Hôn Em Trước Đã

Lượt đọc: 264 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Thứ Năm, ngày 18 tháng Tám năm 2011

Sáng nay, tôi buộc phải tỉnh giấc sau khi ngủ được nướng sống trong căn lều. Cơ thể tôi ướt đầm đìa, da phủ một lớp dấp dính. Tôi kéo khóa cửa lều và thò đầu ra ngoài, nhưng không khí ngột ngạt chẳng dễ chịu hơn là bao, tôi bèn kéo tấm đệm bơm hơi vào trong bóng mát của một cái cây gần đó và cố ngủ lại.

Tuy nhiên nằm tơ hơ như thế thật kỳ cục và tôi không sao yên giấc được. Sau một tiếng đồng hồ, tôi quyết định ngồi dậy và bắt đầu quá trình điều tra.

Đầu tiên tôi đi vệ sinh, khi tôi từ bụi cây quay ra thì một bà già nhỏ thó với mái tóc xám cắt ngắn tiến đến, khoa chân múa tay. Bà nói giọng nước ngoài nằng nặng và phải mất một lúc tôi mới nhận ra bà bực mình vì tôi không dùng chung chỗ như mọi người. “Nhập gia tùy tục”, bà nói giọng khàn khàn. Tôi thấy tốt nhất không nên đáp lại, rồi hỏi mùa hè năm ngoái bà có Ở đây không. “Có”, bà chau mặt đáp. “Tôi vẫn đến đây suốt mười bốn năm qua. Tôi đã giúp cho nơi này trở nên tuyệt vời, thế nên…”

“Bà có nhận ra người phụ nữ này không?” Tôi hỏi, và đưa tấm ảnh của Tess ra.

Bà chỉ liếc qua tấm ảnh. “Tôi không biết”, bà gắt gỏng, rồi quay ngoắt bỏ đi.

Ghi lại trong đầu phải hỏi lại khi nào bà nguôi giận, tôi bắt đầu từ mũi phía Bắc và đi đến tất cả lều trại, đưa ảnh Tess cho từng người tôi gặp và hỏi họ có nhớ ra cô từ mùa hè năm ngoái không. Kết quả không thu được gì. Một người đàn ông xỏ năm cái khuyên ở môi nói có lẽ đã thấy cô Ở “dâu đó”, nhưng không cung cấp được thông tin nào. Một người khác quả quyết Tess là một cô gái người Tây Ban Nha tên là Lulu, quản lý một quán bar ở Ibiza bảy năm nay.

Điều tôi thấy lạ là sự thờ ơ. Tôi không hề phải dùng đến câu chuyện mà mình chuẩn bị sẵn. Không ai hỏi vì sao tôi tìm kiếm Tess. Như thể một người mất tích là chuyện hoàn toàn bình thường trên thế giới này. Người ta có vẻ tò mò cách thức tôi đi từ sân bay đến đây như thế nào hơn. Khi tôi nói tôi bắt taxi, một người đàn ông hỏi mất bao nhiêu tiền, và khi tôi nói con số thì ông ta trợn mắt xua tay và thở dài. “Một trăm bốn mươi euro!” Ông ta lặp lại với người phụ nữ đang tết tóc kế bên. “Một trăm bốn mươi euro!” Còn một điều nữa về nơi này. Tôi đã gồng mình theo phong cách “hippy”, sẵn sàng ngậm chặt miệng trong những cuộc tranh luận về “tâm linh”, “các cung hoàng đạo” và “mát xa”, nhưng những cuộc chuyện trò tôi nghe được không hề như thế. Hình như họ chỉ nói về giá cả các thứ, họ đến từ đâu, hay tiếp theo sẽ đi đâu.

Tôi cho rằng sự thiếu quan tâm này hợp với Tess. Cô biết mình có thể đến đây mà không bị tọc mạch, không ai hỏi những câu cắc CỐ.

Trên đường trở về lều, tôi lại nghe thấy tiếng rì rì đáng yêu của máy phát điện mà tôi để ý từ tối qua, và lần theo âm thanh đến một chiếc xe tải đỗ riêng, tách kho những xe khác. Cửa xe mở, bên trong có một phụ nữ đang cho con bú và một thằng bé đang đánh vật với quả dưa hấu bằng một con dao. Một chiếc quạt đang quay ro ro, đặt gần đứa bé. Người phụ nữ để trần hai bầu ngực, nên tôi nhìn sang chỗ khác và hỏi về thông số chiếc máy phát điện. Chị có vẻ ngạc nhiên, đáp, “Tôi không biết.” Tôi liền ra ngoài xem. Nó chỉ có 1200 watt, tôi tính nếu cắm cả quạt và laptop của tôi, cái quạt sẽ bị yếu điện hơn một chút. Tôi nghĩ chuyện này sẽ không ảnh hưởng quá nhiều vào ban đêm, khi trời mát hơn và mọi người đã ngủ, có lẽ khi đó tôi có thể dùng nó để sạc pin laptop.

Tôi giải thích tất cả điều này với người phụ nữ, rồi hỏi liệu tôi có thể cắm bộ chuyển đổi của mình được không? “Miễn là chúng tôi không bị luộc chín, thì tôi thấy không vấn đề gì”, chị nói.

“Năm ngoái chỉ có ở đây không?” Tôi hỏi, và nghĩ đến Tess.

“Không, đây là lần đầu chúng tôi tới đây”, chị nói, cất tiếng cười nhỏ. “Chắc cô cũng vậy. Tôi là Annie.”

So với những người khác thì Annie khá bình thường. Chị to béo hồng hào, mái tóc vàng bần bết, không tốt cũng chẳng cắt. Trang phục gần như chỉn chu, trừ hai ống tay áo quá rộng phơi cả quai áo lót ra.

Tôi có thể dời ngay lều của mình đến gần máy phát điện. Thay vì dỡ ra, tôi chỉ nhổ các cọc lều bên ngoài và kéo nguyên cái lều đi, đồ đạc vẫn ở bên trong, khoảng một trăm mét đến một chỗ bên cạnh xe của Annie. Chị và lũ trẻ giờ đã ra ngoài, dưới một mái che tạm.

“Cố định cắm trại ngay tại đây à?” Annie hỏi.

Điều đó là hiển nhiên nếu tôi muốn dùng máy phát điện của chị, sao chị phải hỏi nhỉ? Tôi gật đầu, và bắt đầu đóng cọc lều dưới sự quan sát của Annie và thằng bé.

“Cô có muốn Milo giúp không? Nó thích việc dựng lều lắm.” Chị nói.

Tôi chưa kịp nói gì thì thằng nhóc đã vòng sáng và bắt đầu ấn các cọc lều xuống, dùng cả hai tay và miệng lẩm bẩm. Nó có màu tóc giống Annie, và khi nó quỳ xuống, tôi để ý thấy hài lòng bàn chân nó đen sì.

Sau sự khởi đầu sớm sủa và tất cả những hoạt động của buổi sáng, tôi muốn nằm vật ra. Trong lều nóng hầm hập, nên tôi hỏi Annie liệu tôi có thể trải tấm đệm dưới bóng mái che của chị và nằm ở đó không?

“Cô không ngại nhỉ?” Chị nói, nhưng khoát tay, cử chỉ tôi coi là “đồng ý”. Tôi kéo cái đệm của mình đến, nằm ngửa ra, hai tay khoanh trước ngực và nhắm mắt lại. Tôi không cảm thấy quá lo lắng nữa vì chỉ có Annie và Milo bên cạnh, rồi nhanh chóng trôi vào một giấc ngủ chập chờn kỳ quặc. Những âm thanh xung quanh - tiếng chim hót, chó sủa, tiếng trống, cả tiếng nói của Annie và Milo cách đó vài bước – cũng bị dìm xuống bởi cái nóng, hiện lên và tạo thành một thứ nhạc nền cho những ý nghĩ của tôi.

Tôi thường không nhớ những giấc mơ của mình, và chắc chắn không gán bất cứ ý nghĩa nào cho chúng. Nhưng giấc mơ lần này như một chuỗi những hình ảnh rời rạc. Một số cảnh có nguồn gốc rõ ràng: chuyến bay đến Tây Ban Nha ngày hôm qua, chuyến đi bằng máy bay đầu tiên của tôi; cái máy bay màu cam hệt như gói snack Doritos; đám đông chen chúc ở sảnh đi Luton, cảnh tượng khiến tôi suýt quay người bỏ về Rotherhithe. Nhưng cũng có những cảnh ngẫu nhiên từ nơi khác: đi dạo cửa hàng Marks and Spencer trên phố Camden High, mẹ đi đằng trước, hình dáng quen thuộc trong chiếc áo jacket màu be; xác của Tess lủng lẳng trên một cái cây sâu trong rừng.

Tiếng khóc xuyên vào giấc ngủ làm tôi tỉnh dậy, Annie đang cho đứa bé bú còn Milo đang khuấy thứ gì đó trên cái bếp nhỏ. Chị bảo đã sáu giờ tối rồi, và hỏi tôi có muốn ăn tối không. Tôi mang thực phẩm cho một tuần gồm bánh mì và bánh quy, nên về cơ bản không cần gì khác, nhưng tôi vẫn nhận lời.

“Chỉ là xúp chay cay thôi”, chị nói, “không đặc biệt lắm.” Chị nói đúng.

Chúng tôi ngồi trên những khúc cây tròn được chà phẳng và đánh bóng thành những cái ghế thô sơ. Annie giải thích chị làm chúng để bán cho khách du lịch ở các khu chợ. Tôi nói khi du khách trở về nhà, thì những cái đôn ấy có thể gây rắc rối cho việc mang hành lý: Tôi nhận thấy ở sân bay hôm qua có quy định trọng lượng tối đa.

“Ồ, vậy những người đó sẽ phải ở lại Tây Ban Nha”, Annie nói, không hề băn khoăn về việc mất đi một phân khúc lớn khách hàng.

