Hôn Em Trước Đã

Lượt đọc: 269 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Thứ Ba, ngày 23 tháng Tám năm 2010

Sau cơn đau nhói vì bị đuổi khỏi Red Pill, tôi dễ dàng đẩy Adrian ra khỏi tâm trí, vì không có quá nhiều sự kiện khác diễn ra. Email tôi gửi cho Marion đã thành Công, bà đã lưu ý đề nghị không nói chuyện điện thoại của tôi và câu “Cô là ai?” chưa bao giờ được nhắc lại.

Song tính chất hòa giải trong email cũng khơi lên dòng cảm xúc bất ngờ và hồi tưởng ở bà. Trong những email sau đó dày đặc chữ, lên tới cả ngàn chữ, Marion kể lể về quan hệ gia đình và Tess rõ ràng cần hồi đáp. Bà lôi ra những sự việc trong quá khứ, nhiều chi tiết không khớp với những ghi chú của tôi, và hỏi rất nhiều câu khó – Mẹ là người yêu bản thân ở chỗ nào? Mẹ làm bao nhiêu chuyện cho con còn gì? Con ghen tị với Nicholas phải không? Tôi quyết định cách an toàn nhất là làm ngờ các câu hỏi của bà, chỉ đáp lại bằng những câu chuyện về cuộc sống ở Sointula bằng giọng kể vui tươi, con cà con kê, vải hi vọng bà thôi không hỏi nữa.

Tôi cũng đang nghĩ về sex. Tôi đã quyết định gặp Connor lần nữa, và cố gắng phát triển mối quan hệ của chúng tôi. Xin nói ngay là tôi không định quan hệ với anh ta vào lần gặp anh ta sắp tới. Tôi chỉ nghĩ đến nó, nếu kế hoạch của tôi thành công, vấn đề này trước sau sẽ phải tính đến. Nó bắt đầu xâm chiếm đầu óc tôi.

Tôi đã nghĩ đến sex trước đây; thực ra là nghĩ khá nhiều. Năm tôi mười bảy tuổi, tôi xem trên mạng và biết nó được thực hiện ra sao. Thậm chí có lần tôi cố gắng thử, vào mùa hè năm 2006. Để gặp một đối tác phù hợp, tôi tham gia một trang hẹn hò trên internet và bỏ công sức làm một hồ sơ kỳ cục. Bạn phải trả lời câu hỏi Sáu thứ mà bạn không thể sống thiếu chúng là gì? Tôi viết: Ô-xy, nước, thúc ăn, tim, phổi và sau đó, vì tôi cảm thấy mình cần có quan điểm riêng, internet. Tôi chỉ nhận được một phản hồi, từ một người đàn ông bốn sáu tuổi có cái đầu trọc lóc giỏi thiệu mình là một nhà hoạt động vì quyền động vật và là một người cực đoan trong mọi khía cạnh của cuộc sống. Ông ta bảo tôi có thể đến căn hộ của ông ta ở New Cross nhưng không đưa thời gian hay địa chỉ, sau đó ông ta ngừng trả lời các email của tôi.

Thế là tôi từ bỏ cách đó, và chuyển sang nói chuyện với một bạn chơi, Necromancer3000, trong một game tôi chơi trước World of Warcraft. Tên thật của cậu ta là Marcus. Cậu ta nói chúng tôi có thể gặp nhau ở một quán rượu tại Edgware, nơi cậu ta sống, tôi liền bảo với mẹ tôi đi dự liên hoan với các bạn cùng trường và lên tuyến tàu điện ngầm Northern Line để gặp cậu ta. Trên tàu điện tôi nhận ra mình không biết mặt mũi cậu ta thế nào, nhưng không thành vấn đề vì cậu ta nổi bật giữa đám đông ở khu ngoài trời của quán: khi đó là mùa hè, và cậu ta là người duy nhất trong quán mặc áo khoác đen dài. Cậu ta ngang tuổi tôi và cao đến mức khi tôi nghển hết CỔ lên thì mắt tôi chỉ ngang CỔ cậu ta, và gầy đến mức cơ thể như biến mất dưới áo sơ mi đen và quần jean. Cậu ta có mái tóc đen dài, khá giống tóc tôi, và đeo đủ loại dây da trên cổ tay gầy lông lá.

Chúng tôi ngồi xuống một cái bàn, xung quanh là những người trẻ ngấm hơi men cười nói ồn ào và phun khói thuốc mù mịt. Marcus kể về Công việc của mình ở bộ phận trợ giúp khách hàng tại Virgin Media và trang web cậu ta lập, Cui Bono, với mục đích duy nhất là lật tẩy hội nghị Bilderberg. Cậu ta tỏ ra vừa hồi hộp vừa tức giận, và cứ dán mắt vào những đứa con gái ngu ngốc cười rinh rích trong những bộ đồ mỏng manh và gọi họ là “bầy cừu”. Tôi không muốn nói chuyện, tôi chỉ muốn về nhà Cậu ta và làm chuyện đó. Nhưng rồi chúng tôi sa vào một cuộc tranh cãi ngớ ngẩn về chuyện ăn thịt – tôi bảo cậu ta rằng đó là một quan điểm không thể bảo vệ được về mặt

đạo đức – và sau bốn mươi phút cậu ta quyết định về nhà mà không mời tôi về cùng. Và chuyện kết thúc ở đấy.

Hội nghị Bilderberg: một hội nghị thường niên được tổ chức lần đầu năm 1954, bao gồm các nguyên thủ quốc gia, lãnh đạo tập đoàn tài chính, quan chức cấp cao, học giả họp mặt để bàn về các vấn đề của thế giới.

Cho nên, không phải tôi chưa từng nghĩ đến viễn cảnh đó trước đây. Có khác ở chỗ là trước đây tôi có thể muốn quan hệ với người lạ chứ không phải vải những người tôi quan tâm.

Còn một thắc mắc nữa là người ta thực sự làm những gì. Tôi đã xem trên mạng và biết được về cơ bản, cho vào và lăn lộn. Nhưng như tôi có thể đã từng đề cập, Tess là một người rất năng động về phương diện tình dục, và từ những gì cô nói thì có vẻ như nó còn phong phú hơn thế. Trong những email của CỐ, chuyện đó nhiều lần được nhắc đến, và cô nói về nó không chút ngượng ngùng, cùng cái cách cô nồng nhiệt với những cuốn sách hoặc bất cứ xu thế mới nổi nào mà cô hứng thú trong thời điểm đó. Một số tin nhắn giữa cô và những người bạn trai – bao gồm Connor - thực sự khá thẳng thắn. Tôi sẽ không đi vào chi tiết, nhưng rõ ràng cô đã vượt ra khỏi phạm vi cái mà tôi cho là hoạt động “bình thường”.

Chẳng hạn như vào năm 2002, cô viết cho cô bạn Jen của mình kể chuyện tối hôm trưỐC, cô đã ăn vận như tuột gái điếm người Rumani và đi đến một quán bar khách sạn. Bạn trai cô khi đó là Raj, sau đó đến và “tán tỉnh cô” như thể họ không quen biết nhau. Có giả vờ mình là gái mãi dâm, và đóng vai đó cả buổi tối. Trong những email giữa Tess và Connor hồi họ còn gặp gỡ nhau, những ám chỉ này không quá đáng sợ, nhưng vẫn khiến người ta phải suy nghĩ, ví dụ như anh ta sẽ yêu cầu cô làm điều em đã làm với anh lần trước khi họ gặp nhau tối hôm đó. Tất nhiên tôi chẳng biết đó là những chuyện gì, và đó sẽ là một vấn đề nếu chúng được trông đợi từ Connor.

Hình như họ cũng chat về sex với nhau, và ít nhất đã một lần dùng webcam. Đêm qua em nóng bỏng quá, Connor viết, vào một ngày mà những ghi chép của tôi cho biết Tess đang đi Copenhagen thăm một người bạn. Tôi không thể không nghĩ đến Tess như tôi đã thấy cô trên Skype, VỚi đôi chân dài được cô liên tục đổi tư thế, không quan tâm việc tôi có thể trông thấy quần lót của cô. Cô sẽ tựa đầu vào bức tường sau giường và nhìn xuống camera, như thể tôi đang ở trên giường với cô vậy, và tôi hình dung cô làm như thế với Connor. Tôi tự hỏi liệu mình có nên thực hành, để cố gắng đạt được vẻ thoải mái giống như cô. Giá như cổ Ở đây cho tôi vài chỉ dẫn, tôi nghĩ.

Xét kĩ ra thì điều này nghe có vẻ kỳ cục, nhưng đôi khi tôi cảm thấy vô cùng tiếc nuối vì Tess không còn Ở cạnh. Không chỉ những lúc thế này, khi tôi muốn biết điều gì đó mà chỉ mình cô có thể giải đáp cho tôi, mà cả những thời điểm bất ngờ - như khi tôi đang ở Tesco và thấy làm sao có bao nhiêu con người tầm thường, vô vị vẫn đang sống. Nó giống như có một con chim quý hiếm đã bị bắn, thay vì một con bồ câu trong nhan nhản những con bồ câu.

Dù sao đi nữa, để thay cho lời khuyên của Tess về sex, tôi không còn cách nào khác phải quay sang Google, và gần như hối tiếc ngay lập tức. Lượng thông tin trên đó rất lớn, nhưng không cái nào trả lời được những câu hỏi hết sức đơn giản của tôi. Làm tôi nhỏ đến một người khách từng đến Caffe Nero và hét lên với Lucy khi cô nàng liệt kê một danh sách đồ uống cho ông ta lựa chọn. “Tôi chỉ muốn một cốc cà phê bình thường, đơn giản!” Ông ta hét. “Đòi hỏi như thế quá đáng lắm sao?”

Ngoài chuyện đó phải nghĩ ra. Tôi cũng quyết định thay đổi bề ngoài của mình bằng những bộ đồ mỏi. Như các bạn có thể thấy, viễn cảnh về cuộc gặp thứ ba với Connor đã làm nảy sinh một thế lưỡng nan. Xét thấy anh ta đã nghĩ anh ta nhận ra tôi sau khi cho tôi mười hai xu trong hiệu sandwich, thì gần như chắc chắn anh ta sẽ nhớ đã đề nghị mua đồ uống cho tôi ở quán bar Dragon, sờ vào thẻ nhớ của tôi… Thế thì tôi nên cải trang để anh ta không phát hiện ra mình, hay cứ để nguyên như trước và có nguy cơ làm anh ta hoang mang trước sự “trùng hợp” khi chúng tôi chạm trán nhau một lần nữa?

Tôi quyết định chọn cách dung hòa. Có một vấn đề nhỏ trong việc cải trang thành một người hoàn toàn khác, vì nếu cuộc gặp thành công và quan hệ của chúng tôi phát triển, thì không thể nào dối trá mãi được. Tuy nhiên, tôi nghĩ sẽ là một ý hay nếu thay đổi “vẻ ngoài” của tôi và mặc những trang phục mà Tess ắt sẽ mặc; suy nghĩ của tôi là nếu tôi càng giống Cô, thì Connor sẽ càng có khả năng xem tôi là người thay thế cô.

