Hôn Em Trước Đã

Lượt đọc: 265 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Thứ Sáu, ngày 19 tháng Tám năm 2011

Có hai việc đã xảy ra chiều nay. Một cặp đôi có vẻ khá bình thường nói có thể họ nhớ ra Tess, và tôi lên mạng.

Ngày hôm đó của tôi đã kết thúc cho một khởi đầu tốt hơn. Để tránh lặp lại ác mộng ngủ dậy sáng hôm qua, tôi đi ngủ với cửa lều mở toang, nằm thò nửa đầu ra ngoài và mặt nạ che mắt đeo ở cổ. Khi ánh mặt trời đánh thức, tôi bò ra khỏi lều và kéo cái đệm vào dưới bóng cây cùng lúc đeo mặt nạ mắt lên và lập tức ngủ tiếp. Sự gián đoạn chỉ là phút chốc, và tôi thức giấc lần nữa vào hai giờ chiều, cảm thấy thật thư giãn.

Sau khi ăn ba cái bánh quy và rửa ráy qua loa bằng giấy ướt, tôi cầm tấm ảnh của Tess dạo một vòng quanh khu vực. Mấy người mới đến đang dựng trại gần bãi đất chính. Khó mà xác nhận được ngay ai là nam, ai là nữ; cả hai đều có mái tóc đen dài buông xõa và gầy đét, cô gái gần như không có ngực. Người đàn ông gắn những nút đen lớn ở dái tai, kích cỡ bằng đồng một euro.

Tôi hỏi họ hè năm ngoái có ở đây không. Họ bảo có, thế là tôi chìa cho họ xem tấm ảnh. Họ bàn bạc một hồi bằng một thứ tiếng nước ngoài, cuối cùng người đàn ông nói họ nhớ có một phụ nữ người Anh trông giống cô, nhưng tóc cô dài hơn và họ khá chắc chắn rằng tên cô không phải là Tess. Một cái tên khác dài hơn, bắt đầu với chữ S.

Tất nhiên tôi đã lường trước rằng Tess có thể dùng một cái tên khác khi ở đây. Tôi hỏi họ có nhớ thêm chi tiết nào về trang phục hay những lời cô đã nói không. Họ không thể nhỏ nhưng hứa sẽ nói với tôi nếu nhổ ra điều gì. Song tôi không quá vui mừng. Cần tìm thêm bằng chứng.

Sau đó, tôi quay về tấm đệm dưới bóng cây, đang ngủ lơ mơ thì tôi cảm thấy tay mình bị giật nhẹ. Đó là Milo. Nó nói, “Annie hỏi cô có muốn đi cùng nhà cháu không?” Trên xe tải, Annie đã kéo cửa sau đóng lại và ngồi vào ghế lái. Chị nói sẽ vào thị trấn để đến ngân hàng, và nghĩ là có thể tôi muốn đi cùng để mua ít thực phẩm.

“Một phụ nữ không thể sống bằng mỗi bánh quy được”, chị nói.

“Ở đó có tiệm cà phê internet không nhỉ?” Tôi hỏi. “Chắc là có, nó là nơi tập trung khách du lịch ven biển mà.”

Tôi ngồi phía trước với Milo; đứa bé ở đằng sau. Tôi từng ở trên một chiếc xe tải, khi chúng tôi chuyển đồ của mẹ tải nhà kho trung tâm, nhưng cái xe này thì khác. Nó cũ kĩ, bên trong nóng hầm hập và sặc mùi, như là nhựa, sữa và tất cũ nướng trong một cái lò. Sàn xe ngập sách, giấy tờ và đĩa CD, các cửa sổ dán những miếng sticker nhạt nhẽo, lòe loẹt. Có một vật lông lá kỳ lạ đung đưa trên gương, và khi Milo thấy tôi quan sát, nó liền bảo rằng đây là chân con thỏ mà nó nuôi.

“Nó chết tự nhiên”, Annie giải thích, trong khi vặn tay lái với một nỗ lực phải nói là rất lớn. Chiếc xe tải phát ra những tiếng động đáng lo từ sâu bên trong, giống tiếng mẹ tôi ho khan mỗi sáng.

Khi chúng tôi bắt đầu bò xuống con đường mòn khấp khểnh, Annie hỏi, “Mà có chuyện gì với người bạn cô đang tìm kiếm vậy?”

Tất nhiên tôi đã kể câu chuyện cho Annie nghe, khi tôi cho chị xem tấm ảnh của Tess vào ngày đầu tiên. Nhưng tôi vẫn bắt đầu thuật lại chuyện tìm kiếm một người bạn cũ mà tôi tin rằng vẫn ở đây. Chị ngắt lời tôi.

“Không, tôi biết cô đang tìm cô ấy. Nhưng tại sao?” Chị liếc sang tôi với một nụ cười mỉm ranh mãnh. “Cô yêu cô ấy à?”

Thấy tôi không trả lời, chị tiếp, “Nếu phải thì cũng có sao đâu.”

Tôi nghĩ tốt nhất là không tôn câu hỏi của chị lên bằng một câu trả lời, nên tôi không nói năng gì và nhìn ra ngoài cửa sổ. Nó có tác dụng, chị đổi chủ đề, quay sang cung cấp thông tin về bản thân. Mặc dù tôi không quá quan tâm, nhưng thấy thoải mái hơn và nhận ra tôi không phải đáp lời, và có một sự xoa dịu khi ngắm khung cảnh bên ngoài trong giọng nói đều đều của chị dọc đường đi.

Giọng Mỹ của chị nhắc tôi nhớ đến Adrian, và khi nhắm mắt lại, tôi như được trở về với những podcast của anh; dù những gì Annie đang nói đương nhiên không hay bằng. Chị nói về cuộc sống ở Connecticut, nơi chị làm kinh doanh nhỏ với đồ gỗ thủ công và chia chung nhà với một người mẹ đơn thân khác, và về bố của Milo. Chị “giải tán” anh ta khi Milo lên hai, nhưng anh ta thỉnh thoảng vẫn gặp thằng bé.

“Chắc cô đang thắc mắc về đứa bé hả?” Chị nói, hất đầu về đứa bé con được buộc ở ghế sau, mặc dù tôi chẳng thắc mắc. Chị nói chị muốn có một đứa con nữa nhưng không muốn dây dưa với một người đàn ông, nên đã có một pha tàu nhanh “đúng lúc” với một người lạ. Chị tâm sự rằng đôi khi chị lo lắng lũ trẻ sẽ bị tổn thương vì không có bóng dáng người bố trong cuộc sống của chúng.

“Em không nghĩ những ông bố quan trọng đến thế”, tôi nói.

“Ồ, thật sao?” Chị nói.

Tôi kể vải chị rằng tôi chưa bao giờ biết mặt bố mình, ông đã biến mất khi mẹ tôi mang thai và nó chẳng ảnh hưởng chút nào đến tôi. Annie phát ra một tiếng “hmm” rồi nói, “Mẹ cô có bận lòng vì không có đàn ông không?”

“Không hề”, tôi đáp. “Chúng em có nhau. Bà luôn bảo bà không cần thứ gì khác chừng nào bà có em.”

Annie hỏi tôi về bố, tôi nói cho chị những gì tôi biết, rằng ông từng làm công việc bán ô tô ở Ireland, ước mơ của ông là có một con ngựa đua và ông có đôi bàn tay thanh tú, giống tay tôi.

Trong lúc xe chạy, tôi để ý thấy cảnh vật thay đổi. Giờ chúng tôi đã ra khỏi vùng đồi núi và chuyển sang đồng bằng, cây cối được thay thế bằng những căn lều thấp, rộng bằng nhựa plastic trắng đơn điệu, cái này nối tiếp cái kia thành một cấu trúc kéo dài tưởng như không bao giờ kết thúc. Tôi hỏi Annie về chúng, chị nói đó là những nhà kính trồng rau cung cấp cho siêu thị.

“Những quả cà chua của cô đến từ đó đấy”, chị bảo. Lẽ ra tôi có thể nói vổi chị là tôi không ăn cà chua, nhưng rồi thôi.

Khi Annie dừng xe cho Milo đi tiểu, tôi tranh thủ nhìn kĩ hơn dãy nhà kính. Lớp nhựa plastic mờ đục nhưng có thể nhìn thấy những bóng bên trong, nhiều chỗ nhựa bị rách hoặc bung ra nên người bên ngoài có thể ngó vào. Tôi trông thấy những dãy rau dài tít tắp và hình dáng những Có quá nhiều thông tin cần xử lý mà tôi thấy chỉ ghi vào laptop thôi là chưa đủ. Lý tưởng nhất là có một màn hình phụ để làm việc nhưng tôi không đủ tiền mua, nên tôi đành vẽ sơ đồ trên một tờ giấy lớn với những mũi tên chỉ dẫn, tôi ghim nó lên tường, bên cạnh những bức ảnh.

