, và bắt đầu đi đến quầy bar.

Đây là cơ hội của tôi. Khư khư giơ cao cuốn sách để anh ta có thể nhìn rõ cái bìa, tôi chen qua đám đông và vỜ như vô tình chúi nhủi vào anh ta.

“Xin lỗi”, tôi nói, rồi bảo thêm, “xin chào.”

“Xin chào”, anh ta nhìn xuống tôi. Mắt tôi ở ngang miệng và cái cằm nhẵn nhụi của anh ta, tôi ngửi được mùi bia trong hơi thở anh ta. Hông anh ta áp vào cánh tay tôi. Trong một khắc kinh hoàng tôi tưởng mình sẽ không thể mở miệng được, vì tim tôi đang đập điên cuồng. Rồi tôi nuốt khan và hít sâu một hơi, và tập trung vào lời bắt chuyện đã chọn từ tối hôm trước.

“Anh thường đến đây à?”

Vì lý do nào đó, câu này làm Connor thấy thú vị. Anh ta ngả đầu ra sau cười lớn. Thực ra nó giống tiếng sủa hơn. “Tôi không nghĩ tôi từng nghe ai đó nói như thế, anh ta lên tiếng. “Xin lỗi, tôi thật thô lỗ. Câu trả lời cho câu hỏi hoàn toàn hợp lệ của cô là, phải, tôi đến đây khá thường xuyên. Còn cô?”

“Tôi chưa đến đây lần nào”, tôi nói.

Anh ta nhìn tôi kĩ hơn.

“Tôi gặp cô Ở đâu chưa nhỉ? cô có làm ở Clifford Chance không?”

Tôi lắc đầu.

Anh ta nhún vai, nhưng theo một cách lịch lãm. Rồi anh ta thấy phục vụ quầy bar đến gần liền vẫy lại, nói, “tội xin phép” với tôi và nghiêng người gọi đồ.

“Năm Stella, một vại Guinness, một ly vang trắng và một Diet Coke.”

Anh ta quay sang tôi.

“Cô OK chứ?”

Hỏi một câu như vậy có vẻ kỳ cục, mặc dù ruột gan tôi đang loạn cào cào nhưng tôi cố gắng để không lộ ra.

“Vâng, tôi ổn.”

Chỉ khi anh ta quay lại người phục vụ đang chờ và bảo, “Ừ, đúng thế”, thì tôi mới nhận ra hẳn là anh ta đang hỏi tôi có uống gì không. Người phục vụ bắt đầu rót bia và Connor quay lại nhìn tôi.

“Cô biết không, tôi chắc chắn đã từng gặp cô.”

Tôi mở miệng toan bảo “không” thì bàn tay anh ta chợt đưa về phía mặt tôi khiến tôi đời người, trong thoáng chốc nghĩ rằng anh ta định vuốt má tôi. Nhưng thay vào đó, những ngón tay anh ta chạm vào cái thẻ nhớ đeo trên cổ tôi. Từ khi Jonty chuyển vào, tôi đã hình thành thói quen download tất cả các file vào đó và đeo nó mỗi khi ra ngoài, đề phòng cậu ta quên khuấy một món hầm trên bếp và thiêu rụi căn hộ trong lúc tôi vắng mặt. Cái thẻ nằm bên ngoài áo hoodie của tôi, nên những ngón tay của Connor không thực sự chạm vào da tôi, nhưng tôi vẫn rùng mình trước sự gần gũi ấy. Móng tay anh ta rất sạch sẽ và được cắt ngắn, mẹ ắt sẽ tán thưởng. Khi anh ta rụt tay về, những ngón tay của tôi vô thức đưa lên chỗ anh ta vừa chạm vào. Rồi tôi buột ra một tiếng thở dốc nhỏ khi nó biểu hiện chính xác loại dữ liệu chứa trong chiếc thẻ nhựa nhỏ: Tess và anh ta. Anh ta và tôi.

