Lối này gần như vắng tanh khi tôi ngủ dậy. Annie bảo vào Chủ nhật có một phiên chợ tại thị trấn gần đó, nơi tất cả mọi người tìm cách bán những thứ nhàm chán vô giá trị mà họ làm trong tuần cho du khách. Có điều chị không dùng cụm từ ấy, chị nói “hàng thủ công”. Chị không đi vì đứa bé không khỏe. Khu vực yên tĩnh kỳ lạ, cảm giác như chúng tôi là những người duy nhất bị bỏ lại: y hệt cảm giác khi tôi ở nhà với mẹ thay vì đến trường.
Có lẽ tôi nên xuống chợ; nó sẽ là một nơi hữu dụng để đưa ảnh của Tess ra. Nhưng tôi không đi. Một phần vì sẽ mệt với cái nóng, song cũng vì tôi bắt đầu nghĩ rằng toàn bộ hoạt động này là vô nghĩa. Ngay cả khi tôi tìm được ai đó nhận ra Tess một cách rõ ràng, nói rằng họ trông thấy cô ấy ở đây vào mùa hè năm ngoái và có thể củng cố khẳng định bằng chứng cứ đầy đủ, thì sao? Để hoàn thành nhiệm vụ, tôi vẫn sẽ phải tìm được xác cô, và tôi làm điều đó bằng cách nào? Tôi khó có thể tìm kiếm toàn bộ ngọn núi, nhất là trong thời tiết này. Và cho dù CÔ đã trải qua những ngày cuối cùng ở đây, ai dám khẳng định Cô không đến nơi khác để thực hiện hành động, và thi thể Cô đang nằm trong một khu rừng khác hay trên một ngọn núi khác hoặc trong một cái hồ, cách đây hai mươi hoặc tám mươi hoặc hai trăm dặm.
Thay vì đi chợ, tôi nằm xem Annie làm những cái đôn. Trong bóng mát của mái che chiếc xe tải, chị đang chà phẳng những mảnh gỗ, Milo phụ giúp chị. Chuyển động đều đều của máy chà nhám trên bề mặt gỗ khá là thôi miên, công việc trông hay hay và không quá nặng nhọc, nên một lúc sau tôi xin chị cho làm thử. Trong lúc chúng tôi làm việc, tôi kể cho Annie là mình thường giúp mẹ sơn những mẫu vật của bà, Công việc trái ngược hẳn với việc chúng tôi đang làm – những nhát có phải thật khẽ và nhẹ chứ không phải những củ quét dài - nhưng đều thư giãn giống nhau.
Rồi Milo bắt đầu nói về trường học, thằng bé mong muốn trở lại trường nhưng thấy bài tập toán khó quá. Có điều nó phát âm “math”, thiếu “s”. Tôi lại giỏi toán, nên tôi hỏi nó thấy khó chỗ nào, và hai chúng tôi trao đổi một hồi.
“Tốt quá, CÔ nói chuyện với thằng bé như với người lớn”, Annie nói. “Hầu như mọi người không làm thế.” ور
Khi chúng tôi đã chà xong mảnh gỗ của mình, chị bảo Milo, “Mẹ nghĩ đã đến lúc cắt tóc cho con rồi, chân nhỏ ạ. 92
Chị ra ngoài lấy một cây kéo nhỏ xíu và bắt đầu xén những lọn tóc xoăn của thằng bé. Tôi ngồi xem, và ý nghĩ cảm thấy gió mơn man trên gáy thật là một cảm giác sung sướng nên tôi nhờ chị cắt cho cả tôi nữa.
“Được thôi”, chị nói, và cắt xong cho Milo, chị đến ngồi sau lưng tôi với chiếc kéo.
“Hôm nay chỉ tỉa gọn thôi chứ, thưa quý khách?”
“Không”, tội đáp, “đến đây cơ”, và chỉ vào ngay dưới tai.
“Cô chắc chứ?” Chị hỏi. “Trông như Cô đã nuôi nó mấy năm rồi.”
Chị nói đúng, tôi nuôi đã lâu. Tôi gật đầu. Annie cắt từ từ và cẩn thận, nửa tiếng sau chị vòng ra ngắm nghía tội từ đằng trưỐC, nghiêng đầu trong bộ dạng khắt khe.
“OK, tôi nghĩ nó gọn gàng hết sức có thể rồi. Tôi nghĩ trông cô khá giống… ngôi sao điện ảnh nào thời xưa ấy nhỉ? Người để kiểu đầu bob màu đen ấy?”
Chị đề nghị lấy gương cho tôi xem nhưng tôi từ chối, tôi không cần. Tôi cảm thấy như vứt đi được một tảng đá, và hơi tí lại sờ cái gáy mới lộ ra, cái phần cơ thể cả thập kỷ nay không được nhìn thấy ánh sáng ban ngày.
