Hôn Em Trước Đã

Lượt đọc: 266 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Thứ Bảy, ngày 20 tháng Tám năm 2011

Hình như hôm nay là ngày Massage ở Cộng đồng thì phải. Khi tôi đi dạo quanh, một số công dân đang nằm dài trước của nhà họ như xác chết trong khi những người khác ngồi cưỡi lên họ, quả thực là ngồi lên mông họ, xoa bóp làn da nâu của họ trong sự tập trung im lặng. Tôi chưa bao giờ trông thấy một màn massage quy củ – thỉnh thoảng tôi vẫn xoa bóp cho mẹ, nhưng chỉ với hai bàn tay hoặc bàn chân bà – và tôi thấy hình ảnh đó khá ngượng ngùng. Nó cũng bất tiện vì tôi phải đến gần để nhìn sát vào những nét mặt nhăn nhúm của những người đang bị đấm liên hồi, để kiểm tra xem tôi có nhận ra họ hay không.

Cuối cùng tôi chắc chắn rằng tất cả bọn họ đều là người “cũ” mà tôi đã cho xem bức ảnh của Tess, và không có người mới đến nào cho tới xế chiều, khi ba người đàn ông Pháp xuất hiện trong một chiếc xe tải màu cam chạy rì rì. Khi tôi hỏi thăm thì họ nói mùa hè năm ngoái họ 1 không ở đây và đây là lần đầu tiên họ đến nơi này, nhưng tôi vẫn cứ cho họ xem ảnh Tess. “Non, rất tiếc”, họ nói, và một người nói thêm với những người kia, “Mais, très belle” tôi hiểu được với trình độ tiếng Pháp phổ thông của mình. Anh ta lắm mụn trứng cá kinh khủng, như những núi lửa nhỏ đỏ rực trải khắp mọi không gian có thể trên mặt và bò xuống Cổ để hội ngộ với đám lông trên vùng ngực trần. Tôi hình dung nó còn lan xuống người anh ta như dòng dung nham chầm chậm chảy, cho đến cuối cùng chỉ còn hai bàn chân anh ta là không bị đụng đến. Thật khó để không chùn bưỐC, và tôi tự hỏi không biết anh ta có bận lòng không nếu chẳng bao giờ có người nào nói về anh ta bằng từ “très belle”.

Nhìn anh ta, tôi nhớ rằng tôi chưa hề kiểm tra vẻ ngoài của mình từ lúc đến đây, nên tôi quay về tổ mượn Annie chiếc gương. Hình ảnh của tôi có chút Sốc: bất chấp đã trú nắng gần như cả ngày dưới bóng cây, da tôi vẫn hồng như cái bánh Strawberry Angel Delight. Chắc chắn là do chuyến đi vào thị trấn hôm qua. Annie, quan sát từ nãy đến giờ, nhất quyết đòi bôi vào hai má và mũi tôi một thứ gọi là lô hội được chị khẳng định có “đặc tính chữa lành”, song không có internet, tôi không thể chứng thực được.

Rõ ngớ ngẩn”, chị nói. “Da cô phải dùng chỉ số chống nắng 50. Chẳng lẽ mẹ cô chưa từng dặn cô phải bôi kem chống nắng sao?”

Tiếng Pháp, nghĩa là “Rất đẹp”. Tôi cho cô biết rằng ở Kentish Town người ta không cần đến thứ đó, nhất là khi chẳng mấy khi ra khỏi nhà.

Tôi nhận ra rằng tôi chưa đề cập vai trò của Adrian trong giai đoạn chuẩn bị. Đó là vì anh rất ít khi nhúng tay vào, không nhiều như tôi dự đoán. Tôi đã trông chờ để báo cáo anh quá trình tôi thu thập thông tin, trạng thái tinh thần của Tess…, và lưu giữ những ghi chú tổng quát, nhưng ngày qua ngày, rồi tuần qua tuần, anh không hề hỏi đến.

Đã hai tuần kể từ khi bắt đầu dự án, vẫn không nhận được chữ nào từ anh, tôi bắt đầu cho rằng có lẽ anh chờ tôi liên lạc – rằng đây là một dạng bài kiểm tra đầu vào. Thế là tôi chuẩn bị một báo cáo đầy đủ và chuẩn bị gửi email cho anh thì tôi nhận ra rằng tôi không biết gửi đi đâu. Hôm ấy Heath anh đã bảo chúng tôi không nên đả động đến vụ này trên Red Pill, kể cả trong tin nhắn riêng, anh giải thích rằng một số thành viên là những cao thủ hacker và, vải sự tận tình của họ dành cho trang web, họ có thể nhận nhiệm vụ đột nhập vào hòm thư của anh để tìm hiểu cách tư duy của anh. Tuy nhiên anh không cho tôi địa chỉ email hay số điện thoại thay thế.

Tôi nhớ câu anh nói khi chúng tôi gặp nhau ở Hampstead Heath - “Em dùng Facebook đúng không?” ngụ ý rằng anh cũng sẽ ở trên đó, nhưng tên anh để trống. Nên tôi không còn cách nào phải gửi cho anh một tin nhắn viết rất thận trọng trên Red Pill.

STEN

Em đang băn khoăn không biết anh có cần thông tin nào về dự án đang tiến hành không?

Adrian,

Leila.

Câu trả lời của anh đến sau bảy tiếng rưỡi.

Tôi hoàn toàn tin tưởng em, tôi dám chắc em kiểm soát được nó. Gửi PM không phải ý hay đâu.

Như tôi đã nói, tôi ngạc nhiên vì anh không “sát sao? hơn với dự án, nhưng hài lòng vì anh tin tưởng để tôi tự thực hiện mà không cần giám sát. Và đã có sự thay đổi sau khi tôi liên lạc: kể từ đó, mỗi thứ Tư hàng tuần, anh sẽ gửi PM cho tôi – không đề cập dự án, mà chứa một câu danh ngôn đơn độc, riêng lẻ, truyền cảm hứng, như để động viên tôi từ xa.

Những người vĩ đại giống như những con đại bàng xây tổ của mình trên đỉnh non cao ngất.

Hoặc: Nhân loại cứ sống, nhưng chỉ một số ít đặt câu hỏi về cuộc sống đó.

Tất nhiên tôi vẫn “gặp” anh hàng ngày, trên các diễn đàn của Red Pill. Vì chúng tôi đã thống nhất tôi tiếp tục duy trì sự hiện diện trên trang web, hàng ngày đăng nhập và góp lời vào bất cứ đề tài thảo luận nào sôi nổi nhất. Nhưng trái tim tôi không đặt ở đó, không mê mải như với dự án,

Private message: tin nhắn riêng. và tôi cảm thấy mình bị loại khỏi những gì đang diễn ra trên đó, tất cả những tranh luận về những khái niệm trừu tượng.

Cảm giác thật lạ lùng khi gặp bộ mặt xã giao của Adrian đồng thời cũng có bí mật riêng với anh, biết những điều về cá nhân anh mà những người khác không biết. Chẳng hạn như trong cuộc thảo luận một podcast Adrian đăng lên về sự ganh đua giữa anh chị em ruột, anh nhắc đến “em gái” anh. Tuy nhiên, tôi biết anh là con một, giống tôi, vì anh đã cho tôi biết ở Heath ngày hôm đó. Tôi hiểu anh dùng chữ “em gái” này để phục vụ cho luận điểm của mình, nhưng mọi người trên trang web sẽ tự nhiên cho rằng anh có em gái thật. Ý nghĩ chỉ có mình tôi biết sự thật này vừa phấn khích vừa sờ sợ, nhưng tôi cảm thấy giờ không phải là lúc kích động những cảm xúc đó. Tôi phải giữ một cái đầu tỉnh táo và sáng suốt cho dự án.

Còn một lý do tầm thường hơn khiến tôi không toàn tâm toàn ý với trang web: trong những tuần chuẩn bị cuối cùng đó, thời gian của tôi càng lúc càng ít ỏi. Riêng Công việc của Tess thôi cũng chiếm hết thời gian tôi thức, nhưng tôi sẽ không nhận được thù lao 88 bảng một tuần cho đến khi “trả phòng”, vì thế cho đến lúc đó tôi vẫn phải tiếp tục làm công việc kiểm lỗi phần mềm cho Damian.

Trong tháng tiếp theo, tôi gần như không rời căn hộ. Tôi ngồi trước máy tính, trong bóng che của tấm biển quán ăn, mười tám tiếng một ngày, đôi khi hai mươi tiếng.

Và tôi phải thú nhận rằng khi ngày 14 tháng Tư đến gần, tôi bắt đầu cảm thấy lung lay theo một cách không giống với bản tính mình. Cái nhận thức đột ngột rằng để biết đầy đủ bên trong lẫn bên ngoài cuộc sống của Tess sẽ là một nhiệm vụ không bao giờ kết thúc, giống như cố lấp một cái hố và nhận ra nó không có đáy.

Đôi khi, trong những ngày cuối cùng ấy, tôi cảm thấy chuyện này không quan trọng. Tôi sẽ không cần nhiều thông tin đến thế để đóng giả Tess: mọi người hầu như chỉ quan tâm đến bản thân họ, và không quá chú ý đến người khác, kể cả những người bạn thân của mình. Rồi qua tháng tiếp theo, tôi lại cảm thấy mình chưa chuẩn bị gì hết và sẽ bị phát hiện ngay lập tức. Tôi nghiêng ngả giữa hai cảm giác này, như nút chỉnh âm thanh ban đầu bị vặn tịt đi rồi lại cao vỐng lên.

Thời gian biểu cuộc sống của Tess đang dần được lấp kín, nhưng nhiệm vụ mới của tôi là tìm ra quan điểm của cô trong mọi chuyện. Trong một số trường hợp nó đi cùng với thông tin cô cung cấp. Ví dụ như khi cô kể với tôi rằng cô bạn Susie mới bỏ việc trong ngành quảng cáo để quay về trường đại học, nó thể hiện rõ qua nhận xét của cô - “Cô nàng bản lĩnh” – tức cô tán thành hành động đó. Nhưng với nhiều sự việc khác cô không nói rõ ý kiến của mình bằng cách này hay cách khác, và tôi phải vùi đầu xác minh những dữ kiện mà tôi đã lơ là không hỏi đến.

Tôi lại thảo một danh sách dài các câu hỏi để đặt cho cô. Những buổi họp qua Skype giữa chúng tôi kéo dài. Cô đã bầu cho ai trong kỳ bầu cử cuối cùng? Loài hoa yêu thích của cô? cô uống trà có cho đường không? Không giống như trước, Tess không mất kiên nhẫn với những câu hỏi của tôi. Cô ở trong một trạng thái kỳ lạ trong hai tuần cuối cùng ấy, lịch sự nhưng xa cách và bồn chồn.

Trừ một buổi tối, cô bật khóc.

“Tôi rất sợ”, cô nói. Giờ đây tôi nhớ lại những phần khác trong cuộc trò chuyện. Tôi nhớ mình đã tổng kết những lời của Socrates về cái chết. “Cái chết hoặc là một giấc ngủ thiên thu, không mộng mị, nơi mà người chết không cảm nhận được bất cứ điều gì, hoặc chết là khi linh hồn được đưa đến một miền đất khác.” Vì thế, tôi giải thích với cô, không có gì phải sợ cả.

Khi cô vẫn khóc, tôi dẫn lời của Marcus Aurelius: “Nó là một trong những chức năng cao quý nhất của tư duy để biết liệu đã đến lúc bước ra khỏi thế giới hay chưa.”

Hình như cô không nghe thấy tôi nói. “Nó chỉ là… sự trống rỗng… Cô hiểu không?”

Cô hít mạnh, lau mắt và nhắc lại, rõ hơn: “Có hiểu không?” cô muốn tôi bật camera lên, và tôi phải nhắc cô rằng Adrian đã khuyên không nên làm thế.

Marcus Aurelius Antoninus Augustus: Hoàng đế La Mã, trị vì từ năm 161 đến năm 180. “Mẹ kiếp Adrian”, cô nói.

לל “Tôi không nghĩ đó là ý hay.” Và, vẫn bằng cái giọng lạ lẫm, lí nhí ấy, “Tôi không thể làm được.”

“Tất nhiên là chị còn nhiều thời gian”, tôi bảo. Tôi còn biết nói gì khác đây?

Cảnh sát hỏi tôi, “Cô ấy có từng biểu lộ mối hoài nghi về quyết định của mình không? Quyết tâm của cô ấy có bao giờ dao động không?” Tôi lắc đầu.

Tất cả những gì tôi có thể nói là, cô ấy buồn và tôi an ủi CỐ ấy, theo cái cách mẹ an ủi tôi khi tôi nói mình không thể xoay xở được nếu thiếu bà. “Tất nhiên là con làm được” bà bảo tôi. “Con là cô gái thông minh, mạnh mẽ. Con sẽ làm tốt.” Tôi không xem nó mâu thuẫn với mong muốn thực hiện hành động đó của CỐ. Sợ hãi dường như là một phần của nó. Và nó không giống như tự sát là một quyết định bồng bột nhất thời của CỐ. Tess thường xuyên khẳng định cô đã mong muốn làm điều đó từ mấy năm qua. Nếu, trong một cuộc trò chuyện của chúng tôi, cô đã nói quả quyết rằng cô không muốn làm điều đó, thì tất nhiên tôi ắt sẽ ủng hộ quyết định của cô. Tất nhiên tôi sẽ ủng hộ.

