Tôi đang viết những dòng này từ bàn làm việc trên phố Albion. Bây giờ là hai giờ mười phút sáng. Một sáng thứ Bảy và tôi vừa nghe tiếng Jonty về. Cậu ta đi dự một bữa tiệc Halloween, hóa trang thành người dẫn tin tức thời sự Tổi một cái hộp bìa cứng chụp lên đầu sơn phết như cái tivi và khoét một hình vuông để hở ra khuôn mặt. Cậu ta tuyên bố cả buổi tối sẽ chỉ đọc tin tức thôi, nhưng tôi không sao tưởng tượng nổi chuyện đó sẽ kéo dài được lâu, với tính cách của cậu ta.
Từ Tây Ban Nha trở về, tôi tin chắc cậu ta đã dọn đi. Đó không phải là nỗi lo có căn cứ; rốt cuộc cậu ta không bỏ đi sau khi phát hiện chuyện tôi đã làm, nên không có lý gì cậu ta lại bỏ đi ngay bây giờ. Song tôi vẫn hình dung mình mở cửa nhà và những bánh xe vali của tôi và vào chùm chìa khóa cậu ta để trên thảm chùi chân. Phòng cậu ta sẽ trống trơn, chỉ còn mỗi chiếc giường đơn, những bức tường thủng lỗ chỗ ở những nơi cậu ta tháo tranh ảnh xuống, hai cái lỗ trên tường nơi cậu ta từng cố gắng treo cái giá lên, không còn lại thứ gì khác của cậu ta nữa. Những nghi ngờ của tôi tỏ ra vững chắc khi tôi thấy cửa được khóa hai lớp, nhưng bước vào hành lang tôi đã thấy cái áo khoác len thô của cậu ta vắt trên lan can, sự nhẹ nhõm tràn ngập trong tôi như một cái vòi nước được mở.
Hai mươi phút sau, cậu ta quay về. Tôi ngồi ở bàn, đang cắm lại điện cho laptop thì nghe thấy tiếng chìa khóa của cậu ta xoay trong ổ, mấy giây sau, cửa phòng tôi bật mở.
“Ôi điên thật”, cậu ta nói. “Tôi đã muốn ở đây lúc cô quay về.”
Cậu ta trao cho tôi một cái ôm ngượng ngùng - tức là tôi thấy ngượng ngùng, rồi bắt đầu giội bom tôi bằng một loạt câu hỏi về chuyến đi. Tôi ngạc nhiên nhận ra mình thực sự muốn nói về nó, nên chúng tôi ra bên ngoài ngồi. Jonty thích sử dụng cái mái hiên “không chính thức”; cậu ta đã tìm được hai cái ghế trong thùng rác lớn và kê chúng lên mặt đá dăm nhựa lổn nhổn. Ban đầu tôi ngần ngại phải ra ngoài đó, nhưng khi ra đến nơi thì nó đẹp hơn tôi tưởng. Quang cảnh trải dài vượt qua bờ mép rác rưởi bên dưới; có thể nhìn thấy sân sau nhà hàng xóm, gần như bị choán hết bởi một giàn nhún to rộng, và những bạn Công của những căn hộ đối diện, một số cái rực rỡ nhờ các chậu hoa. Chúng tôi ngồi ngoài đó và tôi kể cho cậu ta về chuyến đi – tất cả, trừ đoạn về Synth, mẹ và cảnh sát.
Đã hai tháng trôi qua kể từ đó. Bây giờ tôi đang ngồi đây, nhìn chằm chằm vào màn hình, cố gắng tập trung. Jonty lục đục gần đó – tôi nghe thấy tiếng giật nước toilet - và Cố không làm phiền tôi nhưng tôi ngờ rằng cậu ta đang say. Tối nay, tôi đã có một phát hiện quan trọng nhưng ý nghĩ của tôi cứ lạc sang những điều hoàn toàn chẳng liên quan. Bữa tiệc như thế nào? Tại sao con người cứ say xỉn khi mà nó khiến họ hành xử như kẻ ngốc và cảm thấy kinh khủng vào ngày hôm sau? Cảm giác sẽ như thế nào khi đi đến một bữa tiệc cùng Jonty?
Tôi nóng lòng muốn ra ngoài hỏi cậu ta về bữa tiệc, và kể về khám phá của tôi tối nay. Cậu ta sẽ hứng khởi lắm, vì cậu ta đã theo câu chuyện cho đến tận bây giờ. Nhưng căn hộ đã yên tĩnh. Có lẽ cậu ta đã để nguyên quần áo mà lăn ra ngủ. Tôi hi vọng cậu ta đã nhổ bỏ cái hộp ra khỏi đầu.
Chuyện là tôi vừa phát hiện ra câu trả lời cho thứ đã làm tôi đau đầu một thời gian. Thực ra là hai câu: nơi Tess và Adrian đã gặp nhau, và nơi Tess đã ở suốt ba tháng nửa đầu năm 2008. Nhưng cả hai có cùng câu trả lời. Một bệnh viện tâm thần ở Tây London tên là Zetland Centre, thường được gọi là “the Zetty”.