Lập luận trơn tru là thế, nhưng thực hành thì không được như vậy. SỐ quần áo ít ỏi tôi mua ngày trước hoặc là từ trên mạng, như cái áo hoodie Red Dwarf, hoặc từ cửa hàng Evans ở Bent Cross hoặc, khi mẹ còn sống, từ Bluston’s, dùng thẻ giảm giá dành cho nhân viên của mẹ tôi. Bluston’s nhắm đến lớp phụ nữ trưởng thành hơn, cửa sổ trưng bày hình vòm của nó bày những mẫu như áo choàng màu be và những bộ áo đôi mà mẹ nói quá lỗi thời ngay cả vải thế hệ bà, nhưng khi chúng tôi bước vào những người phụ nữ liền lăng xăng quanh tôi, nói họ sẽ đem ra những bộ “mốt nhất”. Khi chúng hiện ra từ những tủ gỗ dài thì chúng chẳng khác là bao so với những bộ trưng bày, nhưng tôi không bận tâm: quần áo suy cho cùng cũng chỉ là quần áo mà thôi, và tôi thích ở trong cửa hàng, một nơi tối, mát và có mùi vải mới.

Nhưng không thứ nào hợp với “Tess”: quần áo của cô nhỏ, bó sát và hợp thời trang. Tôi nhớ bọn con gái ở trường hay nói về Topshop trên đường Oxford - hình như họ thường đến đó vào cuối tuần - thế là một buổi chiều tôi lên đường đến đó. Đó không phải một trải nghiệm thành công. Cửa hàng lớn đến hoa mắt – tôi cảm giác như mình lại lạc vào Westfield - tiếng nhạc inh tai như trong một quán bar. Những cánh cửa tự động liên tục mở và đón vào từng đợt sóng những phụ nữ trẻ trông giống hệt nhau, tràn vào như những con cá kình xông vào trận đánh, sau đó chúng tôi bị hút xuống một thang cuốn ốp gương hai bên và những cô gái đồng loạt quay sang ngắm hình ảnh mình… và bị nhả vào một cái hố ngầm khổng lồ. Những cô gái lập tức tỏa ra và bắt đầu rút lấy rút để những bộ quần áo, loại ra trong vài tích tắc theo tiêu chuẩn riêng của mình. Họ quyết liệt và tàn nhẫn như Kẻ hủy diệt, gạt phăng các chướng ngại trên lối đi – là tôi - để tôi được đường sắt. Tiếng nhạc ầm ầm không cho ai đứng yên, bắt phải tiến về phía trước không ngừng. Cửa hàng như kéo dài vô tận và quần áo ở khắp mọi nơi, nhưng không phân chia rõ ràng. Tôi níu một phụ nữ đeo một tai nghe đàm thoại và hỏi nơi bày chân váy, và cô ta khoát tay một vòng quanh cửa hàng như muốn nói, “Ở đâu cũng có”.

Cuối cùng tôi tìm được vài chiếc váy, nhưng chúng thật kinh khủng, ngắn cũn cỡn và may bằng da màu cam và dập lỗ, và có giá 80 bảng. Chúng cũng không có size 16. Thế là tôi tẩu thoát lên thang cuốn và lao ra ngoài. Tôi chưa bao giờ có kỷ niệm nào vui trên đường Oxford.

Rốt cuộc tôi tìm được bộ đồ mới ở Tesco Extra.

Cửa hàng quần áo có VÔ SỐ mẫu size của tôi và tôi chọn một chân váy ngắn bó sát màu xanh lam và một áo chui đầu mỏng màu hồng. Về nhà tôi mặc thử lên người. Tôi chưa bao giờ mặc quần áo bó và cảm giác chúng dính vào da thật lạ lẫm. Trong tôi không giống Tess cho lắm. Nhưng tôi nghĩ nhìn tôi giống cô hơn so với trước đây.

Kế hoạch của tôi gặp Connor y như những lần trước. Chiều hôm sau, thứ Tư, năm giờ chiều theo giờ GMT, chúng tôi gửi email chào buổi sáng/ buổi tối với nhau theo thông lệ. Tôi kể mình đã dậy sớm bởi tiếng lũ hải cẩu kết đối với nhau trên bờ biển; Á á, anh ta trả lời. Tôi hỏi anh ta tối đó định làm gì, và anh ta nói sẽ dự tiệc sinh nhật một người bạn tên Toby. Tôi moi được thông tin rằng họ sẽ đến một nơi tên là Ngôi nhà Pháp ở West End.

Mọi thứ diễn ra đúng kế hoạch. Tôi lên đồ và chuẩn bị rời căn hộ. Tôi gần như đã ra đến cửa an toàn thì Jonty bước ra khỏi phòng cậu ta. Cậu ta nhìn tôi vẻ bối rối, rồi huýt sáo.

“Hẹn hò nóng bỏng hả?” Cậu ta hỏi, bằng một giọng mà tôi nghĩ là cố bắt chước giọng Mỹ.

Tôi nhanh chóng gật đầu, rồi lắc đầu. “Phải. Ý tôi là, không. Không phải hẹn hò.” Tôi nghĩ thật nhanh. “Tôi hẹn gặp một người.

“Ồ, hấp dẫn quá. Về việc gì?” “Kịch bản của tôi.”

“Cô viết xong rồi à?”Jonty hỏi, mắt mở to với vẻ giống như là niềm vui sướng chân thành. “Có đúng là chúa trong đám ngựa ô. Chúc may mắn. Sau này phải ăn mừng đấy.”

Tôi gật đầu lần nữa và vội vã đi ra tàu điện ngầm.

Và ở đó, khi ngồi trong một toa tàu điện ngầm đi đến Green Park, chưa đến sáu giờ tối, tôi trông thấy tờ báo. Nó là một trong những tờ báo miễn phí, nhét đằng sau một chỗ ngồi bên cạnh tôi, tôi giở ra và nhìn thấy một bức ảnh mờ nhạt của Adrian ở trang nhất, mà tôi nhận ra là ảnh chụp cận mặt anh ta sử dụng trên Red Pill. Phía trên bức ảnh, dòng tiêu đề ghi: Phát hiện một Giáo phái Tự sát trên mạng internet.

Hai bàn tay tội bất giác buồng tờ báo xuống, tôi nhớ nó tạo nên một âm thanh lớn đến ngạc nhiên khi rơi xuống sàn. Tôi nghe thấy những tiếng thở khò khè và nhận ra chúng đến từ tôi, lồng ngực tôi như to ra gấp đôi với mỗi lần hít vào. Người đàn ông ngồi đối diện rời mắt khỏi điện thoại ngước nhìn tôi và tôi nhắm mắt lại, trong nhiều giây hoặc nhiều phút. Khi tôi mở mắt ra, người đàn ông đã được thay bằng một người phụ nữ, đang đọc tờ báo ấy. Bà ta gio cao nó, nên tôi nhìn được toàn bộ trang nhất; Adrian mỉm cười ấm áp với tôi. Tôi nhìn dọc con tàu và dường như mọi người ai cũng đang đọc tờ báo ấy, toa tàu có hàng trăm Adrian.

Cuối cùng, tôi chật vật cúi xuống nhặt được tờ báo lên, trong bộ dạng mà tôi hi vọng là tự nhiên. Câu chuyện chạy trên cả trang nhất và trang ba, song nội dung không có nhiều, rất ít sự kiện. Thực chất nó chỉ nói rằng một thành viên của Red Pill – không nêu tên là ai - đã báo cảnh sát rằng Adrian đã đề nghị họ “tiếp quản” ảo cuộc sống của một người có ý định tự sát. Bậc thầy internet độc hại Adrian Dervish đã cổ vũ việc những người yếu đuối tự sát và sau đó tẩy não những tín đồ của mình để họ đóng giả những người đó trên mạng, tôi nghĩ là cách dùng từ có vấn đề. Thành viên không nêu tên này đã thực hiện kế hoạch được một thời gian nhưng rồi hoảng sợ và nói với bố mẹ, họ đã tìm đến báo chí. Cảnh sát hiện đang tìm kiếm Adrian.

Tôi ngồi trên tàu điện ngầm, tờ báo để trong lòng, trong khi mọi người lên xuống tàu. Những chỗ ngồi bên cạnh tôi được lấp đầy, trống không, rồi lại được lấp đầy. Tôi chỉ là mờ cảm nhận những cẳng chân chạm vào chân tôi, những khuỷu tay huých vào chỗ để tay chung. Chuyến tàu đi qua Green Park, điểm đến của tôi, và tiếp tục đi đến Stanmore, trạm cuối của nó. Cửa mở nhưng tôi vẫn Ở trong toa, cuối cùng tôi bước ra và ngồi xuống một băng ghế trên sân ga.

Điều đầu tiên tôi nghĩ đến khi đọc bài báo không phải là những dính líu mở rộng đến Tess và sự liên can của tôi, mà là chuyện tôi không phải là người duy nhất Adrian đã tuyển. Bài báo không nói có bao nhiêu người, nhưng ngấm ngầm ám chỉ về “một biệt đội những đứa trẻ giỏi máy tính”.

Đúng là Adrian chưa bao giờ nói không có những người khác làm chuyện đó. Tuy nhiên, tôi nhớ lại cái hôm Hampstead Heath, anh ta đã khiến tôi cảm thấy mình đặc biệt như thế nào. Nó đã là – tôi nghĩ, nó đã là dự án bí mật của chúng tôi. Anh ta nói đã chọn tôi vì tôi là một người khác thường, có khả năng hiểu thấu cả phương diện luân lý và thực tiễn của công việc. Mặc dù nghe thật vô lý, nhưng tôi cảm thấy mình bị phản bội.

Đầu tôi mờ mịt vì cảm xúc và những suy nghĩ vô bổ. Phải mấy phút sau, tôi mới bắt đầu phân tích được mạch lạc. Nếu cảnh sát truy tìm Adrian, họ có thể sẽ lục soát nhà anh ta. Ai mà biết được họ có thể tìm được thông tin gì? Có lẽ lúc này đây họ đang trên đường đến căn hộ của tôi. Có lẽ họ đã đến rồi, đang chờ đợi. Tôi hình dung những người bồi bàn ở quán ăn dưới nhà đang dòm qua cửa sổ khi cảnh sát dàn hàng bên ngoài. Jonty sẽ mở cửa, và tưởng rằng có ai vừa chết. Cậu ta có lần bảo tôi rằng hồi học đại học ở Cardiff, người bạn cùng phòng đã chết trong một vụ đụng xe, và khoảnh khắc cảnh sát gõ cửa để báo tin là khoảnh khắc tồi tệ nhất trong đời cậu ta.

Khi sự thật được tiết lộ, thoạt đầu cậu ta sẽ nhẹ nhõm, sau đó SỐc và tổn thương trước sự dối trá của tôi. Rồi dưới sự tra hỏi, cậu ta bắt đầu vỡ lẽ. “Đúng”, cậu ta sẽ nói, “Cô ta sống khá khép kín. Chẳng mấy khi ra khỏi phòng. Cô ta nói mình đang viết một kịch bản phim.”

Trong tâm trí, tôi thấy cảnh sát đang lục soát căn hộ. Tôi đã khóa cửa phòng, như mọi khi, nhưng cái khóa là một vật mỏng manh dễ dàng mở được bằng kéo cắt bu lông. Khi đã vào được thì chẳng khó tìm ra bằng chứng. Tôi đã cất kĩ hồ sơ về Tess – cả bản giấy và file mềm trên máy tính, tôi làm một cách tự động - nhưng người ngoài sẽ không mất chút thời gian nào để tìm ra. Sơ đồ dán lù lù ngay trên tường, chỉ che bằng mấy tấm poster.

Tôi nhận ra mình phải về nhà - dù chỉ để đỡ cho Jonty khỏi phải đối mặt với cảnh sát. Tôi băng qua một sân ga khác và lên chuyến tàu tiếp theo về Rotherhithe.