“Cô có từng đến sửa máy tính cho tôi không?” Anh ta hỏi, và cười lục khục. “Chuyên gia IT chỗ chúng tôi có một chiếc thế này, nhưng cậu ta để nó dưới này…” Anh ta làm điệu bộ rút một sợi dây chun từ thắt lưng, kèm theo một âm thanh “boijinnng” cường điệu.

“Roger”, tôi nói không suy nghĩ. Đó là tên của “chuyên gia IT” tại Asquith và các Cộng sự. Connor đã từng kể về người đó: anh chàng hay trề môi dưới ra mỗi khi tập trung và từng bị khiển trách vì nhìn chòng chọc nhân viên nữ. Connor nhìn tôi, bối rối, mặt anh ta sáng lên.

“Đúng rồi. Roger, xong và hết.” Anh ta làm một kiểu chào, giống đến lạ lùng cái cách Tess thường chào tôi vào cuối các cuộc gọi Skype khi tâm trạng cô vui vẻ.

“Anh có biết rằng xong và hết là một cụm từ không chính xác không?” Tôi hỏi. “Theo trình tự nói thì xong nghĩa là xong với anh, còn “hết là kết thúc cuộc đối thoại, nên dùng cả hai là vô lý. Nó thường bị dùng sai.”

Anh ta chưa kịp trả lời thì người phục vụ kêu thanh toán đồ uống, giờ đã bày hết trên mặt quầy. Tôi nhận ra mình phải hành động thật nhanh, và giữ cuốn The Princess Bride lên.

“Thực ra tôi đến tìm một chỗ để đọc sách”, tôi nói. “Nhưng tôi nghĩ tôi chọn nhầm nơi rồi!”

Tôi cẩn thận quan sát mặt anh ta, khi anh ta nhìn bìa sách. Phản ứng của anh ta không đúng như tôi mong đợi. Anh ta nhưởng mày và mỉm cười, nhưng chẳng nói gì, nên tôi buộc phải hỏi.

“Anh đọc nó chưa?”

Sau một lúc, anh ta nói, “Chưa, tôi thực sự chưa đọc.” Đây đúng là một điều ngạc nhiên: tôi đang trông đợi cuốn sách trở thành một đề tài trò chuyện.

Anh ta đưa cho nhân viên quầy bar hai tờ hai mươi bảng và loay hoay tìm cách bê tất cả ly cốc lên.

“Có cần tôi giúp không?” Tôi hỏi, và nhấc hai Cốc bia khỏi quầy bar mà không đợi anh ta trả lời. Tôi CỐ tha thêm cốc thứ ba, nhưng tay tôi quá nhỏ. Connor tỏ ra thích thú.

“OK, nếu cô muốn.”

Tôi đi theo anh ta về chỗ nhóm người, cẩn thận giữ những đồ uống phía trước để chúng không bị sánh ra ngoài. Trông thấy tôi đi sau Connor, Justin nói, “Nhanh dữ vậy, anh bạn.”

Những người khác cười ồ khi họ đón Cốc của mình từ tay Connor và từ tôi. Connor vỗ vai tôi.

“Cảm ơn rất nhiều”, anh ta nói. “Cô thật tốt. Tôi hi vọng cô tìm được nơi yên tĩnh để đọc sách.”

Người phụ nữ tóc nâu cứ cười khúc khích.

“Ok”, tôi nói. “Tạm biệt.”

Tôi chậm chạp quay người đến một chỗ trong góc phòng, nơi tôi tiếp tục “đọc sách”. Tôi Ở nguyên vị trí đó trong nửa tiếng đồng hồ, che mặt bằng cuốn sách trong lúc Cố gắng phân tích những gì vừa diễn ra. Chúng tôi không nói chuyện lâu, nhưng anh ta đã đề nghị mua đồ uống cho tôi. Chuyện gì sẽ xảy ra nếu tôi chấp nhận? Anh ta nói tôi tốt bụng. Phải, khoảnh khắc The Princess Bride là một nỗi thất vọng, nhưng có lẽ anh ta đã mua cuốn sách cho Maya nhưng chưa có thời gian để đọc.