Nếu không nghe được cái nickname đó, tôi ắt chẳng bao giờ luận ra. Từ khi về nhà, tôi không có nhiều tiến triển với cuộc điều tra của mình, nhưng tối nay Google alert Ở tên của Adrian báo tin mới. Trong một bài phỏng vấn trên báo, một người đàn ông cho biết mình từng ở chung phòng trong một bệnh viện với “ác quỷ internet” Adrian Dervish. Ngoại trừ hồi đó hắn ta không được gọi là Adrian; hắn xưng tên mình là Stuart Walls. Và hình như hồi đó hắn ta cũng không nói giọng Mỹ. Hắn bảo với người này là mình đến từ Worcester, một nơi thuộc miền Trung nước Anh.
Stuart Walls đến từ Worcester. Tôi có thể hiểu anh ta lấy một bút danh để điều hành Red Pill, nhưng tại sao lại mang cả quốc tịch khác? Nghe chừng là một sự mạo hiểm không cần thiết, vì người nào biết nhiều về giọng Mỹ có thể nghe những podcast của anh ta và phát hiện ra nốt sai trong những từ “hey there’s và “shucks”.
Có lẽ sự mạo hiểm chính là vấn đề.
Dù gì đi nữa, trong bài phỏng vấn, người đàn ông này nói Adrian bắt anh ta thức suốt đêm Với những kế hoạch thống trị thế giới của hắn và không bao giờ thay áo chui đầu, và anh ta buột miệng nhắc tên bệnh viện là “the Zetty”.
Cái tên khẽ rung một tiếng chuông nhắc tôi nhớ đến Tess. Tôi lục lại những ghi chép của mình và phát hiện từ này đã xuất hiện trong những email của cô năm 2008. Tôi đã không tài nào luận ra nghĩa của nó, còn Tess bảo cô không nhớ nổi khi tôi hỏi cô ở một trong những lần hỏi đáp, thế nên tôi đã coi nó là vấn đề ưu tiên thấp, và xếp nó sang một bên. Phỏng đoán tối ưu nhất của tôi là, nó là biệt danh của một người bạn trai ngắn ngày hoặc một người bạn. Bạn thấy đấy, thỉnh thoảng cô vẫn làm thế – đặt “the” trưắc tên một ai đó chẳng có lý do cụ thể. Chúng ta thử hỏi the Jack xem anh ấy có thể làm DJ hay không nhé? cô ấy sẽ viết; hoặc: Nghe giống thủ tục tĩu mà the Big Mel sẽ phun ra lắm. Cái mạo từ xác định không cần thiết ấy là một trong những thói quen của CỐ.
Giả thuyết của tôi là thế này: sau một lần tự sát bất thành vào đầu năm 2008, Tess đã được đưa vào, tự nguyện hoặc không, bệnh viện Zetland, nơi cô ở lại khoảng mười tuần. Trong thời gian đó, cô gặp Adrian, một bệnh nhân khác. Họ đã duy trì liên lạc - tôi cho là bằng điện thoại, vì tôi không tìm được bất cứ email nào giữa họ - và ba năm sau, vào thời điểm anh ta đang điều hành Red Pill, cô đã nhờ anh ta giúp mình được chết. Hoặc có lẽ anh ta đã đề nghị. Có thể những người khác, như “Mark” của Randall Howard, cũng gặp Adrian ở đó.
Đương nhiên tôi hiểu vì sao Adrian không muốn tôi biết về “the Zetty” - nhưng còn Tess? cô đâu phải là người kín đáo, và đã thoải mái kể cho tôi những nỗ lực tự sát khác cùng những thất bại và những lần quan hệ nhạt nhẽo. Tại sao cô không thừa nhận đã vào bệnh viện này? Tôi không tin là cô đã quên thật. Hoặc có thể cô đã quên. Có thể nó là giai đoạn vô cùng tồi tệ và cô đã khóa nó lại. Chắc là tôi sẽ chẳng bao giờ biết được. Họ vẫn không tìm được Adrian. Thành thực mà nói, mối quan tâm của tôi về nơi ở của anh ta đang bị phai nhạt. Lần cuối cùng tôi chính thức nghĩ về nó là một tháng trưỐC, bị kích thích bởi điều Jonty nói với tôi. Cậu ta vừa đi ăn tối với chị gái và bạn trai mới của chị ấy, một người theo lời Jonty là “đã ngu còn tỏ ra nguy hiểm”. “Gã ta cứ lải nhải về chuyện Obama đứng sau cuộc khủng hoảng ngân hàng ra sao, rằng đó là một hoạt động có giải”, cậu ta nói. “Tôi chỉ muốn vục đầu vào món couscous.”
Tôi nhớ đến một nhận xét bất cần của Adrian ở Heath ngày hôm đó, về sự dễ dàng khi dựng lên một thuyết âm mưu về Tổng thống Obama và các ngân hàng. Tôi hiếu kỳ tra Google, và đúng là có một trang chuyên trị theo đuổi luồng tư tưởng đó.