Khi tôi đi xuống phố Albion, căn hộ nom im ắng, những tấm rèm vẫn buông như tôi thường để. Tôi dừng bên ngoài, tưởng tượng cảnh sát đang đợi bên trong, ngồi túm tụm trên sofa, lầm lì và im lặng, với tất cả chứng cứ bày ra trên sàn, trước mắt họ. Đứng trên vỉa hè, tôi nhớ mình đã nghĩ đây có thể là giây phút tự do cuối cùng. Thú thực rằng, tôi đã hít một hơi sâu, thu lấy mùi gà rán, khói thải và tiếng xoong chảo leng keng từ cửa hàng đồ nướng vào trong phổi. Một thiếu niên đi xe đạp lạng lách trên vỉa hè, một thiếu niên khác đuổi đằng sau gọi theo, “Ê, chờ Vải!”; tiếng nhạc vọng ra từ chiếc ô tô chạy ngang qua. Tôi ngước nhìn tấm biển quán ăn, phía trên nó, tôi có thể thấy ánh bạc của cửa sổ phòng tôi, và nhận ra mình chưa bao giờ chú ý đến tên thật của quán: Maharaj. Ngôi nhà cà ri ngon nhất ở Rotherhithe. Rồi tôi mở cửa.

Căn hộ vắng lặng. Jonty cũng không có nhà, những cái chảo chưa rửa chất đống trong chậu chứng tỏ cậu ta đã ăn xong món hầm và biến đi chơi. Vào phòng mình, tôi lập tức hành động. Trước tiên, tôi đảm bảo tất cả các file về Tess nằm trong thẻ nhớ của mình, rồi xóa chúng và xóa cả lịch sử vào mạng trên máy tính. Tôi biết các chuyên gia có thể tìm ra những file mà bạn tưởng mình đã xóa, và cách chắc chắn duy nhất để hủy thông tin là đập nát máy tính, nhưng tôi chưa sẵn sàng cho việc đó lắm. Tôi quyết định rằng nếu nhìn thấy cảnh sát tiến đến cửa, biện pháp tạm thời là tôi sẽ thả máy tính từ cửa sổ xuống sân quán ăn, mong là những bao rác sẽ đổ lấy và che giấu cho nó.

Tôi cố tập dượt phản ứng khi họ xuất hiện. Tôi có nên phủ nhận tất cả? Nhưng nếu họ tìm đến tôi, ắt họ có bằng chứng cho thấy tôi có liên quan. Và nếu tên tội dính tới tên Tess, thế là xong. Trong giây lát, họ sẽ chứng minh được cô không sống ở Sointula. Sau đó họ có thể kiểm tra địa chỉ IP các email và lần ngược lại tôi. Rồi Marion sẽ được thông báo. Tất cả mọi người sẽ biết. Connor sẽ biết.

Trong lúc ngồi đó, cho tiếng gõ cửa, tôi lùng sục trên mạng. Tôi gõ tên Adrian vào Google Alert, và cách vài phút, laptop của tôi lại kêu bíp bíp báo kết quả. Ngày đầu tiên, vẫn là câu chuyện cũ, lặp lại trên khắp thế giới. Kể cả mấy trang web ở Nhật cũng đăng. Tôi ngồi trước laptop nhiều giờ đồng hồ, chỉ những ngón tay tôi chuyển động khi click chuột. Tôi nghe tiếng Jonty về rồi lại đi. Rồi, vào sáu giờ sáng thứ Ba, có một tiến triển. Một trang tin của báo chí đã thực hiện cuộc phỏng vấn với thành viên Red Pill đã phá rào.

Randall Howard là tên cậu ta. Tôi không nhận ra cậu ta, nhưng không có gì lạ vì hầu hết các thành viên không dùng ảnh thật, và rất có thể tôi đã nhiều lần nói chuyện vải cậu ta. Cậu ta hơn tôi một tuổi, có gương mặt béo phì mất hết nét và để kiểu đầu chôm chôm. Bức ảnh chụp cậu ta ngồi trên sofa cạnh mẹ mình. Bà choàng tay qua vai cậu và trông đầy tức giận.

Câu chuyện Randall kể trong buổi phỏng vấn tượng tự câu chuyện của tôi. Cậu ta tìm thấy Red Pill theo lời giới thiệu của một người bạn. Lúc đầu tôi nghĩ Adrian thật tài giỏi, cậu ta nói. Anh ta rất thông minh và hài hước, và anh ta tỏ ra thực sự quan tâm. Cậu ta nói rằng sau khi làm thành viên được một năm, cậu ta được Adrian đề nghị gặp trực tiếp. Họ đã gặp nhau ở một công viên tại London.

Bài báo chỉ đưa vài chi tiết về “khách hàng” của Randall. Giờ tôi biết đó là vì cảnh sát đang điều tra và thông tin phải được giữ kín. Nó chỉ nói rằng đó là một người đàn ông gần ba mươi tuổi, bài báo gọi anh ta là “Mark”. Ban đầu, Randall nói cậu ta ủng hộ ý tưởng này. Cậu ta hết lòng tin tưởng vào mục đích; rằng một người có quyền tự quyết về cái chết của mình, và những người khác thể ủng hộ nếu được yêu cầu. Randall nói cậu ta đã hỏi Adrian liệu Mark có ổn định về tâm lý không và Adrian đảm bảo với cậu ta là có. Adrian đã giúp cậu ta liên lạc với Mark, và cậu ta bắt đầu thu thập thông tin qua email. Song không như tôi và Tess, họ đã thực sự gặp nhau. Chính sau cuộc gặp này, trong một quán cà phê ở phía tây London, Randall bắt đầu nảy sinh nghi ngờ.

Khi tôi nhìn anh ấy trong lúc nói chuyện, chocolate từ CỐC capuchino dính lên môi anh ấy. Tôi sục nhận ra vấn đề là gì. Tôi nhận ra anh ấy là một con người bằng xương bằng thịt.

Cậu ta cũng nói rằng, mặc dù Mark khẳng định “chắc nịch” là anh ta biết rõ việc mình đang làm, và tinh thần hoàn toàn bình thường, Randall nghĩ mình đã phát hiện ra một chút miễn cưỡng. Anh ấy liên tục nhìn xa xăm trong lúc tôi nói, với một vẻ buồn bã. Cậu ta miêu tả hai bàn tay Mark run rẩy đến mức làm cho đường vung vãi khắp bàn.

Sau đó Randall tiếp tục với dự án trong vài tuần, thu thập thông tin, như tôi đã làm. Nhưng vào một tối, khi Mark liên lạc để đề xuất ngày trả phòng, thì Radall tỉnh ngộ. Cậu ta nhận ra tất cả chuyện này phải dừng lại, và hơn thế, thi trích dẫn, phải khiến Adrian Dervish dừng lại. Cậu ta xuống dưới nhà, nơi bà mẹ đang xem tivi, và kể hết mọi chuyện với bà. Bà lập tức tìm đến báo chí. Rồi cảnh sát vào cuộc.

Tôi không biết còn bao nhiêu người trẻ dễ dụ khác bị kẻ đe tiện này tẩy não, lời mẹ cậu ta được trích dẫn. Mark hình như đã thay đổi ý định muốn tự tử và biết ơn Randall vì đã ngăn lại chuyện đó. Tôi chỉ mong rằng bằng cách đứng ra tố cáo, Randall cũng cứu được những sinh mạng khác, mẹ Randall nói. Cuộc phỏng vấn kết thúc bằng câu nói của Randall: Tôi từng nghĩ rằng Adrian là một vị thần - giờ tôi nhận ra anh ta là quỷ dữ.

Tôi thấy bài báo này không thỏa đáng. Kể cả Mark có như Randall phỏng đoán: một bộ dạng khiến tôi nghĩ rằng anh ấy thực sự không muốn kết thúc cuộc đời mình. Ngay cả khi anh ta buông lời nhận xét: Thời tiết đẹp quá, mà theo lời Randall, có nghĩa là anh ta vẫn có thể thưởng ngoạn thế giới. Ngay cả khi đúng là Mark không muốn chết nữa nhưng, mới đầu, như tôi đã nói, tôi không nghĩ Randall đủ trình độ để đưa ra đánh giá đó. Kể cả đã xem xét tất cả những yếu tố trên, cũng không suy ra được rằng những người mà Adrian đã giúp, như Tess, đều giống như vậy. Đó là thứ logic không chính xác. -

Cái cách họ miêu tả Adrian cũng khiến tôi khó chịu, nhưng theo một cách kém thẳng thắn hơn. Tôi sẽ mạnh dạn nói rằng mình cảm thấy mâu thuẫn, thứ cảm giác tội không quen. Một mặt, tôi thỏa mãn với bức chân dung xấu xa mà Randall vẽ ra: việc bị trục xuất đột ngột khỏi trang web vẫn vẹn nguyên trong tâm trí tôi, và tôi không thể không đồng ý với miêu tả Adrian là chuyển quyền và hăm dọa. Tôi cũng thừa nhận hơi phi lý khi cảm thấy khổ SỞ – thậm chí là bị phản bội – khi phát hiện ra tôi không phải là người duy nhất mà Adrian đã tuyển mộ. Tuy nhiên, cách dùng từ mà lúc này tôi cho là “lố bịch”, thổi phồng của Randall – như quỷ dữ – khiến tôi hơi bực bội, và, ngoài ra, lòng trung thành sâu xa với Adrian vẫn khiến cho tôi muốn bảo vệ anh ta trước cuộc tấn công một chiều, kích động này.

Bên cạnh bài phỏng vấn là một cột có chủ đề tương tự, với tấm ảnh một phụ nữ có vẻ mặt nghiêm trang ở trên cùng, trong phần nội dung, bà ta bày tỏ sự bàng hoàng và giận dữ trước vụ việc. Bà ta gọi Adrian là ác thú internet, một cụm từ được nhặt ra và sử dụng trong nhiều bài báo sau đó.

Một cuộc tranh cãi về vụ việc nổ ra trong giới báo chí. Có thể đoán trước là phần lớn các nhà bình luận đều phản đối, chửi bới những nguy hại của internet và thế hệ những người trẻ lạc lối, những tâm hồn nhỏ bé nhu nhược để cho kẻ khác lợi dụng. Người ta cho rằng những người đã chết hồi mới đầu vẫn chưa có con số thống kê nào - đều đã bị ép buộc làm chuyện đó. -

Tất cả những giả thuyết này làm tôi bực mình. Không một tay nhà báo nào đi sâu được vào nội tình của từng hoàn cảnh, vậy mà bọn họ đều cho rằng họ có quyền đánh giá theo quan điểm của mình, nói như đúng rồi. Trước kia tôi không đọc báo mấy và tôi kinh ngạc khi họ luôn làm thế.

Hai tư giờ đồng hồ tiếp theo, việc đưa tin đã chín chắn và hợp lý hơn. Một nhà báo nam viết một bài dài lý giải vì sao - mặc dù toàn bộ bài báo chưa xuất hiện đầy đủ - và rõ ràng không thể chối cãi được nếu có người bị ép buộc tự sát, thì căn nguyên phía sau kế hoạch đó không nhất thiết là sai. Ông ta, nhà báo này đồng ý rằng mọi người có thể làm những gì họ muốn với cơ thể mình. Một bài khác cho rằng việc chúng ta mặc nhiên coi hành động tự sát như chứng hoang tưởng là sai. Tại sao người ta không thể chỉ sống một cuộc đời vừa đủ, và muốn kết thúc nó.

Thường ở cuối mỗi bài báo sẽ dành một chỗ cho độc giả đưa ra những nhận xét và tôi phải thừa nhận rằng, khi tôi ngồi đó trong những giờ đồng hồ kéo dài vô tận, tưởng tượng cảnh sát đang trên đường đến, tôi không cưỡng lại được việc thêm vào những nhận định của mình. Tôi đăng một lời nhắn ủng hộ người phụ nữ phát biểu không phải lúc nào tự sát cũng là ý tưởng tồi tệ, và lập luận vững chắc trước những bình luận mang tính tiêu cực.