Như các bạn có thể hình dung, tất cả chuyện này mất rất nhiều thời gian. Cuộc sống của Tess vốn đã hỗn loạn, và, để nó nhanh chóng trở nên rõ ràng, cô kể những phiên bản khác nhau của các sự kiện với những người khác nhau. Thêm vào đó, cô mơ hồ về những cái tên và những địa điểm, bạn có thể hình dung nó khó khăn CỠ nào.

Có những chuyện nghe Vô lý hoặc khó tin. Có những chuyện quan trọng, ví dụ như trong vòng một tháng cô nói với hai người khác nhau là mình sống ở cả Shoreditch và Bethnal Green, mặc dù không có thông tin cô chuyển nhà. Những cái lặt vặt có thể đối chiếu bằng Google – Farrow & Ball, câu lạc bộ Groucho, ngôi nhà Virginia Woolf đã Sống - nhưng những cái khác thì không thể. Như trong một email cô tả một phụ nữ có mái tóc Nhà hát Quốc gia; Ở một email khác cô nói với anh bạn Simon là mình rất thích cách bọn con trai cởi áo chui đầu,

Farrow & Ball: nhà sản xuất sơn và giấy dán tường của Anh.

Câu lạc bộ dành cho các quý ông ở Anh.

Nữ nhà văn nổi tiếng người Anh.

Những trường hợp còn lại mọi sự đều rõ ràng, nhưng tôi không hiểu nổi phản ứng của cô. Ví dụ như thư từ qua lại ngày 17 tháng Tám năm 2005 giữa Tess và cô bạn tên Zanthi. Họ có một cuộc tranh cãi vì hình như Zanthi đến Ở căn hộ của Tess vào cuối tuần và đã vứt đi mấy bông hoa héo mà Tess cứu về vì vẻ đẹp của chúng. Tess cho rằng Zanthi không nhận ra việc này biểu hiện sự thiếu hiểu biết về tính cách Tess và cái cô gọi là sự thi vị của cuộc sống, và tuyên bố Zanthi không thể là bạn cô được nữa. Một hành vi rõ là kỳ quái, thế nhưng hai tuần sau, cả hai lại trao đổi thư từ vui vẻ như chưa từng có chuyện gì xảy ra.

Khi tôi hỏi Tess về những điều này, thường là cô không nhớ chi tiết, hoặc thậm chí nói rằng chúng không hề xảy ra. Tôi bảo rồi mà, cô viết. Đầu óc tôi chán lắm. Một lần cô giải thích tỉ mỉ: Tôi sẽ cho cô biết nó như thế nào. Cô biết những cánh tay máy dùng để gắp đặt ở những cửa tò vò ngoài bảo tàng chứ, cô sử dụng nó để cố gắp một con gấu bông chết tiệt ấy? Nó giống như tôi, cố gắng một cách yếu ớt để lắp vào một ký ức hoặc một hình dung. Và nếu tôi xoay xở chụp được nó, thì chỉ được thứ rác rưởi.

Thêm nữa, có rất nhiều giai đoạn trống cần lấp đầy, những lần cô không giao tiếp vỐi bất cứ ai, như bây giờ tôi đã biết, khi cô suy sụp nặng và thậm chí không thể gom sức lực để vuốt tóc khỏi mặt, huống hồ là viết một email.

Bên cạnh đó, tôi làm một ghi chú những email không phải cá nhân mà Tess nhận được. Những giấy biên nhận mua vé rạp hát và rạp chiếu phim và mua hàng trên Amazon, tôi đưa tất cả vào file danh mục về Sở thích của cô. Cô mua sắm vô tội vạ trên mạng và những món đồ cô mua có khuynh hướng hoặc đắt kinh dị - một đội quần lót giá 230 bảng, hoặc rẻ bèo, như một “miếng lót cốc kiểu xưa” giá 20 xu. Có những ngày cô tiêu món tiền rất lớn, tới hàng nghìn bảng, vào những thứ có vẻ như cô không cần lắm hoặc với số lượng nhiều đến khó hiểu. Tôi nhớ có một giấy biên nhận cho hai mươi cái khăn lau bát đĩa màu trắng, mỗi cái giá 12 bảng.

Với mỗi biên nhận này, tôi ghi ngày tháng và chi tiết giao dịch trong một bảng tính riêng. Làm thế nào cô đủ khả năng mua một hũ kem dưỡng ẩm giá 120 bảng khi cô đang làm mẫu cho một họa sĩ, thù lao 60 bảng một tuần? Sau đó tôi kiểm tra chéo với giao dịch ngân hàng online của cô, để xem liệu cô đã vay tài chính hay chi tiêu quá mức.

Rà soát ban đầu trong hòm thư của cô cho tôi một danh sách dài các câu hỏi đặt ra cho Tess, những lỗ hổng lớn trong tiểu sử của cô được ưu tiên trước. Những câu trả lời của cô thường không thỏa đáng. Tôi sẽ hỏi một câu VÔ cùng đơn giản, như những chương trình tivi CỐ xem năm mười ba tuổi, và cô hoặc mấy ngày liền không trả lời, hoặc bực tức nói cô không thể nhỏ, hoặc tên một chương trình mà, khi tôi kiểm tra, hóa ra được phát lần đầu tiên khi cô mười lăm tuổi. Tôi cố hết sức để duy trì tính chuyên nghiệp trong những email của chúng tôi, nhưng đôi khi phải cần đến sự kiên quyết. Tôi nhắc cô về việc thực hiện nghiêm túc và những yêu cầu của tôi đối với công việc. Đáp lại, cô viết, Trời ạ, đừng có chỉ trích tôi, tôi đếch nhớ được! Hoặc, nếu CỘ đang trong tâm trạng buồn bã, nhạy cảm hơn thì cô sẽ liên tục xin lỗi, nói mình là người chẳng ra gì và không xứng đáng với sự giúp đỡ của tôi.

Sau một vài tuần, tôi trở nên chán nản. Tôi vẫn làm Công việc kiểm lỗi phần mềm, nhưng càng ngày tôi thấy mình càng bỏ bê những bản báo cáo và chỉ ngồi canh email của cô. Tess nhắc đi nhắc lại mong muốn chuyện đó nhanh chóng được thực hiện, rằng cô khao khát được “trả phòng” như thế nào - đó là từ chúng tôi sử dụng. Song ngày càng có vẻ như nếu chúng tôi tiếp tục với tiến độ này, cô mất mấy ngày để trả lời một email và không trả lời những câu hỏi của tôi được đầy đủ, thì phải mấy tháng nữa chúng tôi mới đến được bước sẵn sàng.

Thế là tôi nảy ra một ý. Chúng tôi đã nhất trí không gặp mặt, nhưng không có lý do gì mà chúng tôi không thể nói chuyện. Nó sẽ đẩy nhanh đáng kể công việc, và nếu chúng tôi sử dụng Skype sẽ không mất tiền. Tôi cân nhắc có nên hỏi ý Adrian trưốc không, rồi quyết định chuyện nhỏ này không cần phiền đến anh. Tuy nhiên, tôi nhở hôm Heath, anh đã nhấn mạnh tầm quan trọng của “hạn chế dính líu về cảm xúc” giữa Tess và tôi, và quyết định là tốt nhất chúng tôi tắt camera khi nói chuyện.

Tôi nhắn cho Tess để đề xuất việc này, và cô đồng ý. Chúng tôi sắp xếp thời gian để tôi gọi điện, là vào một buổi đêm lúc mười một giờ.

Tôi soạn một danh sách các câu hỏi đã xuất hiện cho đến khi đó.

Trong một email ngày 27/12/2008, Nicholas viết, “Cảm ơn đã phá hỏng bữa trưa”. Chị đã làm gì mà phá hỏng bữa trưa? Và tại sao anh ta lại cảm ơn chị?

Chị có gặp “Nhà cung cấp Pete” vào ngày Valentine năm 2006 ở Quảng trường St Wenceslas, như đã hứa trong một email gửi ngày 02/10/2005 không?

Biệt danh “Sugartits” được sử dụng rộng rãi, hay chỉ có Steven Gateman sử dụng thôi?

Bệnh Alzheimer của bố chị được tiên lượng thế nào?

Trong một email về buổi hẹn hò với một người đàn ông tên Jamie vào tháng Năm năm 2009 chị viết, anh ta học vấn kém tớ.” Nhưng bản thân chị chỉ có một chứng chỉ A về nghệ thuật. Vậy anh ta có bằng cấp gì?