Milo ngốn ngấu suất ăn của mình xong liền chơi món đồ chơi bằng gỗ buộc dây, ném nó lên trời rồi cố gắng bắt lại, nên tôi tranh thủ nói chuyện nhiều hơn với Annie. Thật may vì chị nói là chính. Chị cho biết mình đến từ Connecticut – Mỹ và quyết định đến Tây Ban Nha như một món quà sinh nhật lần thứ bốn mươi tặng cho bản thân. Tôi ngạc nhiên khi biết chị bốn mươi tuổi; chỉ hơn Tess một tuổi. Trông chị già dặn hơn hẳn. Khi chị mỉm cười, có ít nhất mười nếp nhăn quanh mỗi bên mắt, trong khi Tess chỉ có bốn, và trên vùng ngực rám đỏ của chị có mấy nếp nhăn chạy vòng, như những đường vân trên một thân cây.

Chị hỏi tôi cần laptop để làm gì, tôi trả lời mình đang viết một kịch bản phim. Rồi Milo bắt đầu bị bố nói gì đó và tôi giả vờ quay sang lắng nghe, thật đúng lúc vì tôi không muốn nói nhiều hơn.

Một ngày của tôi đã trôi qua như vậy. Hiện giờ ngoài trời tối om và yên tĩnh, tôi chui vào lều. Ở đây tôi tiếp tục bài tường thuật.

Adrian đề nghị gặp nhau tại South End Green ở Hampstead, trùng hợp làm sao lại là nơi tôi biết rõ. Đó là một quảng trường nhỏ nằm dưới bóng của bệnh viện Royal Free, vốn là một trong những trung tâm điều trị cho mẹ tôi. Tôi đã dành hàng giờ nhìn xuống quảng trường từ những cửa sổ trên tầng cao bệnh viện, trong lúc mẹ được xét nghiệm, và ngồi trong quán Starbuck cạnh đó, nơi được biến thành phòng chờ không chính thức cho những người nhà bệnh nhân, đầy những người mặt mũi nhợt nhạt không hề nhấp một ngụm cà phê nào.

Tôi đến SỚm mười lăm phút và ngồi trên một băng ghế, khoan khoái cho đôi chân nghỉ ngơi. Tôi đang đi đôi giày cao gót của mẹ, nó quá nhỏ với tôi. Ngày hôm đó ấm áp và các băng ghế được lấp kín bởi khách bộ hành và bệnh nhân ra ngoài tìm chút không khí trong lành, tuy nhiên những chiếc xe bus chạy quanh quảng trường cho thấy khó mà hi vọng vào điều đó. Các bệnh nhân, người đi một mình, người có y tá hoặc người giúp đỡ đi cùng. Tôi nhớ có một người đàn ông để lại một vệt nước đằng sau, sắc da ông ta vàng nghệ, một bà lão già khụ được đẩy trên xe lăn, đầu bà ngoặt ngoẹo như thể xương Cổ đã bị lấy đi.

Ở đầu kia băng ghế tôi ngồi, có một người đang đung đưa cây gậy. Trong lúc tôi ngồi đó, toát mồ hôi, một người nữa ngồi xuống cạnh tôi. Anh ta còn khá trẻ, nom xanh xao và mắt trũng sâu. Anh ta châm một điếu thuốc và hút vội vàng, mắt nhìn trân trên phía trước. Xong, anh ta đứng dậy, vứt mẩu thuốc xuống đất và bước đi, để lại bao thuốc trên tay ghế. Tôi nghiêng người cầm lên và gọi với theo, “Anh bỏ quên cái này!” Anh ta không quay lại, tôi đứng lên đuổi theo cùng với bao thuốc, ngõ rằng anh ta không nghe thấy. Khi tôi đuổi theo tới nơi, anh ta quay lại và ném cho tôi ánh mắt buồn cười.

“Nó hết rồi”, anh ta nói. Rồi đi thẳng.

Tôi cho bao thuốc vào thùng rác và ngồi xuống bằng ghế. Đúng lúc đó, sau lưng tôi cất lên giọng nói quen thuộc. “Em là một người tốt, Leila.” Tôi quay lại và trông thấy anh ta, đang mỉm cười nhìn tôi.

Tất nhiên tôi đã thấy ảnh của Adrian từ trước, ở các đường dẫn video trên trang web. Tôi nhận ra chiếc áo sơ mi anh ta đang mặc; một trong những chiếc áo tôi thích, vải nhung kẻ màu xanh lam như màu mắt, chiếc áo T-shirt trắng bên trong tạo thành một vành trăng lưỡi liềm Ở cổ. Tôi nhớ mình đã nghĩ trông anh ta không hợp với cái quảng trường nhỏ chết chóc này, quá khỏe khoắn và lành mạnh, với hai má đầy đặn hồng hào.

Trông thấy anh ta, tôi tự động đứng dậy.

“Tôi đã thấy hành động của em với bao thuốc của anh chàng đó.” Chữ “bao thuốc” nghe thật lạ ở chất giọng ấm áp của anh ta, một giọng Mỹ. “Hầu hết mọi người sẽ không làm thế đâu.”

“Họ không làm thế ư?” Tôi nói.

“Không”, anh ta đáp, rồi vòng qua băng ghế đến bên cạnh tôi, nhìn vào mắt tôi và đưa tay ra. Tôi bắt tay, anh ta nói, “Rất vui được gặp em, Leila.”

Người ngồi cạnh chúng tôi buông một tiếng than và đập mạnh cấy gây xuống đất chẳng vì lý do gì. Adrian nhưởng mày và nói, “Chúng ta tìm chỗ nào tốt hơn nhé! Em có ngại đi bộ không?” và nói tiếp, “Đôi giày thật xinh xắn, chúng không làm em đau chân chứ?”

Adrian đi trước, len lỏi qua đám xe bus trên đường và

ek bước lên vỉa hè. Chúng tôi im lặng trong vài phút, đi qua một dãy cửa hàng, tôi ra một bãi cỏ rộng.

“À, Hampstead Heath”, Adrian nói. “Lá phổi của London.”

Chúng tôi tiếp tục đi lên bãi cỏ, qua chỗ những chú chó ngồi chồm hổm và những nhân viên văn phòng ngồi ăn sandwich, mặt ngửa lên trời đón nắng. Adiran hỏi tôi có phải đi xa không, đáp lại, tôi hỏi có phải anh sống ở đây không?

“Giá mà được như vậy. Em biết Brixton không?”

Tất nhiên tôi không biết, nhưng tôi nghĩ nó xa và tự hỏi vì sao anh ta đề nghị gặp nhau ở đây, quá cách xa nhà của cả hai chúng tôi. Tôi mở miệng toan hỏi thì anh ta đã chuyển sang câu hỏi khác, về quan điểm của tôi đối với Thế vận hội London 2012 sắp diễn ra:

“Em ủng hộ hay phản đối?”

Tôi không để tâm lắm đến vấn đề này và chẳng có quan điểm nào trong đầu, nên tôi thở phào khi anh ta nói tiếp, “Tất nhiên nếu đến lúc đó thế giới vẫn tồn tại. Em nghĩ sao về ngày tận thế 2012, có tin rằng đó là bịa đặt không?”

Lĩnh vực này thì tôi tự tin hơn. Những người hùng hái với mấy kịch bản tận thế này đang chiếm lĩnh các chat room và tôi thấy trước những tranh luận vô nghĩa của họ. Tôi cũng khá chắc chắn về quan điểm của Adrian đối với họ sẽ thế nào - xét cho cùng, những niềm tin của họ khó có thể nói là hợp lẽ - nên tôi đánh liều và trả lời quả quyết:

לל “Em nghĩ họ điên rồi.” Adrian cười phá lên.

“Đúng đúng. Thật ra”, anh ta hạ giọng, “tôi luôn muốn tạo ra một thuyết âm mưu riêng, chỉ để chứng minh rằng những kẻ khờ này sẽ nuốt lấy bất cứ thứ gì. Ví dụ, tung tin Obama gây ra khủng hoảng ngân hàng. Cho tôi một buổi sáng lập một website, quăng vào một video và chỉnh sửa Wikipedia, và đến năm giờ chiều, tôi cá là sẽ có hàng nghìn người tin sái cổ.”

Tôi chẳng biết gì về Obama hay ngành ngân hàng, nên lấy làm mừng vì một nụ cười đủ thay cho lời đáp. Adrian liền khéo léo chuyển đề tài, hỏi hồi nhỏ tôi là đứa trẻ nghịch ngợm hay mọt sách, giống như anh ta. “Dựa vào năng lực trí tuệ của em thì tôi đoán là vế sau”, và cuộc trò chuyện đi theo hướng đó, mỗi câu trả lời tôi đưa ra lại dẫn đến một chủ đề khác, thường chỉ dính líu một chút đến chủ đề trước.

Cứ như thế, trong vòng mười lăm phút, chúng tôi đề cập một lượng lớn thông tin và Adrian biết về tôi nhiều hơn bất cứ ai trong cuộc đời tôi, tất nhiên trừ mẹ ra, nhưng với bà thì khác, cuộc trò chuyện của chúng tôi trải dài theo nhiều tuần, nhiều tháng, nhiều năm, chủ yếu là chuyện thường ngày. Với Adrian, nó hoàn toàn mới, về những ý tưởng và quan điểm mà tôi thậm chí không biết là mình có cho đến khi nghe thấy chính miệng mình thốt ra. Khi chúng tôi chuyển từ chủ đề này sang chủ đề khác, cảm giác hơi giống một trò chơi ở trường tiểu học, khi người chơi cố giẫm lên từng ô gạch trên sân trường trong thời gian càng nhanh càng tốt.