Năm 2008, có hai sự kiện trọng yếu diễn ra. Barack Obama trở thành người đàn ông quyền lực nhất thế giới, và sự kiện kinh tế toàn cầu rơi vào suy thoái. Trung hợp chăng? Thật sao?…
Trang web chỉ vẻn vẹn một trang chủ được lập ra vội vã, và ngoài một địa chỉ email nặc danh, không có một chi tiết nào về người đứng sau. Điều này không có gì ngạc nhiên nếu đó là Adrian. Manh mối khả dĩ duy nhất là câu châm ngôn Ở cuối trang - “Câu hỏi không phải là ai sẽ để tôi làm điều đó; mà là ai sẽ ngăn tôi lại” –của Ayn Rand,
Cờ giả: hoạt động bí mật do các tổ chức, tập đoàn, hoặc các chính phủ thiết kế để xuất hiện như thể nó được thực hiện bởi các đơn vị, tổ chức, hoặc chính phủ khác. thần tượng của Adrian. Nhưng đó khó có thể coi là chúng cứ thuyết phục. Và ngay cả khi tôi có bằng chứng rằng Adrian đứng sau trang web, tôi sẽ không báo cảnh sát. Tôi không muốn dính dáng gì đến anh ta nữa.
Trong khi vắng mặt, Adrian được chẩn đoán đủ kiểu bởi giới truyền thông, là kẻ vừa “rối loạn nhân cách ái kỷ” vừa bị chứng “rối loạn nhân cách chống đối xã hội”. Tôi nghĩ về sau nghe không đến nỗi tệ - thực ra, nó có vẻ giống triệu chứng của tôi - nhưng tôi tra cứu từ đó và nó thực sự khá nghiêm trọng. “Một hình mẫu đầy tính thuyết phục của sự coi thường, và xâm phạm những quyền lợi của người khác.” “Gian trá, biểu hiện qua việc liên tục nói dối, sử dụng các bí danh, hoặc lừa gạt người khác vì lợi ích hoặc thỏa mãn cá nhân.
Adrian ắt sẽ bác bỏ những quy chụp đó. Anh ta không tin vào bệnh tâm thần. Anh ta nói về chủ đề đó trong rất nhiều podcast của mình: anh ta nói rằng các bác sĩ đã trầm trọng hóa những phản ứng hết sức bình thường trong cuộc Sống với mục đích kiếm tiền và kiểm soát những thành viên bất trị của xã hội. Tôi nghe kĩ lập luận của anh ta và cũng đồng tình. Xét cho cùng, đó là lý do lúc đó tôi giúp Tess: vì tôi tin rằng mong muốn kết thúc cuộc đời của cô là cảm xúc của cô, không được chối bỏ hay che đậy bằng thuốc thang.
Nhưng khi ấy tôi nghĩ rằng Adrian có lý. Đó chính là vấn đề. Nếu tôi biết anh ta được chẩn đoán mắc bệnh tâm thần trước khi anh ta bảo tôi rằng bệnh tâm thần không tồn tại, tôi có còn lắng nghe anh ta như cũ không?
Tôi cho rằng mình chẳng bao giờ biết chắc được. Có thể lúc đầu Adrian là người đã lôi kéo tôi vào nhưng sau đó, trong những tuần lễ chuẩn bị trước khi trả phòng, chỉ có tôi và Tess. Dù cho bà Marion lạnh nhạt với tôi thế nào đi nữa, tôi vẫn tin là tôi hiểu Tess hơn ai hết trên đời và, ngoại trừ một khoảnh khắc sợ hãi có thể hiểu được trên Skype vào buổi tối hôm đó, khao khát được biến mất khỏi thế gian bấy lâu nay của cô chưa từng dao động. Tôi đã không ngăn cản cô thực hiện điều đó.
Không phải là giải pháp với Tess đã đạt được; hay đúng hơn, không theo cách mà tôi dự định khi tôi bắt đầu viết câu chuyện này ở Tây Ban Nha. Tôi chẳng biết thêm điều gì cụ thể về hành tung của cô sau khi trả phòng hơn lúc tôi xuống máy bay ở Malaga hồi tháng Tám. Thi thể CỐ chưa được tìm thấy. Nhưng bây giờ tôi có cái mà tôi nghĩ là một giả thuyết khá vững chắc.
Nhưng tôi đang quá vội vàng rồi. Trước hết tôi cần giải thích chuyện đã xảy ra với tôi ở Tây Ban Nha, và lý do tôi đột ngột rời khỏi Cộng đồng.
Vào sáng thứ Tư, tôi đang ngủ lơ mơ dưới gốc cây thì nghe thấy giọng nói ban đầu là tiếng Tây Ban Nha ở ngay cạnh, rồi đến tiếng Anh. Tôi cảm thấy một bàn tay đặt lên vai, lay tôi tỉnh giấc. Nửa mơ nửa tỉnh, ý nghĩ đầu tiên của tôi là Milo, nhưng cái nắm này nặng hơn và kiên quyết hơn nhiều, tôi mở mắt và trông thấy một người đàn ông lù lù phía trên tôi. Mặt trời ở sau lưng người đó, nên nhất thời tôi không thể nhìn ra anh ta mặc đồng phục, và tôi tưởng anh ta là người ở Cộng đồng, có lẽ được cử đến bởi bà già khó chịu cứ càm ràm tôi không sử dụng toilet chính.
Rồi anh ta lên tiếng, bằng thứ tiếng Anh lo lở, “Mời cô đứng dậy.”
Tôi ngồi dậy và thấy một người đàn ông khác, đứng cách xa một bên, họ đều mặc đồng phục cảnh sát. Đương lúc mụ mẫm, tôi có ý niệm rằng bài tường thuật về Tess của tôi bằng cách nào đó đã chảy vào đời thực. Dù sao trong câu chuyện, đã tải đoạn tôi đến đồn cảnh sát ở London: bằng việc viết về cảnh sát, có lẽ tôi đã kêu gọi được họ hiện hình. Không biết làm thế nào, họ đã tìm ra lý do tôi đến cộng đồng và ở đây để nói vải tôi rằng thi thể của Tess đã được tìm thấy.