Không có email hay tung tích của chị từ tháng Hai đến tháng Tư năm 2008. Chị đã ở đâu và làm gì trong thời gian đó? 7. Vào nhiều thời điểm khác nhau chị tuyên bố “You’re Nobody till Someone Loves You” của Dinah Washington, “Natural Woman” của Aretha Franklin và “I Want You Back” của nhóm Jackson Five đều là “bài hát yêu thích nhất” của chị. Thật ra là bài nào?

Trong một email viết cho Shona nói về bữa tiệc chị tham dự tối hôm trước, chị viết chị ghét chủ nhân bữa tiệc vì đã khẳng định cô ấy thích “nấu ăn để thư giãn”. Tôi cảm thấy đây là một lời phát biểu không hề xúc phạm. Chị có thể giải thích không?

Trong email gửi mẹ chị ngày 03/06/2007 chị nói bà là một bà mẹ kinh khủng hồi chị còn nhỏ, thế mà trong bản “tự thuật” gửi bác sĩ tâm lý chị lại nói mình có một tuổi thơ khá bình thường, hạnh phúc. Điều nào đúng?

Chị từng đăng ký vào trang adultfriendinner.com tháng Hai năm 2005. Bản chất và tần suất sử dụng trang này của chị là gì?

Ngày 16/5/2008, chị viết cho Mira Stollbach rằng chị “nóng lòng mong đợi được tham dự lễ cưới của cô ấy mùa hè năm đó, nhưng trong email viết cho Justine ngày 02 tháng Sáu Cùng năm, lại viết rằng chị “ghét mấy đám cưới chết tiệt”. Chị có thể giải thích không?

Cũng trong đợt thu qua lại đó với Justine, để trả lời mối băn khoăn của cô ấy có nên ở lại với người đàn ông cô ấy đang hẹn hò dù thấy anh ta không đạt yêu cầu nhiều mặt, chị khuyên cô ấy đừng “an phận”. Justine trả lời, “Cậu nói thì dễ rồi.” Vậy nghĩa là sao?

Những cái kết thư của chị không đồng nhất, kể cả với Cùng một người. Lúc chị kết thúc bằng một “cái hôn”, lúc thì hai, lúc thì rất nhiều và lúc lại không có cái nào. Những quy định khi kết thu của chị là gì? Chúng có thay đổi theo mức độ yêu mến chị dành cho người đó vào thời điểm đó không?

Trong một email tới jo@samaritans.org ngày 17/09/2007 chị viết rằng chị không nghĩ mình sẽ qua được đêm nay. Chị định tự sát tối hôm đó sao?

Tôi hồi hộp lạ thường trước khi nói chuyện với Tess lần đầu tiên. Bạn phải hiểu rằng đến thời điểm ấy, tôi đã trải qua ba tuần hoàn toàn đắm chìm trong cuộc đời cô, đọc những email của Cô, xem những bức ảnh của cô và bạn bè cô, Cố gắng lên danh mục những cái hỗn loạn trong quá khứ của cô. Giờ nhìn lại, thậm chí lúc ban đầu có thể tôi đã biết về cô nhiều hơn bất cứ ai khác còn sống, vì cô kể về bản thân với nhiều phiên bản khác nhau vải những người khác nhau. Nhưng do tất cả đều được thực hiện qua đường thư điện tử, nên cảm giác như cô không có thật.

Tôi quyết định tốt nhất tôi nên ghi âm cuộc trò chuyện và chép ra, hơn là cố gắng ghi chú thông tin khi Tess nói. Như thế tôi có thể hoàn toàn tập trung vào cô; tôi chưa bao giờ giỏi làm hai việc cùng một lúc. Tôi từng đọc được rằng ghi âm người khác mà họ không hay biết là phi pháp, nhưng tôi quyết định không nói với Tess là tôi đang ghi âm lại cuộc trò chuyện của chúng tôi, đề phòng cô làm um lên và làm trì trệ mọi chuyện.

Vào lúc mười một giờ đêm ngày thứ Ba. Tôi đã chuẩn bị sẵn các câu hỏi. Laptop của Tess đổ chuông tám lần cô mới trả lời, và câu “Xin chào?” của cô đầy cảnh giác. Khi tôi giới thiệu mình, cô tỏ ra ngạc nhiên, mặc dù cuộc gọi đã được ấn định. Rồi cô cười to, nói, “Ôi chết tiệt, xin lỗi. Tôi cứ tưởng cô là Sylvie.”

Tôi chưa nghe đến Sylvie bao giờ, nên ngay lập tức, trước khi chúng tôi kịp bắt đầu, tôi phải gạt danh sách câu hỏi đã viết sẵn đi và hỏi cô về nhân vật mới này. Trong lúc nói chuyện, tôi tìm những người bạn trên Facebook của Tess và thấy Sylvie: cô ta có gương mặt dài, âu sầu và mái tóc đỏ sậm dày đến nỗi, khi hất qua một bên vai trông nó như đuôi cáo.

Tôi không nghĩ mình có bất kỳ mường tượng nào về giọng nói của Tess. Nhưng chắc tôi phải có, vì tôi nhớ mình đã bất ngờ khi nghe giọng Cổ. Nó trầm, lưu loát và đúng chuẩn, không có chút gì đau khổ.

Sau khi cô kể đôi điều về Sylvie – một giáo viên ghét Công việc của mình, kết hôn vải một người đàn ông Ý hơn cô hai mươi tuổi và đang định cặp bồ với một đồng nghiệp - tôi bắt đầu với mở câu hỏi. Tôi mừng vì thấy đề xuất dùng Skype tỏ ra là đúng đắn. Nó hiệu quả hơn hẳn Email. Khi Tess lãng đi, tôi có thể đưa cô trở lại chủ đề. Buổi thoại đầu tiên đó diễn ra được hai mươi phút trước khi Tess trở nên mệt mỏi và mất tập trung. Chúng tôi hẹn gặp lại qua Skype vào giờ này ngày mai, và tối hôm đó cô lớn tiếng hơn. Đúng ra là quá lớn tiếng: cô lạc đề suốt, nói năng gần như không suy nghĩ. Tôi hỏi về Công việc của cô ở Threads, một cửa hàng quần áo vintage Bethnal Green mà cô quản lý trong bốn tháng, và cô chuyển sang kể lể dông dài về một lễ hội cô tham dự nơi tất cả mọi người đều diện trang phục vintage và trượt dốc thành một mớ hỗn loạn, nó dẫn đến một câu chuyện về mẹ cô đã giữ lại rất nhiều trang phục thiết kế hồi bà còn trẻ, rồi vô cùng thất vọng khi Tess không thể mặc vừa cái nào: “Con thừa hưởng đôi vai của bố con.”

Lần thứ ba chúng tôi nói chuyện, tâm trạng cô không tốt. Cô đã đến nhà hát xem một vở kịch chiều hôm đó và một phụ nữ ngồi hàng ghế trước đã cư xử thô lỗ với cô. Cô không thể ngừng nói về chuyện đó. Phải nói là một bài trường ca luôn. Khi CỐ Ở trong tình trạng xúc động thì những việc nhỏ nhặt thế này cũng làm cô bận lòng ghê gớm: kể cả khi tôi nghĩ đã lái được cô ra khỏi chủ đề thì cô tức khắc quay lại với nó. Bất cứ hành động nào được coi là VÔ tâm hoặc thô lỗ đều tác động đến cô (mặc dù, trở trêu thay, bản thân Tess cũng có thể rất vô tâm và thô lỗ). Ví dụ như cô bức xúc khi người ta vượt qua cô trên sân ga tàu điện ngầm để chiếm được vị trí tốt gần chỗ cửa sẽ mở. “Tôi ghét tiếng gót giày lách cách của họ khi chạy tìm chỗ tốt nhất”, cô nói. Cô sẽ tự ái nếu, khi cô đang đứng chờ Ở vạch qua đường mà những người khác đến đứng cùng và ấn nút xin đường - họ không nghĩ cô sẽ ấn nó sao? Rằng cô ngu ngốc sao?

Trong lúc gõ lại những băng ghi âm, tôi nghe một trong những đoạn lạc đề mệt mỏi này và thấy có nhắc đến một chi tiết mà tôi không biết: ông Jonathan từng sống Singapore. Lúc đó tôi nhận thấy rằng thực ra, cho dù những lời dông dài này của cô không trả lời trực tiếp vào câu hỏi, và khuynh hướng tự nhiên của tôi là lọc ra tất cả mọi điều cô nói trừ những sự kiện, chúng có thể khá hữu dụng. Không chỉ trong những chi tiết tình cờ chúng có thể cung cấp, mà còn vì chúng tiết lộ tính cách của cô.

Nói cách khác, tôi nhận ra những cái lạc đề cũng quan trọng để ghi chú như những sự việc thực tế tôi đang thu thập. Nếu tôi định “là” Tess, tôi cần ghi lại mọi khía cạnh của tính cách của cô.