Cùng lúc đó, tôi quyết định vẫn tiếp tục công việc đóng vai Tess. Nghe có vẻ kỳ lạ, nhưng đột ngột dừng liên lạc còn nguy hiểm hơn. Marion sẽ lo lắng và bắt đầu gọi điện; các bạn của Tess cũng vậy. Nhưng ngoài cái đó ra, có cảm giác thật sai trái khi bỏ rơi cô ấy lúc mọi chuyện trở nên phức tạp. Tôi nghĩ đến miếng sticker mà hàng xóm nhà tôi dán trên xe của họ: Một chú chó là dành cho cả cuộc đời, không phải mỗi dịp Giáng sinh. Cố nhiên Tess không phải là thú cưng, nhưng lại khiến người ta mủi lòng.

Và, tất nhiên, còn Connor nữa. Anh ta và Tess đã quen gửi email cho nhau nhiều lần trong ngày, và khi tôi không trả lời tin nhắn của anh ta dù chỉ trong vài giờ – như tối thứ Tư hôm đó, khi tôi bắt gặp tờ báo - anh ta sẽ hỏi có chuyện gì không.

Xem ra thật bất công với bạn bè và gia đình của Tess vì tưởng rằng cô mất tích, và bắt họ chịu đựng sự căng thẳng, để rồi sau đó phát hiện ra cô đã chết. Tốt hơn cả là cứ tiếp tục như trước, cho đến khi cảnh sát gõ cửa nhà Marion và thông báo rằng con gái bà không sống ở Sointula mà là đang mất tích, có lẽ đã chết, là nạn nhân của Ác thú internet Adrian Dervish và một cô gái tội nghiệp, cả tin, bị hắn biến thành nô lệ làm theo lệnh hắn.

Thế nên tôi tiếp tục như bình thường, cập nhật cuộc Sống dễ thương của Tess ở Sointula - Những lý do để yêu nơi này, lý do số 358 - bạn có thể mát xa với ba mươi đô la - và chơi một trò email ngớ ngẩn với Connor là chúng tôi lần lượt nêu lên một câu hát miêu tả những ngày tương ứng với chúng tôi. Tôi vừa đưa một tội phạm ma tòa, anh ta viết. Tôi đã tha cát khắp cổng nhà, tôi đối lại.

Thời gian đó, tôi vẫn theo dõi các website tin tức, đến chiều thứ Sáu thì có tiến triển mới trong việc tìm kiếm Adrian khiến tôi nhất thời biến sắc: cảnh sát đã tìm ra nơi anh ta sống, và đột kích vào đó.

Adrian Dervish là tên giả, nguồn tin tiết lộ, và Red Pill được đăng ký ở Brazil, nên họ không thể tìm được anh ta qua nó. Nhưng có vẻ như việc phát tán ảnh anh ta khắp nơi đã đem lại kết quả. Một phụ nữ đã báo cảnh sát rằng có một người đàn ông trông rất giống anh ta là hàng xóm nhà mình tuần vừa qua. Có một tấm ảnh về một khu căn hộ, một nơi xấu xí, xuống cấp gần sân bay Gatwick. Khi cảnh sát đến đó, Adrian đã bỏ trốn; tuy nhiên, nguồn tin cho biết, họ đã thu giữ một số máy tính và hiện đang xem xét. Họ đã tìm thấy thông tin đáng chú ý.

Không thể đoán được họ sẽ mất bao lâu để lần ra tôi, điều đó phụ thuộc vào lượng thông tin Adrian lưu trữ và nó được mã hóa cao đến đâu. Hoặc nếu nó không được mã hóa gì cả. Tôi nghĩ về buổi nói chuyện ở Hampstead Heath, khi anh ta nói mình mù Công nghệ. Anh ta đã thực hiện nỗ lực cơ bản khi che đậy dấu vết bằng cách dùng địa chỉ IP nước ngoài, nhưng anh ta sẽ chịu khó bảo vệ tôi sao? Tôi hình dung một chuyên gia máy tính của cảnh sát xắn tay áo lên chuẩn bị cho một công việc khó nhằn rồi cười phá lên khi thấy tất cả bằng chứng hiện ra trước mắt. Ai mà biết được chuyện gì đã xảy ra giữa Adrian và Tess – nhưng, theo kinh nghiệm của mình, tôi ngờ rằng cô không quá thận trọng trong trao đổi thư từ. Anh tìm được người giúp tôi chết thật sao? Anh đúng là thiên tài. Khi truy tìm tòi, họ có phương pháp của riêng mình. Tôi đã không ngụy trang địa chỉ IP của mình Facebook có thể thấy được tài khoản của Tess được truy cập từ máy tính của tôi. Gmail cũng vậy. Thông tin thẻ tín dụng của tôi được lưu trên Red Pill. Tại sao tôi không nghĩ đến những biện pháp đề phòng chứ?

Dù lo sợ tiếng gõ cửa sắp vang lên và những thủ tục không dễ chịu đi liền sau đó, những suy nghĩ của tôi vẫn nhảy đến giây phút gia đình và bạn bè Tess biết được chuyện gì đang xảy ra. Hoặc, chính xác hơn, khi Connor biết được sự thật.

Tôi tua qua các kịch bản khác nhau. Connor ở nơi làm việc, nhận được cuộc gọi từ Marion, vẻ mặt anh ta chầm chậm biến đổi từ ngơ ngác lịch sự sang há hốc kinh hoàng. Connor ở nhà vào một buổi tối, ngả người trên sofa xem một tập cũ serie Bà Marple (thú vui tội lỗi của anh ta). Chuông cửa kêu và anh ta cau mày trước sự phá đám, rồi sự hốt hoảng bao trùm khi anh ta nhận ra hình dáng của viên cảnh sát qua lớp kính mờ của cánh cửa (tất nhiên tôi không biết của nhà anh ta có lắp kính mờ hay không, tôi chỉ đang tưởng tượng thôi).

323

Sari Tuy nhiên khi phát hiện ra, tôi dám chắc anh ta sẽ ghét tôi, và anh ta sẽ không nghe câu chuyện từ phía tôi. Anh ta sẽ cho rằng tôi làm chuyện đó như một trò đùa bệnh hoạn, hoặc vì tiền. Ý nghĩ anh ta nghĩ xấu về tôi khiến tôi phát ốm; tôi rời khỏi bàn, gập người trên sàn. Và trong lúc nằm co quắp dưới đó, nhìn chằm chằm những vụn bánh mì trên thảm, tôi nhận ra mình phải đem tin này đến cho anh ta, ngay bây giờ. Tôi phải đích thân giải thích. Nếu anh ta biết lý do tôi làm chuyện đó, anh ta có thể sẽ tha thứ cho tôi.

Thường thường tôi sẽ cân nhắc thiệt hơn trong những quyết định lớn, nhưng khoảnh khắc ý nghĩ này xuất hiện, tôi biết nó đúng và là biện pháp duy nhất. Và tôi thú nhận là tôi mong chờ nhiều hơn sự tha thứ đơn thuần từ Connor. Xét cho cùng, nếu Tess đã chết, không có gì ngăn chúng tôi ở bên nhau nữa. Sau khi qua cơn sắc trước cái tin, anh ta sẽ thấy như vậy. Giờ anh ta được tự do yêu người khác, và người mà anh ta muốn ở ngay đây, tại London, sẵn sàng đón nhận.

Nỗi lo lắng của tôi chuyển phắt thành phấn khích nôn nóng; tôi muốn gặp Connor ngay lập tức. Hôm đó là chiều thứ Sáu, tôi quyết định xuống Temple và đón lõng anh ta khi tan làm. Tôi mặc chân váy bó mua ở Tesco và cái áo mua trong cuộc gặp bị phá ngang lần trước giữa chúng tôi và chải tóc bốn mươi lần. May mà Jonty đã ra ngoài, nên tôi không phải chế ra một cái có khác cho việc ăn diện; cũng có nghĩa tôi có thể dùng gương trong phòng cậu ta, chiếc gương lớn duy nhất trong căn hộ. Tôi có túi đồ trang điểm của mẹ nhưng không cần đến mắt tôi đang long lanh và má ửng hồng, tất cả đều đồng lòng nhất trí. Chưa bao giờ trong tội sáng sủa đến thế, tôi nghĩ và mỉm cười với hình ảnh mình trong gương.

Tôi tới văn phòng anh ta lúc năm giờ sáu phút. Băng ghế quen thuộc của tôi bị chiếm cứ bởi ba du khách trung niên đang lục tục đứng dậy, nhưng đằng nào tôi cũng không ngồi được: tôi quá kích động. Tôi đi tới đi lui trong Công viên nhỏ, lẩm nhẩm lời mở đầu mà tôi đã chọn “Tôi có một tin xấu, và một tin tốt” - trong lúc vẫn canh chừng cánh cửa đen của Asquith và các Cộng sự. Đúng sáu giờ rưỡi, Connor xuất hiện.

Anh ta đi một mình, quai túi da vắt chéo qua ngực, đang nói chuyện điện thoại và bước nhanh trên đường. Giống như trước đây, hình ảnh anh ta gây nên cảm giác chao đảo trong ngực tôi và khiến hai chân tôi bủn rủn, nhưng tốc độ bước chân của anh ta không cho tôi lãng phí thời gian. Tôi xốc lại tinh thần và bắt đầu bám theo anh ta, cố hết sức giữ anh ta trong tầm mắt khi anh ta rời khỏi những con phố rải sỏi của Temple và chuyển hướng sang một con đường lớn hơn, đông đúc người và xe. Đến vỉa hè, anh ta dừng bước, vẫn nói chuyện điện thoại. Tôi có

325

thể đuổi kịp, và ở khoảng cách rất gần tôi nghe thấy anh ta nói, “Ừ, anh thấy em rồi.”

Tôi dừng lại và nhìn theo khi anh ta vẫy tay về phía một chiếc xe hơi nhỏ màu đỏ đỗ ở bên kia lề đường. Ngồi Ở ghế lái là một phụ nữ tóc vàng tươi cười, và ở băng ghế sau, đang rối rít vẫy anh ta, là hai đứa trẻ. Tôi nhìn thấy Connor chờ cho dòng xe thưa thớt, rồi băng qua đường và chui vào ghế phụ. Anh ta nghiêng người hôn lên môi người phụ nữ, trước khi quay sang chào đón Maya và Ben. Tôi nhìn Chrissie nổ máy và lái xe đi, chiếc xe đỏ hòa vào dòng xe và biến mất khỏi tầm mắt tôi.

Tôi không biết mình đã đứng bao lâu trên vỉa hè tấp nập. Tôi ý thức được những người đi qua tỏ vẻ khó chịu vì tôi cứ đứng 1 tại chỗ, cố ý huých vào vai tôi hoặc tặc lưỡi. Nếu họ hỏi, ắt tôi sẽ giải thích rằng tôi thực sự không nhúc nhích được; hai chân tôi không cho tôi đi. Não tôi như nặng trĩu trong hộp sọ, như thể nó đã tắt để tránh phải phân tích những gì vừa diễn ra. Nó chỉ cho phép tôi có những suy nghĩ ngớ ngẩn, vụn vặt, như: thật may vì tôi không chuốt tí mascara nào, bằng không giờ nó đã chảy nhoe nhoét trên mặt rồi.