Tôi đứng dậy, họ đều cao to lực lưỡng, đeo kính râm và đang toát mồ hôi với bộ đồng phục. Sau lưng họ có một chiếc xe cảnh sát và, bên cạnh, là một vuông có bẹp gí nơi vốn đậu chiếc xe tải của Annie. Một người yêu cầu tôi xưng tên, rồi cho tôi biết rằng tôi bị bắt vì bị tình nghi giết mẹ.
Cảm giác vẫn chưa hoàn toàn tỉnh táo, tôi chui vào ghế sau chiếc xe. Lạ thay, tôi không cảm thấy lo lắng. Chúng tôi chạy xuống con đường mòn và hướng về thị trấn. Hai người đàn ông không nói chuyện, với tôi hay với nhau, âm thanh duy nhất là một giọng Tây Ban Nha nói rất nhanh thỉnh thoảng bùng lên từ radio. Khi chúng tôi tới khu nhà kính phủ plastic, tôi nghĩ đến căn lều cùng những vật dụng của mình và tự hỏi chuyện gì sẽ xảy ra với chúng. Ngoài cái đó ra, nghe có vẻ kỳ quặc, tôi không thực sự nghĩ hay cảm nhận được bất cứ điều gì trong suốt chuyến đi. Như thể não bộ của tôi đã offline. Điều hòa đang mở hết cỡ và mát rượi. Ngồi trên băng ghế nhựa nứt nẻ, tôi cảm thấy dễ chịu hơn bao giờ hết trong suốt một tuần ở Tây Ban Nha.
Ở đồn cảnh sát, tôi được đưa vào một căn phòng, trang trí bằng những tấm poster cũ nát cảnh báo những nguy hiểm của nạn trộm cắp và lời mời chào ở chung phòng nghỉ. Còn lại cách bài trí giống y như ở Fleet Street – một cái bàn, bốn cái ghế và một máy ghi âm chạy băng casset, nom còn thô kệch hơn cái máy ở London.
Giọng viên cảnh sát đều đều khi thông báo lời buộc tội và đọc những quyền của tôi, như thể vụ này cũng chẳng quan trọng hơn một vụ thó túi xách. Tôi có quyền mời một luật sư nói tiếng Anh, tôi có biết người nào không? Sau khi anh ta nhắc lại câu hỏi, tôi tìm được dũng khí để lắc đầu. Tôi có muốn họ tìm cho một người không? Tôi gật đầu.
Tôi được cho biết là có thể gọi điện thoại, và được dẫn tới chỗ một chiếc điện thoại bọc plastic trong góc phòng. Vấn đề là tôi không biết gọi cho ai. Người duy nhất tôi nghĩ ra là Jonty, nhưng tôi không có số di động của cậu ta. Vậy nên tôi bấm số duy nhất tôi thuộc nằm lòng, đó là số điện thoại cố định ngôi nhà cũ của chúng tôi trên phố Leverton. Một người đàn ông trả lời, chắc là người đã mua nhà của chúng tôi. “Vâng? Ai đấy?” Ông ta hỏi, và khi tôi không đáp, ông ta chửi thề, rồi dập máy.
Tôi quay về chỗ ngồi. Một viên cảnh sát đã rời khỏi phòng, có lẽ là đi tìm luật sư cho tôi, người còn lại ngồi gần cửa, ít nhúc nhích đến nỗi chắc đã ngủ gật sau cặp kính râm. Tôi nhìn những tấm poster trên tường, Vải những minh họa cảnh báo nạn tội phạm du lịch – một bức vẽ cái túi ngoắc trên lưng ghế với một đường đỏ cắt ngang qua - và nghĩ rằng đến lúc người ta nhìn thấy chúng ở trong đồn cảnh sát này, chắc chắn đã quá muộn để lưu ý đến những lời khuyên.
Tôi nhìn chằm chằm dòng chữ HÃY CẨN THẬN!, và nghĩ đến vuông có phẳng lì chỗ xe tải của Annie đậu. Tôi không thất vọng vỐi chị vì đã báo cảnh sát, mà thất vọng với bản thân và nhận định của mình nhiều hơn. Tôi đã đánh giá sai chị. “Tôi hiểu”, chị đã nói vậy khi tôi kể cho chị nghe, nhưng thực ra chị không hiểu chút nào. Giống như Connor đã nói “Anh yêu em” nhưng thực ra không phải. Lẽ ra giờ này tôi nên học được rằng con người không phải lúc nào cũng nói điều họ nghĩ.
Rồi tôi nghĩ đến chữ “kẻ giết người”, và ý nghĩ đó đang được áp cho điều tôi đã làm với mẹ mình nghe buồn cười đến mức tôi suýt bật cười.
Rồi đột nhiên tôi hoảng sợ. Tôi không muốn bị nhốt lại, mà chắc chắn là thế. Khi tôi bước vào đồn cảnh sát ở London, tôi chào đón cảnh ngồi tù, nhưng giờ mọi chuyện đã khác. Nỗi hoảng loạn vây lấy tôi, tôi liếc nhìn viên cảnh sát bất động và, trong một giây phút điên rồ, tôi định bỏ chạy qua lối đó.