Lần gặp tiếp theo của chúng tôi, tâm trạng của Tess lại thay đổi. Lần này cô tỏ ra ân cần, và lần đầu tiên cô hỏi về tôi. Cô hỏi tôi bao nhiêu tuổi, tôi sống ở đâu và vì sao tôi làm chuyện này giúp cô. Tôi không thoải mái lắm khi nói về mình, ý thức được rằng mỗi phút chúng tôi nói về tôi sẽ bớt đi thời gian để cô trả lời các câu hỏi. Nhưng tôi vẫn trả lời, nói với cô rằng tôi làm thế vì tôi tin vào quyền cá nhân và cô có thể có quyền kiểm soát cái chết của mình. Cô hỏi tôi nghĩ gì về Adrian và tôi đáp anh là một người tài giỏi, và rằng Red Pill đã mở mang tâm trí tôi tới những cách nghĩ mỏi. Nghe vậy, cô nói một câu khiến tôi ngạc nhiên.

“Đúng”, cô nói, “tôi nhất định phải xem nó vào một ngày nào đó.”

Tôi vốn cho rằng cô quen Adrian từ trang web. Tất nhiên, khi nghĩ lại thì có thể thấy cô sẽ không ở được một phút trên Red Pill với lối suy nghĩ lộn xộn, phi logic của Cô, nhưng tôi không hề nghĩ tới khả năng cô gặp anh ở nơi khác, trong một hoàn cảnh khác.

“Vậy làm sao chị biết Adrian, nếu không phải từ trang web?” Tôi hỏi.

Câu trả lời của cô mơ hồ một cách điển hình.

“Ồ, tôi không thể nhớ chính xác. Ở một bữa tiệc hay gì đó.”

Tôi không sao hình dung Adrian dự cái kiểu tiệc tùng mà Tess thường lui tới và gặng hỏi thêm chi tiết, nhưng cô khẳng định cô không nhớ nổi.

Sau đó, vì trang web đã xuất hiện và cuộc trò chuyện của chúng tôi hình như chuyển sang hương thân mật hơn, tôi hỏi cô đôi điều không có trong danh sách câu hỏi, mà là những điều tôi vẫn nghĩ tới kể từ khi chúng tôi bắt đầu dự án. Tess nói rất nhiều về những trạng thái u ám và phấn khích gắn liền vải cô như thế nào, cô bị khiếm khuyết ra sao, vì đâu mà cô dùng câu danh ngôn yêu thích “Đừng hi vọng có phương thuốc nào chữa được bệnh là chính mình”. Nó khiến tôi tự hỏi: làm cách nào cô biết những trạng thái cực đoạn này là tính cách “thực” của cô: Có thể đây là cái đã biến đổi “con người thật của Cô”, như bị điều khiển bởi một sức mạnh bên ngoài.

Khi tôi đặt câu hỏi này cho Tess, cô trả lời rằng cô chắc chắn nó là “con người thật của cô”. Tôi chỉ ra rằng, chắc chắn cô không thể chắc chắn - cô chỉ tin như thế thôi. Ngữ điệu của cô liền thay đổi, trở nên gay gắt hơn.

“Tôi tưởng cô ở đây để giúp tôi, chứ không phải ra sức thuyết phục tôi từ bỏ nó.”

Tôi phải giải thích rằng đúng là tôi ở đây để giúp cô, và không có ý định thuyết phục cô từ bỏ. Tôi chỉ ham thích tranh luận quan điểm mà thôi. Rõ ràng cô chưa thực sự làm công việc thảo luận và truy vấn bao giờ, nên tôi bảo cô đó là sở thích của tôi, xem xét vấn đề từ mọi góc độ.

Nghe vậy, cô thư thái trở lại và nói một câu làm tôi choáng váng. Cô nói rằng “chồng” cô bảo nó là thứ đang điều khiển cô, và anh ta gọi những trạng thái của cô là “quái vật”.

Tôi nhất thời á khẩu, và sau đó yêu cầu cổ xác nhận rằng cô vừa tiết lộ mình đã kết hôn. Cô tỏ ra ngạc nhiên, và nói, “Ôi, tôi chưa nhắc đến chuyện đó sao?”, như thể đó là chuyện vặt.

Hóa ra cô đã kết hôn chóng vánh, “hồi tôi mới hai mấy tuổi”. Tôi gặng hỏi cô ngày chính xác, và cô mất một lúc để nhờ nó xảy ra năm cô hai mươi tư tuổi. Với một người đàn ông Australia tên Lee, mà cô gặp khi xếp hàng tại một ngân hàng ở Delhi, và làm lễ cưới ở London sau năm tuần. Một năm sau, họ chia tay và Lee quay về Australia. “Đâu đó sau này” họ chính thức ly dị. Tess nói đó là “giây phút điên rồ”, và dường như nghĩ nó không đáng để bình luận. Cô bổ sung là bây giờ họ chẳng hề nói chuyện và khó có khả năng anh ta sẽ liên lạc lại.

“Tôi bảo cô rồi mà”, cô nói. “Tôi làm rất nhiều chuyện ngu ngốc.”

Kỳ quặc là, mặc dù cô đã kết hôn với Lee, nhưng cô không tính anh ta vào trong số những người được cô gọi là “những tình yêu lớn” của mình. Đứng đầu bảng là một người đàn ông tên Tivo, một DJ cô đã cặp kè một năm khi cô hai mươi bảy tuổi. Một bức ảnh chụp một người đàn ông thấp lùn, ngăm đen, đội mũ vành hẹp; Tess ngồi trên lòng anh ta và quả thật trông rất hạnh phúc, ngước nhìn anh ta vẻ ngưỡng mộ.

“Anh ấy hiểu tôi”, cô nói. “Chúng tôi hiểu nhau.”

Tôi bảo cô nói rõ hơn.

“Ồ, cô biết mà”, cô nói.

“Không, tôi không biết.”

“Nó giống như, khi chúng tôi ở bên nhau mọi thứ đều hợp lý. Anh ấy hiểu mọi điều tôi nói, kể cả những điều bản thân tôi không hiểu rõ. Tôi có thể nói với anh ấy bất cứ chuyện gì, và anh ấy chấp nhận nó. Nhưng anh ấy cũng biết khi nào nên bảo tôi im miệng và ngừng ngu ngốc.”

Nó kết thúc khi cô ngủ với người khác - “sai lầm lớn nhất của đời tôi” - và anh ta phát hiện ra.

Người cô hẹn hò lâu nhất là Matt, trong khoảng thời gian cố mười chín đến hai ba tuổi. Đó là một “cậu trai tốt”, Tess nói, nhưng nghe như một điều tồi tệ vậy. Marion nghĩ lẽ ra cô nên cưới cậu ta - giờ đây cậu ta là một nhà quản lý khách sạn vô cùng thành đạt, bà liên tục nhắc cho Tess nhớ - và cô đã thổi bay cơ hội của mình.

Ngoài Tivo, Tess không đánh giá cao cánh đàn ông. Cô nghĩ họ yếu đuối và nhạt nhẽo, và thường bỏ họ vì những lỗi mà theo tôi là vô thưởng vô phạt. Khi tôi hỏi về Charlie, người cô đã hẹn hò sáu tháng năm 2004, tất cả những gì cô nói là, trong một chuyến du lịch tới Rome, anh ta đã yêu cầu bọc nilon cho vali của mình tại sân bay. Dường như hành động này đủ để anh ta bị đá.

Cuộc hôn nhân của Tess không phải là bất ngờ duy nhất. Thì ra cô đã có một sự nghiệp làm truyền hình rất ngắn ngủi với vị trí đồng dẫn chương trình một show “tạp chí đêm khuya trên kênh 4 vào năm 1997 tên là Gassing, trong đó cô phỏng vấn cô gái gọi là “Những kẻ chết tiệt trong danh sách Z”. Nó chỉ có tập đầu tiên, những tập sau không bao giờ được thực hiện.

“Danh sách Z”: chỉ những người có độ nổi tiếng thấp, hoặc những người nổi tiếng nhưng không có thành tựu đặc biệt.

Không chỉ hầu hết những trải nghiệm của cô lạ lẫm vối tôi, mà cả thái độ của cô nữa. Cô thường xuyên than vãn vì mình đang già đi, sợ mất đi nhan sắc và “trở nên vô hình”. Khi tôi chỉ ra rằng thật vô lý và vô nghĩa khi sợ một thứ không thể tránh khỏi và xảy ra với tất cả mọi người, cô chỉ cười khan và nói, “Cô cứ đợi mà xem.”