Cuộc trò chuyện đã làm nổi rõ sự thật rằng, dù tôi biết về cô nhiều đến đâu, vẫn có điều gì đó cô giữ lại không nói với tôi. Chúng tôi chưa bao giờ thỏa thuận sẽ né tránh chủ đề tự sát của cô - ý tôi là những khía cạnh thực tiễn - nhưng có một sự ngầm hiểu rằng đây là một điều không được bàn đến. Tôi nghĩ đó là vấn đề riêng tư cô để lại.

Tuy nhiên, tôi thấy rõ rằng, những tuần cuối cùng, trong khi tôi đang hoàn tất những chi tiết bản kế hoạch của tôi, thì cô, song song với tôi và trong bí mật, cũng làm điều tương tự vải kế hoạch của cô.

Trước ngày 14 hai ngày, chúng tôi trao đổi qua điện thoại và tôi bảo cô kiểm tra lại chính tả tên mấy người bạn đại học của cô. Khi kiểm tra xong, cô trở nên im lặng. Rồi cô nhìn tôi và gõ lên camera.

“Cô có mọi thứ cô cần rồi chứ?”

Cô nói câu đó bằng tông giọng vô cảm của một nhân viên ngân hàng.

Tôi nhớ mình đã ngước nhìn sơ đồ phía trên bàn làm việc, khi đó nó đã dài hơn hai mét. Tôi đã dán những mảnh giấy phụ lên đó, cái sơ đồ chi chít chữ viết tay. Tất nhiên tôi cũng lưu một lượng lớn tài liệu trong máy tính. Nhưng cái sơ đồ này cung cấp những lời nhắc và từ khóa. Tôi biết tôi có thể cứ tiếp tục mãi thế này, lập một bảng tính khác và một bảng tính nữa cho đến khi cái sơ đồ về cuộc sống của Tess phủ kín mọi bề mặt căn hộ của tôi, tràn ra ngoài cửa xuống phố Albion, xuyên qua đường hầm Rotherhithe và đi xa hơn nữa, nhưng phải có một điểm dừng. Thế nên tôi đáp, “Tôi nghĩ là rồi.”

Nỗi buồn mãnh liệt tôi cảm thấy vào thời khắc đó, kỳ lạ thay, còn tệ hơn cảm xúc của phút cuối bên mẹ tôi; tôi cho là bởi sự đau đớn của Tess không hiển hiện, cổ trẻ trung hơn và khỏe mạnh hơn nhiều. Dường như không thể có chuyện cổ sẽ không ở thế giới này lâu hơn nữa, rằng một người tôi vô cùng thân thiết sắp biến mất.

Nhưng dĩ nhiên tôi không thể nói thế. Nên tôi im lặng. Và đột nhiên, đã đến lúc chúng tôi nói lời cuối cùng. Ánh nhìn cuối cùng của cô vào camera, lời chào cuối cùng; lời cảm ơn của cô; lời cảm ơn ngu ngốc của tôi với cô; rồi tôi nhìn đăm đăm, khắc ghi hình ảnh Cô, cái mũi, gò má, cái miệng, cho đến khi cô ngẩng lên, vươn người tải và tắt camera.

Trả phòng, ngày 14 tháng Tư, thực ra là một ngày “bình thường”. Tôi không thể bắt đầu công việc, vì “Tess” sẽ mất nguyên một ngày để đến Canada, nên tôi phải đợi sang ngày hôm sau để gửi những email đầu tiên và gõ những chữ đầu tiên thông báo cô đã đến Sointula an toàn. Và cũng không phải sáng hôm sau; do khác biệt múi giờ, tôi không thể bắt đầu công việc làm “Tess” cho đến năm giờ chiều ngày 15 theo giờ nước Anh, tức chín giờ sáng ở Sointula.

Nhưng dĩ nhiên đó không phải là ngày bình thường. Sáng ra tôi thấy mình không làm được bất kỳ việc gì ngoài nằm dài trên sofa, mắt mở trùng nhưng không thực sự nhìn thấy gì. Như thể tôi đã bị ngắt kích hoạt. Tôi thậm chí không đói. Tất cả những gì tôi có thể nghĩ tới là Tess đang làm gì; song tôi không biết cô làm như thế nào. Đầu óc tôi quay cuồng, nhưng không có bánh răng nào để khớp vào, thay vào đó nó sản sinh ra một màn trình chiếu những hình ảnh tưởng tượng. Tess bò trên hai tay và đầu gối, chui vào một cái hang nhỏ xíu trên một dãy núi hẻo lánh, túi phồng lên với một lọ thuốc và chai vodka. Nuốt ngụm cuối cùng, cô nằm co quắp và nhắm mắt lại, những tia hoàng hôn rọi vào hang và chiếu luồng sáng lên mặt cô. Tess hiện ra trên nóc tòa nhà cao nhất London, gió quất vào mái tóc khi cô đưa mắt nhìn lần cuối thành phố im lặng phía dưới trước khi duyên dáng nhảy xuống, đầu chúc xuống như một vận động viên bơi lội. Tess, vào ban đêm, đột nhập vào một vườn thú và từ từ thò tay xuống cái bể đầy bọ cạp chết chóc. Khi nhát cắn đến, cổ co rúm lại rồi đổ gục xuống.

Tất nhiên tôi biết kịch bản cái hang ấy chứa rất ít sự tương đồng với thực tế, nó là phương pháp bắt buộc để thi thể cô không bị phát hiện. Tôi cũng biết, rất rõ, rằng cái chết không thể là một công việc lãng mạn. Tuy nhiên, chúng là những hình ảnh tâm trí tôi chọn bám riết vào.

Tôi nằm trong tình trạng tàn phế này hàng giờ đồng hồ, rồi đột nhiên, không báo trước, dạ dày quặn lên và tôi bị một con tiêu chảy khủng khiếp nhất đời, nặng đến mức tôi lả đi trên bồn cầu. Buổi sáng qua đi được một nửa thì chuông cửa reo, một sự việc bất ngờ kể cả trong những ngày bình thường, và tôi căng thẳng đến mức kêu ré lên. Đó là người đưa thư, với một bức thư bảo đảm gửi cho tôi. Bên trong, bao bọc bằng một mảnh giấy báo gấp lại, là 88 bảng tiền mặt: bốn tờ hai mươi bảng, một đồng năm bảng, và ba đồng một bảng, dán lên một tấm thiệp. Dưới những đồng tiền, ai đó đã vẽ một cái miệng, khiến chúng tạo thành hai con mắt và cái mũi của một bộ mặt cười. Nó có vẻ không giống với hành động của Adrian, nên tôi chỉ có thể hình dung khoản thanh toán đầu tiên này đến trực tiếp từ Tess. Không một khoản thanh toán nào sau đó có mặt cười cả.

Nhận được tiền khiến tôi phấn khích - Dự án Tess bây giờ chính thức là công việc của tôi - thế là tôi ngồi vào bàn và gửi một email cho Damian: Tôi xin phép được chấm dứt công việc của mình với hiệu lực tức thời. Sau đó tôi Cố làm mình sao lãng bằng cách chơi Warcraft, nhưng lần đầu tiên tôi không thể tập trung vào nó. Nó dường như VÔ nghĩa, khi điều khiển một đám điểm ảnh. Thế là tôi quay sang những tài khoản email và Facebook của Tess. Mặc dù “Tess” không thể gửi bất cứ tin nhắn nào, nhưng email vẫn tiếp tục gửi đến cho CỐ, và không có gì ngăn được tôi đọc chúng và soạn thư trả lời, sẵn sàng gửi đi ngày hôm sau.

Tôi đăng nhập vào Facebook của cô. Đến giờ, những mật khẩu của Tess đã thành quen thuộc; chính mật khẩu của tôi, tôi lại ngắc ngứ. Chúng tôi đã cùng nhau quyết định về từ ngữ trong bài đăng cuối của cô, và cô đã đăng nó tối hôm trước: Cuối cùng tôi đã đi! Một cuộc sống mới đang đợi. Tôi yêu tất cả mọi người. Có hai mươi ba bình luận bên dưới, đủ mọi kiểu Chúc may mắn! và Tớ sẽ nhớ cậu! cô có năm email mỗi ngày hôm đó, bao gồm cả thư rác: bốn cái chúc cô mọi điều may mắn trên chuyến đi và một cái từ một người phụ nữ tên Marnie rõ ràng không biết cô vừa đi, mời cô đến dự tiệc sinh nhật thứ 40 ở Clapham vào cuối tháng:

Trang phục quy định: Cưa sừng làm nghé.

Tôi không kiểm tra tin nhắn trên Red Pill cho tới tận cuối ngày hôm đó, tôi thấy một PM của Adrian. Nó chỉ chứa một câu danh ngôn của Aristotle: Giá trị đạo đức là kết quả của thói quen. Chúng ta chỉ đạt được bằng hành động, biết chứng thực nhờ làm những điều chừng mực, biết dũng cảm nhờ làm những điều dũng cảm.

Như đã nói, bây giờ tôi đã biết đôi điều về những gì xảy ra ngày hôm đó, nhờ việc lần theo hộ chiếu Tess của cảnh sát. Cô đã đến Portsmouth và từ đó đáp chuyến phà đêm đến Bilbao. Cô đến Tây Ban Nha vào giờ ăn trưa ngày hôm sau, hộ chiếu của cô được kiểm tra tại cảng. Kể từ đó không ai biết cô đi đâu và làm gì. Cô đã biến mất.

Tôi tìm kiếm con tàu cô ắt sẽ đi, tàu Niềm kiêu hãnh của Bilbao. Có những video trên YouTube được quay bởi những người từng đi tàu, tôi xem tất cả. Nó trông rất chán.

Những cabin sơ sài như các phòng cho bệnh viện. Hành khách hình như hoặc là rất già, ngồi lặng lẽ trên ghế dài trước những tách trà, hoặc là những thanh niên ồn ào thô kệch đi thành từng nhóm theo giới tính làm tràn bia trong những chiếc cốc nhựa lên người nhau. Có nhiều dãy máy chơi điện tử và một cửa hàng quà tặng bán những con thú bông rẻ tiền và những gói kẹo Minstrels. Nó không giống nơi thuộc về Tess chút nào.

Lý giải khả dĩ nhất cho sự lựa chọn phương tiện vận chuyển khó tin này là cô dự định nhảy khỏi tàu lúc nửa đêm, nhưng đến lúc đó, cô lại mất can đảm. Tôi nghĩ đến cô đứng một mình trên boong trong bóng tối, bám vào lan can nhìn xuống, không thể nhìn thấy mặt biển nhưng nghe thấy nó cuộn sóng, sẵn sàng đón nhận CỘ.

Nhưng nếu lúc ấy Cố định tự sát, tại sao cô lại không làm? Tôi thường nghĩ đến Tess trên chuyến phà đó, nằm trong cabin nhựa chật chội của mình, trên cái gối bẹp gí, nghe tiếng la hét của những gã say mèm ngoài hành lang. Một trong những video quay đàn cá heo bơi cạnh mạn thuyền. Tôi hi vọng ít ra cô trông thấy chúng.

Như tôi đã nói, khi cô đến Tây Ban Nha thì mất dấu vết. Trở lại ngày “trả phòng”. Cuối cùng tôi không chịu nổi việc nhìn thời gian tích tắc trôi, đầu tôi quay cuồng với những ý nghĩ bế tắc, và đến xế chiều tôi làm một việc chưa bao giờ làm: uống một viên thuốc ngủ của mẹ và lăn ra ngủ. Tôi tỉnh giấc, mụ mị, vào giờ ăn trưa ngày 15, và cuối cùng đã đến năm giờ chiều, thời điểm bắt đầu. Tôi đăng nhập vào email của Tess và gửi những tin nhắn đã chuẩn bị trước cho mẹ cô và hai người bạn Simon và Justine của cô. Phần chính của mỗi email đều giống nhau: rằng con/tô đã đến nơi; đó là một chuyến đi bất tận; con/tớ đã nhác thấy một con hải cẩu trên chuyến phà chạy ngang qua, hòn đảo rất đẹp, và con/tớ đã đã thuê một căn phòng ở một ngôi nhà trọ cách biển một dãy phố. Với Simon và Justine, tôi bổ sung thêm là có một người đàn ông chơi đàn ukulele trên bến tàu khi tàu cập bến giống một đội chào mừng, như thể anh ta biết tớ sắp đến vậy, và rằng ngôi nhà trọ gàn dở một cách quyến rũ, với rèm cửa kẻ ô màu hồng và những con thú bằng bê tông trong vườn.

Tiếp đến tôi cập nhật Facebook của cô. Việc này tôi thấy hồi hộp hơn, không giống như email, nó “sống”. Dòng trạng thái là: Cuối cùng đã hạ cánh! Mệt là những vui. Đã nhìn thấy chú hải cẩu đầu tiên! Tôi viết sai chính tả chữ “knackered”, thiếu chữ “k”, bởi tôi nghĩ Tess sẽ viết vậy.