Dù lướt rất nhanh nhưng cuộc đối thoại không mang cảm giác gắng sức hay một chiều, không giống như Adrian đặt câu hỏi cho có, mà anh ta thật lòng quan tâm đến câu trả lời của tôi. Không có thời gian để suy nghĩ hay xem xét những gì tôi đang nói có “đúng” hay không, song từ những phản ứng tích cực của anh ta thì có vẻ đúng - anh ta sẽ đồng ý với tôi - và kể ra những kinh nghiệm liên quan hoặc ý nghĩ của bản thân – và thay vì cảm thấy bối rối trước trải nghiệm choáng ngợp này, tôi lại thấy hồ hởi.

Đi bộ chừng hai mươi phút, khi băng qua một vùng rợp bóng cây, anh ta nói một điều khá bất ngờ, làm mạch chuyện trôi chảy bỗng gợn sóng trong phút chốc. Chúng tôi đang nói về chế độ ăn chay - hóa ra anh ta cũng ăn chay - và anh ta bảo có một quán ăn rất ngon gần đây, ở Hampstead.

“Em chưa đến đó sao? Ồ, em phải đến đó. Trước đây tôi thường đưa Sandra - vợ tôi đến đó, một địa điểm yêu thích của bọn tôi. Đặc biệt là vì họ luôn quan tâm chu đáo tới xe lăn của cô ấy.”

Tôi không biết anh ta đã có vợ, huống hồ là chuyện Cô ấy bị tàn tật. Trước khi tôi có thể trả lời, anh ta nói thêm. “RRMS.”1

Anh ta lập tức tiếp nối bằng nhận xét về vẻ đáng yêu của một con chó đang nô đùa gần đó, trước khi hỏi tôi có thích động vật không. Vậy là, anh ta đã dẫn dắt sang một chủ đề khác và chuyện người vợ ngồi xe lăn bị bỏ lại phía sau.

Sau này, khi tôi có thời gian nhìn lại và phân tích toàn bộ quá trình, thì những ẩn ý của cuộc trao đổi này mới trở nên rõ ràng. Adrian có một người vợ, người mà anh ta nhắc đến bằng thời quá khứ, bị mắc bệnh đa xơ cứng.

Sự trùng hợp thứ hai này làm cho cuộc gặp gỡ của chúng tôi dường như bất thường hơn – song cũng là một điểm tương đồng nữa giữa chúng tôi. Tôi thấy lạ khi anh ta nói tắt tên căn bệnh xơ cứng rải rác dạng tái phát – thuyên giảm mà không giải thích, như thể anh ta biết tôi sẽ hiểu, dù tôi không hề nhắc đến chuyện mẹ tôi đã bị căn bệnh đó hành hạ, trong suốt cuộc trò chuyện của chúng tôi, cũng như trên mạng.

Ngay sau đó, tôi nhận ra hai gót chân mình bắt đầu đau do giày cọ vào, tôi buộc phải đi chậm lại. Adrian nhận thấy ngay điều đó.

“Rõ khổ”, anh ta nói. “Phụ nữ các em đúng là chịu hy sinh vì cái đẹp. Chúng ta ngồi xuống chứ?”

RRMS: Relapsing remitting multiple Sclerosis – căn bệnh xơ cứng rải rác dạng tái phát – thuyên giảm. Anh ta chỉ một băng ghế gần đó, nhìn ra một cái ao. Chúng tôi ngồi xuống, anh ta ngồi chếch bên cạnh tôi, một cánh tay vắt lên lưng ghế, miệng cười rất tươi.

Nhiều tờ báo bị ám ảnh bởi sự “phổ thông” trong ngoại hình của Adrian. Một phóng viên miêu tả anh ta trông như “Phó giám đốc một cửa hàng Dixons” , nghe có vẻ vô lý. Phó giám đốc của một cửa hàng Dixong phải trông như thế nào? Anh ta không quá cao - xấp xỉ 1,74 mét – và đậm người, nhưng không béo. Quả thực đường nét khuôn mặt anh ta không quá nổi bật – hai má tròn hồng hào, mũi to, đôi mắt xanh nhỏ và sâu - và đáng chú ý nhất là mái tóc, gần như đen và chải ngược ra sau. Ở bên ngoài, nó có sự bóng mượt khác lạ mà trên màn hình máy tính không hiện rõ.

Song có cái gì đó ở anh ta, sự tự tin và cách anh ta dồn sự chú ý vào người khác, khiến cho anh ta đầy sức hút và hấp dẫn. Tôi đã quen với điều đó ở các video, nơi anh ta nhìn chăm chú vào camera giống như một người bạn cũ, và ngoài đời anh ta cũng như vậy.

“Leila này”, anh ta nói. “Chắc em đang tự hỏi vì sao tôi yêu cầu có cuộc gặp này. Tôi xin giải thích rõ ràng. Như tôi đã nói trong tin nhắn, tôi đã quan sát hoạt động của em trên trang web, và em thực sự khiến tôi ấn tượng. Hãy cho tôi biết, nghề nghiệp của em là gì?”

Dixons: chuỗi cửa hàng bán lẻ đồ điện tử lâu đời ở Anh. Khi tôi kể về Công việc kiểm lỗi phần mềm, anh ta mỉm cười và nghiêng người về phía tôi với vẻ bí mật.

“Đừng nói với ai nhé, mặc dù tôi điều hành trang web, nhưng tôi dốt máy tính lắm. Trớ trêu không?” Anh ta cười vang. “Em dạy tôi nhé. Em có dạy cho bố mẹ em không?”

Tôi giải thích rằng mẹ tôi đã mất và tôi chưa bao giờ gặp bố, vì bố mẹ tôi chia tay khi bà mang thai.

“Vậy còn anh chị của em?”

“Em là con một.”

Anh ta mỉm cười. “Tôi hi vọng em xem mấy người bọn tôi trên trang web như gia đình của em.”

“Ồ, có chứ, có chứ!” Tôi nói. Tôi nhớ lúc đó tôi không còn là mình nữa, sốt sắng như một đứa con gái được lên truyền hình.

“Em biết không, Leila, mỗi ngày em hoặc một thành viên trên trang web đều nói một câu gì đó thông minh và hay tuyệt khiến tôi kinh ngạc. Làm tôi ồ lên khoái trá theo đúng nghĩa đen.” Anh ta hạ thấp giọng. “Tôi sẽ thú nhận với em một điều. Tôi thích nghĩ mình là một kẻ lạc quan, nhưng đôi khi tôi thấy mình trở nên chán nản với thế gian. Với sự VÔ vị và kiểu suy nghĩ mập mờ dường như là tiêu chuẩn. Em hiểu ý tôi không? Có khi nào em cảm thấy thế không?”

Tôi hăng hái gật đầu. “Có, chắc chắn rồi.” “Nhưng những lúc như thế”, anh ta tiếp tục, “Tôi chỉ cần vào trang web và xem những người đi tìm sự thật thông minh, nhiệt huyết như em, theo đuổi những điều thực sự có ý nghĩa, và tôi biết mọi chuyện sẽ ổn.”

Anh ta mỉm cười với tôi. Tôi nhớ ánh nắng chiếu vào mặt anh ta, làm nó sáng lấp lánh. Tôi nghĩ, chỉ đến lúc ấy tính chân thực của hoàn cảnh mới đánh mạnh vào tôi. Con người xuất sắc này, người mà tất cả mọi người ở Red Pill đều tìm cách gây ấn tượng, vào giây phút này, hoàn toàn chú ý đến tôi. Tôi có thể nhìn rõ những lỗ chân lông trên má anh ta và ngửi được mùi bạc hà trong hơi thở anh ta. Khi nhìn xuống chân anh ta, tôi có thể thấy ánh bạc của đôi tất bên trong đôi giày lười. Tôi đang ở rất gần, với sự tiếp cận trọn vẹn. Randfan ắt sẽ thèm muốn được ở vị trí của tôi hiện giờ. Tuần trước cậu ta vừa khoe với diễn đàn rằng cậu ta đã xăm một câu phương châm ưa thích của Adrian lên bắp chân mình:

“Đạt được mục tiêu không quan trọng, quan trọng là những gì gặt hái được trên hành trình.”

Mặc dù có nhiều người xung quanh chúng tôi, song sự hiện diện của họ bị mờ đi và cảm giác như chỉ có hai chúng tôi, chỉ có tôi và anh ta. Nỗi lo lắng của tôi về cuộc phỏng vấn cũng biến mất - tôi nhố, dự đoán của tôi lúc ấy là về việc tôi trở thành quản trị viên của diễn đàn. Tôi cảm thấy hạnh phúc. Tôi chỉ có thể miêu tả cảm giác ấy như tôi được ở trong một không gian vô cùng vừa vặn với mình. “Leila”, anh ta tựa người ra sau. “Em thấy trang web thế nào? Hãy nói thật. Tôi thực sự coi trọng ý kiến của em.”

Tôi đã lường trước câu hỏi này, và nói rằng tôi nghĩ Red Pill là một ốc đảo của lý trí, một diễn đàn truy cầu tri thức… Giống như lúc trước, Adrian có vẻ hào hứng trước những quan điểm của tôi. “Vậy ư? Thật vui khi nghe vậy.” Rồi anh ta kể tôi nghe một chút về nguồn gốc trang web, hầu hết tôi đã biết: Anh ta đã bắt đầu nó Ở Mỹ ra sao, chủ nghĩa tự do cá nhân mang nghĩa hơi khác với ở đây, dân Mỹ quan tâm đến khía cạnh kinh tế của nó là chính, trong khi ở nước Anh, chúng tôi sôi nổi với những yếu tố triết học hơn.

Anh ta vươn người tới. “Tôi sẽ không bao giờ nói chuyện này với ai khác. Bản thân tôi bị lôi cuốn nhiều hơn bởi những yếu tố đạo đức trong các vấn đề. Tất nhiên kinh tế không phải không quan trọng. Nhưng sống làm sao cho tốt nhất mới thực sự truyền cảm hứng cho tôi.”

“Em cũng vậy!” Tôi nói.

“Như quyền được chết mà chúng ta tranh cãi tuần trước chẳng hạn. Em đã tỏ ra rất hăng hái. Có quá lời không khi cho rằng đó là địa hạt em đặc biệt quan tâm?”