Cuối cùng, đôi chân tôi cũng hoạt động trở lại và đưa tôi đến ga tàu điện. Tàu chật ních, nhưng một người phụ nữ đã đứng lên nhường chỗ cho tôi. Tôi không rõ vì sao cô ấy làm thế nhưng tôi vô cùng biết ơn. Ngồi xuống tôi mới nhận ra cái váy của mình ngắn cỡ nào: đùi tôi dường như bị phơi hết ra, màu da trắng xanh và lấm tấm mụn. Bên cạnh tôi là một người đàn ông trong bộ vest nhăn nhúm, trạc tuổi Connor, ngồi khom người giạng chân và lướt Iphone. Màn hình đập vào mắt và tôi nhìn thấy, như từ sau một lớp kính, khi anh ta soạn tin nhắn cho một người tên là Mila: Anh sẽ trả Công em xứng đáng, em biết mà. Anh không quên những gì đã hứa ở Ascot… Xxx. Tôi tưởng tượng mình nghiêng người qua và gõ: Tái bút - b và em đoán được không? - Anh đã có vợ.

Về đến căn hộ, tôi nhẹ cả người vì Jonty vẫn vắng nhà. Tôi viết cho cậu ta mấy dòng bảo rằng tôi bị ốm và đừng làm phiền, rồi khóa cửa phòng. Đến lúc ấy, tôi chợt nhận ra mình đã hoàn toàn kiệt sức, không buồn tháo giày, tôi nằm vật ra sofa và ngủ thiếp đi.

Khi tôi thức giấc, xung quanh đã tối đen, dưới đường và trong căn hộ đều yên tĩnh. Mở laptop để xem giờ, tôi thấy có bốn mươi tám email mối, tôi ngơ ngác một lúc mới nhớ ra mình đã cài tin báo Google về Adrian và Red Pill. Báo chí ngày thứ Bảy vừa ra, kín những cập nhật, phân tích và tranh cãi về câu chuyện.

Tôi điềm tĩnh đọc từng bài, như thể tôi chẳng dính líu gì đến chủ đề đó. Một thành viên khác, một thiếu niên tên là Stephen, đã chủ động khai rằng mình cũng được Adrian liên hệ để tiếp quản cuộc sống của một người, nhưng đã không thực hiện. Có thêm những báo cáo về tung tích của Adrian, ở nước Anh và nước ngoài, ở Prague và New York. Một tờ báo còn chạy tiêu đề: Liệu đứa con CỦA BẠN có nằm trong giáo phải tự sát”?

Trong một bài phỏng vấn, Randall được hỏi cậu nghĩ có bao nhiêu người được tuyển mộ, và cậu ta trả lời, Tôi không biết. Có Chúa mới biết được. Có lẽ là hàng trăm người. Tờ báo đó đã dùng câu này làm luận cứ để đề nghị một “chuyên gia tâm lý khả kính” soạn một danh sách kiểm tra những dấu hiệu nguy cơ cho những bậc phụ huynh lo ngại con em mình là một trong các phần tử của Adrian. Câu hỏi đầu tiên là: Con của bạn có dành quá nhiều thời gian vào máy tính không? Câu thứ hai: Chúng có thường biểu hiện kỳ lạ, xa lánh xã hội không?

Dù đọc hết các bài báo nhưng tôi không tài nào tập trung vào chúng. Tôi chỉ nghĩ đến Connor; hoặc cụ thể hơn, tại sao anh ta làm vậy? Tại sao anh ta nói dối là đang ly thân với Chrissie? Cuối tuần nào anh ta cũng gửi cho Tess hàng loạt email, tất cả đều sặc mùi tán tỉnh. Khi tôi hỏi anh ta có dự định gì vào tối thứ Sáu, anh ta nói sẽ ra ngoài uống rượu với đồng nghiệp, rồi kết thúc bằng bữa tiệc ở Whitechapel. Chán chết, vì không có em.

Tôi đọc lại những email của chúng tôi. Một tạo vật diệu kỳ. Chuyện hiếm có đang diễn ra ở đây, anh biết không? Em cảm thấy có thể nói với anh bất cứ chuyện gì. Hôn em trước đã. Có lần

328 anh ta đã hỏi tôi về những kỷ niệm thời thơ bé, tôi liền kề về kỷ niệm đi bộ trên đường Kentish Town cùng với mẹ năm tôi lên bảy - song tôi đã đổi cảnh quan thành Dulwich, nơi Tess lớn lên - và trông thấy thứ mà tôi nghĩ là một chú gấu Teddy nhỏ màu hồng dưới rãnh nưỐC. Tôi đoán là do đứa trẻ nào đó đánh rơi, và thấy thương cho nó vì nó rất bẩn thỉu và bị quên lãng. Tôi cúi xuống nhặt lên, và khi đưa nó lên ngang tầm mắt, tôi mới thấy nó không phải gấu Teddy, mà là một cái chân lợn. Ôi, Heddy bé bỏng tội nghiệp, anh ta an ủi. Thật đáng buồn. Anh muốn chạy đến ôm lấy em. Giờ khi mẹ đã mất, anh ta là người duy nhất biết về chuyện đó.

Việc anh ta đã kết hôn có thực sự quan trọng không, tôi tự hỏi. Nhỡ đâu anh ta và Chrissie đang diễn kịch vì bọn trẻ. Một trong những người bạn của Tess có cuộc hôn nhân không được như ý, Carmen, từng email cho cô: Bọn tớ đang làm cái trò cũ rích là ở với nhau vì lũ trẻ”. Có lẽ anh ta đang hi sinh khi duy trì cuộc hôn nhân với Chrissie. Và anh ta không nói với Tess vì ngờ rằng cô sẽ cắt đứt với mình. Nói không với đàn ông có vợ là một trong những khẩu hiệu chào năm mới 2009 của cô.

Chẳng phải người ta vẫn ly hôn sao? Nếu như họ yêu người khác? Và người thứ ba ấy đang tự do?

Đây không phải dạng câu hỏi có thể giải đáp bằng Google, và, không phải lần đầu tiên, giá mà có Tess Ở đây để tư vấn cho tôi. Nhưng tôi biết cô sẽ nói gì. Cô sẽ bảo tôi đừng nên trông đợi bất cứ điều gì ở Connor ngay từ đầu. Cô cho rằng tất cả đàn ông, tôi trích dẫn, đều là “những con cóc sừng loắt choắt”, những kẻ không từ bất cứ việc nhỏ nhặt nào để đạt được mục đích. Cô không nói câu đó bằng vẻ hối tiếc hay giận dữ mà với sự cam chịu thản nhiên, như thể nó chỉ là một thông số, được ghi trong mã di truyền của họ.

Trong các cuộc trò chuyện, tôi không đồng tình với quan điểm này, cho rằng nó là sự tổng kết vội vàng với nhiều lỗ hổng. Với cùng lý lẽ ấy, phụ nữ cũng sẽ có chung những nét tính cách nhất định, nhưng Tess và tôi là hai mẫu người có thể cùng giới tính nhưng chẳng có điểm chung nào hết. Tôi cũng chỉ ra rằng phẩm chất “cóc” này không hiển lộ nhiều trong những mối quan hệ của cô với đàn ông, hầu hết bọn họ đều mong mỏi sự nhiệt thành từ cô nhiều hơn mức cô sẵn lòng cho bọn họ. Thực ra, tôi nói, từ bằng chứng cuộc sống của cô và từ những gì tôi thu lượm được về những khác biệt giới tính trên lý thuyết, hình như cô mới là người đóng vai “đàn ông” trên lý thuyết, đảo qua đảo lại giữa hai vai.

Tôi nhớ khi nói chuyện, cô đang nằm trên giường, nên tôi không nhìn rõ khuôn mặt cô trong phần lớn buổi trò chuyện, nhưng nghe đến đó, cô ngồi dậy và nhìn vào camera, đầu nghiêng sang một bên và khuôn mặt lộ vẻ vẻ thích thú.

“Em bé à, không có ý xúc phạm đâu nhưng tôi không chắc cô đủ trình độ để lên tiếng về quan điểm tình dục”, cô nói.

Nhưng qua mấy tháng vừa rồi, tôi nhận ra một điều: rằng chỉ vì Tess nói điều gì đó với vẻ hết sức tự tin, không có nghĩa là cô đúng. Trước đây cô đúng, vì cô dày dạn với các mối quan hệ hơn hẳn tôi và tôi không đủ lý lẽ để phản bác lại những khẳng định của cô. Nhưng bây giờ bản thân tôi đã có một ít trải nghiệm và cảm thấy có thể tự đưa ra nhận định riêng - và tôi không đồng ý rằng tất cả đàn ông đều giống nhau và không tin tưởng được. Mỗi người, mỗi mối quan hệ đều phức tạp và cá biệt. Và tôi biết Connor rõ hơn Tess nhiều.

Tôi nhận ra mình phải nói chuyện với anh ta, càng sớm càng tốt.

Hôm sau là thứ Hai, tôi mới có thể thực hiện được. Tôi tính đến văn phòng anh ta thật sớm để gặp anh ta trước giờ làm việc nhưng rồi bỏ ý định ấy, tôi biết anh ta thường đi muộn, và có thể vội vàng tất bật. Khi anh ta rời văn phòng đi ăn trưa sẽ là thời điểm thích hợp.

Sáng thứ Hai, tôi dậy sớm, lúc mười giờ, cảm thấy vừa háo hức vừa lo lắng. Tôi không tài nào ngồi yên, và viễn cảnh ngồi đợi trong căn hộ hai tiếng đồng hồ mới lên đường không hấp dẫn chút nào, nên tôi quyết định đi bộ đến Temple. Tôi chưa từng đi bộ xa đến vậy, nhưng đây là một ngày quan trọng, có ý nghĩa với cả cuộc đời tôi và xứng đáng để liều lĩnh.

Tôi lại mặc cái váy mới, và chải tóc cho đến khi những sợi tóc dựng ngược trên đầu tôi vì tĩnh điện. May thay, Jonty đã đi thăm bố mẹ vài ngày, nên tôi không phải nghĩ có biện hộ cho sự chải chuốt của mình. Tôi rời khỏi căn hộ và đi xuống đường mòn Sông Thames. Hôm nay là một ngày đẹp trời đối với tháng Mười, thành phố sáng lên trong nắng, không khí trong lành và đầy sự cổ vũ – dù không phải là tôi cần tiếp năng lượng. Thủy triều đã rút, và gần đến Tower Bridge thì tôi trông thấy một nhóm người dưới đó, dùng tay và các dụng cụ đào quanh lòng sông vừa lộ ra. Tôi nhỏ một hôm Jonty về nhà mình mẩy bẩn thỉu và hào hứng với sở thích môi mà cậu ta gọi là vấy bùn, liên quan đến việc nạo vét tìm Cổ vật dưới trầm tích sông Thames; có lẽ những người này đang làm công

việc đó.

Niềm phấn khích khiến tôi bước thoăn thoắt và chuyến đi đến Temple tốn ít thời gian hơn lịch trình tôi dự đoán. Tôi đến băng ghế của mình lúc mười hai giờ mười lăm phút, ít nhất bốn mươi lăm phút nữa, Connor mới ra ngoài mua sandwich. Tôi cảm thấy bức bối trước cảnh chờ đợi, sau đó nhận ra bây giờ tôi không phải làm như thế nữa. Dù sao, nếu tôi định tiết lộ sự thật, thì không cần phải sắp đặt một cuộc gặp nữa, tôi có thể đi thẳng vào văn phòng anh ta và yêu cầu gặp mặt. Tôi đi qua cánh cửa đen và ấn nút liên lạc nội bộ. Một giọng nữ trả lời, tôi nói to và rõ là mình đến gặp Connor Devine. Tôi được đưa vào một khu vực tiếp tân nhỏ, tồi tàn đến ngạc nhiên. Người phụ nữ ngồi sau bàn nhìn tôi tò mò, và hỏi tôi có hẹn trước không. Không, tôi trả lời, tôi đến đây vì việc cá nhân khẩn cấp. Cô ta hỏi tên tôi, rồi nhấc điện thoại ấn số 3.