Lúc tôi ra về – nhóm người vẫn ở đó, tôi cố hết sức để không nhìn về phía Connor – tôi đã kết luận, sau khi xem xét kĩ, cuộc gặp không phải là một thất bại. Về đến căn hộ, tôi đăng nhập ngay vào email của Tess, tò mò muốn biết, nếu như có, Connor sẽ nói gì về buổi tối của anh ta ở quán bar Dragon. Tôi phải đợi đến sáng hôm sau mới có tin từ anh ta.

Bữa lẩu pho mát thế nào? Em có làm rơi bánh mì không? Mong là họ không chơi phạt hôn ở Canada.

Hôm trước tôi có nói với anh ta rằng tôi sẽ dự tiệc tối ở nhà Leonora, chị ấy hứa làm món tủ là lẩu pho mát. Nói để anh tự hào rằng không một mẩu bánh mì nào rơi khỏi đĩa của em, tôi viết. Hội trại của Justin thế nào?

Chán, anh ta viết, rồi bắt đầu kể cho tôi phong tục của Công ty đối với người sắp rời đi là mặc đồ phụ nữ để tham dự bữa tiệc rượu chia tay, và Justin đã tôn trọng truyền thống, đến quán bar trong một bộ váy. Gây quan ngại sâu sắc. Hắn khiến John Travolta trong Hairspray trông như Audrey Hepburn. Kỳ lạ, tôi nghĩ, vì tôi không thấy có chuyện đó: Justin mặc áo sơ mi và cà vạt, như mọi người khác.

Không có lời nào về cuộc gặp gỡ giữa anh ta và tôi, nhưng tôi cho rằng điều đó không quá ngạc nhiên. Anh ta sẽ không kể cho Tess việc mình gặp người phụ nữ khác.

Tôi kết luận rằng anh ta đã thêm mắm dặm muối cho buổi tối của mình, đưa vào chi tiết Justin mặc váy, bởi anh ta không thể nhắc đến sự việc thực sự đáng chú ý tối hôm đó – cuộc gặp gỡ giữa chúng tôi. Đó là một lời nói dối VÔ hại, có thể hiểu được.

Chúng tôi tiếp tục email cho nhau, nhưng bây giờ những hình ảnh sống động về anh ta đi cùng các cuộc trao đổi. Tôi hình dung những móng tay sạch sẽ, sáng bóng ấy gõ trên bàn phím, cái túi da màu đen để cạnh chân anh ta dưới gầm bàn. Tiếng ha ha thỉnh thoảng anh ta đáp lại những câu chuyện cười của tôi giờ kèm theo hồi ức đối mắt anh ta biến mất khi cười. Khi anh ta ra ngoài uống bia sau giờ làm, tôi tưởng tượng anh ta gọi một chai Stella và rút ví từ túi phải chiếc quần có sọc kẻ và gọi người phục vụ quầy bar là “anh bạn”.

Và hình như Connor cũng mong mỏi chi tiết hình ảnh tương tự từ tôi. Một buổi tối, đã khuya, anh ta gửi một email từ chiếc Black Berry của mình.

Em đang mặc gì?

Bất thường là không có Hôn anh trước đã trong phần tạm biệt, nhưng tôi đoán anh ta quên vì đã muộn và anh ta mệt mỏi.

Nhưng giờ thì tôi thấy đủ tự tin để trả lời theo ý mình, chứ không phải dưới lốt Tess, thế là tôi tả thực cho anh ta trang phục của mình.

Quần thể thao màu xanh hải quân. Dép lê. Áo chui đầu Red Dwarf với slogan “Hun khói cho tôi một con cá trích”.

Rất hài hước. Một kẻ khó chịu, là câu trả lời khó hiểu của anh ta.