Gần như ngay lập tức, mọi người bắt đầu đáp lại bằng những bình luận vui vẻ đầy sôi nổi và thiện ý. Tôi quyết định sẽ không trả lời ngay, vì sau khi lên Facebook thông báo tình hình thì tôi Tess - đã lên giường đi ngủ sau chuyến bay dài lệch nhiều múi giờ. -

Knackered: mệt mỏi, kiệt sức.

1153

SEDENO

Điều này nghe có vẻ kỳ cục, nhưng kể từ lúc bắt đầu cuộc sống mới của Tess ở Sointula, tôi cảm thấy rất thật. Không phải tôi giàu trí tưởng tượng, mà do tôi đã tìm hiểu về hòn đảo cho cô quá kĩ nên mọi chi tiết đều có đủ. Tôi nhớ sau khi thoát Facebook ngày đầu tiên, tôi nằm ra sàn và nhắm mắt lại. Những âm thanh của phố Albion lùi xa, và tôi biến thành Tess đang nằm trên giường ngôi nhà trọ của CỐ, chếnh choáng và lọ mo, cách xa những người quen biết cô hàng nghìn dặm. Cô đã không kéo hết rèm và ánh nắng chiều muộn xiên một khe mảnh vào phòng, sưởi ấm những hạt bụi trong không khí. Tôi nghe thấy tiếng rít của lũ hải âu từ phía biển và thỉnh thoảng tiếng một chiếc ô tô chậm rãi chạy qua bên ngoài. Tôi biết chính xác phần còn lại trong ngày của cô bắt đầu như thế nào. Cô sẽ tỉnh dậy từ giấc ngủ chập chờn, mặc chiếc quần short denim, cho dù thời tiết không đủ ấm, rồi thả bước xuống con đường chính của đảo cách đó vài ngôi nhà. Cô sẽ vào một cửa hàng tạp hóa và đứng trước những dãy đồ ăn Canada lạ lẫm, và nghĩ thầm rằng chẳng mấy nữa những nhãn hiệu bánh mì và súp nước ngoài này sẽ trở nên quen thuộc và bình thường. Tôi hình dung cô đi qua những con phố, ngó qua cửa sổ những ngôi nhà gỗ; trông thấy một tấm biển Cho thuê Sơn trên một mảnh gỗ trôi dạt bên ngoài một trong những ngôi nhà và tự hỏi liệu đó có thể là ngôi nhà mới của mình chăng?

Tất nhiên tôi biết cô sẽ thuê căn hộ nào - tôi đã lên

154 kế hoạch tìm kiếm nó – và nó không phải ngôi nhà đó. Nhưng như thể cô nàng Tess trong đầu tôi chưa biết vậy. Tôi đang tưởng tượng nó như thể Tess vẫn còn sống, và đây là thật; giống như cô là một nhân vật thực sự bước vào chuyến phiêu lưu này, “chuyến đi đến miền đất lạ”. Như thể cô không biết tôi nắm giữ số phận mình.

Những tuần đầu tiên trong cuộc sống mới của Tess Ở Sointula là bận rộn nhất, dưới dạng lượng trao đổi thư từ, nhưng cũng ít phức tạp nhất. Tất cả email cô gửi và nhận đều theo một hướng: những ấn tượng về hòn đảo, những biểu cảm kèm dấu chấm than về nỗi phấn khích khi nhìn thấy con hải âu lớn, và, với những người bạn không quá thân chưa hay biết gì, là những lời giải thích sốt sắng lý do tại sao cô bắt đầu cuộc sống mới, và cái tên Sointula nghĩa là “vùng đất của sự hài hòa” theo tiếng Phần Lan. Tôi đã chuẩn bị rất kĩ mọi chi tiết cho bối cảnh mới của cô, tôi không phải sáng tạo gì hết. Nó chỉ là một trường hợp phân phối thông tin, như làm một bài thi mà tôi biết hết các đáp án.

Tất nhiên vẫn có một vài tin nhắn không đúng mẫu. Chẳng hạn như, sau mười ngày, Tess nhận được email từ một người phụ nữ tên là Jennifer, người không lên Facebook và rõ ràng không biết Tess đã đi Sointula, nói rằng cô ta đã thấy Tess ngày hôm trước Ở Alhambra, một địa điểm hấp dẫn ở Granada, Tây Ban Nha. Tôi định qua chào cô nhưng Ned đang tức giận đùng đùng, cô ta viết. Và khi

| 155

RSS

tôi giải quyết xong thì cô đi mất rồi. Tái bút: Yêu mái tóc mới của cô! Tôi định trả lời là cô ta nhận nhầm người rồi, nhưng không có thông tin về cô Jennifer này, và không rõ Ned là con hay chồng cô ta, nên tôi bỏ qua.

Những tuần đầu tiên ở Sointula, Tess nghỉ ngơi và khám phá hòn đảo. Cô phát hiện được những thứ hay ho như phòng tắm hơi công cộng và cửa hàng hợp tác xã, nơi những người tình nguyện làm việc hai giờ một tuần, đổi lại được mua thực phẩm giảm giá. Trên đảo có mỗi một cây ATM và một quán bar được điều hành bởi một cụ già đã tự giới thiệu mình khi cố đi bộ qua (Không phải cô sẽ uống rượu bia ở quán bar đó đâu; cô sẽ trở thành người bồi rượu trong cuộc sống mới). Ngộ là từ cô sử dụng rất nhiều. Cô mua một cái xe đạp cũ giá ba mươi đô. Trong bữa sáng bằng bánh pancake tam giác mạch, bà chủ nhà bảo rằng người ta đã phát hiện một con cá voi sát thủ gần bờ biển ngay trước ngày Tess đến. Cô yêu sự yên bình và nhịp sống chậm rãi này: lần đầu tiên trong nhiều năm tôi cảm thấy mình có thể hít thở được, cô viết. Cô tin chắc mình đã quyết định đúng khi đến đây.

Ngày thứ tư, tôi đổi ảnh profile của cô thành bức ảnh mới chụp cô đứng trên bãi biển Sointula. Bức ảnh này tôi tạo ra bằng cách cẩn thận cắt ảnh Tess mặc quần short từ tấm ảnh chụp cô trong phòng ngủ và đặt chồng lên bức ảnh bãi biển Sointula tôi tìm thấy trên Flickr.

156

CR Red

Sau sáu ngày, Tess tìm được căn hộ mới, và chuyển đến trong vòng một tuần sau đó. Tôi viết một bài mô tả hoa mỹ về ngôi nhà mới: nó nhỏ nhắn nhưng xinh xắn ra sao, và cô có thể trông thấy một góc của biển từ của SỔ bếp. Cô còn tìm thấy một buồng vệ sinh riêng trong phòng tắm ngồ ngộ.

Có một việc không được dễ dàng trong tuần đầu tiên đó. Ngày thứ năm, tôi để một lời nhắn ghi âm trước cho mẹ Tess. Tess đã đảm bảo với tôi rằng Marion chắc chắn Ở chỗ nhóm đọc sách của bà các buổi tối thứ Tư và không ai khác ở nhà nghe điện thoại, nhưng để chắc chắn, tôi giấu SỐ của mình. Tất cả diễn ra theo đúng kế hoạch. Marion không nhấc máy, cuộc gọi chuyển đến máy trả lời tự động và tôi mở đoạn ghi âm vào đúng thời điểm. Nhưng nghe thấy giọng Tess – “Xin chào, là con đây, con chỉ muốn báo mẹ biết là con an toàn và khỏe mạnh” đã gây một tác động không ngờ lên tôi, đem trở lại những ý nghĩ đã đề nén từ ngày trả phòng. Ở đâu đó, cô đang nằm chết. Cô đã làm như thế nào? Cái xác ở đâu? Có ai tìm thấy cô chưa? Những hình ảnh tràn ngập trong đầu tôi không còn ủy mị nữa: hơi ấm của mặt trời đã rời bỏ cái hang từ lâu và thân hình nhỏ bé co quắp của Tess đã lạnh cứng. Chết như vậy mới cô đơn làm sao, tôi nghĩ, một cách vô lý.

Tôi cố không ấp ủ những ý nghĩ như thế, vì những tuần đầu tiên là thời gian bận rộn. Tôi mải mê xây dựng cuộc sống mới của Tess, hình dung cô sẽ mặc gì ngày hôm đó, ăn món gì vào bữa trưa, và món đồ tiếp theo cô mua cho căn hộ mới là gì. Giống như có một hóa thân mới, nhưng tốt đẹp hơn hẳn.

Song vẫn có những quy định, hay đúng hơn, một quy định chủ chốt. Bất kể “Tess” làm gì, nó phải là việc mà Tess ắt sẽ làm. Tôi phải giữ nguyên tính cách thực của cô, kể cả trong những điều nhỏ nhặt mà không người nào Ở quê nhà sẽ để ý.

Ví dụ, qua tìm kiếm tôi phát hiện có một chỗ kinh doanh đồ cổ nhỏ ở Sointula, cách xa đường lớn, do một phụ nữ mở tại phòng khách ngôi nhà của mình và khách hàng phải hẹn trước. Tôi có thể dễ dàng không nhắc đến nơi này trong bất cứ email nào, tôi không hứng thú với đồ cổ, và không ai trong gia đình hoặc bạn bè cô hay biết. Nhưng tôi biết có khả năng Tess sẽ khám phá ra. Cô thích đi dạo, và vì hòn đảo quá nhỏ nên cô ắt sẽ đi xuống phố và trông thấy tấm biển trong cửa sổ ngôi nhà của người phụ nữ và gọi điện để thu xếp một buổi xem những món hàng của bà. Nên tôi đành để cô làm thế, và viết một email dài cho Justine kể về những thứ cô tìm thấy ở đó. Thành quả tâm đắc của cô là một cái đĩa bằng thiếc đựng xà phòng tạo hình như vỏ sò. Tôi đã chấm nó trên website cửa hàng và quyết định nó sẽ chiếm một chỗ kiêu hãnh cạnh bồn rửa mặt. Với cùng lý do ấy, tôi nhận thấy mình phải biết tất cả về những điều Tess sẽ nói hoặc đồ Tess sẽ mặc, chứ không chỉ dăm ba cái cần thiết để phục vụ cho Facebook và email. Tôi có cảm giác cần phải biết mọi chi tiết trong một ngày của cô, ngay cả khi nó sẽ không được sử dụng.

Tôi vốn luôn như thế này. Khi nghĩ rằng tôi có thể sẽ vào đại học, mẹ nói tôi nên mặc một bộ cánh trang trọng cho buổi phỏng vấn, thế là chúng tôi đi mua một bộ ở cửa hàng Evans trong trung tâm mua sắm Bent Cross. Cái áo chúng tôi chọn có một đường viền màu hồng sáng, nhưng chỉ ở cổ áo và tay áo, khi mặc lên trông nó như đưỘC viền đầy đủ, song cởi ra thì có thể thấy lớp nilon dở dang bên dưới. Tôi hoàn toàn không thích thế, và hỏi mẹ liệu chúng tôi có thể mua một cái áo được viền hết không, cho dù nó đắt hơn 20 bảng. Bà nói nó không quan trọng, vì tôi sẽ không cởi áo jacket ra trong suốt buổi phỏng vấn, nhưng vấn đề là tôi biết đường viền sẽ không bao hết. Nó là một trong những lần ít ỏi tôi có thể nhớ mình thực sự bất đồng với mẹ.

Do khác biệt múi giờ ở Sointula nên tôi chỉ có thể làm “Tess” vào buổi tối và ban đêm. Nên tôi nhanh chóng rơi vào lịch trình làm việc từ năm giờ chiều đến tám giờ sáng, ngủ cả ngày và thức dậy lúc ba giờ chiều để chuẩn bị cho công việc ngày hôm sau. Tôi từng nghe rằng trước khi lên sân khấu, các diễn viên được cho nửa tiếng đồng hồ

159

Ở một mình trong phòng thay đồ để có thể “nhập” vai. Nhưng nó chỉ dành cho một vở kịch dài hai tiếng, và mọi lời thoại đều được viết sẵn. Đối với tôi, thời khắc điểm chín giờ sáng ở Sointula, tôi bước lên sân khấu đóng vai Tess, và ở trên đó suốt mười sáu tiếng đồng hồ. Tôi phải tự ứng biến, và câu chuyện có thể đi theo bất cứ hướng nào.