“Đúng vậy.” Tôi đáp. Lúc này tôi hoàn toàn tự tin. “Em cho rằng việc quyết định thời gian và địa điểm cho cái chết của mình là biểu hiện tối thượng của quyền tự chủ. Tự do lựa chọn mình được chết như thế nào và khi nào là một quyền cơ bản.”

“Vậy có tính tới những hoàn cảnh đi cùng không, nói một cách chính xác?” Adrian hỏi. “Một ứng viên có nên chịu đựng căn bệnh nan y trước khi chúng ta chấp nhận những hành động của họ không?”

Tôi lắc đầu. “Cuộc sống là chất lượng, không phải số lượng, việc đánh giá cuộc sống có đáng để sống hay không tùy thuộc vào mỗi cá nhân.”

Trong lúc chúng tôi nói chuyện thì có một bé gái chập chững bước trên con đường nhỏ. Cô bé đội mũ rộng vành và đang cười khanh khách vui sướng, ngoái đầu nhìn người bố đi đằng sau một quãng. Khi chỉ cách băng ghế của chúng tôi vài bước chân, cô bé bước hụt và ngã sấp mặt xuống. Mấy giây sau, nó ngẩng đầu lên, sỏi dính đầy má, và khóc ầm ĩ.

Adiran nhăn mặt trước sự ồn ào.

“Ta đi thôi?”

Không đợi tôi trả lời, anh ta đứng lên bỏ đi, bước vòng qua đứa bé đang khóc. Tôi đi theo, chúng tôi im lặng đi dọc theo con đường nằm giữa hai cái ao. Dưới một cái ao có nhiều người đang bơi lội, tiếng cười và tiếng la hét lan trên mặt nước màu nâu. Adrian nhìn qua chỗ họ và mỉm cười, tâm trạng vui vẻ dường như đã khôi phục sau sự gián đoạn vừa rồi.

“Cho tôi biết, Leila, em có quen với tranh luận thỉnh cầu không?” Anh ta hỏi.

Bây giờ chúng ta quay về với cuộc phỏng vấn chính thức đây, tôi nghĩ. Thật không may, tôi không biết anh ta đang nói tới chuyện gì. Tôi nghĩ tôi có thể tìm hiểu ngọn ngành nếu tôi có một phút, nhưng hình như Adrian không bận tâm đến phản ứng chậm của tôi và tiếp tục:

“Nó quan niệm rằng người ta không những không nên ngăn cản những người muốn kết thúc cuộc sống của mình, mà chúng ta đôi lúc còn có bổn phận giúp họ làm điều đó, nếu được yêu cầu.”

“Giống như cái chết không đau đớn?” Tôi hỏi.

“Đúng vậy.” Adrian nói. “Nhưng nó bao quát hơn thế. Và có thể nó không liên quan đến hành động tự sát thực sự. Kiểu như thế này, nếu có một tình huống, trong đó một người mà em nhận định là bình thường yêu cầu em giúp họ bằng cách này hay cách khác chấm dứt cuộc sống của họ, thì theo như tranh luận thỉnh cầu, em có thể làm điều đó.”

“Được, em hiểu rồi.” Tôi vẫn bứt rứt vì đã không biết ngay lập tức “tranh luận thỉnh cầu” là gì.

“Thực ra”, Adiran nói, “nó giống như kiểu đảo ngược ý tưởng về cái chết không đau đớn. Có những người về thể chất tự làm được chuyện đó, nhưng bị ngăn cản bởi nỗi đau mà nó sẽ gây ra cho gia đình và bạn bè họ.” Anh ta dừng lại lấy hơi. “Đây là tình huống giả định cho em. Một phụ nữ phải chịu đựng sự đau đớn không đến nỗi nguy kịch nhưng nó đang hủy hoại chất lượng cuộc sống của cô ấy, và thực chất là không thể chữa khỏi. Sau khi suy nghĩ kĩ, cô ấy đi đến kết luận là muốn chấm dứt cuộc sống của mình. Nhưng cô ấy biết gia đình và bạn bè sẽ vô cùng đau khổ, vì vậy cô ấy đã không làm thế. Sau đó, cô ấy chỉ muốn chết, và nung nấu mong muốn ấy nhiều năm trời. Cô ấy tìm đến em và nói đã nghĩ ra cách thực hiện chuyện này mà không gây đau khổ cho gia đình và bạn bè, nhưng cô ấy không thể làm được nếu không có sự giúp đỡ của em. Em sẽ làm gì? Có giúp cô ấy không?”

Tôi gật đầu. “Nếu theo tranh luận thỉnh cầu thì em có thể.”

Anh ta rạng rỡ. “Em đúng là cô gái kỳ lạ! Tôi cá là những người xung quanh em không đánh giá cao điều này cho dù họ nên như thế.”

Tôi cảm thấy hai má đỏ bừng. Chúng tôi đến một bãi cỏ nhỏ, chạy dốc xuống một cái ao. Dân tình vui vẻ tập trung thành từng nhóm rải rác, những cái đầu và chân tay rám nâu nổi bật trên mặt cỏ rực nắng, nhưng tôi chỉ có thể quan sát họ một cách lơ đãng, như thể tôi đang đi qua một bức tranh khổ lớn. Cuộc trò chuyện giữa tôi với Adrian là thứ duy nhất có vẻ chân thực.

“Không phải ai cũng tiếp thu được những học thuyết như tranh luận thỉnh cầu”, Adrian nói. “Nó quá sức với cả những thành viên RP. Họ nói những điều đúng đắn, nhưng họ chỉ đạt đến một tầm nhất định; họ không thể phóng chiếu những ẩn dụ vào hiện thực. Họ cứ bám lấy những quy tắc xã hội. Họ không thực sự tự do. Đó phải là một người đặc biệt, hiếm có, Leila.” Anh ta ngừng lời. “Em có tự do không?”

Lúc này chúng tôi đã đi đến cuối bãi cỏ, đứng bên bờ ao. Tôi quan sát một người đàn ông ném đĩa ném thể thao xuống nước, một con chó giống Labrador lông đen béo phục phịch lao theo.

“Em không biết”, cuối cùng tôi đáp. “Nghĩa là, em không nghĩ em đạt đến tầm đó. Em biết mình còn phải học hỏi rất nhiều, nhưng em thực sự muốn học.”

Adrian mỉm cười và siết vai tôi. Anh ta ra hiệu chúng tôi hãy đi tiếp, và đó là lúc anh ta nói về Tess.

Thực ra, anh ta không nhắc đến tên cô ấy. Anh ta chỉ nói có một phụ nữ tìm đến anh ta, cô ấy muốn kết thúc cuộc đời, nhưng không muốn gia đình và bạn bè biết. Và có ý muốn thuê người đóng giả mình trên mạng, để không ai biết được cô ấy không còn tồn tại trên đời nữa.

Tất nhiên tôi không đồng ý ngay. Adrian thuyết phục tôi hãy dành ra một tuần - “ít nhất” - để cân nhắc lời đề nghị.

Viết tắt của Red Pill.

“Đây là một đòi hỏi lớn, Leila.” Anh ta nói vậy vào hôm ấy, ở Heath, dang hai tay ra nhấn mạnh. “Nó sẽ ngốn rất nhiều thời gian của em. Nó sẽ cần một sự chuẩn bị khổng lồ và một kho sức mạnh tinh thần. Em sẽ phải tham gia dự án ít nhất trong sáu tháng. Và bởi vì, than ôi, không phải ai cũng chia sẻ những quan điểm còn gây tranh cãi của chúng ta, em không thể nói với bất cứ ai về việc mình đang làm.” Tôi gật đầu, chìm trong suy nghĩ.

לל “Tất nhiên sẽ có một khoản thù lao”, Adrian tiếp tục. “Chúng ta có thể bàn về nó ở bước tiếp theo. Tôi e rằng sẽ không nhiều - người phụ nữ đó không giàu có - nhưng cô ấy muốn trả công cho thời gian của em.” Anh ta dừng lại. “Nếu như, trên lý thuyết, em quyết định giúp cô ấy, thì em muốn bao nhiêu cho vụ này?”

Câu hỏi hoàn toàn bất ngờ, tôi không hề nghĩ đến điều đó. Tuy nhiên, vào thời điểm chuyển đến căn hộ, tôi đã làm một thống kê tất cả các hóa đơn, chi phí thực phẩm và tính ra tôi cần khoảng 88 bảng mỗi tuần để sống. Từ những gì Adrian nói, thời gian làm việc cho vụ của Tess là toàn thời gian và tôi cần dùng công việc cho Testers 4 U, nên đây sẽ là thu nhập duy nhất của tôi.

“88 bảng một tuần được không?” Tôi hỏi.

Adrian nhưởng một bên mày và gật đầu. “Nghe rất phải chăng. Tôi dám chắc cô ấy sẽ vui vẻ với mức ấy.”

Khi chúng tôi tạm biệt nhau ở ga tàu điện ngầm, anh ta đặt hai tay lên vai tôi và nhìn chăm chú vào mắt tôi một lúc, không nói năng gì. Rồi anh ta mỉm cười và buông tôi ra.

“Tạm biệt, Leila.”

Chuyến tàu trở về Rotherhithe hôm đó chật cứng. Không còn cách nào khác, tôi phải đứng ép sát vào bờ vai trần nhễ nhại mồ hôi của một người đàn ông, với một toán khách du lịch ầm ĩ bên tai tôi. Bình thường tôi sẽ xuống ngay ở điểm dừng kế tiếp và đón chuyến tàu khác. Nhưng hôm đó tôi không bận tâm. Nó không ảnh hưởng đến tôi. Như thể trong buổi gặp gỡ của chúng tôi, Adrian đã cho tôi một chiếc áo choàng bảo vệ.