“Connor, có cô Leila muốn gặp anh”, cô ta nói, nghe thấy câu thông báo thô lỗ đó, sự tự tin của tôi dao động. Tôi bước lùi lại và mở miệng định cáo từ những Connor đã xuất hiện từ cánh cửa bên, như thể anh ta đợi sẵn đằng sau.

Anh ta nhìn tôi và nhắn trán, rồi liếc qua lễ tân, như muốn hỏi, “Là cô này à?”

Cô ta gật đầu, anh ta nhìn lại tôi.

“Xin lỗi, tôi có biết cô không?” Anh ta nói.

“Có”, tôi đáp. Quyết tâm của tôi tràn về. “Chúng ta ra ngoài đi.”

Anh ta lại nhắn trán, nhưng vẫn theo tôi đi ra phố. Tôi đi xa khỏi văn phòng một quãng, rồi quay lại đối diện với anh ta. Connor nhìn tôi, nghe thật kỳ khôi, cứ như có một dòng điện truyền qua giữa chúng tôi vậy. Chỉ trong vài giây, tôi thu lấy từng chi tiết về anh ta: vệt hồng quanh hai mắt, mái tóc dày cắt ngắn; những chỏm lông phủ lên đỉnh tai trái nơi có một lỗ khuyên được xỏ trong cơn say rượu ở Thái Lan vào năm anh ta nghỉ việc.

“Xin lỗi”, anh ta lặp lại. “Chúng ta gặp nhau bao giờ chưa?”

“Rồi”, tôi gật đầu quả quyết.

Mắt anh ta dò xét trên mặt tôi.

“Cô là em gái của Tobias à?”

“Không, tôi không biết Tobias. Tôi là Leila.” Tôi nhận ra mình đã không thực sự nghĩ tới cách thức tiếp cận vấn đề này. “Tôi biết Tess.”

Vẻ mặt anh ta thay đổi, dịu lại trong chốc lát rồi trở nên cảnh giác. Anh ta đối chân và liếc nhìn xung quanh.

“Cô là ai?” Anh ta nhìn tôi kĩ hơn. “Tôi chưa từng gặp cô trước đây thì phải?”

Tôi nghĩ có lẽ tốt nhất là chưa nên vội nhắc về những cuộc gặp trước đó với anh ta. “Tôi nói với anh rồi. Tôi là bạn của Tess.”

“Cô ấy ổn chứ?” Anh ta nói. “Có chuyện gì xảy ra với cô ấy à?”

“Không”, tôi đáp. “À, có. Tôi có chuyện cần nói với anh. Chúng ta ngồi xuống được không?”

Tôi trở băng ghế và chúng tôi ngồi xuống. Tôi rút trong túi ra tờ báo ngày hôm qua và đặt vào lòng anh ta. Anh ta ném cho tôi một ánh mắt kỳ quặc, trước khi cầm nó lên và nhìn vào trang nhất. Lúc đó, tôi mới để ý đến chiếc nhẫn trên bàn tay trái anh ta. Nó luôn Ở đó, hay là anh ta đã tháo ra khi tôi gặp anh ta lần trước nhỉ?

Sau vài giây, anh ta đặt tờ báo xuống.

“Xin lỗi, tôi hoàn toàn mù tịt, không hiểu nó nói

về cái gì và tôi rất bận. Có chuyện gì xảy ra với Tess sao?” “Phải. Nhưng trước tiên anh cần biết về Adrian Dervish đã”, tôi chỉ tờ báo. “Người khuyến khích người khác tự sát.”

“Ừ”, anh ta sốt ruột nói. “Và?”

Tôi đã tưởng cuộc trò chuyện giữa chúng tôi sẽ tự nhiên trôi chảy, như trên mạng, nhưng không phải. Không còn cảm giác là Connor và tôi có một sự kết nối đặc biệt nữa; trên thực tế, thời điểm đó anh ta có thể là một người hoàn toàn xa lạ. Tôi thấy hốt hoảng vì mọi chuyện không diễn ra như tôi dự tính, và liền thay đổi chiến thuật - có lẽ quá đột ngột.

“Tess đã chết”, tôi nói.

Trong khi nói, tôi cẩn thận quan sát gương mặt anh ta. Có một cú giật ở đuôi mày, nhưng nét mặt anh ta vẫn điềm tĩnh.

“Cái gì?”

“Cô ấy đã tự sát”, tôi nói.

“Khi nào?” Anh ta hỏi nhỏ.

Tôi dừng lại, biết rằng sau khi tôi trả lời, mọi chuyện sẽ không còn như cũ. Connor đã quay đi và đang nhìn chằm chằm về phía xa, miệng hơi hé mở. Chưa phải quá muộn, tôi nghĩ. Tôi có thể nói vỐi anh ta rằng Tess đã chết vào sáng hôm ấy, ở Sointula, rồi đứng lên và rời đi. Nhưng nếu tôi làm thế, anh ta sẽ không bao giờ biết anh ta đang viết thư cho tôi. Mối quan hệ của chúng tôi sẽ chấm dứt và tôi chắc chắn sẽ không bao giờ nhìn thấy hay nghe được gì từ anh ta nữa.

“Khi nào?” Anh ta nhắc lại, quay về phía tôi.

Tôi đặt tay lên vai anh ta trong cử chỉ an ủi và hít một hơi.

“Bốn tháng trước”, tôi trả lời.

Anh ta ngẩng phắt lên. Đôi mắt anh ta gần như biến mất, như thường lệ mỗi khi anh ta thích thú, có điều lúc này anh ta không cười.

“Không thể có chuyện đó. Chúng tôi mới trao đổi email hôm qua.”

“Anh không viết cho cô ấy”, tôi nói. “Ờ, không phải vậy. Ý tôi là, anh viết cho cô ấy, nhưng không phải cô ấy đọc email. Hoặc trả lời email. Mà chính là tôi.”

Anh ta nhìn tôi trùng trùng, cuối cùng khi cất tiếng, giọng anh ta hạ thấp tựa như gầm gừ.

“Cố đang nói cái chết tiệt gì thế? cô là ai?”

Tổng giọng hung hăng của anh ta khiến tôi giật mình. Hình ảnh anh ta đi về phía Chrissie và lũ trẻ trong Ô tô hiện về, và tôi thấy phẫn nộ.

“Tôi nói với anh rồi. Tôi là bạn của Tess – một người bạn tốt hơn anh nhiều. Tôi biết cô ấy rõ hơn anh bội phần.”

“Cô đang nói gì thế?”

“Tôi bảo anh rồi”, tôi phát cáu. “Tess đã chết, và tôi…” “Cố giết cô ấy ư?” Anh ta đột ngột đứng dậy và lùi khỏi băng ghế, nhìn tôi như thể tôi là một con chó dữ.

“Không!” Tôi nói. “Tôi đã giúp cô ấy!” Con phẫn nộ của tôi đột ngột tiêu tan và trong nỗi hốt hoảng, tôi thấy mình sắp òa khóc. “Xin anh hãy ngồi xuống.”

Sau một lúc, anh ta làm theo, nhưng lại quay đi khiến cho tất cả những gì tôi có thể thấy trên khuôn mặt anh ta là thớ thịt giật giật nơi quai hàm.

“Tôi chỉ làm điều mà cô ấy nhờ”, tôi giải thích. “Cô ấy muốn chết nhưng không muốn gây đau khổ cho gia đình, bạn bè, thế nên đã nhờ tôi tiếp quản cuộc sống của cô ấy, để cô ấy có thể lặng lẽ ra đi và…”

“Và tự sát” Connor nói.

“Đúng”, tôi nói.

Connor lại đứng lên, nhưng lần này anh ta không bước ra xa. Anh ta quay lưng lại và tôi quan sát từ phía sau khi anh ta rút bao thuốc và chiếc bật lửa từ trong túi quần. Tôi nghe thấy tiếng click và thấy đôi vai mảnh của anh ta nâng lên hạ xuống dưới lớp áo vest khi rít thuốc.

“Tôi tưởng anh bỏ thuốc rồi”, tôi nói mà không suy nghĩ.

Bàn tay cầm điếu thuốc dừng lại ở lưng chừng, trước khi đi tiếp quãng đường của nó. Sau nhiều hơi thuốc nữa, anh ta mối lên tiếng, không hề quay lại.

“Để tôi làm rõ chuyện này”, anh ta nói. Có thể thấy anh ta đang cố gắng giữ giọng bình tĩnh. “Cô đang tuyên bố rằng Tess có liên quan đến kẻ điên đó, cô ấy đã tự sát, và CỐ – bất kể cô là ai - đã ủng hộ cô ấy làm chuyện đó?”

“Tôi không ủng hộ? cô ấy làm bất cứ chuyện gì. Đó là quyết định của cô ấy”, tôi giải thích ngắn gọn hoàn cảnh tôi gặp gỡ Adrian và mối liên quan giữa tôi với Tess diễn ra sau đó. Tôi nói với cái lưng của anh ta, nhìn chằm chằm vào những đường kẻ trên áo vest, muốn xoay anh ta lại. “Cô ấy tỉnh táo”, tôi nói thêm. “Cô ấy biết mình muốn gì.”

Connor im lặng trong vài giây, rồi vứt điếu thuốc xuống. Anh ta không dùng giày nghiền nát nó và làn khói bay về phía tôi. Tôi không bận tâm, như tôi thường thế; bằng cách nào đó, nó không có mùi khó chịu như khói thuốc của người khác. Cuối cùng anh ta quay lại đối diện tôi và nói, như thể nó vừa lóe lên trong đầu anh ta, “Ý cô là, tôi đã viết cho cô suốt thời gian vừa qua?” Tôi gật đầu, và mỉm cười. Không có gì ngạc nhiên khi anh ta phải mất một lúc lâu mới tiêu hóa được sự thật: có quá nhiều thứ phải đón nhận. Giờ đây, tôi hi vọng những ám chỉ đang trở nên rõ ràng. Anh ta nghĩ người mình yêu đang ở Canada, ngoài tầm với, nhưng thực ra cô ấy ở ngay trước mặt anh ta.

Connor đang nhìn xoáy vào tôi, nhưng tôi không thể hiểu được vẻ mặt anh ta. Tôi có hình dung những gì đang diễn ra trong đầu anh ta, và tôi nhận ra anh ta không biết mình đang đứng ở đâu, đối với tôi, Leila. Anh ta có thể nghĩ tôi chỉ đang làm công việc của mình khi viết email cho anh ta; rằng tôi không hề quan tâm đến anh ta

“Tôi nói thật, anh biết đấy”, tôi nói. “Tất cả những điều tôi đã viết.”

Anh ta chẳng nói gì, tiếp tục nhìn tôi chằm chằm. Tôi bắt đầu cảm thấy hơi bối rối, và tìm thêm được vài từ. “Tôi, hiện tôi không hẹn hò với ai, anh biết đấy. Tôi tự do.”

độc thân. Và

Cuối cùng, nghe đến đây, miệng anh ta cong lên nom giống một nụ cười, và anh ta nói, chậm rãi và rành rọt. “Cô bị điên à?”