Tất nhiên, tôi không thực sự gửi và nhận email vào mọi lúc trong ngày, nhưng kể cả khi không thực sự online, tôi vẫn làm việc. Tôi phải chuẩn bị những câu trả lời, kiểm tra các chi tiết, tìm những mẩu chuyện để sử dụng sau này. Tôi cũng phải lên kịch bản những hành động tiếp theo của cô, nó đòi hỏi sự động não rất lớn. Tôi tìm thấy một trang web dành cho những người viết tiểu thuyết gợi ý hãy biên Soạn một câu chuyện nền” cho các nhân vật của bạn, thế là tôi quyết định làm điều này cho mỗi con người mới bước vào cuộc sống của Tess. Tôi thấy thật khó cho đến một ngày nhận ra tôi chỉ có thể lấy dữ liệu từ những người tôi biết. Do đó Jack, ông già mà Tess tán gẫu bên ngoài nhà tắm hơi, đã mất vợ được ba bảy năm do bệnh ung thư buồng trứng, chiều chiều lại làm một cốc rượu sữa Bailey’s Irish Cream lúc năm giờ và có một thói quen bí mật là đánh bạc online - hệt như ông Kingly, quản lý của mẹ ở Bluston’s. Mẹ của Natalie - học sinh của Tess được lấy theo hình mẫu của Ashley hàng xóm nhà chúng tôi, Sống cách hai nhà dưới phố Leverton. Bà ấy nuôi những con chuột lang, từ vườn nhà chúng tôi có thể nghe được tiếng chất chít. Tôi cũng phải tập viết chữ giống cô. Chúng tôi có lối viết khác nhau một trời một vực - chẳng hạn như cô hiếm khi viết câu cú hoàn chỉnh và ngay cả những từ đơn giản, thông dụng nhất cũng phải được kiểm tra để đảm bảo nó giống thật. Tôi phải tập trung vào những email và dòng trạng thái cập nhật ngắn gọn nhất, trực tiếp nhất. Cô có khuynh hướng gọi tên người nhận một cách nhấn mạnh, dùng nhiều dấu chấm than và thỉnh thoảng viết hoa – NINA! – và thường là một biệt danh - Kẹo Viên, Pauly, Big J. Trên cả việc dùng ngữ pháp và chính tả bừa phúa, cô sử dụng tiếng lóng không quen thuộc - Ôi điên! Tối qua cậu say ngật ra hả? Lắm lúc tìm bằng Google mở rộng cũng không thể soi ra một cụm từ và tôi sẽ phải mày mò suy luận. Tôi vẫn không biết việc gọi ai đó là “Nelly” liệu có phải là lời khen hay không.

Suốt giai đoạn tiền-tri-phòng, tôi đã tập viết chữ như Tess, dưới sự giám sát của cô. Vì tôi có quyền truy cập vào tài khoản email và Facebook của cô, và nhìn chúng thường xuyên trong ngày hôn cô, tôi sẽ thường là người đầu tiên xem một tin nhắn gửi đến cho Cô, hoặc khi ai đó viết lên tường nhà cô. Nên chúng tôi đã sắp xếp để tôi viết trả lời tin nhắn, thay Tess, và lưu nó vào mục thư pháp. Sau đó, khi cô đăng nhập tài khoản, cô sẽ xem những nỗ lực của tôi và nhận xét chúng qua Skype tối hôm đó, như một giáo viên. “Đừng dùng yo khi chào Misha Jennings”, cô bảo. “Tôi chỉ chào kiểu đó với Daniel Woolly, nó là ký hiệu nhỏ giữa chúng tôi. Với Misha tôi thường dùng Babe mở đầu, nhưng kết thúc bằng la di da, giống như trong phim Annie Hall.”

Hay là:

“Chỉ vì tôi viết cho Alex rằng bữa tiệc của Steve là T.U.Y.Ệ.T V.Ờ.I không có nghĩa là cô phải cho các dấu chấm vào mọi tính từ tôi sử dụng. Tôi chỉ thỉnh thoảng làm thế cho vui, chứ không phải thói quen.”

Có rất nhiều cái lặt vặt cần tìm hiểu, những mã hiệu, trò đùa riêng tư, thói quen, và cho dù tôi đã ghi lại tất cả nhưng vẫn cảm thấy không đủ tự tin khi viết thay CỐ mà không có sự đối chiếu hay kiểm tra lại. Và tất nhiên, vẫn có những bí ẩn chưa từng được giải mã: chẳng hạn vào năm 2008, cô hay nhắc đến một người mà cô gọi là “the Zetty”, nhưng cố đến mấy tôi cũng không thể tìm ra người này là ai, hay vì sao cô gán cho nó mạo từ xác định không cần thiết như vậy.

Rồi còn những bức ảnh nữa. Tôi phải tìm những cảnh nền phù hợp trên Flickr, có thể chuyển thành Sointula mà không quá khác biệt, những bức được chụp vào thời điểm thích hợp trong năm, thể hiện thời tiết hiện tại trên đảo và

“La di da” là câu nói của cô gái trong đoạn hội thoại làm quen đầy tung hứng giữa hai nhân vật chính của bộ phim Annie Hall.

cũng hợp với những kiểu dáng của Tess ghép vào chúng.

Trong tháng đầu tiên, tôi chỉ rời căn hộ để mua đồ ăn tích trữ. Siêu thị Tesco Extra mở của hai tư giờ một ngày, nên mỗi tuần một lần tôi tạm rời công việc và đi siêu thị lúc nửa đêm, vào bốn giờ sáng, chỉ có mình tôi, những nhân viên xếp đồ đeo tai nghe và một cô thu ngân cô độc, quá mệt mỏi để mở miệng nói chuyện. Do đó, mối liên hệ của tôi với thế giới thực thu nhỏ thành một điểm mà tôi có thể phớt lờ đáng kể sự tồn tại của nó.

Như vậy cuộc sống của tôi có thể gạt qua một bên. Hàng ngày, tôi vẫn kiểm tra Facebook và email của mình, trước đây là vì thói quen và sau này phòng trường hợp có tin nhắn từ Adrian. Ngoài những câu danh ngôn hàng tuần anh gửi cho tôi qua Red Pill, tôi không nghe được gì về anh từ khi trả phòng - thực ra là trước đó một thời gian. Địa chỉ Red Pill của anh là phương tiện liên lạc duy nhất tôi có với anh, nhưng anh đã nói rõ rằng chúng tôi không nên bàn việc trên đó đề phòng hacker nghe lén. Tôi biết anh có thể tìm thấy địa chỉ email thông thường của tôi trong thông tin đăng ký trên website và do đó mong rằng chúng tôi sẽ nói về dự án ở đó.

Đến giờ, tôi chưa cần sự giúp đỡ của anh, và tôi cho rằng anh bỏ mặc tôi một mình nhằm thể hiện sự tin tưởng tôi. Tuy nhiên, tôi nghĩ sẽ thật tốt nếu có một đường dây liên lạc mở ra khi tôi cần: dù sao thì, Ở Heath ngày hôm đó anh đã nói nếu tôi nhận công việc thì anh sẽ ở bên tôi trong từng bước đi, luôn cho lời khuyên và sự ủng hộ kịp thời.

Không có gì cho đến một buổi tối, mười sáu ngày sau khi vào dự án, tôi kiểm tra email và chẳng trông đợi gì ngoài thư quảng cáo thì thấy một tin nhắn thông báo tôi có một yêu cầu kết bạn trên Facebook,

Đây không phải sự kiện bình thường. Đã qua nhiều tháng kể từ khi tôi nhận được một lời kết bạn và đó là một trường hợp nhầm người, từ một người đàn ông không quen biết gọi tôi là “babz” và bảo đêm qua tôi “trông ổn”.

Lời yêu cầu này cũng từ một người tôi không nhận ra: một phụ nữ xưng là Ava Root. Đó một tên nổi bật nên tôi chắc chắn mình ắt sẽ nhớ nếu từng gặp trước đó, tôi đang định cho cô ta vào mục spam thì thấy một tin nhắn đính kèm yêu cầu:

Hey chào, tình hình thế nào?

Đó là một câu vô thưởng vô phạt, nhưng có gì đó ở chữ hey lóe lên, và chỉ một giây sau tôi nhớ ra đó là từ mà Adrian sử dụng ở đầu mỗi podcast của anh. Về bản chất, đó là câu cửa miệng của anh, và anh sẽ nói từ đó theo nhiều cách khác nhau – đôi khi với sự hoa mỹ, như một người dẫn chương trình gameshow; lúc khác lại nhanh và nhỏ, gần như lướt qua.

Tôi đã không tính đến chuyện anh có thể liên lạc với tôi qua Facebook nhưng đây chỉ là vì tôi không tìm thấy anh,

Adrian Dervish, khi tôi tìm kiếm anh trước đó. Tôi chưa từng nghĩ anh có thể tạo một tài khoản giả để giao tiếp VỚI tôi, dù rằng bây giờ nghĩ thế là hợp lý: làm gì có tay hacker nào quan tâm đến những tin nhắn giữa tôi và cô bạn cũ Ava chứ?

Linh tính của tôi được xác nhận khi tôi chấp nhận yêu cầu và xem profile của Ava Root. Nó trống trơn, không có thông tin nào ngoài cái tên, và tôi là bạn duy nhất của cô ta. Ngay cả việc chọn “Ava Root”, giờ tôi sực nghĩ ra, cũng báo hiệu rằng Adrian ở đằng sau: cái tên có cùng số lượng chữ cái, và nghe khá gần với thần tượng nữ của anh, Ayn Rand.

Tôi cảm thấy vui và nhẹ nhõm vì cuối cùng anh đã bắt đầu liên lạc - cho dù, như đã nói, tôi cảm thấy tôi đang tự xử lý tình hình ổn thỏa và không có câu hỏi hay vướng mắc đặc biệt nào để nêu ra. Tôi trả lời tin nhắn của anh bằng một tổng kết ngắn tiến trình của dự án cho đến hiện tại, sử dụng những câu tỉnh lược phù hợp để tránh rủi ro. Nếu có người bằng cách nào đó vô tình đọc được tin nhắn, họ cũng sẽ mù tịt không biết tôi đang nói về cái gì. Hành trình đến đích chủ đề của cô ấy đã diễn ra suỔn sẻ; cổ ấy đang ổn định tốt và khám phá hòn đảo. Mẹ: đến giờ có bảy trao đổi email và một yêu cầu gọi điện thoại, bị hoãn bởi chủ đề - đại loại như vậy. Đến cuối tôi thêm vào: Chỉ để xác nhận thôi, giờ chúng ta giao tiếp qua kênh này, hơn là RP? Một ngày sau có phản hồi: Làm tốt lắm. Đúng, giao tiếp ở đây.

Sang tuần tiếp theo, có một cuộc xâm phạm ít được chào đón từ thế giới bên ngoài. Một buổi chiều, đang ngủ gà gật trên sofa, tôi bị đánh thức một cách thô bạo bởi tiếng chuông cửa. Tôi không thể đoán ra người bấm chuông: hôm đó là thứ Năm, và tôi đã nhận thù lao cho tuần đó rồi. Tôi mở cửa và thấy một người đàn ông Ấn Độ trong chiếc áo sơ mi trắng lấm lem, giới thiệu mình ở quán ăn dưới nhà.

“Có vấn đề với đường nước”, ông ta nói.

Tôi không biết ông ta đang nói về chuyện gì, nên trước sự thúc giục của ông ta, tôi khoác áo choàng tắm ra ngoài bộ pyjama và theo ông ta xuống quán ăn. Đó là lần đầu tiên tôi vào trong. Vì mới ba giờ chiều và họ chưa mở cửa, không có thực khách nào, những chiếc bàn trống chỉ có khăn trải bàn. Những dây đèn Giáng sinh được dán băng dính Gaffer lên tường và không khí tỏa ra một mùi cũ mốc, lên men.

Người đàn ông khoa tay múa chân chỉ về khu quầy bar, nơi một bồi bàn khác đang lau quầy bằng những cuộn giấy nhà bếp. Có một chỗ rò nước từ căn hộ của tôi - ông ta nói - đúng là tôi có thể thấy một vệt ẩm lớn trên trần, chỗ bên dưới phòng tắm của tôi. Ông ta giải thích rằng nước đã ngấm vào đường dây và thiết bị điện trên quầy bar và giờ cả điện thoại và máy đọc thẻ đều hỏng, không có chúng việc kinh doanh của họ không chạy được. Hiển nhiên là họ trông đợi tôi làm gì đó trong chuyện này.

Tôi sẽ miễn cho các bạn những chi tiết của câu chuyện, nhưng tóm lại là: một người bồi bàn đã gọi thợ sửa Ống nước, người này cho biết đường ống dưới phòng tắm của tôi bị rò. Anh ta sẽ phải đào sàn nhà lên để sửa. Thêm vào đó, người bồi bàn bảo tôi, tôi sẽ phải đền bù thiệt hại cho quán. Tổng cộng là 600 bảng.

“Cô có thể lấy lại từ Công ty bảo hiểm”, thợ sửa ống nước nói, tươi cười quá mức với cái đầu gồ ghề cạo trọc.

Vấn đề là tôi không có khoản bảo hiểm nào. Tôi đã không nghĩ tới chuyện mua bảo hiểm khi mua căn hộ. Tôi cũng không có tiền tiết kiệm. Số tiền tôi kiếm được khi làm việc cho Tess chỉ đủ trang trải chi tiêu hàng ngày, tôi chưa bao giờ nghĩ mình có thể cần thêm tiền cho những việc phát sinh. Tôi tra Google cách có tiền mặt nhanh, và được chỉ dẫn tới một số công ty cho vay. Tôi gọi số đầu tiên và một người đàn ông đồng ý cho tôi vay 600 bảng với lãi suất cao chóng mặt.

Rõ ràng, để trả khoản vay này, tôi cần thêm thu nhập. Tôi gửi email cho Damian xin tiếp tục công việc, và nhận được câu trả lời cụt lủn nói rằng không còn Công việc nào cho tôi cả, và nhân tiện, anh ta thấy cách xin nghỉ việc của tôi thật thô lỗ và không chuyên nghiệp. Tôi tra mạng tìm công việc kiểm lỗi phần mềm khác có thể làm tại nhà. Nhưng một số ít công việc cần người thì đều làm tại văn phòng, bên cạnh đó, họ dường như đều đòi hỏi bằng cấp, thứ mà tôi không có, cũng như thư giới thiệu, thứ mà tôi không nghĩ là Damian sẽ cho tôi. Tôi cho rằng mình không đánh giá cao điều đó, làm việc cho Tester 4U tôi đã chểnh mảng rồi, lại còn được đặc cách làm tại nhà và theo giờ giấc của mình nữa chứ.