Trong ba ngày sau đó, tôi suy nghĩ về lời đề nghị, xem xét nó ở tất cả các góc độ. Tôi viết ra một danh sách những mặt lợi và hại, như tôi vẫn thường làm khi phải đưa ra những quyết định về mẹ. Nhưng tình huống này có cảm giác khác, như thể tôi chỉ đang trải qua các bước của quyết định. Thời điểm tôi lên tàu điện ngầm từ Heath trở về ngày hôm đó, tôi biết mình sẽ nhận lời.

“Tôi không biết ai khác có sự quyết đoán và lòng trắc ẩn cần thiết để giúp cô ấy”, Adrian đã nói. Anh ta hứa sẽ có mặt bất cứ khi nào tôi cần. “Em sẽ không đơn độc đâu. Tôi sẽ luôn canh chừng cho em. Sự thoải mái của em là mối quan tâm hàng đầu của tôi.”

Chúng tôi thống nhất rằng do mối nguy hiểm từ sự phán xét của các thành phần bảo thủ, chúng tôi nên tránh đả động đến dự án trên Red Pill, thậm chí qua tin nhắn. Adrian nói nếu tôi muốn tham gia dự án, hãy cho anh ta biết bằng cách thay đổi “chữ ký” trên Red Pill sang một câu trích dẫn của Socrates. Nếu tôi quyết định từ chối, sẽ là một câu của Plato. Đó sẽ là một dấu hiệu bí mật giữa chúng tôi. “Và khi dự án bắt đầu, chúng ta sẽ giao tiếp bằng những phương thức khác”, anh ta nói thêm. “Em có dùng Facebook, đúng không?”

Tôi vắt óc tìm một câu danh ngôn phù hợp của Socrates để sử dụng.

“Người nhàn rỗi chưa chắc đã là người ngồi không, mà họ có thể là người làm việc hiệu quả hơn.”

Dù đã quyết, hai tay tôi vẫn run khi nhấn phím xác nhận.

Trong buổi thẩm vấn đầu tiên, Diana, chuyên gia tâm lý của phía cảnh sát đã hỏi tôi:

“Nhưng cô không nghĩ rằng: Làm sao chuyện này có thể thực hiện được? Ngay cả trong hoàn cảnh thực tế nhất, cô sẽ xử lý cái xác như thế nào?”

Tôi trả lời rằng những chi tiết như thế không thuộc phạm vi tội phụ trách, Công việc của tôi chỉ bắt đầu sau khi sự việc đã xảy ra. Điều này đúng, nhưng theo tự nhiên, một trong những câu đầu tiên tôi hỏi ngày hôm đó ở Heath là làm thế nào để xác người phụ nữ không bị tìm thấy và nhận dạng. Adrian giải thích có những cách tự sát mà phải đến mấy tháng, có khi cả năm trời mới bị phát hiện ra, và khi đó không ai nghĩ danh tính của cái xác là người phụ nữ này vì cô không được thông báo mất tích. “Có hơn năm nghìn xác chết không nhận diện được mỗi năm tính riêng Ở đất nước này”, anh ta nói. “Đây đơn giản chỉ là một trong số đó.”

Tất nhiên, ngày hôm đó, ở Heath, tôi còn hỏi Adrian những câu khác, rất nhiều câu hỏi. Anh ta ý thức được rằng dự án có vẻ táo bạo và không nguy hiểm.

“Nhưng đó mới là ý nghĩa của nó”, anh ta nói. “Em nhớ nguyên lý dao cạo Occam không? Ngay cả khi người ta nghĩ có gì đó không đúng, họ sẽ không cho rằng cô ấy đã tự tử và nhờ người khác đóng giả mình, đúng không? Họ sẽ nghĩ ra cách giải thích hiển nhiên hơn.”

Occam: nhà triết học người Anh. Nguyên lý Dao cạo Occan: lời giải thích đơn giản nhất thường là lời giải thích xác đáng nhất.

Kế hoạch tóm tắt thế này. Người phụ nữ - Tess – sẽ thông báo cho gia đình và bạn bè rằng có dự định ra nước ngoài để bắt đầu cuộc sống mới ở một nơi xa xôi hẻo lánh. Cô sẽ chuyển cho tôi tất cả những thông tin tôi cần để đóng vai cô ấy trên mạng một cách thuyết phục, từ mật khẩu đến tiểu sử cá nhân. Sau đó, đến ngày “trả phòng”, cô sẽ biến mất ở một nơi nào đó và tự kết liễu mình một cách kín đáo, trao lại dây cương cuộc đời mình cho tôi. Từ lúc đó, tôi sẽ khoác lên mình danh tính của cô, trả lời email, làm chủ trang Facebook của cô, để cho những người thân yêu không hề hay biết cô không còn tồn tại nữa. Theo cách này, tôi sẽ giúp cô hoàn thành tâm nguyện: Tự sát để chấm dứt đau khổ của bản thân mà không gây đau khổ cho bạn bè và gia đình; rời xa thế giới một cách bí mật.

“Cố nhiên nỗi băn khoăn lập tức của em là cô ấy có tỉnh táo hay không.” Adrian nói. “Anh biết Tess đã nhiều năm và có thể đảm bảo với em rằng cô ấy biết chính xác mình đang làm gì. Cô ấy có phải người không bình thường hay không ư? Có. Điên ư? Tuyệt đối là không.”

Sau sự cam đoan đó, ý nghĩ của tôi quay sang những vấn đề thực tế. Tôi nghĩ rằng, miễn là tôi có sẵn thông tin xác đáng, phương án đóng giả người phụ nữ này trên mạng xem ra không phức tạp: trả lời những email lặt vặt, cập nhật trạng thái hàng tuần. Adrian cho tôi biết người phụ nữ này đã lớn tuổi, cuối độ tuổi ba mươi: Hi vọng như thế có nghĩa cô ấy sẽ không viết bằng tiếng lóng.

Những lo lắng của tôi về mở đầu và kết thúc của quá trình này cũng không nhỏ. Cái “cuộc sống mới ở nước ngoài” này có phải là nước đi hợp lý của Tess ngay từ đầu? Và quan trọng nhất, dự án kéo dài bao lâu? Tôi không thể đóng giả người phụ nữ này vô thời hạn được.

Adrian trấn an tôi về hai mối lo đó. Tess phù hợp một cách lý tưởng với dự án, anh ta nói, về cả hoàn cảnh và tính cách. Và sự dính líu của tôi sẽ kéo dài chỉ chừng một năm, trong thời gian đó, tôi sẽ dần dần kéo Tess ra khỏi những mối quan hệ qua thư, giảm liên lạc cho đến khi sự vắng mặt của cô gần như không được chú ý. “Hãy coi hoạt động đó như một cái Công tắc điều chỉnh độ sáng cho cuộc sống của cô ấy.”

Tất nhiên, khi đó tôi không hề biết nó đã đi được non nửa đường - những email và dòng trạng thái cập nhật - nơi những vấn đề mắc lại. Và tôi sẽ không bao giờ thực sự đến được điểm cuối cùng.

Quyết định đã đưa ra, tôi háo hức muốn bắt đầu. Tôi ngồi ở bàn làm việc chờ Tess chủ động liên hệ, hóa ra mất những hai ngày rưỡi.

Tôi không biết cô ấy sẽ tiếp cận tôi theo cách nào. Tôi nghĩ Facebook hoặc email là khả năng lớn nhất, nhưng tôi đã cho Adrian số di động của mình nên có thể cô ấy sẽ gọi điện. Tôi mở những tab cần thiết trên laptop, điện thoại đã sạc pin đặt bên cạnh, và CỐ làm tiếp những việc khác. Tôi làm xong một báo cáo công việc và lướt mạng giết thời gian, vào những đường dẫn ngẫu nhiên, nhưng dòng giao thông ảo lướt qua trước mắt tôi nghe xa xăm và nhàm chán như tiếng xe chạy ầm ầm vào đường hầm Rotherhithe bên ngoài cửa sổ.

Bất chấp những cố gắng tỏ ra bình thường, sự chờ đợi khiến tôi bất an tột độ, tôi có thể thừa nhận rằng đến cuối ngày thứ hai, tôi đã hỏi mất bình tĩnh. Một ý nghĩ bắt đầu hình thành rằng có thể tất cả là một cái bẫy, và cảnh sát sẽ gõ cửa nhà tôi bất cứ lúc nào.

Giờ đây tôi biết, tất nhiên - khi đó tôi đã biết - là lý trí của tôi bị mài mòn bởi tình trạng căng thẳng cao độ kéo dài. Nhưng một khi ý nghĩ ấy đã thâm nhập vào đầu, tôi dừng việc lướt mạng và cứ ngồi ở bàn nhìn chằm chằm vô định, lắng nghe những âm thanh bên ngoài. Mỗi lần dãy đèn xanh lấp kín cửa sổ - điều bình thường ở Rotherhite - bụng dạ tôi lại quặn lên. Đến giờ, bọn trẻ con bắt đầu đá bóng bên hông quán ăn, mỗi tiếng đập bóng lại làm tôi giật thót như thể lần đầu nghe thấy nó.

Đến sáng hôm sau, chỉ ngủ được chập chờn vài tiếng, tôi cảm thấy rối loạn và kiệt quệ. Tôi quyết định không thể chịu đựng thêm nữa, và bắt đầu soạn một tin nhắn cho Adrian, xin rút khỏi dự án, tôi liếc xuống cuối màn hình và nhìn thấy nó trong hộp thư của tôi.

Tôi lập tức quay về trạng thái tập trung. Bức thư gửi từ tài khoản tên smellthecoffeesweetheart@gmail.com. Tôi cho rằng Tess đã tạo một tài khoản mới nặc danh cho riêng dự án, nhưng hóa ra cô đã dùng nó nhiều năm rồi. Cụm từ không có ý nghĩa đặc biệt, chỉ là một câu nói trong một bộ phim hiện ra trên màn hình khi cô đang thiết lập tài khoản gmail vào năm 2005.