Một phần trong tôi cảm thấy nếu tôi giải thích mọi nhẽ, họ sẽ hiểu – làm sao lại không hiểu cơ chứ? – nhưng tôi không ngây thơ. Từ khi mẹ mất, tôi đã theo dõi tin tức về những vụ xét xử cái chết không đau đớn và biết rằng trong khi chỉ một số quan tòa đồng cảm và thể hiện sự khoan dung, thì số còn lại không như thế. Việc mẹ không phải là thành viên của một tổ chức ủng hộ quyền được chết và chưa bao giờ Công khai bày tỏ nguyện vọng của mình sẽ không đem lại lợi thế cho tôi, việc tôi là người thừa hưởng duy nhất gia tài của bà cũng vậy.
Tôi bỗng nhớ mẹ đến nghẹn thở. Tôi tưởng tượng cánh cửa mở ra và mẹ chạy ào vào để cứu tôi. Bà sẽ ôm tôi và chăm sóc cho tôi, y như tôi đã chăm sóc bà. Chúng tôi sẽ cùng phá lên cười; tất cả chỉ là sự nhầm lẫn tai hại, bà đã bình phục và khỏe mạnh trở lại, chúng tôi trở về phố Leverton, tôi ngồi ở bàn, bà lắc lư theo kênh Radio 2 trong lúc nấu nướng. Tôi an toàn và được yêu thương, và khi chúng bạn bắt nạt tôi ở trường, bà sẽ đợi trước cổng với một túi bánh donut mua ở hiệu Greggs, và nắm chặt tay tôi, như tôi đã nắm chặt tay bà khi bà trút hơi thở cuối cùng.
Viên cảnh sát nhìn về phía tôi. Tôi túm chặt cái bàn nhựa và hít thật sâu, Cố lấy lại tự chủ. Rồi cửa mở ra và viên cảnh sát kia lại xuất hiện. Đằng sau anh ta là một người khác, nhưng đó không phải một luật sư biết tiếng Anh. Đó là Annie.
Chị dắt theo cả Milo và đứa bé, nom còn đỏ bừng hơn bình thường, tóc chị bết lại dính cả vào mặt.
“Cô không sao chứ?” Chị hỏi.
Tôi kinh ngạc nhìn chị, và gật đầu.
“Tôi đi siêu thị”, chị kể. “Khi quay về, tôi không tìm thấy cô và hay tin cô bị cảnh sát đưa đi.”
Chị bảo Synth đã nói với chị, và qua vẻ mặt, chị đoán được chính chị ta đã gọi cho họ. Chắc hẳn Synth đã nghe lỏm chúng tôi nói chuyện bên đống lửa.
“Tôi đã giải thích với cảnh sát là có sự hiểu lầm”, chị nói. “Tiếng Anh của Synth không tốt, và cô ta nghe nhầm câu nói của cô. Ý cô không phải là giết, ý cô là chết. Cô muốn nói mẹ cô đã chết một cách tự nhiên, do căn bệnh của bà.” Chị nhìn thẳng vào mắt tôi. “Tôi đã nói với cảnh sát rằng cô sẵn sàng xác nhận chuyện này, và tích cực hợp tác trong việc cung cấp cho họ những chi tiết về cái chết của mẹ cô để họ có thể xác minh sự thật.”
Tôi chỉ biết gật đầu. Sau đó Annie trình bày với cảnh sát, nói bằng tiếng Tây Ban Nha nhanh, cầu kỳ. Tôi không ngờ chị có thể nói trôi chảy đến thế.
Annie và tôi ở đồn cảnh sát thêm ba tiếng đồng hồ. Họ tìm cho tôi một luật sư biết tiếng Anh, một người phụ nữ trung niên gầy gò tên là Maria, và tôi lặp lại câu chuyện của Annie. Tôi nói với họ về cái đêm mẹ qua đời, bỏ qua sự nhúng tay của mình, và cho họ biết tên của bác sĩ Wahiri, người đã đến vào sáng hôm sau và ký giấy chứng tử xác nhận bà đã chết vì những biến chứng của bệnh MS.
Họ nói họ sẽ phải gọi điện sang Anh xác minh. Trong lúc chúng tôi ngồi đợi, Annie kéo ghế ngồi bên cạnh tôi. Chúng tôi không nói về tình hình hiện tại, chị chỉ kể những chuyện vui lặt vặt khác, trong lúc Milo lang thang quanh phòng, đá vào các chân ghế. Lúc sau chị đưa đứa bé cho tôi bế. Đó là lần đầu tiên tôi bế trẻ con, nó có cùng cân nặng và nhiệt độ với con mèo trước đây của chúng tôi, Thomas.
Sau một tiếng đồng hồ, Annie ra ngoài mua ít đồ uống, trong thời gian chị vắng mặt, tôi nghe thấy những tiếng nói giận dữ, to dần qua cánh cửa, từ bàn giấy bên ngoài. Tôi trở nên lo lắng, nhưng khi quay về Annie bảo rằng cuộc cãi lộn không liên quan đến vụ việc của chúng tôi. Lúc chị đang đánh vật với cái máy bán hàng tự động ở gian ngoài, có hai người đàn ông được đưa vào, bị cáo buộc hành hung. Hình như là tranh cãi quanh chuyện nước nôi.