Kiếm một việc “bình thường” khác không phải là một lựa chọn. Đầu tiên, đơn giản là tôi không có thời gian. Công việc của tôi với Tess đã chiếm gần hết đêm, và tôi phải ngủ cả ngày. Nhưng ngay cả khi thời gian không phải là vấn đề, thì những kinh nghiệm trước đây đã chứng tỏ rằng tôi không hợp làm việc với người khác. Ban đầu, vào mùa hè, sau khi lấy các chứng chỉ A, tôi đã thử làm tình nguyện viên ở cửa hàng từ thiện của Liên đoàn Bảo vệ Mèo trên đường Kentish Town. Một trong những tình nguyện viên ở đó là một người đàn ông béo phì, nghiện thuốc lá, mùi nicotine trộn lẫn mùi quần áo cũ mốc ghê đến mức tôi không trụ nổi quá một buổi sáng.

Rồi đến một tuần ở Caffe Nero. Tôi được phát một cái lưới bịt tóc và được phân vào khu bánh ngọt. Khách hàng sẽ đặt cà phê với đồng nghiệp của tôi đứng ở quầy thu tiền, một cậu tên là Ashim, người sẽ hỏi họ có muốn ăn bánh ngọt không, và nếu họ nói có, tôi phải gắp bánh bằng một cái kẹp và cho vào một chiếc túi hoặc đặt lên đĩa, tùy vào việc nó được mang đi hay ăn tại chỗ. Dán bên dưới tầm mắt của khách hàng là một tấm bảng mỏng in hình tất cả các sản phẩm khác nhau.

Sau một giờ đồng hồ, tôi định báo với quản lý rằng tôi không được chuẩn bị để tiếp tục vị trí đó thì quản lý đi vào, bảo tôi nghỉ tay để ăn những vụn bánh bong ra từ những chiếc bánh croissant – mặc dù, như tôi chỉ ra, những vụn bánh là đồ bỏ đi không bán được. Chị ta liền chuyển tôi sang làm rửa chén, cái này tốt hơn vì tôi quay lưng lại với khách hàng, nhưng không được bao lâu chị ta lại bắt lỗi tôi ở đó. Để đỡ chán, tôi quyết định ngâm nga nho nhỏ, muốn xem liệu tôi có giữ được một nốt trong thời gian rửa một cái chén hay không, và có vẻ như điều đó làm phiền đến khách hàng. Song tôi vẫn tiếp tục ngâm nga, và nhỏ giọng lại cho đến mức chị ta thôi không phàn nàn nữa.

Trong mười lăm phút nghỉ giải lao, tôi ngồi trong phòng kho trên một thùng giấy lau, nghe thứ nhạc inh tai từ headphone của Ashim trong lúc cậu nhắn tin cho bạn và xem Lucy, nhân viên pha chế, giữ những món hàng mẫu mỹ phẩm có lấy cắp từ cửa hàng Superdrug ra khỏi tay áo jacket của mình.

Tôi ra đi trong tình trạng không đến mức kịch tính; tôi không giật phăng lưới bịt tóc xuống và sầm sầm lao ra ngoài. Một bữa trưa tôi ra ngoài mua khoai tây chiên và không quay lại. Hôm đó là thứ Sáu và tôi còn bị nợ một tuần lương, nhưng tôi không đòi. Mẹ hiểu chuyện tôi bỏ việc. Tôi nghĩ bà hài lòng vì tôi đã quay về với bà.

Tess có lần lấy những quán cà phê để minh họa cho tâm trạng ảnh hưởng đến hành vi của cô như thế nào. “Nó giống như, khi tôi lên con tôi sẽ cãi nhau với tay đứng quầy ở Starbuck, đòi giảm giá 50 xu cho ly đúp espresso của mình”, cô giải thích. “Chỉ cho vui, để chứng minh sức quyến rũ của tôi. Và khi tôi chán đời, tôi cảm thấy mình không đáng để nhận tiền trả lại nữa.”

Quay lại với hoàn cảnh hiện tại: không có cách nào để tôi tìm được một công việc “bình thường”. Và đó là lúc tôi nghĩ đến việc cho thuê nhà.

Có lẽ tôi không cần nói thêm rằng ý tưởng có một người nữa sống trong căn hộ không phải một ý tưởng thú vị. Nó không phải là chuyện tôi sẽ phải dọn khỏi phòng ngủ và làm việc với ngủ đều ở phòng khách; tôi không bận tâm chuyện đó. Tôi không thích thú cái ý nghĩ phải tán chuyện và đáp ứng các yêu cầu của một người lạ. Mọi thứ trong căn hộ đều theo đúng ý thích của tôi, nhưng tôi biết cách tôi sống có thể không hợp VỐi tất cả mọi người, họ có thể muốn có đồ đạc, rèm cửa và nhiều hơn hai cái thìa uống trà. Nó cũng có nghĩa phải cực kỳ cẩn thận với Công việc làm Tess của tôi. Như đã nói, cho đến khi ấy tôi đã trưng bày la liệt những ghi chú trên tường phía trên bàn làm việc. Tôi sẽ phải làm một cái khóa cửa cho những lúc tôi ra ngoài, và có lẽ phải ghim tấm poster Chúa nhẫn khổ lớn ra ngoài mổ ghi chú, để tăng sự an toàn, khi tôi ở nhà.

Tuy nhiên một người thuê nhà xem ra là lựa chọn hợp lý nhất - thực ra là lựa chọn duy nhất của tôi. Tôi quyết định cách thức tốt nhất là quảng cáo căn phòng với giá thấp, mức tối thiểu tôi cần để trả nợ, và làm rõ rằng, đổi lại, người thuê nhà sẽ phải chấp nhận một số quy định.

Tôi đăng một bài quảng cáo trong mục Phòng cho thuê trên trang Gumtree.com.

Một phòng ngủ nhỏ trong căn hộ chung ở Rotherhithe. Phù hợp với những người thích yên tĩnh và ở bên ngoài phần lớn thời gian. Khi bạn ở nhà, chúng ta “không ai làm phiền đến ai”. Những fan của món cà ri sẽ được phục vụ chu đáo với 60 bảng một tuần.

Trong vòng mười phút từ lúc quảng cáo đăng lên tôi nhận được bảy phản hồi. Đến cuối ngày là hơn một trăm. Tôi không nhận ra một chỗ ở giá rẻ lại là nhu cầu cao đến thế ở London. Tôi soạn một danh sách ngắn ngẫu nhiên các ứng viên từ mỗi mười email tôi nhận được và mời họ đến xem căn hộ. Tôi thu xếp các cuộc hẹn vào lúc ba giờ chiều, để mùi hành từ dưới quán ăn ở mức đỉnh điểm, nhằm tránh bất cứ sự om sòm nào về sau khi họ phát hiện ra điều này. Quả vậy, nhiều người xin rút trong vòng vài phút. Với những người khác thì trở ngại là chiếc giường đơn. Song hầu hết đều không quá kén chọn, thậm chí Cố gắng nghĩ ra những ưu điểm để nói về căn hộ. “Rất tối giản!”, một người đàn ông trung niên nhận xét, và bắt đầu thao thao bất tuyệt kể rằng mình đang trong giai đoạn “chuyển tiếp” của cuộc đời ra sao. Ông ta hỏi tôi có sao không nếu cô con gái bốn tuổi của ông ta đến ở vào các ngày cuối tuần. Tôi bảo ông ta rằng không được. Một cô gái đến từ Ba Lan cố lôi kéo tôi vào cuộc trò chuyện, hỏi tôi thích loại nhạc gì và vân vân, cho đến khi tôi nhận thấy thực ra cô ta đang phỏng vấn tôi để xem chúng tôi có hợp nhau không. Tôi phải nói rõ với cô ta rằng tôi không cần một người bạn. Tôi chỉ muốn có người trả tiền thuê nhà và vắng mặt phần lớn thời gian.

Thường thì tôi tự chấm dứt cuộc phỏng vấn, khi rõ ràng nó sẽ không có kết quả. Một người muốn thuê, một ông già hói còn mỗi một dải tóc vòng qua đầu như vành đai sao Thổ, cơ thể bốc mùi nồng nặc, bảo tôi rằng ông ta “thích những cô gái đẫy đà”. Người khác, một thanh niên người châu Phi, có một cuốn Kinh Thánh đút trong túi áo jacket nhung kẻ đồng nghĩa anh ta bị loại trừ, mặc dù anh ta đủ tiêu chuẩn, anh ta chỉ nói một từ và chỉ gật đầu mỉm cười.

Phần lớn các ứng viên là người nước ngoài, những sinh viên đến từ châu Phi hoặc Đông Âu. Tôi không thể quyết định ở với người nước ngoài thì tốt hơn, vì tiếng Anh của họ sẽ bị hạn chế hơn; hay tệ hơn, vì mặc nhiên họ sẽ học tiếng Anh trong thời gian họ ở đây và có thể muốn thực hành với tôi. Sau một hồi suy nghĩ, tôi lại quyết định người nước ngoài sẽ tốt hơn: nó cũng sẽ tạo lợi thế cho tôi trước một người không quen thuộc với phong tục và thói quen của người Anh, do đó họ sẽ dễ chấp nhận các quy định của tôi hơn.

Khá là trớ trêu, khi tôi dừng lại ở Jonty, người không những là người Anh - phải, là xứ Wales - mà có khi là người lắm mồm nhất tôi từng gặp. Nhưng tôi không biết điều đó khi đồng ý cho cậu ta chuyển vào. Cậu ta tạo một ấn tượng nhầm lẫn lúc ban đầu. Trong suốt buổi phỏng vấn, cậu ta kiệm lời khác thường, sau này tôi mới phát hiện ra cậu ta say quá nên sợ sẽ nôn nếu mở miệng. Vẻ ngoài của cậu ta nổi bật, nhưng không phải không thiện cảm: thấp đậm, vai rộng đến phi lý dưới chiếc áo khoác len thô và mái tóc vàng sẫm lởm chởm. Dù cậu ta bảo mình hai mươi lăm tuổi, nhưng trông trẻ hơn nhiều.

Cậu ta gật đầu khi tôi hỏi cậu ta có vắng nhà nhiều không, và gật đầu lần nữa khi tôi giải thích công việc của tôi đòi hỏi rất nhiều sự tập trung, và rằng tôi phải làm việc ban đêm nên sẽ ngủ cả ngày, vì thế nếu cậu ta đang tìm một “chiến hữu” thì nhầm chỗ rồi. Cậu ta lắc đầu khi tôi hỏi cậu ta có nhiều đồ đạc không. Dường như cậu ta thích căn hộ thật, một điều kỳ cục. Cậu ta không lăn tăn vì cái

1173 BOEL cạn giường đơn - “Dù sao tôi cũng chưa bao giờ gặp may” là một trong những câu ít ỏi cậu ta phát ra - và không tỏ vẻ ngạc nhiên trước việc thiếu rèm cửa và đồ nội thất khác. Nên tôi quyết định ngay lúc ấy rằng cậu ta sẽ được chọn. Tôi mệt mỏi vì phải gặp tất cả những người này, nó làm mất rất nhiều thời gian mà đáng ra tôi phải dành cho Tess, và tôi đã tiền.

Ngày cậu ta chuyển đến, với độc một cái túi thể thao - giữ đúng lời hứa là cậu ta không có đồ đạc – trước sự sửng sốt của tôi, cậu ta lắm mồm hơn nhiều. Cậu ta gõ cửa phòng tôi và gần như không chờ trả lời mà cứ thế bước vào, như thể một cuộc trò chuyện trong phòng ngủ của tôi nằm trong thời gian biểu được lên từ trưỐC. May mà tôi đã lo xa che những ghi chú về Tess bằng tấm poster. Cậu ta ngồi trên sofa, giờ là giường tôi, và kể cho tôi nghe tất cả về mình. Ban đầu từ Cardiff, nơi cậu ta có một sự nghiệp thành công trong ngành bán hàng ở American Express nhưng đã quyết định từ bỏ nó và đến London để trở thành một diễn viên. Cậu ta kể cho tôi một giai thoại dài về “khoảnh khắc phát lộ” của mình, khi cậu ta đang thuyết phục một phụ nữ làm thêm một thẻ tín dụng và đột ngột nhận ra cậu ta phải làm điều gì đó hữu ích hơn với cuộc đời mình: “Làm trai cho đáng nên trai”. Cậu ta đã đăng ký vào một trường kịch nghệ ở King’s Cross và cho bản thân một năm để thực hiện ước mơ, cũng là khoảng thời gian tiền tiết kiệm của cậu ta trụ được. Jonty dường như không thể làm bất cứ chuyện gì mà không thông báo cho tôi. Vào buổi tối đầu tiên ở căn hộ, cậu ta gõ cửa phòng thông báo cậu ta dự định “khám phá hàng xóm láng giềng”. Tôi bảo cậu ta, qua khe cửa, là chuyện đó không mất bao lâu đâu, chẳng có gì để xem ở Rotherhithe cả. Vài giờ sau, tôi nghe tiếng cậu ta đi vào, nhưng khi tôi ra khỏi phòng để đi vệ sinh thì cửa phòng cậu ta mở ra và cậu ta bắt đầu lảm nhảm về buổi tối của mình. “Cô chẳng hề bảo tôi là chúng ta ở ngay cạnh dòng Sông!” - cậu ta nói – tôi cũng không biết điều đó – và tiếp tục kể về quán rượu “cực kỳ” này ở con phố kế bên tên là Queen Bee mà tôi trích lời, “đầy những tay kỳ cựu điện rồ, trường học lâu đời đích thực”. Một người trong bọn đã mua cho cậu ta một quả trứng ngâm trong cái bình cạnh quầy bar. Tôi biết nó sẽ dẫn đến một cuộc trò chuyện kiệt sức hơn nữa nếu tôi bảo cậu ta rằng tôi chẳng “khám phá” chỗ nào khác ngoài siêu thị Tesco Extra.