Đó là thứ mà tôi phải giải quyết, Tess. Chúng ta vốn cho rằng con người hành động đều có lý do, rằng có sự cân nhắc và ý nghĩa đằng sau những hành động của họ, nhưng với cô ấy, thường là không có. Nó không khiến cho công việc của tôi dễ dàng hơn.

Dòng tiêu đề trống trơn, nội dung của email cũng vậy. Có bốn ile đính kèm - ba tài liệu và một file ảnh JPEG. Đầu tiên, tôi mở bức ảnh ra.

Theo lẽ thường, tôi đã phác ra chân dung của Tess từ thông tin Adrian cung cấp. Anh ta không nói quá nhiều: cô ba mươi tám tuổi, sống ở Bethnal Green phía Đông London và hiện đang làm việc ở một phòng trưng bày nghệ thuật. Từ điều cô muốn thực hiện, tôi trông đợi một phụ nữ trung niên với đôi mắt vô hồn và gương mặt khô héo vì tuyệt vọng.

Nhưng người phụ nữ trong ảnh không hề giống như thế. Đầu tiên, cô nom rất trẻ. Hay đúng hơn, ta sẽ không nghĩ đến tuổi tác khi nhìn cô, vì cô rất cuốn hút. Cô không đẹp kiểu công chúa đáng yêu, mà là… “sexy”, tôi nghĩ vậy.

Bức ảnh gần như toàn thân, cho thấy cô đang đứng trong một căn bếp. Mặc dù không có ai khác trong ảnh, nhưng có vẻ cô đang ở một bữa tiệc: quầy bếp cô đang tựa vào xếp đủ loại chai lọ và rải rác những múi chanh, và một túi nilon rỗng màu xanh vẫn còn hình dạng của thứ nó đã đựng. Tess mặc trang phục trông như áo sơ mi trắng cô lớn, có điều cô mặc nó như một chiếc váy, với thắt lưng màu vàng. Nó đã tuột khỏi một bên vai CỐ, có thể trông thấy một chút gồ lên dọc xương quai xanh, như một chiếc cúc áo, giống như những cô gái thường có trên tạp chí. Cô có làn da rám nắng mà tôi sẽ khám phá ra, mang nửa dòng máu Chile, và dù đang là mùa đông nhưng da cô vẫn có màu nước trà đặc. Đôi chân trần gầy và không săn chắc, hình như cổ ít khi sử dụng chúng. “Chân nữ sinh”, mẹ ắt sẽ gọi như vậy, dù rằng chân của tôi chưa bao giờ giống như vậy, kể cả hồi còn đi học.

Tóc cô gần như đen, dày, dài chấm vai và để mái. Đôi mắt màu nâu sẫm và xa nhau một cách bất thường. Cô đang nhìn vào camera nhưng đầu hơi nghiêng phô ra cái mũi dài, bẹt và đường quai hàm sắc nét. Cô đang mỉm cười, nhưng nó không phải nụ cười chụp ảnh bình thường, nó giống như cô vừa làm chuyện gì hư đốn và không ai biết ngoại trừ cô và người chụp ảnh.

Tôi có nghĩ như thế vào thời điểm đó không? Hay tôi nói thế vì sau này tôi biết được cô vừa làm một chuyện hư đốn? Đó là bữa tiệc tân gia của Tina – bạn cô – tổ chức vào tháng Tám năm 2007, và bức ảnh được chụp sau khi cô đi ra từ nhà vệ sinh nơi cô đã hít cocaine với người đàn ông sau camera, Danny.

Và có lẽ cô không gây ấn tượng “sexy” vào lần đầu tiên tôi trông thấy cô, và tôi đang nói thế bởi vì tôi biết những người khác đánh giá cô như vậy.

Tôi đang cố hết sức để khách quan và chính xác về chuỗi các sự kiện và nhận thức của tôi về chúng, để không làm vẩn đục chúng bằng tất cả những hiểu biết tôi tích lũy sau này, nhưng thật khó khăn. Có lẽ an toàn nhất là chỉ nói rằng, vào thời điểm đó, ấn tượng ban đầu của tôi về Tess là cô trông không giống một người muốn tìm đến cái chết.

Sau khi xem kĩ tấm ảnh, tôi tải các tài liệu về. Tôi vẫn còn lưu chúng trong máy. Đầu tiên là một bức thư, tiêu đề Đọc trước. Sau đây là nguyên văn:

Chào Leila,

Chết tiệt. Tôi thực sự không thể nói bằng lời cảm giác của mình khi có đồng ý giúp tôi. Nó giống như cô đồng ý cứu mạng tôi vậy. Tôi biết nghe thật điên rồ trong hoàn cảnh này, nhưng đúng vậy đấy. Tôi chắc chắn về sau tôi sẽ cảm ơn cả ngàn lần, nên tôi sẽ bắt đầu luôn bây giờ. Cảm ơn cô!

Tôi thấy việc đầu tiên là làm rõ cách thức chúng ta thực hiện chuyện này. Nó hoàn toàn mới mẻ với tôi - dĩ nhiên rồi - nhưng tôi nghĩ có lẽ tốt nhất là nên gửi cho cô một số thông tin cơ bản, mọi thứ tôi có thể nghĩ ra lúc này, sau đó cô có thể đặt cho tôi các câu hỏi và điền vào chỗ trống tất cả những thứ chắc chắn khó bỏ qua. OK chứ?

Cô có xác định mình sẽ cần bao nhiêu thời gian không? Tất nhiên cô phải cảm thấy mình hoàn toàn sẵn sàng, nhưng tôi xin nói rằng, tôi thực sự mong nó đến càng sớm càng tốt. Tôi không biết Adrian nói với cô những gì nhưng tôi đã chờ đợi điều này rất lâu rồi. Ý tôi là, cô có thể bắt đầu ngay được không?

Còn nữa - Adrian và tôi nghĩ, có lẽ tốt nhất là chúng ta không nên gặp trực tiếp, cứ làm mọi công việc chuẩn bị qua email. Nó sẽ giúp cho mọi chuyện sạch sẽ hơn và dễ dàng hơn nếu cảm xúc Của cô ít nhiều chịu ảnh hưởng.

Cho nên tôi đang ngồi đây nghĩ - vì sao cô làm chuyện này cho tôi? À, tôi biết vì sao, Adrian nói cô là một người đặc biệt. Hi vọng cô thấy OK với nó. Cảnh báo: Tôi là một kẻ điên chính hiệu đấy. Xin lỗi.

OK. Thế nên tôi nghĩ trước tiên hãy gửi cho cô bản tự truyện mà một bác sĩ tâm lý có lần bắt tôi phải viết. Nó đã được mấy năm tuổi rồi nên cổ cứ tưởng tượng mọi chuyện giờ tệ hơn nhiều nhưng nó sẽ cho cô một bức tranh tổng quát. Rồi chúng ta có thể bắt đầu từ đây.

Tôi không thể tin chuyện này cuối cùng cũng xảy ra. Bao nhiêu năm mắc dịch, tôi chưa bao giờ hạnh phúc nhường này. Cảm Ơn cô!!

Tess XXXX

Tái bút: Buồn cười là hôm qua tôi gặp mẹ tôi và bà vẫn khó chịu như mọi khi và tôi nghĩ, tại sao tôi lại đâm đầu vào mới rắc rối này để tránh làm bà đau khổ? Tại sao tôi không tự xử mình như một người bình thường thay vì dàn dựng ra cái cảnh phức tạp này? Nhưng tôi không thể. Chắc là tôi không ghét bà đến mức ấy.

Tài liệu tiếp theo là lý lịch của cô. Nó cung cấp đầy đủ họ tên, địa chỉ, ngày sinh, và một danh mục cực kỳ đa dạng các công việc không mấy dính dáng đến nhau, từ quản lý một ban nhạc tên Grievous Mary cho tới nghề nghiệp hiện tại, làm bán thời gian ở vị trí giám thị cho phòng trưng bày nghệ thuật ở Nam London (Tôi tra Google nghề này và có vẻ nó giống như “ngồi trên một cái ghế”). Cô không có cái mà ta gọi là bước đường sự nghiệp vững chắc. Nói một cách gia giảm là như vậy.

Sau cùng, tôi mở bản “tự bạch” mà cô đã viết cho bác sĩ tâm lý. Tôi sẽ duyệt chính tả trước; nó khá dài và phong cách viết “độc đáo” của Tess có thể gây mệt mỏi.

OK, hồi nhỏ hả. Chẳng có gì để bàn. Nó OK. Tôi là một đứa trẻ hạnh phúc, nhà cao cửa rộng, phụ huynh cũng được. Tôi nhớ là mẹ tôi hơi khắt khe, không muốn chúng tôi ôm bà nếu bà đang ăn diện hoặc sờ vào đám đồ cổ của bà, nhỡ chúng tôi làm hỏng, nhưng bà làm những gì mà bổn phận yêu cầu. Khi đó bà chua cay nghiệt. Tôi biết điều này đi ngược lại tất cả những gì ông tin tưởng, nhưng tôi không nghĩ thời thơ ấu của tôi có gì đáng để kể. Thời thanh niên mới là giai đoạn hình thành - khi ta nhận ra bố mẹ không cai quản thế giới, ta bắt đầu nhìn mọi thứ đúng với bản chất, và chúng bắt đầu nhìn ta đúng với bản chất của ta, không thêm thắt. Hoặc có lẽ cái gene xấu trong người tôi đã nằm yên cho đến tuổi dậy thì. Tôi không biết. Dù sao, tôi chỉ có thể nói rằng tôi cảm thấy mình đã là một đứa trẻ bình thường, xinh xắn, hạnh phúc. Nếu có gì, thì đó là người anh trai tai ương Nicholas. Anh ấy lớn hơn tôi ba tuổi, hay bắt nạt thằng Sean Cùng khu phố, bắt nó ăn mối, đại loại vậy. Thường xuyên đánh nhau, lấy trộm tiền trong ví mẹ đem cúng cho mấy cái máy đánh bạc ở Three Tuns. Nhìn anh ấy bây giờ xem, một chúa tể vũ trụ với cô vợ nhỏ ngăn nắp và những trò chơi bắn súng.