“Theo như tôi nghe được, thì một trong hai người là nông dân,” chị nói. “Anh ta đã dẫn đường ống nước từ khu nhà kính, khu nhà gần chỗ chúng ta. Anh ta bảo đó là nước của anh ta nó đi qua khu đất của anh ta. Người dân đang trở nên liều lĩnh vì hạn hán.”
Thời điểm đó, tôi không nghĩ nhiều về chuyện này. Tâm trí tôi vẫn dồn hết vào cú điện thoại của cảnh sát gọi cho bác sĩ Wahiri. Vào buổi sáng ông ấy đến khám cho mẹ, tôi liền nói với ông ấy rằng khi ngủ dậy tôi phát hiện bà đã mất, bên cạnh tôi, ông đã nhìn tôi. Một cái nhìn rất nhanh, chỉ trong một giây, vào thời điểm đó, tôi đọc ra nghĩa của nó: tôi biết điều cổ đã làm, và tôi hiểu. Nhưng có lẽ một lần nữa tôi đã ngộ nhận, ánh mắt ấy là ánh mắt nghi ngờ.
Thêm nửa giờ nữa trôi qua và tôi càng lúc càng lo lắng. Đứa bé bắt đầu khóc nên Annie kéo áo sơ mi của mình lên và cho nó bú. Milo cũng khóc lè nhè, tôi tìm cách giải trí cho nó bằng trò chơi ú òa qua những ngón tay, trò mẹ thường chơi vải tôi. Nó có tác dụng được một lúc - thằng bé cười thành tiếng - nhưng rồi nó lại chán và quay sang giật váy mẹ.
REV Rồi chúng tôi nghe thấy tiếng bước chân đến gần. Annie đã cho con bú xong, ơn trời, cửa mở và viên cảnh sát lớn tuổi hơn bước vào. Anh ta nói tiếng Tây Ban Nha Vải Annie, chị gật gật đầu. Nhìn vẻ mặt chị, tôi không đoán được anh ta đang nói gì. Tim tôi đập thình thịch.
Chị quay sang tôi và nói, “Bác sĩ Wahiri đã xác nhận cái chết là tự nhiên. Vì lời buộc tội cô dựa trên tin đồn và chưa có bằng chứng củng cố, chúng ta tạm thời được tự do.”
Chúng tôi về đến cộng đồng thì trời đã tối. Annie hỏi bây giờ tôi định làm gì.
“Em nghĩ là em đã hiểu ra rồi, và em nên về nhà thôi”, tôi nói.
Sáng sớm hôm sau, tôi thu dọn lều và Annie đưa tôi ra sân bay. Chúng tôi không nói chuyện nhiều trên đường. Nhưng đó không phải là sự im lặng gượng gạo. Ở sân bay, chị đỗ chiếc xe tải xiên ngang, chắn làn xe taxi. Tôi chào tạm biệt với Milo rồi với chị, “Cảm ơn chị rất nhiều.”
Chị phầy tay, như thể khỏi cần cảm ơn.
“Chúc may mắn ở đó.” Và chị nổ máy còn tôi đi về phía lối vào sân bay, chị gọi với theo.
“Tôi có dùng Facebook đấy, nhỏ liên lạc nhé.”
Cách đây ba ngày có một tiến triển đáng chú ý. Annie chat Facebook với tôi thường xuyên sau khi tôi trở về từ Tây Ban Nha – những mẩu chuyện vụn vặt, không đâu về chị và Milo, có lần là một lời mời dự triển lãm đồ gỗ thủ công mà chị góp phần tổ chức ở Connecticut. Để trả lời, tôi tái chế lại hồi âm của Tess cho Connor khi anh ta mời cô đi ăn tối lần đầu: Em thích lắm, nhưng không đến mức để đi một chuyến dài 10.000 dặm.
Tuy nhiên tin nhắn mới đây nhất chứa đựng một tin tức đúng nghĩa.
Cô có hay tin rằng đã không có mua ở Alpujurras kể từ hồi chúng ta ở đó không? Hình như đó là thời kỳ khô hạn tồi tệ nhất trong trí nhớ người bản xứ. Dòng sông đã cạn trơ đáy, mâu thuẫn giữa những người nông dân và bên kinh doanh nông nghiệp ngày càng lớn. Tôi rất lo cho cuộc sống hoang sơ khổ cực ở nơi đó.
Tôi lướt qua các trang tin tức Tây Ban Nha, tất cả đều xác nhận đợt hạn hán đang diễn ra trong vùng. Trong lúc đọc, một mẩu tin đập vào mắt tôi. Nó nói rằng một bộ xương phụ nữ đã lộ ra trên lòng sông cạn, cách cộng đồng khoảng bốn dặm.
Tôi ngồi đó, suy nghĩ một lúc lâu, cho đến khi laptop tự tắt.
Có lần trên điện thoại, Tess đã đề cập đến chuyện chết đuối. Cô vừa xem một bộ phim về một nhà văn tên là Virginia Woolf, người đã tự sát bằng cách bước xuống một dòng sông với những viên đá lèn chặt trong túi. “Xem chừng đó là cách ra đi tốt nhất”, cô nói. “Lúc đầu ta vùng vẫy và hoảng loạn, nhưng khi oxy đã hết, ta phải đầu hàng và sau
đó là giây phút mong đợi, đó là điều cuối cùng mà ta biết.” Tất nhiên, có thể đó không phải là cô. Bộ xương có thể đã ở đó từ bao năm qua. Đó có thể là một người đi bộ bị lạc đường trong cái nóng, một nạn nhân bị sát hại, một vụ tự vẫn khác. Đó có thể là một người nhập cư bất hợp pháp, một trong những Công nhân ở khu nhà kính, một ai đó sẽ không bao giờ được nhở đến.