Những lần khác, tôi có thể hiểu thái độ của cô, nhưng những lý do đằng sau của cô thì không. Giống như tôi, cô ghét đi tàu điện ngầm. Nhưng trong khi tôi thấy những đám đông, sự xô đẩy và những tiếng la lối khó chịu, thì lời giải thích của cô nghe phát nản: CỐ quá “đồng cảm” với những hành khách xung quanh mình.

“Tôi nhìn những con người này và hình dung ra toàn bộ những cảnh tượng trong đời sống của họ. Kiểu như, có một người đàn ông mặc bộ áo liền quần, rõ ràng là một lao động chân tay. Tôi sẽ nghĩ đến cảnh anh ta chui vào quán rượu, uống vại bia thứ năm trong ngày, rồi nói, “Chà, chẳng phải đó chỉ là công việc thôi sao?” Hoặc nếu có một cô gái với bộ tóc đỏ, tôi hình dung ra một nhân viên văn phòng nhếch nhác ở một bữa tiệc Giáng sinh đang nói, “Lucy này, có một việc mà tất cả bọn tôi đang băn khoăn: hai cổ tay áo kia có hợp với Cổ áo không?” cô kể, một lần cô trông thấy một ông già đội mũ phớt lấy một gói bánh quy Bourbon ra khỏi túi hàng của mình và ngắm nghía nó rồi nhét trở lại túi; một hình ảnh, cô nói, làm cô muốn rơi nước mắt. “Ông ấy đang mong ngóng đến bữa trà của mình. Những niềm vui thật đơn sơ. Tôi nghĩ tôi quá nhạy cảm với thế giới này. Cô có hiểu ý tôi không?”

Tôi không hiểu, nhưng duy nhất có một lần tôi hiểu cả thái độ của cô lẫn lý do đằng sau. Một buổi tối, cô kể Với tôi rằng tối hôm trước cô đến dùng bữa ở nhà một người bạn và đã ngồi cạnh một người phụ nữ chán ngắt. “Suốt nửa tiếng đồng hồ cô ta liệt kê với chúng tôi tất cả những nước cô ta đã đến, bao gồm cả những sân bay cô ta chỉ quá cảnh, như thể chúng được tính vào vậy.”

Tôi bảo Tess rằng Tash Emmerson cũng làm thế ở trường, và tôi thấy nó cũng khó chịu như vậy. Cậu ta còn đưa danh sách các nước lên Facebook cá nhân.

“Mẹ kiếp”, Tess thốt lên. “Unfriend con bé đó ngay lập tức. Sao cô làm bạn với mấy đứa này được?”

Tôi giải thích tôi không thích Tash và cũng chẳng bao giờ gặp cậu ta, nhưng mọi người ở trường đều kết bạn với nhau trên Facebook, vì họ muốn có con số càng lớn càng tốt. “Ờ, VỚi những con nhỏ ngu xuẩn đó thì cũng phải”, cô nói, “nhưng cô xịn hơn bọn chúng cơ mà? Cứ mặc xác chúng.” LOTTIE MOGGACH

Tôi bảo nếu tôi unfriend tất cả những người không phải bạn thật sự, thì tôi chỉ còn lại mỗi Rashida. Tôi quyết định không nói ra là tôi cũng chẳng gặp cậu ấy nữa.

“Thì sao?” Tess hỏi. “Ai cần? Một mình một cõi, càng vui.”

Tôi tâm đắc với lời cô nói, dù sao tôi cũng là người có tư tưởng tự do. Nhưng trong đầu tôi hiện ra thông tin của mình: Bạn bè.

“Tôi không thể”, tôi nói.

“Trời ơi, tôi mừng khôn xiết và internet chưa xuất hiện khi tôi còn trẻ”, Tess bình luận.

Vào những lần hiếm hoi khi cô tập trung vào tôi, thay vì nói về bản thân, tôi ý thức sâu sắc rằng chúng tôi đang lãng phí thời gian, và tôi cố duy trì tính chất công việc, lèo lái câu chuyện quay về cô sau vài phút. Nhưng phải thừa nhận rằng tôi khá thích những lúc cô quyết định chú ý đến tôi; cô có một cách khiến tôi cảm thấy cô thực sự hứng thú, thực sự quan tâm.

Một tối, cô quyết định cho tôi vài lời khuyên. “Tôi không có con gái, nên tôi coi cô như con”, cô nói. “Tôi đã nghĩ về chuyện đó suốt cả ngày nay.”

Tôi toàn phản đối, nhưng cô tiếp tục.

“Đầu tiên”, cô nói, “Cô không phải thứ vứt đi như cô nghĩ đâu.” “Tôi không nghĩ tôi là thứ vứt đi!” Tôi đáp.

Cô suýt tôi, và tiếp tục với danh sách của mình. “Hãy chờ cho người đàn ông ly dị được một năm trước khi cô tính chuyện đến gần anh ta. Chẳng sao cả nếu cô không thích gia đình mình. Cô sẽ dành cả đời theo đuổi cảm giác về lần hít ma túy đầu tiên. Nên bỏ tiền ra đầu tư cho một mái tóc đẹp.”

Tôi bảo cô rằng chẳng có cái nào trong số trên áp dụng được với tôi, nếu có thì tôi cũng không thể đương đầu với chúng - và thêm vào đó, dù tôi rất cảm kích trước sự quan tâm của cô, nhưng tốt hơn cô nên tập trung sức lực để nhớ xem cô đã ở đâu giữa tháng Hai và tháng Năm năm 2008.

Cô cười vang. “Cô hãy còn quá trẻ, vẫn còn thời gian. Cứ đợi đi.” Đoạn, cô thở dài, và tâm trạng thay đổi. “Nhưng trước khi kịp nhận ra, cô đã già rồi. Cuộc đời ngắn đến tàn nhẫn, cô biết không?”

Tôi trả lời không suy nghĩ, “Đặc biệt là với chị.” Một khoảng lặng dài bao trùm sau đó, và tôi cảm thấy mình đã nói một điều không phải. Tôi nhìn chằm chằm vào hộp Skype đen nhỏ trên màn hình cho đến khi nghĩ ra câu gì để nói.

“Hình như nó luôn là thứ Ba.”

Tôi nói vậy vì muốn Tess cảm thấy cô không cô đơn, rằng tôi hiểu, nhưng nó cũng tình cờ là sự thật. Ngày tháng vút qua không kìm lại được: dường như luôn là ba giờ sáng, và dường như luôn lại là thứ Ba, và thêm một tuần, thêm một tháng qua đi mãi mãi.

Còn lại, như tôi đã nói, những cuộc trò chuyện của chúng tôi không thành công ngay từ đầu. Nếu cổ ở trong tâm trạng tồi tệ, thì tôi chỉ lấy được chút ít thông tin từ cô. Cô sẽ trả lời cộc lốc, nhấm nhẳng, nói “Tôi không biết” với mọi câu hỏi và hành xử như một đứa trẻ. Cô sẽ rền rĩ, “Ôi, khi nào tất cả những chuyện này mới chấm dứt! Tôi chỉ muốn nó chấm dứt. Cô bảo chúng ta sẽ kết thúc bây giờ cơ mà!” Tôi phải nhắc cô rằng tôi không hề nói thế. Nhiều lúc tôi phải nặng lời.

Cô cũng có thể hậm hực. Vào một buổi tối khi tôi đang cố xác minh một chi tiết, - có phải Katy Wilkins bạn cô cũng chính là “Catatonic Katie” cô nhắc đến trong một email khác không? – thì cô xoay sang hỏi tôi, “Cô không có việc gì tốt hơn để làm ngoài việc này sao? Tôi nói thật đấy? cô làm gì?”

Cô cứ hỏi đi hỏi lại tôi, cho đến khi đột ngột dừng lại và thở dài đánh thượt, như chán nản. “Thôi bỏ đi. Tôi nghĩ sẽ có lợi cho tôi khi cô là một kẻ thất chí.”

Tôi không tự hào khi nói rằng tôi đã đánh rơi sự chuyên nghiệp.

“Có lẽ tôi sẽ không làm chuyện này nữa”, tôi nói. “Cô nói đúng, tôi có những việc tốt hơn để làm.” Và tôi

BERLIN kết thúc cuộc gọi. Tôi đang run rẩy, bức xúc đến nỗi khi cô gọi lại, tôi không nghe. Tôi để cho chuông reo hơn bốn lần.

Cuối cùng khi tôi nhận cuộc gọi, cô bắt đầu xin lỗi rồi nói, “Chờ đã.” Điều tiếp theo mà tôi biết, là cô đã bật camera lên. Bỗng nhiên cô xuất hiện trên khung hình nhỏ của Skype, đang nhìn thẳng vào tôi. Tôi nghĩ có thể tôi còn kêu ré lên, sửng sốt vì cô thực sự đang ở đó. Nó giống như trông thấy ma vậy, không phải tôi tin vào ma quỷ đâu. Cô mặc áo vest trắng, nổi bật so với làn da, tóc mái chải hất ra sau. Nom cô rất trẻ. Gương mặt cô gần sát camera và đang chau lại, nếp nhăn nhỏ hiện rõ giữa hai hàng lông mày.