Đó là đôi điều về Jonty. Bất cứ phản ứng nào bạn đưa ra, kể cả một chữ “Thật ư?” cũng như ném thanh củi vào đống lửa. Cho nên, khi cậu ta trở về nhà với tất cả những câu chuyện về chuyến phiêu lưu của mình quanh London - tìm thấy một cửa hàng bán thú nhồi bông ở Islington, bơi trong một cái bề ngoài trời ở Brockwell Park – tôi gật đầu nhưng không đáp lời. Dù cậu ta tuyên bố không quen biết ai ở London, nhưng có vẻ cậu ta kết bạn rất nhanh chóng. Một đêm, chỉ vài tuần sau khi cậu ta đến, những bạn học mới ở trường kịch nghệ cho cậu ta vào một thùng rác và lăn xuống đồi Primrose. Nghe chừng đây là một cử chỉ yêu mến.

May thay, khao khát “húp trọn London” của cậu ta có nghĩa hầu như đêm nào cậu ta cũng ra ngoài, nhưng tôi vẫn phải đề phòng vì chẳng biết khi nào cậu ta về. Tôi giấu Sơ đồ Tess sau ba tấm poster Chúa nhẫn khổ lớn và luôn khóa cửa phòng. Tôi cũng cất tấm thảm ở hành lang, để có thể nghe tiếng cậu ta đến gần trên những tấm ván sàn. Cậu ta sẽ trở về vào nửa đêm, khi tôi thức làm công việc của Tess. Nghe thấy tiếng chân cậu ta, tôi sẽ án binh bất động, ngừng gõ phím. Tôi sẽ lắng nghe tiếng chân cậu ta dừng bên ngoài cửa phòng tôi, sau đó rút về phòng cậu ta.

Tuy vậy, những sinh hoạt thường ngày của việc sống chung là một thử thách. Cũng may lịch trình của Tess khiến tôi có thể sử dụng căn bếp vào ban đêm, khi cậu ta đã ngủ, nhưng đôi lần cậu ta vẫn thức và, khi nghe tiếng tôi trong đó, liền xông vào trong chiếc quần thể thao để tán gẫu. Thỉnh thoảng, cậu ta lại gọi đồ ăn từ quán ăn dưới nhà và những người phục vụ sẽ mang nó lên căn hộ; lần đầu nghe tiếng chuông cửa, tôi suýt ngã khỏi ghế. Cậu ta nhanh chóng quen biết tất cả bọn họ, và tôi nghe thấy tiếng cậu ta dưới phố bên ngoài, hút thuốc hàn huyên với họ. Cậu ta kể cho họ về những buổi thử vai của mình và hỏi thăm họ, cứ như bạn bè với nhau.

Ngay cả lúc vắng nhà, sự hiện diện của cậu ta vẫn lẩn quất. Cậu ta thích tự nấu những món phức tạp bằng những nguyên liệu kỳ lạ từ những siêu thị bán đồ nước ngoài, và tôi thường tìm thấy dấu vết từ món ăn gần đây nhất của cậu ta dưới cánh tủ bếp cùng một lọ sốt mùi rất nồng trong tủ lạnh vải nắp bung một nửa. Trong phòng tắm, những vết bọt cạo râu của cậu ta, lẫn với râu, khô lại trong bồn rửa mặt.

Trước giờ không thực sự có mối giao thiệp nào với đàn ông, bỗng dưng xuất hiện những hai người. Vì không lâu sau khi Jonty đến, tôi nhận được email đầu tiên từ Connor.

Lúc đó Tess đã trả phòng được sáu tuần rưỡi. Ở Sointula, mọi chuyện diễn ra êm đẹp. Tess đã chuyển vào căn hộ và bắt đầu công việc dạy môn nghệ thuật cho Natalie, được bố mẹ dạy học tại nhà. Cô tham gia lớp học yoga ba buổi một tuần và, bản thân cô cũng thấy ngạc nhiên, bắt đầu phát triển niềm hứng thú với môn câu cá. Cô cũng làm quen với những người bạn mới và ngày hôm đó, ngày mà Connor gửi email, tôi đã quyết định cô sẽ có một chuyến đi chơi trong ngày vào đất liền với người bạn mới Leonora, một phụ nữ lớn tuổi hơn có một quán cà phế ngồ ngộ trên đảo.

Cập nhật Facebook cô hôm đó là một câu tỉnh lược: Muốn một quả dứa, đi mất một đoạn. Tess thích mấy kiểu cập nhật ra vẻ bí ẩn, cho nên tôi luôn chú ý để thường xuyên đưa vào một câu, mặc dù tôi không thích chúng - một phần vì tính tôi không xa, nhưng cũng vì chúng thường gợi lên những phản ứng tò mò từ đám bạn cô mà Tess sau đó phải trả lời.

Chuyện là từ tối hôm trưỐC, Tess và Leonora đang ngồi uống trà ở nhà Leonora. Tess trầm trồ cái xô đá hình quả dứa ở phòng khách, và hỏi Leonora mua ở đâu. Leonora đáp mình mua ở một cửa hàng trong đất liền bán những món bình dân độc đáo và đồ gia dụng. Tess, với căn hộ vẫn chưa sắm đủ, tha thiết muốn xem, thế là họ quyết định sẽ đi một chuyến vào đất liền vào ngày hôm sau.

Hai người đón chuyến phà lúc chín giờ hai mươi phút sáng, cập bến đất liền lúc mười giờ ba mươi phút. Họ bắt xe bus tới Main Street, nơi cửa hàng tọa lạc. Không còn Xô đá hình quả dứa nào nữa, nhưng Tess phát hiện một cái kệ sách mà cô thích, đôi bàn chân đúc bằng đá của một người đàn ông. Tớ biết nghe có vẻ ghê, cô viết trong email gửi Justine cuối ngày hôm đó, nhưng chúng rất hay nhé. Cậu nhìn chúng sẽ nghĩ - những bàn chân đó đã ở đâu? cô cũng mua một cái chăn lụa màu đỏ cho chiếc giường của mình, kích thước tám mươi nhân bốn mươi inch.

Còn có một cái ghế bành màu xanh lam nhạt mà cô thích dáng vẻ của nó; nhưng không biết nó có vừa VỚi căn hộ không, nên cô nhờ chủ tiệm giữ hộ để cô về nhà đo lại vị trí nó sẽ ngự. Nếu cô muốn lấy nó thì chiều cô sẽ gọi điện. Sau đó, cô và Leonora dạo mấy cửa hàng nữa trên phố. Tess cân nhắc ý định mua một chiếc áo jumper với những sắc cầu vồng, nhưng kịp ngăn mình lại. Nơi này dân dã cực, cô bảo Justine. Tớ phải cưỡng lại ý muốn trở thành một dân chơi già với rau cằm và đi giày bánh kẹp đấy.

Họ ăn trưa ở quán cà phê Rosewood, Tess gọi salad diêm mạch. Nó rất khó ăn, nhưng cô đang quyết tâm với món chay: cô thấy nó làm mình tĩnh tâm hơn và tiêu hóa tốt hơn, và cô có thể thề rằng lòng trắng của mắt cô trở nên sáng hơn. Cô cũng cảm thấy nó “nhân văn”. Khi Tess nhắc đến việc chuyển sang ăn chay trong một email gửi Justine, Justine liền chỉ ra sự mâu thuẫn giữa thái độ tẩy chay thịt này và sở thích câu cá mới xuất hiện của cô; Tớ kiên định trước sau như một từ khi nào vậy? Tess trả lời. Tôi khá tự hào với câu đó.

Ở quán cà phê Rosewood, hai người phụ nữ nói chuyện về bạn trai mới của Leonora, một người địa phương tên Roger làm nghề tổ chức những chuyến đi ngắm cá voi và là người tốt bụng, hấp dẫn, nhưng hình như ngại bị ràng buộc. Tess tiết lộ với Leonora về cuộc hôn nhân chóng vánh của mình với gã người Australia. Tess thích Leonora, mặc dù chị khá nghiêm nghị và không phải kiểu người cô sẽ kết bạn nếu ở London. Nơi này là thế đấy. Mở rộng lòng người, khiến người ta cân nhắc những chuyện bình thường chẳng

Cornish pasty: món bánh kẹp ở Cornwal, nước Anh, có hình dạng giống như bánh gối. bao giờ nghĩ đến.

Sau bữa trưa, hai người đi chuyến phà lúc hai giờ ba mươi phút chiều về Sointula, nơi Tess dành phần còn lại của buổi chiều đọc cuốn tiểu thuyết Nga Anna Karenina, cuốn sách cô vẫn luôn muốn đọc và thấy rất xúc động. Đến bảy giờ bốn mươi phút, CỐ xem một bộ phim đen trắng có tên là cô gái ngày thứ Sáu của anh trên đài CBC Canada và ăn một ít cơm gạo lứt với đậu phụ và bắp cải xào, trước khi lên giường ngủ lúc mười giờ ba mươi phút.

Nhưng khi email của Connor đến, những chuyện này vẫn chưa xảy ra. Lúc đó là mười hai giờ năm mươi tám phút trưa ở Sointula và Tess không ở trên mạng, cô đang ăn bữa trưa ở quán cà phê Rosewood. Tôi ngồi ở máy tính viết bài về chuyến đi của cô để gửi Justine khi cô về đến nhà. Tôi kiểm tra email của cô, như tôi vẫn làm vài lần một giờ, và thấy một email từ một người gửi tôi không nhận ra, Connor Devine. Dòng tiêu đề chỉ chứa một từ: Nên…

Email tiếp tục: Nhớ giả thuyết của em về Benny không? Anh đã quyết định là em đúng. Hắn chắc củ là cả hai người đó.

Chỉ có thế. Không chào tạm biệt hay gì. Một dòng dưới cùng chỉ ra rằng email được gửi từ một chiếc điện thoại BlackBerry.

Bạn có thể hình dung tôi hoang mang như thế nào. Cả người gửi và nội dung anh ta đề cập đều xa lạ với tôi, song email lại được viết theo phong cách rất xuề xòa và thân mật, như thể anh ta và Tess đang trong một cuộc trò chuyện. Tôi tìm cái tên ở cả hai tài khoản email của Tess và không có chữ nào về Connor Devine, trong những ghi chép từ những cuộc nói chuyện trên Skype giữa chúng tôi cũng không có. Tôi biết anh ta không phải là bạn cô trên Facebook, nhưng tôi kiểm tra xem anh ta có là bạn của bất cứ người bạn nào của cô không. Đó là một cái tên phổ biến một cách ngạc nhiên – chỉ riêng London đã có ba mươi tám người – nhưng không ai trong số đó có mối liên hệ với bất cứ ai mà Tess biết. Tôi tìm trong những file về Tess cái tên “Benny” và cũng không thấy xuất hiện thông tin gì liên quan đến cái tên đó. Tôi tra Google nhưng, như tôi đã nói, có rất nhiều kết quả cho Connor Devine nhưng tôi không tìm thấy liên kết rõ rệt nào giữa Tess với bất cứ người nào mang tên đó.

Đây không phải lần đầu tiên Tess nhận được email từ một người tôi không biết. Cách đây vài tuần có một tin nhắn Facebook của một phụ nữ tên là Chandra Stanley, nhưng nó là một tin nhắn tiêu chuẩn, Chào, cổ khỏe không, Canada thế nào? Và tôi có thể đưa ra một câu trả lời tiêu chuẩn. Nhưng lần này thật khó. Giọng người gửi “bông đùa” và nội dung rõ ràng là về một trò đùa riêng giữa hai người họ.

Tôi quyết định mặc kệ email đó, nghĩ chắc nó bị gửi nhầm. Nhưng chiều hôm sau tôi lại nhận được tin từ Connor Devine.

Có làm bữa tủy xương ở St John không? Không rau mùi?