Nhưng đó cũng có thể là cô. Một kịch bản đã hình thành. Vào ngày trả phòng, Tess lên phà đi Bilbao, từ đó hoặc quá giang hoặc bắt xe lửa đến cộng đồng. Cô Ở đó một tuần, tranh thủ đi thăm thú Alhambra Ở Granada - Hãy đến Alhambra trước khi chết! Tôi đọc trên một website - cho đến khi cô chốt hạ quyết định của mình và bắt đầu thực hiện. Tối đó, cô ắt sẽ đi bộ đến con sông và, sau khi vứt bỏ tư trang, cô trầm mình xuống. Có lẽ cô chờ cho đến khi bóng tối bao phủ.
Nó có vẻ là bản chất lãng mạn của Tess, khi biến mất như thế, tôi nghĩ. Tôi mường tượng cô dưới ánh trăng; rất có thể cô sẽ mang theo ít đồ uống có cồn tequila chẳng hạn. Tôi hình dung cô lắng nghe lần cuối tiếng dế kêu trong đám cây. - | một chai
Sau hai ngày suy nghĩ, tôi gửi email cho Marion. Tôi nói với bà về chuyến đi Tây Ban Nha và những gì tôi phát hiện ra, cài cắm những suy nghĩ của mình về chuyện chết đuối. Tôi để cho bà tự quyết định có muốn điều tra sâu hơn không. Bà không trả lời, nhưng tôi cũng không thực sự trông đợi bà làm như thế.
Thực ra tôi lấy làm mừng. Tôi không biết họ có tìm được xác Tess hay không. Có thể cô vẫn còn sống. Có thể trong tuần lễ đó Ở Cộng đồng, cô đã đổi ý. Có thể cô nghĩ rằng cô đã rũ bỏ được danh tính cũ, cuộc sống sẽ dễ thở hơn. Cô có thể tái tạo chính mình, bắt đầu với một con người mới, và lần này biết sống sao cho đúng.
Có lẽ sau khi rời Cộng đồng, cô chỉ bắt xe dọc đường đến một cộng đồng khác, và vẫn ở đó cho đến bây giờ, ngồi quanh một đống lửa trại khác, chế tác đồ thủ công từ lông vũ và dây dợ, bàn về giá bánh mì với một người Australia tóc tai bù xù nào đó. Có lẽ cô đã yêu một người và đang rong ruổi khắp đất nước với anh ta trên chiếc xe tải camper. Hoặc có lẽ cổ đã rời khỏi Tây Ban Nha; lúc Ở Granada, có thể cô đã vào một quán bar và thuê một người có dáng vẻ mờ ám làm cho cô một hộ chiếu giả, và đi bất cứ nơi đâu trên thế giới.
Có lẽ tên mới của cô là Ava Root, và cô là bạn tôi trên Facebook.
Ý nghĩ ấy mối nảy ra trong đầu tôi cách đây mấy hôm. Bạn biết đấy, tôi vốn cho rằng Ava Root là Adrian, dùng bí danh để chúng tôi có thể nói về dự án Tess mà không bị phát hiện. Khi mọi chuyện võ lỞ trên Red Pill, tôi đã gửi một tin nhắn hỏi anh ta ở đâu và chuyện gì đang xảy ra, nhưng không được hồi đáp, và nó cũng kết thúc mối liên lạc giữa chúng tôi.
Nhưng Chủ nhật tuần trước, tôi post lên Facebook mấy tấm ảnh chụp hôm qua, khi tôi cùng Jonty và mấy người bạn của cậu ta đi dạo trong Công viên Brockwell. Công viên đang được trải dày thảm lá mùa thu rực rỡ, một cảnh tượng rất đẹp, và một trong những bức ảnh chụp bạn của Jonty là Saskia đang tung một đám lá về phía tôi khi chúng tôi đang rảo bước. Tôi không phiền -cử chỉ ấy thân thiện, và trong ảnh, cả hai chúng tôi đều tươi cười.
Mấy người bạn Facebook của tôi đã nhấn “like” bức ảnh - Jonty và Saskia, và một cô gái khác ở trường kịch nghệ của Jonty tên là Betts. Rồi ngày hôm qua, tôi thấy một lượt “like” nữa. Từ Ava Root.
Tất nhiên, nó có thể đến từ Adrian. Nhưng tôi ngờ rằng việc nhấn like bức ảnh tôi bị ném lá vào người trong một công viên ở Nam London sẽ không nằm trong danh sách ưu tiên của anh ta.
Nên có lẽ “Ava Root” là Tess, ngay từ đầu. Có lẽ cô quyết định không tự sát nữa và, khi đã ổn định cuộc sống mới, cô không cưỡng nổi ý muốn liên lạc lại. Có lẽ cô buồn chán, muốn đùa với lửa; có lẽ cô chỉ muốn kiểm tra xem tôi có ổn không. Và khi cô nhận ra tôi nghĩ cô là Adrian và kể chi tiết tiến triển của dự án cho CỐ – tình hình của bạn bè và gia đình cô, những gì đang diễn ra trong cuộc sống mới của CỐ ở Sointula - chà, tôi không trách cô. Chắc là cô không thể kìm được sự tò mò.