“Cưng ơi”, cô nói. “Tha thứ cho tôi đi mà.

Cô xin lỗi vì đã “đả kích”; “Hôm đó là một ngày tồi tệ”, cô nói. Rồi, “Tôi cần cô. Cô biết mà. Tôi thực sự cần cô.”

Cô đưa tay lên chạm khẽ vào camera, nhưng là để cảm ơn tôi.

Từ đó trở đi, chẳng thèm bàn trưỐC, cô luôn mở camera khi chúng tôi nói chuyện. Tôi vẫn tắt camera của mình. Tất nhiên tôi có nhiều ảnh của cô, nhưng quan sát cô ở trạng thái một người sống, đang hít thở, vẫn khác. Thường thường, góc quay là từ dưới mặt cô hất lên; dáng điệu quen thuộc của cô là tựa vào một chiếc giường với laptop đặt trên lòng. Trên bức tường sau lưng Cô, tôi có thể thấy một góc của tấm poster hình như về một con nhện khổng lồ. Tôi bảo Tess xoay camera cho tôi xem trọn vẹn; cô đồng ý, và bảo tôi đó là bức ảnh của một nghệ sĩ tên Louise Bourgeois. Tôi ghi lại, và trong cuộc gặp tiếp theo, đề nghị cổ xoay camera quanh căn phòng để tôi có thể quan sát đầy đủ cách cô bài trí.

Phòng Cổ nhồi nhét đủ thứ, một kho đồng nát thực sự, tôi nhìn mà xây xẩm mặt mày - những chiếc lông Công đầy bụi, những chồng tạp chí, quần áo chất đống trên sàn làm tôi liên tưởng đến những đống dồn lại qua đêm bên ngoài cửa hàng của Liên đoàn Bảo vệ Mèo Ở Kentish Town. Trên một tủ ngăn kéo, những cái bình nằm nghiêng với nắp văng đâu mất, và quanh cửa sổ của cô là một dây đèn trang trí cây thông Giáng sinh. Cũng có những món đồ khác thường, tôi hỏi cô về xuất xứ của chúng; một cái vỏ lon màu trắng, kích thước bằng cái gối, cô mua tại một hiệu đồ cổ ở Islington; một mặt trời bằng gỗ sơn phết chiếm nửa bức tường, được cô làm cho một vở kịch. Một tượng Phật nhỏ bằng vàng ngồi trên chiếc bàn đầu giường, thậm chí qua camera tôi vẫn thấy được tàn hương bao phủ nó.

Nhìn mở đồ đạc của cô, tôi nghĩ: Tess sẽ làm gì với những thứ này khi cô đi? Tôi biết một câu hỏi kiểu thế đang đến gần vùng cấm - mặc dù chẳng có thỏa thuận chính thức nào như vậy, thấy rõ là Tess tránh bàn đến những chi tiết thực tế vụ tự sát – nên tôi ướm hỏi, “Chị có kế hoạch cho đồ đạc của mình chứ?”

Cô ngơ ngác một lúc, rồi hiểu ra. “Ồ, không. Vẫn chưa. Tôi chưa nghĩ đến chuyện đó.”

Tôi bảo cổ rằng tôi sử dụng một kho chứa có giá cả phải chăng, nếu cô muốn có số của nó. Cô gật đầu, vẻ mơ hồ, nên tôi gửi mail thông tin cho cô sau đó.

Cái camera thật hữu dụng, vì tôi có thể nhận ra tâm trạng cô nhanh hơn khi tôi nhìn vẻ mặt cô: dù tôi phải nói rằng, khi cô xuống dốc thì nó thường hiện rõ qua giọng Cô. Nó sẽ trở nên khàn đặc và nặng nề, như thể cô dùng thuốc an thần. Và còn những chi tiết nhỏ nhìn thấy bằng mắt. Chẳng hạn tôi thấy cô thuận tay trái, và ngoài nếp nhăn mờ giữa hai lông mày, cô còn có một nếp nhăn ở mỗi khóe miệng, nhỏ như một sợi lông mi rụng. Một tối tôi để ý có một vết đỏ phía trên môi cô. Tôi liền hỏi cô và cô đáp nó là vết lở môi. Có lẽ tôi chẳng được biết cô bị bệnh lở môi nếu tôi không thực sự nhìn thấy cô - tôi ghi lại để đưa cho cô vào lúc nào đó sau này. Tess có thể khiến một vết lở môi trông cũng đẹp nữa, như một nốt ruồi duyên.

Cô hay hút thuốc khi nói chuyện với tôi. Tôi đoán chúng là thuốc lá, nhưng đến một ngày tôi chứng kiến cô bóp vụn thứ gì đó vào điếu thuốc và nhận ra nó là cần sa, tôi yêu cầu cô xác nhận đó là ma túy, và cô bật cười.

“Cô bị sốc à, Mary Whitehouse!?” Sau khi chắc chắn về ý nghĩa của biệt danh này: Mary Whitehouse, Tess giải thích, “là một bà già khó chịu có tiếng với cái miệng như mong mèo” - tôi giải thích rằng tôi không phản đối chuyện đó, rằng cô hoàn toàn có quyền làm bất cứ điều gì cô muốn với cơ thể mình. Nhưng, tôi nói thêm, muốn làm rõ quan điểm của mình, “nếu nó ảnh hưởng đến người khác – nếu chỉ có một đứa bé trong phòng chẳng hạn - thì tôi không thể tha thứ cho hành động của chị. Nhưng trường hợp này, chị cứ thoải mái tiếp tục.

“Chà, cám ơn cô”, Tess nói. “Cô thật tử tế.” cô có vẻ thích thú với cuộc trao đổi này và mỉm cười trong khi liếm tờ giấy cuốn thuốc.

“Nó bao nhiêu tiền vậy?” Tôi hỏi.

“Tôi không biết. Một cô gái không bao giờ phải tự mua ma túy cho mình, đúng không?”

“À, có thể chị thì không phải làm thế”, tôi đáp, “nhưng tôi dám chắc một số cô gái phải tự mua. Có khả năng người nào đó sẽ chỉ đưa ma túy miễn phí cho chị nếu họ thích chị và muốn chị thích họ, nhưng không phải ai Cũng “sexy” được như chị. Trước đó chị đã nói vậy rồi - 1. Mary Whitehouse (1910-2001): là nhà giáo dục và nhà hoạt động bảo thủ người Anh, chống lại chủ nghĩa tự do. khi chị dùng chữ “một cô gái”, thực ra ý chị là: “một cô gái như tôi.”

Nó là một chủ đề mà tôi muốn đi sâu, và tôi hài lòng thấy Tess có vẻ bị bất ngờ. Cô rít một hơi thuốc dài, và nói, “Có lẽ cô nói đúng.” Xem ra nó đã gọi tính tò mò của cô, và cô bắt đầu dội một cơn lũ các câu hỏi về tuổi thơ của tôi và bố mẹ tôi… Tôi kể với cô về mẹ và căn bệnh MS, và cô trở nên hứng thú.

“Giống bố tôi. Lạy Chúa, xui tận mạng đúng không? cô đương đầu thế nào?”

Tôi trả lời rằng tôi hình dung bệnh Alzheimer tệ hơn MS, vì lý do: mẹ tôi luôn minh mẫn, và cứng cỏi đến phút cuối cùng, trong khi bố cô, Jonathan, đã gần như mất thần trí. Khi tôi nghĩ đến ông Jonathan, trong đầu tôi hiện ra hình ảnh một hộp kẹo Quality Street, giống những hộp kẹo chúng ta thường dùng làm quà tặng Giáng sinh, nhưng bên trong chỉ toàn giấy bọc rỗng. Song tôi không nói điều đó với Tess; tôi chỉ nói hẳn là vô cùng khó khăn khi bất lực chứng kiến những ký ức của bố mình rò rỉ dần dần, cho đến khi ông quên mình có một cô con gái.

Tess gật đầu.

“Ừ”, cô nói. “Về cơ bản ông đã chết từ một năm trước.” Giụi điếu thuốc vào cái gạt tàn hình vỏ ốc cạnh giường, cô nói, “Tôi mừng vì mình sẽ không già đi.” Những bảng tính đang dần đầy lên. Bây giờ nhịp độ Công việc của tôi đã dễ thở: buổi tối chúng tôi nói chuyện, ngày hôm sau tôi gõ lại những đoạn bằng, phân chia các dữ liệu và làm ghi chú tất cả những chi tiết không liên quan nhưng hữu ích đã xuất hiện, như là những từ ngữ bất thường cô sử dụng hoặc những khía cạnh trong tính cách mà Tess VÔ ý bộc lộ.