Rau mùi là một trong những thứ Tess ghét, vậy là có vẻ người gửi biết cô, và email đầu không phải gửi nhầm. Cái tên “St John” cũng gióng lên một hồi chuông. Tám năm trưỐC, Tess có mối quan hệ ngắn ngủi với một đầu bếp tên Toby làm ở một nhà hàng tên là St John ở Đông London. Đó là một nơi nghe đáng sợ chuyên phục vụ những bộ phận không nên ăn của động vật. Toby nặng một trăm năm mươi cân, và cô đã ngủ với anh ta vì cô chưa bao giờ ngủ với người béo và muốn biết cảm giác ra sao. Nghe chừng, túm đầy hai tay thịt của anh ta “như leo xuống khỏi một bức tường leo núi” vậy, và da anh ta tỏa ra mùi men ngọt, tương tự mùi của những chiếc bánh quy tiêu hóa. Cô thích anh ta vì anh ta “dễ chịu vô ngần”, nhưng sự mới lạ sớm phai nhạt.

Tò mò, tôi lục lại những ghi chép về quãng thời gian đó trong cuộc đời cô, khi cô đang ở cùng Catatonic Katie và quản lý một cửa hàng quần áo vintage ở Spitalfields. Cô đã có nhiều mối quan hệ với nhiều người khác nhau, nhưng không thấy nhắc đến người tên Connor này. Anh ta cũng không có bất kỳ mối liên hệ nào với nhà hàng này để tôi có thể tìm ra.

Tôi cũng phát hiện nhà hàng mở từ năm 1994, và một món ăn có tủy xương được nhắc đến trong một bài viết trên báo cùng năm đó, cho nên khung thời gian không thu hẹp được chút nào: Connor và Tess có thể đã ăn ở đó vào bất cứ thời điểm nào trong mười bảy năm qua.

Tất nhiên tin nhắn còn tiết lộ một điều: Connor Devine chắc chắn không biết Tess đang ở Canada. Tôi quyết định trả lời.

Nghe được đấy, nhưng không bỏ để đi 10.000 dặm. Anh ta phản hồi bằng một dấu: ?

Tôi gửi một email ngắn gọn giải thích rằng tôi – Tess – đã chuyển đến Canada, vẫn với giọng bông đùa thân mật bảo rằng chuyện đó đã được Công khai rộng rãi. Tôi có cả loạt phiên bản email “mở đầu” kiểu này để sử dụng, tùy thuộc người nhận. Chúng sắp xếp từ một câu xuề xòa Đi đổi gió thôi! cho bạn bè không quá thân, tới một thông báo chi tiết và riêng tư hơn nhắc đến sự sa sút tinh thần của CÔ Với những ai cô tin cậy và là những người đã biết đại khái. Để an toàn, với Connor, tôi chọn phương án đầu, vì tôi không biết anh ta biết được đến đâu những vấn đề của Tess.

Tôi đã làm đúng, vì theo phản hồi của anh ta thì rõ ràng anh ta không hay biết về nỗi sầu muộn của Tess; hay mức độ của nó. Phản hồi của anh ta thể hiện nỗi ngạc nhiên và lại dùng cái mà tôi chỉ có thể đoán là những đối chiếu riêng tư, anh ta tới tấp đặt cho cô các câu hỏi, mỗi câu là một email khiến hộp thư của Tess liên tục nháy.

Làm sao em sống sót nếu thiếu một cốc thisky chua chất lượng? Em sẽ mua những đôi tất dài ở đâu? Anh thực sự không thể hình dung em tự đan mũ nồi…

Ở cái thứ năm trong những email một dòng kiểu đó, tôi có được manh mối lớn nhất cho đến giờ. Con Joan thì sao? Anh ta viết. Em giấu nó trong hành lý xách tay à?

Joan là con mèo Tess nuôi từ năm 2000 đến 2003, đặt tên theo một nữ diễn viên là Joan Crawford. Một ngày nó mất tích, sự việc đã gây đau thương cho cô trong nửa tháng. Từ đây tôi càng tin chắc rằng Connor đã không nói chuyện với Tess ít nhất chín năm qua.

Mấy email sau, tôi được cung cấp mẫu thông tin hữu dụng thứ hai, nó thu hẹp thêm khung thời gian. Khi tôi bảo rằng chỉ có thể đến Sointula bằng phà, anh ta viết:

À, chúng ta thừa biết em thích những chuyến phà thế nào… hay nhất định có liên quan đến một thảm họa lớn rồi?

Đây, tôi nghĩ, có thể là một lời nhắc đến một sự việc năm 2001, vào ngày xảy ra vụ tấn công 11 tháng Chín ở New York. Tess đang đi du lịch với một người bạn, Juliet, tới một hòn đảo ở Hy Lạp tên là Patras, và họ đang ở trên một chuyến phà từ Ý sang thì nghe tin về những chiếc máy bay từ một hành khách khác. Đó là một chuyến phà dài mười hai tiếng và đêm đó, Tess đã quan hệ với một người lạ Cô gặp trên tàu, một cậu thiếu niên trường Công mười tám tuổi tên Rollo với mái tóc vàng gợn sóng “như một thiên thần của Botticelli” và đã đặt một chân vào trường Oxford. Họ làm chuyện đó trên boong tàu, khi những hành khách khác đã say ngủ.

Vậy tức là Connor hẳn phải biết Tess sau năm 2001, nhưng ngừng giao tiếp với cô trước năm 2003, khi con mèo mất tích. Tuy nhiên tôi vẫn không biết thêm chút nào về danh tính anh ta hay bản chất mối quan hệ của họ. Và lý do anh ta liên lạc lại với cô sau ngần ấy thời gian. Ngay từ đầu, giọng điệu trong email của anh ta đã không thích hợp với quan hệ giữa anh ta và Tess những năm gần đây - mối quan hệ mà tôi cho là không tồn tại. Anh ta viết như thể họ chưa từng mất liên lạc và đang ở giữa một cuộc trò chuyện Sôi nổi. Có một kiểu - nên dùng từ gì nhỉ? Một sự tự phụ. Anh ta cũng khá thẳng thắn với Tess, theo một cách khác với hầu hết mọi người. Tôi nghĩ nhiều người bạn hơi sợ cô - hoặc, chí ít, chiều theo những điều ngốc nghếch hay điên rồ mà cô phát ngôn.

Và anh ta cũng hết sức hiếu kỳ, hỏi những câu bắt tôi phải lục lọi những thư mục mờ nhạt hơn về Tess. Em có còn nghĩ Aha bị đánh giá quá thấp không? Cuối cùng Shauna có được quản lý cái nhà trọ ở Sri Lanka không? Hoặc anh ta sẽ gửi cho tôi một câu chuyện cười, và bảo tôi viết đoạn kết, hoặc một clip ngu ngốc trên YouTube. Cho đến giờ anh ta là người gửi email thường xuyên nhất cho Tess, và tôi thấy mình mất quá nhiều thời gian để nghĩ xem sẽ viết gì cho anh ta.

Ban đầu, tôi dùng sách lược làm ngơ những câu hỏi của anh ta và thay vào đó đặt cho anh ta các câu hỏi, để cố thu thập ít thông tin. Lúc đầu những câu trả lời của anh ta cợt nhả và lạc quẻ: dường như anh ta không thể đưa ra một câu trả lời trực tiếp. Chẳng hạn như, tôi hỏi hiện anh ta đang làm gì và anh ta đáp, Vẫn trả tiền lố, vẫn chiến đấu với đám khó ưa, chẳng ích gì. Sau vài trao đổi đùa cợt kiểu này, tôi quyết định mạo hiểm và đề nghị anh ta trả lời thẳng thắn những câu hỏi.

K anh bạn - một trong những thói quen viết email của Tess là bỏ chữ “O” khỏi chữ “OK” - nói thật đi nào. Lâu lắm rồi em không gặp anh. Nói em biết tình hình của anh đi. Yêu cầu quá thẳng thừng có lẽ không phải cách Tess ứng xử với anh ta nhưng tôi tính rằng tôi có thể dùng nó, vì quá nhiều thời gian đã trôi qua kể từ lúc họ nói chuyện lần cuối.

Chiêu này có hiệu quả. Email tiếp theo từ Connor dài hơn nhiều, và, dù không hoàn toàn thoát khỏi sự cợt nhả, vẫn cung cấp một số dữ kiện. Anh ta đang làm luật sư cho một công ty lớn đóng ở Temple, chuyên về luật tài sản, và sống ở Kensal Rise. Anh ta kết hôn nhưng đã chia tay với người vợ tên Chrissie từ năm ngoái. Họ có hai đứa con, mỗi người nuôi một đứa, một bé gái năm tuổi tên Maya và một bé trai hai tuổi tên Ben. Anh ta không nói mình đã kết hôn bao lâu, nhưng không thể dài hơn bảy năm, ngay cả khi anh ta gặp Chrissie ngay sau khi anh ta và Tess mất liên lạc.

Đó là một email ngắn gọn, trung thực, nhưng sau đó, vào lúc mười một giờ ba mươi phút tối theo giờ Anh, anh ta gửi một email nữa, với tiêu đề Tiếp theo:

Em đang tự hỏi vì sao anh nối lại liên lạc với em. Lý do là đây. Em biết rằng khi anh ở bên em, đó là khoảng thời gian hạnh phúc nhất của anh. Ừ, cứ cười đi. Anh biết nó không quá dài. Nhưng quả thực, anh nhìn về những ngày tháng đó như là một kỳ nghỉ trong một cuộc đời khác, cuộc đời anh hình dung mình sẽ sống khi anh còn là một thiếu niên. Đầy hiên ngang thách thức và liều lĩnh, cảm giác bất cứ chuyện gì cũng có thể xảy ra. Không nặng nợ thứ gì. Chúng ta nói về những thứ lớn lao, những vấn đề quan trọng, về sống thế nào là tốt nhất. Em đã truyền cảm hứng cho anh. Em khuyến khích anh coi trọng việc chụp ảnh, để không bán đi, để sống dũng cảm.

Anh không định làm em cảm thấy có lỗi, anh chỉ muốn thành thật. Em khiến cho anh muốn thành thật. Anh đã suy sụp hoàn toàn khi em chấm dứt nó. Hơn cả tuyệt vọng. Anh vờ như nó không to tát đến thế, rằng anh biết chúng ta không phù hợp, rằng anh nhất trí với bất cứ lý do chết tiệt nào em đưa ra - “chúng ta không làm cho nhau trở thành phiên bản tốt nhất của chính mình” hay đại loại thế. Nhưng em đã làm anh trở thành “anh” tốt nhất. Anh thành thực nghĩ rằng hồi đó anh biết em chính là cơ hội cho cuộc đời mà anh muốn, và anh đã thổi bay nó (anh vẫn không biết chính xác bằng cách nào) và phần còn lại của đời anh sẽ là một sự thỏa hiệp.

Chrissie là một sai lầm. Anh gặp Cô ấy sau em chừng một tháng, đó là một bữa tiệc tối do thằng bạn Dennis tổ chức, nhằm làm anh vui lên vì anh vẫn đang tan nát vì em. Đám bạn này của anh là những người tốt, nhưng họ khá trì trệ, em biết đấy. Luật sư mà. Và Chrissie cũng giống họ - dễ thương, tốt bụng, an toàn và hết sức bằng lòng với tình trạng hiện tại của mình. Cô ấy không có tham vọng nào lớn hơn sự bình thường. Và anh không biết chỉ vì anh biệt sức và muốn một sự yên ổn, hoặc nếu anh nghĩ theo lối kỳ dị thì nó sẽ là một cách trả thù em (ắt là em chẳng thèm quan tâm). Anh nghĩ - thôi được, mình sẽ thử. Mình có thể làm chuyện này. Mình sẽ ổn định, mình sẽ từ bỏ. Có lẽ họ đúng, và mình sai, một cuộc sống yên ổn, an phận là chìa khóa của hạnh phúc. Những cuộc hôn nhân sắp đặt nghe nói là đạt mức hạnh phúc cao nhất, vân vân và vân vân.

Thật ngạc nhiên khi rơi vào những chuyện này lại dễ dàng đến thế. Nó giống như, khi em đã ngoài ba mươi, nhất là khi em là đàn ông, giây phút em ngừng đấu tranh, em sẽ thấy mình được đưa thẳng xuống con đường dẫn tới hôn nhân, con cái và một cái xe gia đình. Anh bắt đầu gặp gỡ Chrissie, và thế là bọn anh đã ở đó, đi dạo dọc South Bank, mang một chai Wolf Blass tới những bữa tiệc tối, có những kỳ nghỉ ngắn 200 bảng một đêm trong nhà tranh của những dân chài ở Whistable, bị bạn bè Cô ấy gọi riêng ta trong những bữa tiệc và khuyên nhủ tốt hơn anh nên nghiêm túc với cô ấy, vì người ta không thể chơi bời với những phụ nữ tuổi ba mươi, em biết đấy… và cô ấy có thể làm một người mẹ tốt thế nào, với một người đảm đang đến vậy… được đưa đi gặp hai vị phụ huynh bồn chồn của cô ấy ở Gloucester, nghe kể về thời học sinh ăn uống vô độ của cô ấy… Và một năm sau là lúc chuyển về sống cùng nhau. Bọn anh đã làm như thế. Rồi những chuyến đi tới Habitat và những thùng đồ gia dụng. Những bữa trưa tập thể ngày Chủ nhật ở những quán rượu kiểm nhà hàng, những quan điểm dễ đoán được bẻ từ The Guardian’, Jamie Oliver Flavour Shaker.

The Guardian: tên một nhật báo ở Anh.

Jamie Oliver: đầu bếp, quản lý nhà hàng và nhà hoạt động xã hội nổi tiếng người Anh.