Từ khi bắt đầu biên thư qua lại, đã nhiều lần tôi đứt liên lạc với anh ta trong mấy tiếng, có khi đến nửa ngày, khi anh ta bảo tôi là bạn trông bạn trẻ. Ban đầu tôi thấy chẳng sao, vả lại, tôi còn nhiều việc khác phải làm cho Tess. Nhưng bây giờ tôi thấy những khoảng ngừng kéo dài này đang trở nên khó chịu đựng mấy phút trôi qua, bàn tay phải của tôi bắt đầu nhức nhối do liên tục ấn refresh tài khoản email của Tess. Tôi không có chi tiết nào cần sửa tầm này, mặc dù anh ta có lần bảo gửi cho tôi ảnh lũ trẻ của anh ta, nhưng chẳng thấy gửi gì cả. Tôi cố hình dung anh ta trong căn hộ ở Kensal Green, nhưng vì tôi chưa bao giờ ở trong một căn hộ ở Kensal Green, trong đầu tôi trống không. Tôi không thể nhìn xa hơn cái túi da đen của anh ta ngoài sảnh, chiếc khăn sọc quàng Cổ vắt trên lan can. Ngoài ra không có gì hết.

Vào một trong những giai đoạn mất liên lạc ấy - tôi nhô là một ngày thứ Bảy - tôi bắt đầu tự hỏi, bây giờ khi đã thực sự gặp và nói chuyện với Connor, tôi có thể nâng cấp từ “say nắng” lên thành “yêu” không. Ngoài ra, tôi ngày càng quan tâm tìm hiểu chữ “tri kỷ”. Tôi nghĩ đến

Câu thoại trong bộ phim truyền hình nhiều tập Red Dawarf: Hun khói cho tôi một con cá trích, tôi sẽ trở lại vào bữa sáng. lời Tess nói về Tevi người làm nghề DJ, mà cô tuyên bố là tri kỷ của cô.

“Tôi muốn kể cho anh ấy mọi điều. Anh ấy hiểu tôi. Tôi cảm thấy mất phương hướng nếu không có anh ấy. Thế giới trở nên xám xịt khi chúng tôi không ở bên nhau.”

Lúc ấy tôi đã nghĩ đây đúng là điển hình cho tính thất thường và làm quá của cô. Tuy nhiên giờ đây tôi lại nhỏ đến lời cô nói, vì chúng mô tả chính xác cảm nhận của tôi về Connor. Song có chắc ý niệm ngoài kia chỉ có một người dành cho mỗi chúng ta là vô lý?

Tôi quyết định làm điều tôi đã làm trước đây khi đánh một ý tưởng: đưa nó lên diễn đàn trên Red Pill.

Giờ nhìn lại thì có thể thấy có lẽ đó không phải là hành động sáng suốt, tự dưng mở một chủ đề trái với cách đăng bài của tôi dạo gần đây. Từ khi bắt đầu dự án Tess, những đóng góp của tôi cho diễn đàn teo tóp hẳn đi, mặc dù tôi vẫn đăng nhập hàng ngày, theo yêu cầu của Adrian, thường chỉ để đăng một bình luận vô vị bằng biểu tượng hoặc đồng ý với ý kiến ai đó, chứ không có bất cứ nỗ lực hay suy nghĩ thực sự nào.

Đương nhiên tôi không quên lối cư xử lạ lùng của Adrian khi tôi gặp anh ở Westfield, nhưng như tôi đã nói, tôi đã rút ra cái mà có vẻ giống như lời giải thích hợp lý duy nhất – là anh bị phân tâm bởi một vấn đề cá nhân không liên quan. Vả lại, hình như mọi chuyện giữa chúng tôi đã trở lại bình thường. Sau khi gửi email cho Marion, tôi đã nhắc chuyện đó trong báo cáo tiếp theo gửi “Ava” và anh đã trả lời theo cách quen thuộc “Làm tốt lắm!”. Không ai trong chúng tôi đả động đến cuộc gặp gỡ gượng gạo nọ, từ đó đến nay chúng tôi đã trao đổi đôi ba tin nhắn thân tình.