Nếu Ava Root không phải là Adrian, thì thái độ khó hiểu của anh ta đối với tôi khi chúng tôi gặp nhau ở Westfield mấy tháng sau khi bắt đầu dự án là hoàn toàn hợp lý. Không phải là sau tất cả những tin nhắn đầy quan tâm này, anh ta đột nhiên bỏ mặc tôi và Tess. Đúng hơn, anh ta đã mất hứng thú từ lâu; có thể là ngay khi Tess trả phòng. Bị hành hạ bởi nỗi buồn chán là một đặc điểm của bệnh rối loạn nhân cách, tôi đã đọc được điều này.
Thông tin của Ava Root vẫn trống trơn, và tôi là người bạn duy nhất của cô. Tôi toan tính gửi cho cô một tin nhắn, hỏi thẳng cô có phải là Tess hay không, nhưng bản năng mách bảo tôi rằng đó là một ý tôi và tôi sẽ không bao giờ nghe được gì từ cô nữa. Tôi nghĩ mình đang bắt đầu chấp nhận rằng cuộc sống không chỉ có hai màu đen trắng, không phải câu hỏi nào cũng có câu trả lời. Có những vùng sẽ mãi giữ nguyên màu xám, và có lẽ đó không phải chuyện xấu.
Tôi cũng có những người bạn mới khác trên Facebook; giờ đã lên đến con số chín mươi bảy. Hầu hết họ là bạn của Jonty, tôi gặp được khi họ ghé thăm căn hộ. Mới đây nhất là cô gái tên Tia, cùng trường diễn xuất với cậu ta. Cô ấy rất dễ thương. Tối hôm nọ, tôi đã cùng cô ấy và Jonty đến quán rượu ở bờ sông, và có một giờ đồng hồ vui vẻ thưởng thức món rượu ủ từ hoa cơm cháy, nghe kể về những vất vả của một diễn viên mới vào nghề ở London. Cô kể cô có một chỗ làm tạm ở văn phòng vải một Công ty dịch vụ cho phép nhân viên làm việc nhiều hay ít tùy thích, và được nghỉ ngắn ngày nếu có sự vụ gì xuất hiện, kiểu như một cuộc thi tuyển chẳng hạn.
“Công việc không được hấp dẫn”, cô nói, “nhưng nó cũng cho mình tự do làm cái khác. Chủ yếu chỉ có các diễn viên làm ở đó, nhưng tớ chắc chắn họ sẽ nhận cậu vào.” “À, tôi đảm bảo Leila có thể đậu ngon ơ với tư cách diễn viên”, Jonty nói, và nháy mắt với tôi.
Tia nhắn cho tôi số của họ, tôi sẽ đến gặp họ vào tuần sau. Người phụ nữ trên điện thoại tưởng mình nghe lầm khi tôi nói tôi có thể gõ chín mươi ký tự trong một phút.
Còn Jonty đã từ bỏ mộng diễn xuất. “Điều cuối cùng mà thế giới cần là một diễn viên tài năng thất nghiệp chết tiệt nữa”, cậu ta bảo. Cậu ta quyết định học tập để trở thành hướng dẫn viên du lịch tại London, làm việc trên một con thuyền xuôi ngược dòng sông. Vào sinh nhật tôi, cậu ta đưa tôi đi chơi trên con thuyền đó. Tôi mừng vì đã quyết định giữ nguyên mái tóc ngắn, vì có nhiều khúc thuyền đi khá nhanh và những hành khách để tóc dài phải vất vả với mái tóc bay tán loạn.
Jonty không dẫn đoàn, vì cậu ta vẫn đang trong thời gian thực tập, nhưng cậu ta liên tục chêm vào những bình luận của mình với hướng dẫn viên chính. “Con phố nghèo cổ kính Cannon, cây cầu ảm đạm nhất trên sông Thames”; và khi chúng tôi đi qua một nhà hát bên tay trái, “Tôi vừa chợt nhận ra – nếu không làm diễn viên, thì tôi không cần phải đến và đứng bốn tiếng đồng hồ xem Shakespeare Ở Globe nữa!” Ở Vòng quay Thiên niên kỷ: “Một đứa bé đã nôn mửa trong khoảng hồi tôi đi lên đó. Bốn lăm phút dài nhất trong đời tôi.” Cậu ta thao thao bất tuyệt. Dường như chỗ nào chúng tôi đi qua, cậu ta cũng có kỷ niệm từ chính chuyến du lịch của bản thân cậu ta ở London.
Con thuyền chạy thẳng xuống tòa nhà Quốc hội, và chúng tôi đi qua nơi tôi đã đứng trước mặt Connor ngày hôm đó, ngay trước khi tôi tới đồn cảnh sát. Khi liếc nhìn nó, tôi nghĩ rằng tôi có thể đưa ra lời bình luận. Trong thoáng chốc, tôi định kể cho Jonty về Connor, nhưng rồi lại thôi. Nó quá phức tạp để giải thích. Với lại, trước mắt, chúng tôi còn bao nhiêu chuyện khác để nói tới.
Hết