Anh đã đầu hàng tất cả, chọn con đường ít phải chống chọi nhất. Anh biết em không tôn trọng cách hành xử đó, nó đi ngược tất cả những điều em tin tưởng. Nên anh đang liều mạng khi nói với em chuyện này, vì điều Cuối cùng anh muốn là để em xem thường anh.

Anh phải nói rằng anh không hạnh phúc trong suốt thời gian đó. Có những giai đoạn anh thỏa mãn, và anh nghĩ, có lẽ đây là điều đúng đắn. Đặc biệt là khi có Maya và Ben. Chúng thật tuyệt vời, em sẽ yêu quý chúng cho mà xem. Anh đã rất cố gắng vì chúng, nhưng Chrissie và anh càng ngày càng xa cách, Cuối cùng trở thành không chịu đựng nổi. Khi anh đi làm về, CÔ ấy không phải là người anh muốn trò chuyện. Anh không muốn nói với cô ấy những suy nghĩ vụn vặt của mình, những điều anh nhìn thấy trên đường làm anh mỉm cười hay cảm thấy buồn bã. Anh biết cô ấy sẽ không hiểu, cô ấy không “làm” những chuyện phức tạp hay mơ hồ, cô ấy không đặt câu hỏi. Cô ấy nhìn thế giới theo hai màu trắng đen và không quan tâm đến những vùng xám. Và cuối cùng anh nhận ra rằng điều duy nhất có ý nghĩa là tìm được một người mà mình có thể kết nối, người hiểu mình. Nếu không, thì Ý nghĩa là gì?

Thế nên anh từ bỏ. Đó không phải một quyết định dễ dàng. Anh vật lộn với nó nhiều tháng trời. Đi gặp bác sĩ tâm lý. Nói chuyện với bạn bè. Tất cả đều khuyên anh bỏ ý định. Nhưng anh vẫn phải làm, vì tinh thần của anh.

Anh sẽ không nói rằng em là lý do của chuyện đó. Xét cho Cùng, anh đã không nói chuyện với em thấy năm qua. Nhưng anh nghĩ đến em rất nhiều, về những thứ mà em đại diện, và anh nghĩ chúng đã cho anh sức mạnh để làm điều đó. Em đã - văn - là người duy nhất anh biết không sống theo quy tắc áp đặt.

Tái bút: Anh biết em sẽ không biết phải trả lời bức thư này thế nào, nên xin đừng. Anh không trông đợi bất cứ điều gì từ em; anh chỉ muốn nói với em mà thôi.

Sáng hôm sau, anh ta trở lại với những email một dòng vui vẻ, linh tinh, như thể không có gì xảy ra. Tuy nhiên, đến chiều anh ta bảo tôi gửi cho anh ta một bức ảnh. Tôi chỉ ra rằng có một bức ảnh trên Facebook và bảo anh ta hãy kết bạn với tôi, trước sự ngạc nhiên của tôi, anh ta đáp rằng anh ta không “chơi” Facebook.

Nó là đồ rác rưởi, phát triển từ thứ email lạc hậu.

Tôi đáp ứng yêu cầu gửi cho anh ta một bức ảnh Tess đang tựa vào lan can ở cảng Sointula; thành quả photoshop thành công nhất của tôi. Quỷ bắt anh đi, anh ta trả lời, em còn tuyệt hơn em chín năm trước. Em xoay xở thế nào vậy? Nhưng vì anh ta không phải là bạn trên Facebook nên tôi không thể biết trông anh ta ra sao – điều mà, đến thời điểm đó, tôi khá tò mò. Nhưng tôi vẫn tìm kiếm, nhờ đâu không “chơi” nó nghĩa là anh ta không thích nó, chứ không phải anh ta vắng mặt hoàn toàn trên đấy. Như tôi đã nói, có cả tá Connor Devine trong danh sách của London và tất nhiên tôi không biết anh ta là người nào – nếu quả đúng anh ta ở trong số họ. Và rất nhiều profile không có ảnh - hoặc nếu có thì là những tấm không thể nhìn rõ mặt người, chỉ có hình dáng hoặc sau gáy họ – nên rất có thể anh ta ở trong số họ.

Hiển nhiên tôi không thể đánh liều hỏi profile nào là của anh ta, phòng khi nó là cái có ảnh; tôi cũng không thể đánh liều gửi yêu cầu kết bạn đến tất cả những Connor Devine tiềm năng, nhỡ đâu cả đám chấp nhận. Thông tin sẽ hiện trên profile của tôi, và trông sẽ thật đáng ngờ.

Tôi viết lại đề nghị anh ta gửi ảnh cho tôi - Thôi nào, anh đã thấy em rồi, có đi phải có lại chứ – và nửa tiếng sau nhận được một ảnh đính kèm.

Bức ảnh chụp một người đàn ông ở khoảng cách gần, hình như là trong một công viên. Anh ta đeo kính râm nhưng cũng quàng khăn quanh CỔ, nên tôi phỏng đoán có thể vào mùa xuân hoặc mùa thu, khi nắng đã rực rõ nhưng nhiệt độ vẫn giá lạnh. Anh ta có mái tóc đen cắt ngắn với ít tóc mái lòa xòa trước trán, giống một nhân vật hoạt hình - tôi không nhớ tên nhân vật và nếu không vào Google, tôi không thể tìm ra - và hai tại chìa ra ngoài. Đôi lông mày rậm và anh ta để râu lởm chởm. Anh ta đang mỉm cười vào ống kính, nhưng tôi không thấy được đôi mắt anh ta sau kính râm. Nếu anh ta bằng tuổi Tess, thì anh ta gần bốn mươi tuổi.

Tôi thấy khá là khó khi viết về Connor một cách khách quan, không bị xen lẫn bởi cảm xúc hay nhìn nhận, nhưng tôi đang cố gắng. Vào lúc ấy, điều tôi nghĩ khi đọc email tự thú của anh ta là ngạc nhiên vì một mối quan hệ có thể có nhiều ý nghĩa như thế đối với một người, và không là gì vỐi người còn lại. Ở đây, Connor đang nói rằng thời gian anh ta ở bên Tess là giai đoạn hạnh phúc nhất đời mình, song tôi đã bao lần đề nghị Tess kể cho tôi về tất cả những người cô có quan hệ tình cảm, kể cả ngắn ngủi và vụn vặt, cô chưa bao giờ nhắc đến anh ta. Tôi không nghĩ cô có lý do gì để giữ lại: xét cho cùng, cô đã kể cho tôi rất nhiều chuyện kinh khủng mình đã làm, và có vẻ không bận tâm tôi nghĩ gì về cô. Cô hẳn đã hoàn toàn quên nó rồi.

Một tối trên Skype, Cô đã nói một điều tương tự. “Thật kỳ lạ, làm sao cô có thể có tình một đêm với một người và không bao giờ quên được họ, rồi Cô hẹn hò với một người khác trong, xem nào, sáu tháng, và họ không để lại một dấu vết nào trong Cô. Thời điểm kết thúc là CỐ quên nó luôn. Cô không thấy thế sao?”

“Mmmm”, tôi đáp.

Rõ ràng Tess và tôi là hai người rất khác nhau. Nhưng tôi cảm thấy rằng nếu tôi có làm bất cứ chuyện gì mà Connor nói anh ta và Tess đã làm cùng nhau - khiêu vũ trên những chiếc bàn trong một quán bar Tây Ban Nha ở Soho, làm khách không mời trong một lễ trao giải cho nhân viên khí đốt ở một khách sạn màu mè, đi Paris chỉ để ăn một bữa trưa – hoặc nếu có người bảo tôi rằng tôi là con người khác thường nhất họ từng gặp, tôi ắt sẽ nhớ mãi. Hôm nay Cộng đồng xảy ra một chuyện. Tôi không muốn đề cập, nhưng thú thực là tôi vẫn cảm thấy run rẩy, và có lẽ sẽ giúp ích nếu viết nó ra.

Tôi thức giấc sáng nay với lớp dầu quen thuộc trên da và tóc tôi vừa cứng vừa bết. Việc vệ sinh hàng ngày bằng giấy ướt khiến tôi cảm thấy không đủ, tôi khao khát được tắm một bữa đúng nghĩa với nước. Tôi nhớ hôm qua Annie bảo rằng chị và lũ trẻ đã xuống sông để tắm, thế là tôi hỏi chị đường đến đó. Chị lập tức đề nghị đi cùng tôi nhưng tôi do dự; xét từ cách phơi ngực VÔ tự của chị, tôi ngờ rằng chị sẽ trông đợi tất cả chúng tôi cải hết quần áo.

Con đường chị chỉ cho tôi nghe phức tạp một cách không cần thiết. Rốt cuộc, tôi nghĩ, chỉ cần mình đi xuống đồi, thì mình không thể đi nhầm đường quá xa. Tôi khởi hành từ một con đường mòn mấp mô với những lùm cây bụi mọc bên vệ đường trải dài xuống phía nam, chẳng bao lâu sau những âm thanh của cộng đồng, tiếng trống bongo và tiếng chó sủa, dần tắt. Mặt trời đã lên cao và nắng gay gắt. Tôi đã quên đội mũ, và nhanh chóng bị mất sức bởi cái nóng. Những lá cây nhọn chọc vào hai mắt cá chân tôi. Tôi bắt đầu bước thẳng xuống nhưng mặt đất gồ ghề và tôi thấy mình đi ngược trở lại. Mặt trời thực sự đang chi xuống đầu tôi, tóc tôi nặng trĩu như cái mũ bảo hiểm và chân tay tôi như những cục thịt lồi lên dính vào cơ thể, tôi bắt đầu cảm thấy mất phương hướng nên tôi vội vàng đi về phía những bóng cây. Tôi thoát được nắng nhưng nảy sinh một vấn đề là tôi không thể nhìn ra nơi tôi định tối, vì những cái cây. Giờ đây tiếng ồn ào của cộng đồng đã im bặt, thay bằng tiếng ríu rít của lũ Côn trùng và, bên dưới đó, cái tôi hình dung là tiếng nước chảy xa xa. Ở trong rừng lúc ấy tôi có một cảm giác kỳ lạ. Tôi đột nhiên thấy Cô đơn cùng cực; Cô đơn hơn bao giờ hết, kể cả sau khi mẹ mất. Thực ra nó là một cảm giác hoàn toàn khác, sợ hãi hơn là trống vắng.

Tôi thấy thật khó diễn tả.

Tôi nhớ Tess có lần nói rằng đôi khi cô tuyệt vọng đến mức cảm thấy mình giống như nhiều mảnh ghép lại, được dạy dỗ và nuôi nấng - không có gì là thực chất, duy nhất của “cô”. Lúc ấy tôi không hiểu ý cô. Nhưng bây giờ thì tôi hiểu. Và tôi nhận ra một cách đột ngột, choáng ngợp rằng một ngày nào đó tôi sẽ không tồn tại. Tôi muốn hét lên, nhưng dù có la hét hết cỡ giọng của con người cũng không đủ diễn tả cảm giác này. Và sau cái ý nghĩ quá lớn, trừu tượng và kinh khủng để nắm bắt được này, tôi bắt đầu nghĩ đến những cái nhỏ bé, cụ thể: rằng sau khi tôi chết, một người khác sẽ chuyển vào căn hộ của tôi và bày máy tính của họ bên cửa sổ, người ta vẫn sẽ bán những cái lều ở Tesco Extra, những ông già khác sẽ ăn trứng ngâm Ở quán rượu Queen Bee. Mọi người và mọi vật sẽ tiếp tục tồn tại trong một thế giới nơi tôi không tồn tại, và không ai nghĩ đến tôi cả.

Và nếu điều đó xảy ra, thì sự tồn tại ban đầu có ý nghĩa gì? Tôi có thể chết ở đây, dưới cái cây này. Tôi hình dung xác mình theo thời gian tua nhanh, phân hủy và ngấm vào trong đất cho đến khi, trong vòng vài giây, chẳng còn lại dấu vết gì của tôi nữa.

Có thể, tôi nghĩ, đây chính là nơi Tess chết – không phải không có khả năng. Cô có thể đã ở dưới đó, trong lòng đất; tôi có thể hội ngộ với cô, những phân tử của chúng tôi hòa vào nhau trong đất. Ý nghĩ ấy không phải không hấp dẫn.

Tôi phải nhấn mạnh rằng tôi không cảm thấy mình muốn chết, chính xác hơn là không sống có lẽ không phải là điều quá khủng khiếp. Dù sao thì Tess không còn sống, mẹ cũng không còn sống.

Tôi không biết mình đã ở trong rừng bao lâu. Đến một lúc nào đó, cái tôi cho là bản năng sinh tồn đã kích hoạt, tôi bắt đầu bước về phía ánh nắng, ra khỏi rừng, leo lên đồi, cuối cùng những âm thanh của Cộng đồng lớn dần và tôi về đến căn lều. Annie đang nấu bữa tối và vui vẻ hỏi tôi đi bơi thế nào.

“Cô có tìm thấy nước không? Chỉ còn một dòng nhỏ. Buồn thật! Không biết những con thú tội nghiệp phải làm thế nào. Nếu trời không mưa sớm thì nơi này sẽ khô hạn hoàn toàn. Cô có muốn ăn tối không?”

Tất cả những gì tôi có thể làm là lắc đầu.

« Lùi
Tiến »