Chắc chắn tôi không nghĩ anh sẽ phản đối tôi mở một chủ đề về “bạn tri kỷ”. Ngược lại là khác, anh sẽ vui mừng thấy tôi tham gia nhiệt tình hơn vào website so với mấy tuần gần đây.

Tôi đăng nhập và thấy đông đảo thành viên Sáng tạo Ưu tú đã hiện diện, đang tranh luận về podcast mới nhất của Adrian mà tôi chưa nghe. Theo lệ thì tôi nên tham gia tranh luận trước khi bắt đầu chủ đề của mình, nhưng tôi không có thời gian hay sự kiên nhẫn. Nên tôi bắt đầu chủ đề mới với câu hỏi: Tri kỷ có tồn tại không?

Tôi nhận được phản hồi đầu tiên sau hai phút, từ Lordandmaster.

Shadoufax, tuổi già đang khiến cậu mềm yếu à? Làm gì có định mệnh. Tất cả đều là sự lựa chọn.

Tôi trả lời: Những khó có thể, chứ không phải không thể, trên một hành tinh bảy tỉ người, có một người đáp ứng được những nhu cầu và mong muốn của ta? Người “hiểu ta”?

Vừa nhấn nút “gửi” tôi đã biết chữ “hiểu ta” là một sai lầm. Jonas3 nhảy vào.

“Hiểu ta”? Tôi nhớ Socrates đã dùng chữ đó… KHÔNG . Không, làm gì có thứ gọi là tri kỷ, chỉ là con người cần những thứ nhất định từ người khác để tạo ra một bộ gene mới thôi. “Yêu” chỉ là một khái niệm để duy trì nòi giống.

Tôi có hai câu trả lời cho chuyện đó, tôi viết. Thứ nhất, trong Hội luận, Plato ủng hộ quan điểm về tri kỷ, nên nếu ám chỉ rằng không có “nhà tư tưởng lớn” nào tin vào nó là không đúng. Thứ hai, nếu người ta không muốn có con thì sao?

Trả lời: Plato đã dùng phương pháp loại suy của một con người hai tay hai chân, được thần Zeus tách đôi và rải khắp thế giới, sau đó lang thang khắp nơi để tìm nửa kia của mình. Cậu cũng tin vào thần Zeus ư? Ngay cả những nhà tư tưởng lớn” Cũng có thể mắc sai lầm, Shadoufax ạ.

Trước khi tôi có thể trả lời, một người khác đã vào cuộc. Adrian.

Jonas3 nói đúng, Shadowfax, anh viết. Ngay cả những người ở cấp Sáng tạo Uu tú cũng có thể sai lầm. Tôi đề nghị bạn hãy nhớ đến những bổn phận đạo đức của bản thân như một người duy lí, đừng để mình ngả nghiêng vì những suy nghĩ mập mờ thế này nữa.

Nói rằng tôi bàng hoàng trưỐC sự can thiệp này còn là nhẹ. Tất nhiên tôi biết có thể Adrian đang giám sát cuộc trao đổi của chúng tôi: dù sao đây cũng là trang web của anh. Nhưng anh hiếm khi xen vào kiểu đó. Anh sẽ trả lời một câu hỏi nếu nó được đặt ra cho anh, nhưng nhìn chung anh đóng vai khán giả, quan sát cuộc đối thoại và phân xử nếu được yêu cầu.

Phản ứng của tôi trưỐC sự quở trách công khai này là xấu hổ. Tôi đã bị phạt. Tuy nhiên khi nỗi xấu hổ lắng xuống, tôi bắt đầu tự hỏi lẽ nào Adrian đã biết về Connor. Nhưng làm sao anh biết được?