Tất cả diễn ra bình thường và tôi không biết chính xác chuyện gì đã xảy ra, hoặc khi nào, nhưng tôi biết vào năm mười lăm tuổi, tôi là cái bóng của mình ngày trước. Tôi biết chuyện này nghe thật sáo mòn nhưng tôi không tìm được cách diễn tả tốt hơn. Lần đầu tiên tôi cảm nhận được nó là buổi tối hôm sinh nhật một người bạn tên Simone - trọi người định đến quán rượu sẽ phục vụ chúng tôi, trong đó có cậu bạn tôi thích, cậu ta là một trong những nam sinh nổi bật ở trường. Nhưng thay vì có mặt ở đó, tôi lại ở trong phòng ngủ, khóa cửa, nằm trên giường. Tôi bảo bố mẹ rằng mình bị cúm, nhưng thực ra nó là cảm giác tuyệt vọng sâu sắc. Thật khó giải thích. Nó giống như tôi không hay biết mình đang đi lòng vòng với một cái thòng lọng quanh cổ, và đột ngột một cái cửa sập mở ra bên dưới và tôi bị treo lủng lẳng.

Vài ngày sau, tâm trạng tôi tự dưng tốt lên. Giống như tôi được tiêm một liều adrenaline vào thẳng tim. Tôi không những cảm thấy tốt hơn, mà còn bừng bừng khí thế, sẵn sàng chinh phục thế giới. Tôi nghĩ đến cậu bạn đó - giờ tôi không thể nhớ tên cậu ta nữa - và quyết định nhảy lên xe đạp, phóng đến nhà cậu ta mà không gọi điện trước. Mẹ cậu ta mở cửa và bảo nhà họ đang ăn tối, tôi khăng khăng đòi gặp cậu ta, và khi mẹ cậu ta gọi cậu ta ra cửa, nom hết sức kinh ngạc, tôi không nói không rằng ôm ghì lấy cậu ta mà hôn, trước trặt bà mẹ. Tôi xuất chúng không thể cưỡng lại và tất cả mọi người đều đáp ứng tối, muốn ở gần tôi. Và rồi tôi cảm thấy cái cửa sập bắt đầu mở ra dưới chân mình, tôi sẽ bò về nhà, khóa cửa chặn thế giới bên ngoài phòng và rơi xuống hố đen.

Đó là kiểu mẫu của những năm đó, tắt rồi bật. Tôi biết tuổi mới lớn đồng nghĩa với ẩm ương, nên tôi cho đấy là do giai đoạn, và tôi nghĩ bố mẹ tôi cũng cho là vậy. Nhưng anh trai tôi đã không trải qua tất cả những chuyện này. Anh ấy sập cửa và lầm bầm văng tục nhưng anh ấy luôn có thể thoát khỏi sự ủ ê bằng một món quà hối lộ hoặc xem phim A-Team.

Năm mười bảy tuổi, tôi bắt đầu biết rằng có gì đó không ổn ở mình, rằng chuyện này không bình thường. Tôi bắt đầu dấn thân vào những hoàn cảnh nguy hiểm, ở ngoài cả đêm và ngủ với bất cứ ai mời mọc. Một lần tôi chơi trò người lớn với bố của Kelly, khi tôi ngủ lại nhà cô ấy. Tôi đang đánh răng thì ông ấy đi ngang phòng tắm, dừng lại nhìn tôi, tôi liền nắm tay ông ấy kéo vào. Một lần khác tôi cùng nhóm bạn tụ tập ở một quán rượu Edguare, đến mười một giờ họ phải về nhà - chúng tôi đang ôn thi lấy chứng chỉ A-level1 - tôi gọi điện cho bố, bịa chuyện mình đang ở với một người trong số họ, nhưng thay vào đó, tôi bắt taxi đến Soho, hỏi một người đi đường chỗ ăn chơi tốt nhất, và dừng chân ở câu lạc bộ dưới hầm này, uống bất cứ thứ gì người ta đưa và nói chuyện với những ông già điên khùng đội mũ phớt và thắt cà vạt. Một lão bóp ngực tôi và chúng tôi biến vào trong góc của câu lạc bộ, ở đó tối nhưng không tối quá… Tôi chơi bên ngoài cho đến khi những chuyến tàu điện bắt đầu chạy trở lại lúc sáu giờ sáng, đi thẳng tới trường và ngủ hai tiếng trên ghế băng cho đến khi chuông reo vào giờ học.

Tôi chẳng màng đến bài vở trường lớp. Tôi trượt hai chứng chỉ A-level nhưng xoay xở được một chứng chỉ A ngành nghệ thuật, và có một chỗ ở Canberwell để học một khóa cơ bản, nó, như ông có thể tưởng tượng, là nơi hoàn hảo nhất – và tồi tệ nhất - đối với tôi. Ở trường nghệ thuật, điên rồ không chỉ là chịu đựng, mà còn là khích lệ. Ngày đầu tiên ở đó tôi đã cạo trọc đầu mình giữa một quán cà phê và mọi người lập tức biết tên tôi. Tôi biểu diễn ở hộp đêm tên Toplessở, đúng, như ông đã đoán, vì mọi người đều phải ở trần. Chao ôi, tôi đúng là một đứa đi thỏa. Tôi hát trong một ban nhạc dịch hạch, rồi quản lý một ban nhạc còn dịch hạch hơn, Godless Mary. Bọn con trai thích tôi. Tôi là người cuối Cùng rời khỏi mọi bữa tiệc. Trong suốt những giai đoạn thất thường đó - tôi biết khi nào chúng sắp tới vì hai má tôi sẽ có cảm giác 1. A-level: bằng tốt nghiệp giáo dục cơ bản được cấp cho học sinh trung học hoặc dự bị đại học.

Topless: chỉ những phụ nữ để trần thân trên. bì lên và nhoi nhói - tôi thực sự vùi mình vào công việc, làm như điên, nhiều ngày không rời studio, không ngủ, có lúc vẽ mười bức tranh một đêm, nghe toàn bộ Ring Cycle’ ở âm lượng lớn nhất, hút thuốc liên tục đến nỗi, sáng ra, tôi gần như không thể khò khè câu “xin chào” khi người dọn vệ sinh bước vào.

Rồi mọi thứ trở nên tối sầm, giống như đầu tôi bị đổ đầy bể tông vậy. Tất cả những gì tôi có thể làm là ngủ và khi không ngủ, tôi nằm trên giường nghĩ tới những điều kinh khủng nhất, dựng lên những cái chết hoang đường thê thảm cho bản thân và những người quen đã khinh thường tôi bằng cách này hay cách khác.

Thỉnh thoảng sẽ có sự giao thoa giữa cao và thấp, tôi sẽ buồn vui thất thường và cáu kỉnh cùng lúc. Tôi gọi điện cho mọi người, la hét, và, sau này khi internet xuất hiện, tôi viết những email dài cho những người bạn mà tôi nghĩ đã làm tôi thất vọng, hoặc cho những cửa hàng đã bán hết những tách trà tôi nhìn thấy trên một tạp chí và khát khao muốn mua.

Thứ duy nhất làm dịu mọi chuyện đi một chút là một bồn tắm nước nóng, nên tôi sẽ ngâm mình trong bồn tới nửa ngày, dùng hết số nước nóng trong ngôi nhà tôi đang ở chung và ra khỏi bồn khi nước nguội để đun thêm trong ấm và xoong.

Bạn cùng nhà nhanh chóng phát ngán với tôi và nổ ra những cuộc to tiếng, cuối cùng họ đuổi tôi đi. Thế là tôi chuyển đến sống cùng anh bạn trai lúc đó, Jonny, và trong vòng một tuần

Ring Cycle: chùm các vở opera của nhà soạn nhạc người Đức Richard Wagner. chúng tôi có một trận cãi vã lớn mà có trời mới biết là về chuyện gì, tôi ném hết đồ của anh ta qua cửa sổ và viết chữ THẰNG CHÓ lên ô tô của anh ta bằng sơn móng tay. Phải, tôi là một ca không đỡ nổi. Ngày hôm sau, tôi còn không nhớ chuyện đó - Jonny phải nhắc tôi.

Đôi khi tôi thèm muốn sự yên bình đến mức sẽ nhảy lên một con tàu và đi tới một bờ biển ảm đạm xấu xí nào đấy, đặt một phòng khách sạn chỉ bao ăn sáng, loại khách sạn với những Con mèo bằng sứ và bệ xí phủ đăng ten, chỉ để là chính mình, rồi suốt đêm thao thức dưới lớp chăn nilon ẩm ướt và phải bỏ chạy vào tinh mơ sáng hôm sau vì tôi không có đồng nào để trả.

Mẹ kiếp, chỉ viết ra đây thôi mà tôi cũng muốn giết chính mình. Đùa đấy, ha ha. Không hẳn thế đâu.