Càng gặt hái được nhiều thông tin, sự tự tin của tôi càng lớn, nhưng vẫn còn một mối lo: những cú điện thoại. Bất chấp những đảm bảo của Adrian và Tess theo chiều ngược lại, nghe chừng có khả năng sẽ có những lần trong tương lai một cuộc gọi từ Tess được mong chờ, dẫu cho không quá cấp thiết, những dịp tụ họp chẳng hạn, hoặc có tai nạn xảy ra.

Rồi đến một ngày, khi tôi nghe những băng ghi âm, một ý tưởng nảy ra. Hình như không có lý do gì mà chúng tôi không nên ghi âm những lời nhắn thông thường, sau đó tôi có thể đưa vào điện thoại, vào máy trả lời tự động của người nhận, ở những thời điểm mà tôi biết họ sẽ không thể nhấc máy.

Tôi đưa ý tưởng này ra với Tess tối hôm đó, và CỐ đồng ý. “Tiến hành luôn thôi!” Tôi nói. Và cũng mất kha khá thời gian, tôi phải liên tục bảo cô nói lại vì tông giọng chưa chuẩn, nhưng cuối cùng chúng tôi đã có nhiều đoạn ghi âm khác nhau. Một cái cho dịp sinh nhật, một cái cho Giáng sinh, và ba cái thông dụng với ba ngữ điệu khác nhau “Xin chào, là tôi đây, xin lỗi đã không kịp nghe máy”. Đối với bạn bè, giọng Tess buông tuồng - “Ề cưng”, còn những đoạn dành cho gia đình nghiêm túc hơn. Tôi bắt Tess lập cho tôi một danh sách những thời điểm mà gia đình và bạn bè cô có khả năng để điện thoại của họ sang chế độ thư thoại, mẹ cô chẳng hạn, tải nhóm đọc sách của bà mỗi tối thứ Tư - được bà gọi là “thời gian của tôi” - còn những người bạn có con nhỏ của cô sẽ bận rộn đón chúng ở trường lúc xế chiều.

Tôi cũng quyết định rằng chúng tôi nên chụp những bức ảnh của Tess để sau này tôi ghép vào những khung cảnh của bất cứ nơi nào cô đến, để đăng lên Facebook. Một tối nọ, tôi đề nghị được xem tủ quần áo của cô, cô liền đặt laptop sang bên giường và lôi từng bộ trang phục ra, ướm lên người. Khi chúng tôi nhất trí với một bộ nào đó, thích hợp với những mùa và điều kiện thời tiết khác nhau, cô liền mặc vào, không buồn dịch khỏi camera, thế là tôi trông thấy cô chẳng mặc gì ngoài quần lót.

Trong lúc cô thay đồ, tôi quan sát thân hình cô. Nó khác hẳn thân hình tôi. Sự thiếu da thịt của cô làm tôi có thể trông thấy những cái xương mà tôi chẳng bao giờ thấy trên người mình: những cục lồi trên xương sống và xương sườn khi cô cúi xuống, xương chậu khi cô giơ tay để xỏ áo. Nó như thể cô chỉ có một lớp vải mỏng phủ lên khung người, trong khi khung người tôi chìm nghỉm dưới cái chăn bông.

Mặc đồ xong, tôi hướng dẫn cô cách sử dụng chế độ hẹn giờ trên camera để chụp những bức ảnh cô mặc các bộ trang phục trước một bức tường trống trong phòng, trong những kiểu dáng khác nhau. Sau đó cô gửi mail cho tôi kiểm tra.

Tess có vẻ thích thú vụ này, vui vẻ lục tung đồ đạc, giờ chúng lên để tôi cho ý kiến, ồ lên sung sướng khi gặp chiếc áo jacket yêu thích mà cô tưởng đã mất. Tôi không mảy may hứng thú với quần áo và không biết cô đang nói về cái gì trong phần lớn thời gian - vintage Ossie, cái áo Dries Cũ Của tôi - nhưng tôi cũng thích nói. Tôi vui khi thấy cô hớn hở. Tôi nhớ đã nghĩ đến bức ảnh trên Facebook chụp cô và mấy cô bạn đang sửa soạn đi chơi, khi cô bằng tuổi tôi, và tự hỏi những gì tôi đang trải qua vải Tess có gì giống như thế không. “Niềm vui của con gái.” Khi đó tôi cảm thấy gần gũi với Tess, đó là một cảm giác đẹp đẽ.

Raymond Ossie Clark (1942-1996): nhà thiết kế thời trang người Anh, nổi tiếng với trang phục vintage.

Tuy nhiên chẳng bao lâu sau, một sự việc xảy ra đã hất mối quan hệ của chúng tôi trở về thuần túy công việc, và khiến tôi cảm thấy tôi gần như chẳng biết gì về cô. Một buổi sáng, như thường lệ, tôi đăng nhập vào tài khoản Facebook của cô, và thấy cô đã gửi thiệp mời dự tiệc đến toàn bộ danh sách bạn bè. Hẳn cô đã làm điều đó sau khi chúng tôi nói chuyện Skype tối hôm trước.

Tiệc chia tay, thiệp mời viết. Hãy đến sống với tôi dăm ba CỐc trước khi tôi dong buồm đến miền đất mới. Ngày đề là thứ Sáu tuần sau, địa điểm là một quán rượu ở Bethnal Green. Mười tám người đã nhận lời, và trên tường của của cô tràn ngập những tin nhắn của những người bạn sửng sốt: Khoan, cậu sắp đi ư? Đi đâu? Bao giờ? Tất cả chuyện này là sao? Tại sao tớ không biết tí gì?

Tôi lập tức email cho Tess hỏi cô sao không bàn với tôi trước một động thái lớn như thế, nhưng suốt cả ngày cô không trả lời, và tôi phải đợi đến giờ hẹn Skype tối hôm đó để nghe cô giải thích.

“A phải”, cô nói, với bộ dạng vui tươi phát bực, “tôi nghĩ là tôi nên có đôi lời từ biệt.”

“Tại sao chị không nói với tôi?”

Cô nhún vai, đưa mắt khỏi camera.

“Nó là chuyện bột phát nhất thời. Đằng nào giờ cô đã biết đấy thôi?”

“Nhưng chị chưa thể mở tiệc chia tay được! Chúng ta còn chưa tính đến chị sẽ đi đâu, hoặc khi nào hoặc…” Tôi nghe thấy giọng mình vút lên, và dừng lại để lấy bình tĩnh. “Chị định nói gì với mọi người?”

“Ồ, tôi sẽ nghĩ ra điều gì đó”, cô nói, quay lưng lại

tôi với giọng nói có chút cáu kỉnh. “Tôi sẽ nói là tôi ra nước ngoài. Đừng có om sòm lên thế.”

“Ý chị là tôi sẽ nghĩ ra điều gì đó”, tôi trả lời, gần như thì thầm, nhưng Tess ném một ánh mắt nheo nheo về phía camera và tôi biết cô đã nghe thấy.

“Ồ, tôi đã bảo với mọi người rằng tôi sẽ đi sau đó một tháng”, cô bổ sung, và mỉm cười ngọt ngào.

Như các bạn có thể hình dung, việc này làm tôi bất ngờ. Thời điểm “trả phòng” đến bây giờ vẫn chưa được bàn đến, và tôi đã thấy trước quá trình thu thập thông tin còn tiếp tục thêm hai tháng nữa. Tôi không thấy bằng chứng nào trên email hay Facebook để củng cố cho tuyên bố mới này của Tess, và tôi thoáng có suy nghĩ rằng cô chỉ chế ra cái hạn chót vào lúc đó nhằm làm tôi xác đảo. Nhưng, bất kể là gì, một khi cô đã nói thế cô liền không động đậy tay chân, khăng khăng rằng chúng tôi phải thu xếp tất cả trong vòng bốn tuần.

“Trong trường hợp đó”, tôi nói. “Chúng ta cần bắt đầu chuẩn bị cho tương lai của chị.”

“Ý cô là sao?”

“Cuộc sống mới của chị”, tôi cố hết sức để giữ tự chủ. “Nơi chị muốn sống, những việc chị muốn làm, tất cả. Chúng ta phải giải quyết tất cả những chuyện đó.”

“Tôi không quan tâm”, cô thở hắt ra sốt ruột. “Tôi có định đến đó thật đâu, đúng không?” Tất nhiên là đúng, và thời điểm đó có lẽ tôi đã biết đủ về cổ để ra một quyết định xác đáng về nơi cô có thể đến và công việc cô có thể nhận… Nhưng tôi cảm thấy vừa bực bội vừa tổn thương vì cách hành xử thiếu suy nghĩ của cô.