Đến lượt tôi nghẹn giọng. Connor nhìn tôi từ trên xuống dưới vải bộ dạng cường điệu, với nụ cười nửa miệng kỳ lạ ấy. “Cô thực sự nghĩ rằng tôi sẽ hẹn hò với cô sao?” Anh ta hỏi.

Cảm giác như có một quả bóng bay bị thổi phồng đột ngột trong ngực tôi. Nhịp thở của tôi trở nên gấp gáp, và trong một lúc, tôi không thể làm gì ngoài việc nhìn sững Connor. Anh ta điềm tĩnh nhìn lại tôi; giờ đây anh ta thật xấu xí, mang gương mặt của một kẻ xa lạ. Và rồi, cũng đột ngột như vậy, tôi bị kích động bởi cơn giận dữ.

“Tôi cho rằng sẽ khó để anh hẹn hò với bất cứ ai”, tôi nói, “vì anh đã kết hôn rồi!”

Connor lộ vẻ nao núng.

“Tôi đã thấy anh! Anh Với Chrissie và lũ trẻ, thật đầm ấm trong xe. Anh nói mình đã ly thân mấy năm trước! Anh nói anh yêu tôi và muốn ở bên tôi. Tại sao anh nói thế? Tôi…”

“Cái gì? cô thấy chúng tôi khi nào? cô theo dõi tôi à?” Tôi lắc đầu, tức giận vì anh ta đang né tránh câu hỏi. “Anh đã nói anh yêu tôi”, tôi lặp lại, to và chậm, như đang nói với một đứa trẻ.

“Ssssh”, Connor rít lên, trước khi dịu nét mặt xuống vì có ai đó ở sau lưng tôi. Tôi quay lại và thấy hai đồng nghiệp của anh ta đã ra khỏi văn phòng đi ăn trưa, và đang liếc nhìn chúng tôi vẻ tò mò. Connor gật đầu cười với họ, vẻ tươi cười đó biến mất khỏi gương mặt anh ta ngay khi họ đi khuất.

“Anh đã nói anh yêu tôi…” Tôi bắt đầu lặp lại. “Thôi đi”, anh ta nói. “Tôi thậm chí không biết cô.” “Tôi là Tess!” Tôi gần như hét lên. Làm sao anh ta vẫn không hiểu? “Anh không hiểu sao? Tôi là Tess.” Connor phá lên một tiếng cười khô khốc, ghê rợn.

“Tôi không biết cái quái gì đang diễn ra ở đây, nhưng tôi biết chắc chắn một điều, cô tuyệt đối không phải là Tess.”

“Tất nhiên tôi không thực sự là Tess.” Lúc này tôi khua cả hai tay, sự tức giận và vỡ mộng khiến cho những suy nghĩ của tôi vỡ ra thành hỗn loạn vô lý. “Những điều anh đã viết đều là dối trá sao? Tôi đã kể cho anh về cái chân lợn! Anh nói anh đã bật cười vui vẻ ở tòa án, chỉ vì nghĩ đến tôi! Có đúng không?”

Với mỗi câu hỏi, giọng tôi lại lớn hơn, và tôi nhận thấy những người qua đường đang nhìn chúng tôi. Connor đã lùi lại và nhìn tôi trân trân.

“Tránh xa tôi ra”, anh ta nói.

Ánh mắt anh ta nhìn tôi, hòa trộn giữa ghê tởm và sợ hãi, thật quá sức chịu đựng.

“Còn anh là…” Tôi dừng lại vì không nghĩ ra được từ chuẩn xác, rồi tôi tìm được - một trong những từ yêu thích của Tess, mà tôi chưa nói to bao giờ – “đồ mất dạy.”

Như tôi mong đợi, Connor trông đầy kinh ngạc; nhưng cái từ đó cũng dập tắt sự giận dữ trong tôi. Tôi bỗng thấy kiệt sức, và khi cất tiếng lần nữa, giọng tôi trở về bình thường.

“Chrissie có biết không?” Tôi hỏi.

“Tất nhiên là không”, Connor đáp.

“Cô ấy có bỏ anh nếu cô ấy biết chuyện không?”

Anh ta nhìn tôi dữ tợn.

“Cô đang dọa tôi đấy à?”

“Không”, tôi nói.

“Xin trả lời câu hỏi của cô. Tôi không biết. Tôi không biết Chrissie sẽ làm gì nếu cô ấy biết chuyện. Tôi nghĩ là cô ấy sẽ bỏ tôi.” Anh ta dường như đang ở rất xa, như đang nói chuyện với chính mình. “Tôi không thể tin Tess đã chết. Tôi không thể tin cô… Tôi không thể tin tất cả những chuyện này.”

“Tôi không nói dối”, tôi nói. “Anh mới là kẻ dối trá.” Connor bật ra tiếng cười lạnh lùng, chói tại đó. “Cô đang gọi tôi là đồ lừa đảo đấy à?”

Nhưng tôi không còn sức lực để đáp trả và khởi sự một cuộc cãi vã nữa và hình như anh ta cũng vậy. Đôi vai anh ta rũ xuống.

“Cô là ai?” Anh ta lặng lẽ nói, nhưng đó không thực sự là câu hỏi. Và sau đó, không lời tạm biệt, anh ta quay người bước đi, không dừng lại ở văn phòng mà tiếp tục đi lên phía đường lớn. Tôi nhìn theo cho đến lúc anh ta khuất dạng.

Tôi đứng im trong nhiều phút, trước khi nhận ra rằng Connor có thể quay về làm việc bất cứ lúc nào. Tôi bắt đầu rảo bước rồi nhanh chóng chuyển sang chạy, loạng choạng trên đôi giày trơn trượt khi cố thoát khỏi Temple. Tôi mất hết phương hướng, và thứ đã từng giống như một vùng đất phép thuật giờ đây biến thành một pháo đài, mỗi đường phố đều rải sỏi giống nhau đến hoa mắt và nườm nượp những người đàn ông mặc đồ Công sở giống hệt Connor.

Cuối cùng tôi tìm được một lối ra, và đặt chân lên con đường Victoria Embankment với sự nhẹ nhõm. Những làn đường giao thông nằm giữa tôi và con sông nhưng tôi băng qua đường mà không chờ khoảng trống thích hợp, lờ mờ nghe thấy tiếng còi xe và la ó do tôi gây ra. Tôi dựa vào bức tường phía trên mặt nưỐC. Được chống đô, Cơ thể tôi lả đi. Tôi chỉ có thể làm được đến thế để giữ cho đầu mình ngẩng cao.

Tôi không cảm thấy tức giận, hay thậm chí thất vọng Với bản thân. Giống như tôi đã bị cạn kiệt cảm xúc. Cái từ “rỗng tuếch” xuất hiện trong đầu tôi - Ở trường, mọi người thường ném từ ấy ra đối với những sự kiện vớ vẩn và tôi đã gạt bỏ nó như một cách nói lóng, nhưng bây giờ nó là từ duy nhất phù hợp. Tôi cảm thấy mình hoàn toàn rỗng tuếch, cơ thể tôi vô dụng như một vỏ chuối.

Dòng sông màu nâu lấp lánh dưới nắng, thủy triều vẫn xuống thấp, làn gió thổi vào mang theo hơi ẩm ướt. Ở bờ bên kia, tôi có thể trông thấy những người đang dựa vào tường giống tôi, song không như tôi, họ dường như đều đi thành từng cặp, nép sát vào nhau cùng nhìn ra mặt nước. Tôi quay sang hướng đông, phía Tower Bridge, và thấy đám người vầy bùn vẫn cặm cụi dưới lòng sông. Những vóc dáng nhỏ xíu, lom khom trong những chiếc áo jacket sáng rực rất có thể ở trên một hành tinh khác. Tess từng nói cuộc sống của người lớn chỉ là một bài tập điền vào chỗ trống thời gian: nếu vậy, tôi nghĩ, những người này có lẽ đã có ý tưởng đúng đắn. Đào bởi trong bùn là ngớ ngẩn, nhưng ít ra nó vô hại.

Tôi nhắm mắt lại, nhưng vẫn cố gắng phân tích chuyện với Connor khiến đầu tôi đau như búa bổ. Làm sao tôi có thể hiểu sai tình hình một cách tai hại như vậy? Làm sao một điều có cảm giác quá đỗi chân thực vôi tôi lại hoàn toàn không có ý nghĩa gì hết?

Mình nên trở về căn hộ, tôi nghĩ, và tưởng tượng cái laptop đang chờ tôi trên bàn, ánh sáng lập lòe trên sợi dây nguồn tỏa rực rỡ trong bóng che của tấm biển quán ăn. Nhưng hình ảnh ấy không còn có sức an ủi. Còn có ý nghĩa gì, khi sẽ chẳng có bất kỳ email nào từ Connor nữa? Thực ra, ý nghĩ quay về với công việc, tiếp tục làm Tess mà không có anh ta, đột nhiên trở nên đáng ghét.

Điều tôi làm tiếp theo không phải do giận dữ hay một dạng cảm xúc bồng bột khác. Mà đó là một quyết định lý trí; hoặc nó mang cảm giác ấy vào thời điểm đó. Trên thực tế, tôi không thuộc về xã hội bên ngoài, và tôi không chịu nổi ý nghĩ về căn hộ, với những liên đới của nó. Tôi cần một nơi khác để đi. Ngoài ra, tôi không thể tin vào nhận định của mình được nữa, và, nếu không có nó, thì tôi còn lại gì? Tôi phải đầu hàng, và để ai đó bước vào kiểm soát.

Tôi lấy điện thoại ra và tra Google tìm đồn cảnh sát gần nhất.

Nó nằm gần đường Fleet, sau năm phút, tôi đến nơi. Tôi chưa bao giờ đến một đồn cảnh sát, nhưng nó không khác nhiều so với hình dung của tôi. Mặc dù bên ngoài khá cũ kĩ và bề thế, nhưng bên trong không thú vị hơn một sảnh ngân hàng, với những cái ghế nhựa đóng xuống nền nhà và những kệ tài liệu trên tường. Có một dòng người nhỏ trước bàn tiếp dân, và tôi đứng đợi đầy nôn nóng sau một cặp đôi ngoại quốc đang lắp bắp trình bày rằng họ cần báo việc mất điện thoại vì mục đích bảo hiểm, rồi bàn bạc với nhau rõ lâu ngay cả vối những câu hỏi đơn giản nhất mà cảnh sát đưa ra cho họ.

Sau mười lăm phút, tôi cảm thấy buộc phải hành động. “Xin lỗi”, tôi nói to vải người đàn ông sau ô cửa.

Ông ta có gương mặt mệt mỏi, núng nính. “Tôi có chuyện quan trọng cần trình báo.”

“Ai mà chẳng thế”, ông ta trả lời. “Cô cứ chờ đến lượt đi.”

Cuối cùng cặp đôi cũng rời đi, cầm khư khư biểu mẫu đã điền, tôi bước đến chỗ tấm kính. Viên cảnh sát nhưởng mày trong vẻ dò hỏi uể oải.

“Tôi muốn khai nhận”, tôi nói.

“Về chuyện gì?”

“Sự dính líu của tôi tới Adrian Dervish.”

“Và người đó là…?”

Tôi thở hắt ra sốt ruột, và lần thứ hai trong sáng hôm đó, tôi lấy ra tờ báo ngày hôm qua và giả nó lên tấm kính. Người đàn ông liếc nhìn nó.

“Cô biết người này sao?”

“Vâng, tôi biết”, tôi nói. “Một chút. Ý tôi là, tôi không biết anh ta đang ở đâu.”

Ông ta ngó tờ báo lần nữa.

“Thưa cô, mời cô ngồi chờ, sẽ có người đến tiếp nhận lời trình báo của cô.”