Lúc nào tôi cũng nghĩ đến chuyện tự sát. Tôi nghĩ nó là câu trả lời theo đúng nghĩa đen. Tôi thường ngồi trong phòng tưởng tượng trình có cái máy tính và tôi sẽ gỡ ra tất cả chi tiết về cuộc đời mình, rồi sẽ nhấn dấu “=” và chữ TỰ SÁT sẽ hiện ra trên màn hình, bằng chữ đỏ dạ quang. Tôi từng thử một lần hồi học đại học, tích trữ tất cả những viên thuốc tôi kiếm được rồi đến một bệnh viện và nhốt mình trong toilet của nhân viên rồi cho chúng vào miệng, suy nghĩ của tôi là sẽ không ai bị sốc bởi những xác chết ở đó, và xác của tôi sẽ dễ dàng bị vứt bỏ. Tất nhiên tôi không nghĩ tới trường hợp họ tìm thấy tôi, họ đã dùng mọi thiết bị cần thiết để bơm nước vào ruột tôi, và đó là những gì đã xảy ra. Logic chưa bao giờ là thế mạnh của tôi. Sau đó, bố mẹ đưa tôi về nhà, họ hết sức hoang mang và đau buồn bởi sinh vật mà họ đã tạo ra. Bố tôi bối rối nhưng vẫn ù tì và hiền lành như mọi khi, nhưng mẹ thì hoảng loạn. Giống như bà ghê tởm. Bà gần như không chạm vào tôi, tất cả những gì bà có thể nói là chuyện tôi cần cắt tóc ngay, hay một nhà cung cấp ngọc lưu ly chết tiệt nào đấy bà mới tìm được ở Thái Lan, hoặc bất cứ cái gì không phải về chuyện tôi vừa làm. Không phải bà buồn về nó, không chịu nổi nó mà là bà tức giận. Đó là lúc tôi nhận ra bà độc ác. Nó là một nhận thức đột ngột, và toàn bộ quá khứ của tôi trở nên rõ ràng. Nó như thế, nếu tôi ngoan ngoãn, xinh đẹp, dễ thương và vâng lời bà, thì mọi thứ OK, nó khớp với hình ảnh của bà. Nhưng giờ tôi đau ốm thì tôi là một món đồ hư hại, và bà liên tục nói rằng đó không phải lỗi của bà, tôi không thừa hưởng chút gì từ bên ngoài, một gia đình quý tộc Chile thuần nhất. Tôi nhớ có lần bà bảo rằng tôi đang phí hoài tuổi trẻ vào ăn chơi đủ đớn, rằng ở tuổi tối bà đã cưới hai lần và có hai đứa con. Tôi trả Lời bà rằng khát vọng của đời tôi không phải là lấy chồng và mang thai ở tuổi mười bảy, bỏ rơi người đàn ông nghèo khi ông ấy hóa ra không thành đạt như tôi mong đợi, lên London và tìm được một tay nhà giàu tù tì tốt bụng chịu thu nhận tôi và thằng con trai đang chập chững tập đi, dành hết phần đời còn lại của mình để khống chế và tiêu tiền của ông ấy, khoa tay múa chân như một Frieda Kahlo’ hạ giá. Có ria mép nhưng không có tài năng. Chắc Ông có thể hình dung chuyện đó không được đón nhận tốt cho lắm. 1. Frieda Kahlo: nữ họa sĩ người Mexico (1907-1954). Tôi được tư vấn, thứ phương pháp vô dụng - không có ý xúc phạm đau - và nhồi đủ loại thuốc. Những viên thuốc biến tôi thành cái xác sống, thành một kẻ đờ đẫn không cảm nhận được buồn, vui hay bất cứ cái gì. Nhờ thuốc mà tôi trở thành một đứa ngẩn ngơ. Ban đầu còn thấy mới lạ với cuộc sống bình thường” này, đến quán rượu, xem tivi, có thể ngủ tán tiếng mỗi ngày như phần còn lại của thế giới. Nhưng tôi nhớ sự điên cuồng. Nó rất vui, ông biết không? Và nó chiếm một phần lớn trong tôi. Không có nó, tôi như một nhà quý tộc bần cùng sống trong tòa nhà lớn mà hầu hết các phòng đều đóng cửa và phủ bụi dày, còn tôi bị giam trong phòng khách giá lạnh. Tôi không sống mà chỉ đang tồn tại.

Rồi thuốc hết tác dụng, tôi bắt đầu hồi lại, rồi họ lại thử sang phương pháp khác và nó kéo dài hàng tháng, hàng năm, thử thuốc, chịu các tác dụng phụ hay chỉ bỏ lỡ tác dụng chính và chán thì ngưng dùng, làm loạn, có những đêm tuyệt vời, những lúc dúi dụi. Tôi kiếm được việc làm, mất việc, có bạn trai, bỏ rơi họ, chuyển chỗ ở, phải đi tiếp. Tất cả cứ lặp đi lặp lại.

Rồi tôi nhận ra một điều - bất cứ chuyện gì người ta nói với tôi, bất cứ loại thuốc nào tôi dùng, bất cứ liệu pháp nào tôi tiếp nhận, tác dụng tốt nhất của chúng là che đậy vấn đề. Thứ gì đã nằm trong đầu tôi, nó sẽ ở đó vĩnh viễn. Liệu pháp cái con khỉ, nhãn mác cái con khỉ. Hôm trước ông nói cái gì về việc “đánh bại” bệnh hưng - trầm cảm, cứ như nó là một con rồng cần giết hay đại loại thế, nhưng tôi không cảm thấy như vậy. Thứ này là một phần của tôi, đã ăn sâu vào con người tôi, và tôi sẽ phải Sống với nó đến lúc chết. Không cách nào thoát ra. Thế đấy. Tôi có đọc một câu danh ngôn của một người phụ nữ: “Đừng hi vọng có phương thuốc nào chữa được bệnh là chính mình”, tôi cảm thấy nó hoàn toàn chính xác.

Hằng ngày, khi thức dậy, tôi phải quyết định liệu mình có chịu nổi khi sống với điều đó hay không. Có điều, bây giờ tôi đã biết kịch bản. Tôi biết chuyện gì xảy ra với mình. Khi dùng thuốc, có thể tôi cảm thấy ổn định nhưng tôi chỉ sống được một nửa. Tôi chỉ đang tồn tại. Mọi ngọn lửa và sức sáng tạo của tôi bay biến. Và khi tôi rơi vào giai đoạn hưng cảm, tôi lại quá tăng động. Nhưng tôi càng có tuổi thì những cơn hưng cảm càng giảm xuống và những cơn trầm cảm trở nên thường xuyên hơn.

Tôi không có một sự nghiệp để nói đến - một cô gái trung lưu xinh đẹp, tất cả tiền bạc đổ vào việc học. Tất cả những cơ hội bị tôi phung phí hết sạch, như mẹ tôi sẽ nói.

Nếu tôi không dùng thuốc, tôi sẽ phát điên, sẽ làm hại mọi người và tôi muốn chết. Nếu tôi dùng thuốc, tôi sẽ mất đi ngọn lửa trong mình, tôi không cảm nhận mọi thứ được sâu sắc, chỉ sống qua ngày như những người khác, sử dụng hết các tài nguyên, ăn rồi thải ra ngoài. Chúng khiến tôi không suy nghĩ thấu đáo về mọi chuyện - tôi có cùng quan điểm với báo chí, chọn con đường dễ đi nhất. Hôm trước ở quán rượu, mấy người bạn có tranh luận về việc có nên boa cho nhân viên nhà hàng hay không nếu dịch vụ chẳng ra gì, và tôi không thể thôi thúc mình tham gia. Tôi từng làm chân phục vụ, nó là chủ đề đáng ra tôi rất hứng thú, nhưng tôi chẳng có ý chí và năng lượng để góp giọng nữa. Tôi đang sống một cuộc sống trần tục, chỉ để sống mà thôi. Và nguyên do ở đâu?

Khi nhìn về tương lai, tôi chỉ có thể trông thấy cái tình trạng chết tiệt ấy, và tôi già hơn. Khi tôi nhìn khuôn mặt mình trong gương, tôi có thể thấy sự hình thành của những nếp nhăn chủ đạo - những nếp nhăn mà phụ nữ già thường có, như mẹ tôi, nếu bà không phẫu thuật thẩm mỹ quá nhiều - và đó là tương lai trải rộng trước mắt tôi. Có thể tôi chỉ còn vài năm trước khi gương mặt bắt đầu xuống cấp, và tôi bước vào tuổi trung niên. Những con mắt đàn ông bắt đầu lướt qua tôi. Tôi hình dung gương mặt mình là chủ đề một cuốn phim tua nhanh, những nếp nhăn đó nhanh chóng trở nên sâu hơn, miệng kéo xuống thành vẻ khắc nghiệt, răng rụng dần, tóc bạc. Và cuối cùng tan thành cát bụi. Không, làm sao tôi có thể quên trước đó, sự lão hóa. Tất cả cuộc sống, trải nghiệm và những hồi ức biến thành bột nhão, kết thúc với việc tụt quần mình trong một sạp báo, như bố tôi. Tôi sẽ bị chôn sống bởi cơ thể mình và tôi không muốn thế.

Hôm trước ông hỏi tôi về con cái. Tôi sẽ không có chúng, tôi không tin tưởng bản thân mình với chúng. Tôi không thể chăm sóc chính tôi, làm sao tôi dám có con?

Và ông biết không, tôi có niềm vui của mình. Bất chấp tất cả những thứ chết tiệt, tất cả những người tôi đã làm tổn thương và thời gian mà tôi phí hoài, tất cả những đêm trong những câu lạc bộ Soho hôi hám, những lỗi lầm tôi đã phạm phải, ít nhất tôi dã sống, hơn những gì ông có thể nói về rất nhiều người. Nhưng bây giờ tôi biết nó như thế nào và tôi không muốn làm thế nữa. Tôi không xem nó như một chuyện buồn. Tôi chỉ không nhìn thấy ý nghĩa trong việc lặp đi lặp lại những chuyện giống nhau, càng ngày càng trở nên vô hình, đi ngủ và thức dậy, luôn nghi ngờ những bản năng của mình, cảm thấy không sống vật vờ thì cũng mất kiểm soát. Tôi chỉ không muốn làm như thế nữa.

Nó kết thúc ở đó. Một lúc sau, tôi mở một trang mới trên máy tính. Tôi đã để ý thấy sự mâu thuẫn trong tự bạch của cô. Trong lý lịch, cô gọi ban nhạc mình quản lý là Grievous Mary, còn trong tự bạch nó là Godless Mary. Tôi ghi chú lại để cô xác nhận cái nào là đúng. Rồi tôi viết mail trả lời rằng đã nhận được tài liệu, và bảo cô là chúng tôi có thể bắt đầu.

« Lùi
Tiến »