“Ý tôi là, chẳng phải cô ở đây để giải quyết những cái đó sao?” cô nói thêm, để xát muối vào vết thương.

Tôi đã đưa cuộc trò chuyện đến chỗ bất hòa, nhưng tôi nhanh chóng bình tĩnh lại. Tôi phải tỏ ra chuyên nghiệp; tôi ở đây để làm việc cơ mà. Tôi liền ngồi xuống, cố gắng thật lý trí và nghĩ đến những nơi phù hợp để Tess đến. Sau một lúc tìm kiếm trên internet, tôi đã có câu trả lời.

Tiêu chuẩn chính hiển nhiên là phải thật xa. Trong lần gặp đầu tiên giữa tôi với Adrian, anh đã nhắc đến Australia như một địa điểm khả thi, nhưng nghe chừng nó không ổn. Dù bỏ qua một bên cái vướng mắc chủ yếu, rằng chồng cũ của cô là người Australia, tôi biết những thành phố lớn của đất nước đó là những điểm du lịch nổi tiếng. Và ngay cả khi Tess Sống bên ngoài một trong những thành phố chính, tôi nghĩ nếu một trong những thành viên gia đình cô hay bạn bè cô đã đáp một chuyến bay hai tư giờ đồng hồ đến Sydney, chẳng hạn, thì hoàn toàn có khả năng họ sẽ bỏ thêm chút công sức để đến thăm cô.

Bên cạnh đó, để chân thực thì phải có một lý do để Tess chọn nơi đó làm điểm đến cuối cùng. Cô từng bảo tôi, cô rất “nhạy cảm với môi trường” và phải “ở gần cái đẹp”, sẽ không có chuyện cô đi đâu cũng được. Sẽ phải có một thứ ở đó cuốn hút cổ.

Cho nên tóm lại, đó phải là nơi khó đến, có đủ “sức hấp dẫn” để Tess muốn dừng chân, tuy nhiên không phải một nơi mọi người có thể nghĩ, “Ồ, mình luôn muốn đến đó và đây là cơ hội của mình.”

Hơn nữa, sẽ hợp lý cho Tess khi cô đến một nơi khác hoàn toàn Bethnal Green là nơi cô ở hiện giờ. Và, tôi nhận ra, sẽ thích hợp với cô khi chuyển đến một nơi “thần bí”.

Cái sự “thần bí” này là một mặt của Tess khiến cho tôi đau đầu. Cô háo hức đón nhận những trào lưu huyền bí, bị ám ảnh bởi liệu pháp vi lượng đồng căn và đồ pha lê, Sốt sắng kể cho tôi về “phương pháp giác hơi” và những đường thẳng bí ẩn - “Có bằng chứng không?” - nhưng cô ngoan cố quả quyết rằng nó làm cô cảm thấy tốt hơn.

Cho nên, với phương châm ấy, tôi tìm mấy trang “Kỷ nguyên Môi” và ở ẩn trên vài diễn đàn. Tôi để ý xem họ tán dóc về những gì, và khi ai đó đề cập đến một địa điểm, tôi liền đi tìm nó. Và đó là cách tôi biết đến Sointula.

Sointula nằm trên một hòn đảo ngoài khơi gần Vancouver, một cộng đồng lập dị xưa kia được tìm thấy như một “xã hội không tưởng” vào những năm 1970. Nó đã trở thành nơi bình thường hơn, một làng chài, song vẫn giữ lại một phần tinh thần cũ và gần như một trạm dừng chân cho người “sùng đạo”. Nhìn trên ảnh, nó khá đẹp, với những bãi biển thanh vắng và những tòa nhà thấp đơn Sơ. Dân số vừa đủ có công ăn việc làm, nhưng đủ yên tĩnh để yên tâm làm kẻ lánh nạn đối với một người “bị tổn thương” như Tess.

Ley line: là đường thẳng đi qua những địa danh linh thiêng nổi tiếng trên trái đất.

Vấn đề chính là nó cực kỳ khó đến. Bạn phải bay đến Vacouver, bắt một chuyến bay nữa đến cảng Hardy, đi taxi nửa tiếng đến một cảng nữa rồi tiếp tục đi phà. Bố mẹ cô sẽ không thể nào chịu được chuyến đi như thế với tình trạng hiện tại của ông Jonathan. Tôi hi vọng nó sẽ làm nản lòng cả những người xông xáo nhất trong đám bạn ưa xê dịch của Cô; thậm chí cả Sharmi, người đã đến Papua New Guinea. Ngoài ra, Tess sẽ nói rõ rằng cô không muốn ai đến thăm hết; rằng cô muốn bắt đầu lại từ đầu.

Quyết định chọn Sointula rồi, tôi dành ra một ngày phác họa cuộc sống của Tess ở đó. Tôi tra cứu thông tin nhà đất và tìm cho cô một căn hộ. Đó là một nơi xinh xắn, Ở tầng trệt một ngôi nhà gỗ độc lập, với một mảnh vườn chung. Những bức ảnh chụp những căn phòng thoáng đãng, sáng sủa, với những cửa sổ chạy từ sàn lên trần, treo rèm kẻ ô, và những sàn gỗ trắng. Căn hộ bài trí rất đơn sơ, với xu hướng tối giản - một chiếc sofa nhỏ trang nhã, một cái bàn tròn bốn ghế – song vẫn toát lên sự ấm cúng. Trong một thoáng, khi nhìn ngắm căn hộ, tôi cảm thấy choáng váng: chính tôi sẽ muốn sống ở đó. Tôi nhớ hôm ấy là một tối thứ Sáu, và bên ngoài cửa sổ phố Albion hết sức ầm ĩ; mùi hành thấm vào trong căn hộ, và tiếng kính về loảng xoảng xen lẫn tiếng cười của dân nhậu trong quán rượu.

Trang môi giới nhà đất nói rằng căn hộ Saintula nằm Ở tầng trệt một ngôi nhà là nơi sinh sống của bà chủ nhà. Bà ấy, tôi quyết định, là một quả phụ gọi là bà Peterson, trông rất giống mẹ tôi.

Sau khi tìm được căn hộ cho Tess, nói cho đúng là căn phòng, tôi bắt đầu tìm một công việc cho cô. Như đã kể, cô có một tiểu sử nghề nghiệp phong phú nên sẽ hoàn toàn hợp lý khi cô làm việc ở một nơi khiêm nhường, ví dụ như làm phục vụ trong một quán ăn trên đảo. Nhưng tôi không vui với điều đó. Đây là “cuộc sống mới” của cô, tôi muốn một điều tốt đẹp hơn cho cô. Ngoài ra, tôi nghĩ đến khả năng nếu xảy ra trường hợp khẩn cấp ở nhà, và người ta muốn liên lạc với cô tức khắc, họ sẽ không mất nhiều thời gian tìm ra tên của mấy quán ăn trên đảo và gọi điện thẳng tới để xin gặp cô. Nên tôi chuyển sang những lựa chọn khác. Sointula có một cửa hàng quần áo tên là Moira và một thư viện nhỏ. Tôi cân nhắc thư viện, nhưng khi nghiên cứu hồ sơ của Tess để tìm cảm hứng, tôi nhờ đến khóa học ngắn của CỐ ở trường nghệ thuật, và nảy ra ý tưởng. Tess có thể làm gia sư môn nghệ thuật cho con của một gia đình trên đảo.

Phải thừa nhận tôi khá hài lòng với điều này. Nó có nghĩa là Tess có thể chính đáng tắt điện thoại trong phần lớn thời gian và do đó không thể liên lạc được. Vai trò của điện thoại di động trong cuộc sống mới của Tess là một điều đáng lo Với tôi, không chỉ là vấn đề rõ ràng về sự khác biệt giữa hai giọng nói mà còn vì tôi nhận ra nhạc chuông ở nước ngoài sẽ khác, và bất cứ ai gọi cho Tess sẽ có thể biết rằng nó vẫn ở Anh. Càng có lý do để không bật nó lên là một giải pháp toàn vẹn.

Nhà và công việc đã xong, tôi gộp lại thành một file gửi cho Tess, những bức ảnh về hòn đảo và chi tiết về căn hộ, như thể tôi đang bán nó cho cô. Cô hồi âm rất nhanh chẳng giống với cô chút nào, giọng cô một lần nữa chuyển từ cau có sang cảm kích. Cô nói cô yêu ý tưởng về Sointula, căn hộ thông tuyệt vời, và chỉ có đầu óc thiên tài mới nghĩ ra nghề gia sư.

Tuyệt quá, tôi gần như muốn đích thân đến đó! cô viết. Cưng ơi, có đúng là một ngôi sao.

Tôi thấy vui khi cô đối xử tốt với tôi.

« Lùi
Tiến »