Lời giải thích khả dĩ nhất cho sự khiển trách này là: anh nghĩ câu hỏi về “tri kỷ” của tôi không dính dáng đến dự án Tess, mà về một chuyện khác đã xảy ra trong đời Sống cá nhân của tôi. Một người đàn ông tôi gặp gỡ. Và Adrian lo rằng mối quan tâm mới này sẽ làm tôi chểnh mảng Công việc.

Suy nghĩ ấy xuất hiện khiến tôi càng bực bội. Sao anh dám bảo rằng tôi không làm việc nghiêm chỉnh? Tôi đã hoàn thành tất cả nhiệm vụ; tôi đã cống hiến bao tháng trời cho dự án, với mức nguy hiểm cao. Và cái ý nghĩ - dù chưa được kiểm chứng, dù chỉ là giả thuyết – rằng ai đó có thể ngăn cấm tôi nói chuyện với Connor đã làm dấy lên trong tôi một cảm giác mới lạ, mãnh liệt: khao khát bảo vệ không cho chuyện này xảy ra bằng mọi giá, và đáp trả lời đe dọa.

Lời buộc tội của Adrian về “suy nghĩ mập mờ” cũng khiến tôi ngứa ngáy – nó đến từ một người còn không nhớ nổi nơi anh ta gặp Tess, tự tin tuyên bố là ở New York trong khi tôi biết là không phải.

Tôi không tìm cách biện hộ cho hành động tiếp theo của mình, chỉ muốn giải thích nó. Tôi thừa nhận đó là một hành động trẻ con, bốc đồng.

Tôi vẫn ở trên diễn đàn. Không ai nói thêm lời nào sau khi Adrian khiển trách tôi - cứ như họ đang nín thở xem chuyện gì sắp xảy ra. Tôi bắt đầu gõ.

Mà nhân tiện, Adrian, anh không gặp cô ấy ở New York. Cô ấy chưa từng tới đó.

Bất chấp nỗi tức giận, tôi vẫn cẩn thận không nói điều gì có ý nghĩa với người nào khác. Tôi chỉ muốn đâm cho anh ta một nhát, để anh ta biết rằng, chí ít khi liên quan đến Connor, anh ta không thể ra lệnh cho tôi.

Máy tính của tôi tiếp tục gặp phải sự im lặng từ những thành viên khác - lần này tôi nghĩ nó xuất phát từ sự bối rối. Bị xé nát vì adrenalin, tôi chờ xem phản ứng của Adrian trước câu nói của mình.

Diễn đàn vẫn im phăng phắc trong một phút, rồi hai, rồi ba phút. Sau ba phút rưỡi sự không động tĩnh bắt đầu mang cảm giác kỳ lạ và bất thường. Tôi nghĩ có lẽ màn hình bị đo, bèn ấn phím “refresh”. Màn hình tiếp theo hiện ra là một bản sao của trang chủ Red Pill, bị phủ lên bởi một vòng tròn đỏ và một dòng chữ chạy ngang qua nó Bạn không có quyền truy cập trang này:

Cơn giận dữ của tôi đột ngột bị thay bằng sự hoài nghi.

Anh ta đã trục xuất tôi? Trong lúc tôi nhìn chằm chằm màn hình, CỐ phân tích những gì vừa xảy ra, thì có tiếng thủy tinh võ ngoài phố - chắc là một cốc thủy tinh bị đá bên ngoài quán rượu – và tôi co rúm lại, như thể nó đã làm võ một mảnh trên mặt tôi.

Tuy nhiên khi cơn SỐc qua đi, tôi bắt đầu suy nghĩ bình tĩnh hơn, và không lâu sau kết luận rằng bước ngoặt này không quá kinh khủng, thực ra, trong cái rủi có cái may. Lâu nay trái tim tôi không còn đặt ở trang web nữa; tôi sẽ không nhỏ nó. Và nếu Adrian có chỉ trích và không hài lòng, tôi cũng mặc kệ anh ta. Chừng nào tôi vẫn còn có Connor - và Tess – thì tôi vẫn OK.

« Lùi
Tiến »