Phải thừa nhận rằng tôi có phần ngạc nhiên và thất vọng bởi sự thiếu sốt sắng và phấn khích của viên cảnh sát, thái độ ấy tiếp diễn đến khi, sau hai mươi phút chờ đợi, tôi được gọi vào để trình báo. Một nữ cảnh sát trẻ tóc vàng đưa tôi đi qua một cánh cửa vào một căn phòng nhỏ có trang bị một chiếc bàn và bốn chiếc ghế. Chúng tôi ngồi đối diện nhau và cô ấy ấn nút play chiếc máy ghi âm kiểu cũ với hai cuộn băng cassett. Trong lúc tôi nói, cô cũng ghi chú, cầm cây bút giống cách cầm bút của Rashida, bàn tay nắm lại phía trên.

Người phụ nữ dễ chịu hơn người đàn ông ở bàn ngoài và dường như biết đôi điều về vụ việc, nếu không phải là nhiều hơn hẳn so với thông tin có thể thu thập từ bài báo. Cô bắt đầu bằng việc đặt một số câu hỏi – tôi đã gặp Adrian như thế nào, và những câu đại loại – nhưng khi cô nhận ra tôi sẽ kể một câu chuyện chi tiết, theo trình tự thời gian về mối quan hệ giữa tôi với anh ta, thì cô để tôi nói mà ít khi xen vào.

Tôi chưa bao giờ lo lắng như thế, nhưng trong lúc nói, tôi thấy rằng việc trút bỏ gánh nặng khá thoải mái. Thật vui khi có được sự quan tâm chăm chú của người khác. Nhưng sau đó, khi buổi thẩm vấn đi được nửa giờ đồng hồ, mọi thứ đột ngột thay đổi.

Lúc đó tôi kể đến đoạn Tess và tôi tính toán kế hoạch tiền-tri-phòng của cô, và đang mô tả những sắp xếp ở Sointula thì người phụ nữ ngắt lời.

“Adrian có khi nào ép cô thực hiện âm mưu không?” Tôi ngơ ngác, hỏi ý cô là gì?

“Khi thấy rằng cô sẽ không thực hiện đến cùng kế hoạch, Adrian Dervish có tìm cách ép buộc cô làm không?” cô ấy nghĩ tôi đã không làm chuyện đó. Rằng tôi chỉ là một Randall Howard khác.

Nó giống như với Connor lúc trước, khi anh ta hỏi Tess chết khi nào – một cơ hội để ngăn sự thật không phơi bày hết ra, cùng với tất cả những phức tạp đi cùng nó. Tuy nhiên lần này tôi không do dự.

“Không, cô không hiểu”, tôi nói. “Tôi đã đi đến cùng. Tess đã tự sát, và tôi đã nhận lời đóng vai cô ấy.”

Vài giây tiếp theo, tiếng băng quay rì rì dường như to lên gấp bội. Rồi cô cảnh sát nghiêng người về cái máy và tuyên bố buổi phỏng vấn tạm dừng. Cô đứng lên và rời khỏi phòng, mấy phút sau mới quay lại. Cô ngồi xuống, bật lại máy ghi âm, giọng cô rành mạch hơn và nghiêm trang hơn:

“Cô bị bắt vì tình nghi hỗ trợ hoặc khuyến khích vụ tự sát của Tess Williams.”

Tôi nói mình không cần luật sư, nhưng họ dường như không tin tôi. Cứ cách nửa tiếng, chánh thanh tra Winder sẽ ngừng thẩm vấn để nhắc tôi rằng tôi có quyền có người đại diện về pháp lý và hỏi tôi có muốn thực hiện không. Sau lần thứ ba, tôi hỏi ông rằng tại sao ông cứ hỏi mãi vậy trong khi câu trả lời của tôi luôn giống nhau.

“Chúng tôi cần chắc chắn rằng cô quả quyết, và cô hiểu thấu đáo quyết định của mình”, ông nói. Vả lại, ông bổ sung, những cuộn băng thẩm vấn chỉ ghi được bốn làm phút một lần, nên bằng cách này, lời nhắc nhở sẽ được đưa vào mỗi mặt bằng.

Điều này thôi thúc tôi hỏi một câu mà tôi đã băn khoăn từ lúc bước vào đồn: tại sao họ sử dụng những cuộn bằng đời cũ, mà không phải ghi âm bằng kỹ thuật số:

“Kỹ thuật số dễ bị can thiệp hơn”, ông nói.

Tôi nghĩ đến phần mềm tôi đã sử dụng để bắt chước giọng Tess qua điện thoại; tuy nhiên tôi không đề cập đến nó vì tôi đang kể lại tất cả theo trình tự và vẫn chưa đến phần đó của câu chuyện.

Chánh thanh tra Winder là người phụ trách điều tra vụ Adrian Dervish, ông đã đến đồn cảnh sát Fleet Street sau khi tôi bị bắt chỉ hơn một giờ. Trong lúc chờ đợi, tôi đã giao nộp chìa khóa căn hộ để họ lục soát nó, sau khi được phép gọi điện thoại cho Jonty để đảm bảo cậu ta vẫn Ở nhà bố mẹ. Tôi không muốn cậu ta bị hoảng hốt khi thấy cảnh sát xuất hiện.

Jonty xác nhận mình vẫn ở Cardiff và hôm sau mới về. “Mọi chuyện ổn chứ?” Cậu ta hỏi.

“Ổn”, tôi nói một mạch. “Chỉ là tôi ở nhà bạn cả ngày và Amazon sẽ giao một món hàng đến căn hộ thôi.” Trong lúc nói, tôi luống cuống thấy cô cảnh sát trẻ đang ghi lại những lời tôi nói.

“Người bạn nào?” Jonty có vẻ thích thú.

“Tôi phải đi đây”, tôi nói.

Từ lúc đó cho đến khi thanh tra Winder đến, hầu như tôi bị bỏ lại một mình. Ban đầu họ mời tôi một cốc trà và tôi đồng ý, dù rằng tôi không thích trà. Cái CỐc bằng polystyrene giờ nằm trên bàn, trà bên trong chưa được đụng đến và lạnh ngắt, tôi nhìn nó chằm chằm và nghĩ đến nhà tù. Tôi đã thấy những bức ảnh phòng giam trên tivi trông chúng không đến nỗi tệ. Có lẽ nó không quá khác so với ở căn hộ, tôi nghĩ.

Khi thanh tra Winder bước vào, không khí trong phòng dường như thay đổi; tôi có thể cảm thấy cô cảnh sát ngồi thẳng người hơn. Ông đã già, nước da đỏ au lốm đốm đồi mồi, cái mũi gồ ghề và hai mu bàn tay đầy lông đen. Ông tự giới thiệu, Vải giọng nói khá nặng, sau đó ngồi xuống và cuộn băng tiếp tục chạy.

Không giống như người thẩm vấn trước, thanh tra Winder biết rất nhiều về vụ việc và hỏi những câu chi tiết về cách thức hoạt động của Red Pill, về những gì Adrian đã nói vải tôi Ở Heath và những điều kiện cụ thể của thỏa thuận vải Tess.

“Tess có trả tiền cho Adrian không?” Ông hỏi.

Tôi nói tôi không biết, và thú nhận ý nghĩ ấy chưa bao giờ xuất hiện trong đầu tôi.

“Chúng tôi có lý do để tin rằng Tess có thể đã đưa cho Adrian một khoản tiền lớn để phục vụ cho chuyện mạo danh”, và giải thích rằng khách hàng của Randall Howard, “Mark”, nói với cảnh sát rằng anh ta đã đưa cho Adrian 15.000 bảng.

“Nếu điều đó đúng”, ông nói thêm, “nghĩa là Adrian đang thu lợi từ cái chết của người khác. Nó sẽ khiến chuyện này trở thành vấn đề nghiêm trọng. Cô hiểu không, Leila?” Tôi gật đầu.

“Adrian có trả tiền cho cổ không?” Ông hỏi.

Tôi do dự. “Không hẳn”

“Ý cô là gì?”

“Tôi nghĩ anh ta thực sự đã gửi tiền cho tôi, nhưng nó đến từ Tess.”

“Bao nhiêu?”

“Tám mươi tám bảng?”

“Một ngày?”

“Một tuần.”

Ông cau mày. “Đó là một con số nực cười.”

“Tôi chỉ cần từng đó để sống”, tôi nói. “Đó là công việc toàn thời gian, ông thấy đấy.”

Thanh tra Winder nhìn tôi không chớp mắt trong một lúc.

“Tại sao cô làm chuyện đó, Leila?”

“Tess muốn chết, tôi nghĩ cô ấy có thể làm thế, nên đã giúp cô ấy.”

“Và nếu cô không giúp cô ấy, cô có nghĩ cô ấy sẽ vẫn làm chuyện đó? Hay cô ấy sẽ sống đến hôm nay?”

“Tôi không biết”, cuối cùng tôi nói.

Sau đó, ông hỏi về trạng thái tinh thần của của tôi. Tôi có bế tắc không? Tôi có từng nghĩ đến chuyện tự sát không? Tôi phủ nhận một cách quả quyết.

“Tuy nhiên cô vô cùng đồng cảm với những người muốn kết thúc cuộc sống vô vị của mình đến mức sẵn sàng chịu nguy cơ bị bắt vì họ?”

Tôi chưa từng nghĩ đến nó theo những khía cạnh như vậy, nhưng tôi gật đầu.

“Tôi cho là vậy.”

Có hai câu ông hỏi đi hỏi lại mà tôi không có câu trả lời. Hiện Adrian ở đâu? Và xác của Tess ở đâu?

Sau ba tiếng thẩm vấn, thanh tra Winder nói ngày hôm nay thế là đủ. Lúc đó là tám giờ tối. Khoảnh khắc ông tắt cuộn băng, tôi nhận ra mình chưa bao giờ mệt như thế trong đời. Tôi có thể gục đầu xuống bàn và ngủ luôn tại đó. Nhưng họ đưa tôi đến một phòng giam, và tôi cuộn tròn trên chiếc giường cứng, hẹp.

Sau đó, tưởng chừng như sau vài phút, tôi bị lay tỉnh dậy và được thông báo rằng tôi được cho tại ngoại. Lúc đó là buổi sáng, thanh tra Winder đã đi khỏi, tôi trở về dưới quyền phụ trách của cô cảnh sát trẻ. Tôi không được ra khỏi London mà không báo với họ, cô ấy bảo thế, và phải báo cáo lên đồn cảnh sát hàng tháng.

“Những chuyện này sẽ kéo dài trong bao lâu?” Tôi hỏi cô ấy, khi ký vào giấy bảo lãnh tại ngoại.

“Tôi không thể nói được”, cô ấy trả lời. “Có lẽ cô không ngạc nhiên khi biết được chúng tôi chưa từng gặp trường hợp nào như thế này. Đó là một lĩnh vực mới mẻ với chúng tôi.”

Đến lúc này đã được chừng đó. Mặt trời đang lên và tôi có thể nghe thấy lũ côn trùng bắt đầu làm việc. Tôi định về nhà vào ngày mai – chuyến bay lúc ba giờ ba mươi lăm phút chiều - nhưng tôi đang định đổi lại. Annie nói chị sẽ Ở thêm một tuần nữa, và tôi nghĩ tôi cũng có thể làm thế: chỉ cần đến một tiệm cà phê internet trong thị trấn, đổi lại vé và gửi email cho Jonty thông báo tôi sẽ về muộn một tuần. Annie bảo tôi có thể đánh bóng thêm vài cái đôn nữa. Tôi nghĩ mình có thể bắt taxi đến Alhambra.

« Lùi
Tiến »