Vấn đề với quãng thời gian này công việc với không có internet là những ý nghĩ không đâu cứ len lỏi vào đầu. Tôi không ám chỉ mỗi chuyện xảy ra hôm qua; mà cả những cái nhỏ nhặt hơn.
Chiều nay, sau khi cắt tóc, tôi trú ở vị trí quen thuộc dưới mái che xe tải của Annie, bỗng dưng tôi nhớ đến một câu Tess nói về Adrian. Lúc đó là sau khi cô bảo tôi rằng tôi thật buồn và đáng thương, và cô tìm cách làm tôi vui lên, tỏ ra tử tế và nói cô thật may mắn vì có tôi và tôi phù hợp với công việc ra sao. “Adrian không ngốc”, Cô nói. “Anh ta làm rất tốt việc khảo cứu của mình.”
Lúc đó, tôi không nghĩ gì nhiều, nhưng hôm nay, nằm trên tấm đệm, hồi ức ấy chạm vào một hồi ức khác, như cách những bong bóng thường nổi lên và dính vào nhau trong cái đèn dung nham của tôi. Đó là về cuộc gặp của tôi với Adrian cạnh bệnh viện. Tôi lại đang nghĩ rằng thật là một sự trùng hợp, trong bao nhiêu chỗ của London, anh lại muốn gặp ở một nơi quá ư quen thuộc với tôi, và tiết lộ vợ anh cũng mắc bệnh MS. Và rồi một ý khác xuất hiện trong tôi rằng xét cho cùng có lẽ nó không hẳn là trùng hợp.
Hai năm trước, khi mẹ tôi vẫn còn sử dụng được đôi bàn tay, tôi gợi ý bà nên tham gia vào diễn đàn trên một trang web về MS. Lúc này tôi đã bắt đầu góp mặt vào hội Người chăm sóc và tôi nghĩ nếu bà giao lưu với những người có cùng hoàn cảnh thì sẽ tốt cho bà. Mẹ tôi hoạt động tích cực trên diễn đàn trong sáu tháng, cho đến khi bà không thể gõ phím được nữa, và trên đó bà đã đề cập những buổi chữa trị ở Royal Free. Khi bà mất, tôi đăng lên bảng Cáo phó của trang web; không dài dòng gì, chỉ báo tin về cái chết của bà cùng với dòng chữ bà là người mẹ tốt nhất từng sống trên đời.
mę Trang web là công khai, nên Adrian có thể, theo lý thuyết, tìm thấy nó, nếu anh tra Google về tôi. Một ý nghĩ nảy ra với tôi rằng có lẽ lý do anh đề nghị gặp ở Royal Free liên quan đến tôi. Để nhắc tôi nhớ đến sự đau ốm của bà và nỗi đau đớn thường trực của biện pháp kéo dài sự sống cho bà, nhằm tăng khả năng đồng cảm trong tôi khi nghĩ đến có ai đó đang muốn tự chủ cái chết của họ.
Tất nhiên, tôi lập luận, địa điểm có thể chỉ là trùng họp, như tôi đã cho từ trước. Nhưng dù không phải đi nữa – nếu anh quả thực đã điều tra thì đã sao? Ta có thể nói rằng nó không làm ta nghĩ xấu về Adrian: điều đó, thực ra cho thấy sự hết lòng của anh với Tess mà thôi, vì anh muốn làm tất cả những gì có thể để đảm bảo tôi sẽ giúp CÔ. Và tôi gần như chắc chắn nó sẽ không ảnh hưởng đến kết quả của cuộc gặp. Tôi đã cân nhắc lời đề nghị bằng suy nghĩ độc lập. Dù anh có đưa ra đề nghị với tôi trong một quán rượu đi nữa, tôi ắt cũng đồng ý nhận công việc. Cho nên việc anh có thể tính toán hơn vẻ bề ngoài cũng không thực sự làm thay đổi tiến trình mọi chuyện.
Hôm nay tôi cũng nghĩ về giây phút định mệnh với Connor. Nó đã làm thay đổi mọi thứ, và liệu nó có xảy ra nếu tôi không tìm thấy những email ban đầu giữa anh ta và Tess?
Qua những gì Connor kể, tôi đã dựng lên một bối cảnh về những chuyện đã xảy ra giữa họ. Họ đã có mối quan hệ ngắn ngủi vào thời điểm từ năm 2001 đến 2002: Cô đã chấm dứt nó, và anh ta đã đau khổ. Nhưng tôi vẫn lấn cấn vì không tìm được bằng chứng nào của mối quan hệ đó trong hồ sơ của Tess. Tôi cảm thấy mình cần nó ở ngay trước mặt. Mỗi lần Connor cho tôi manh mối mới trong một email, tôi lại lần theo nó, đào bởi những ghi chép của tôi.
Sự đột phá đến sau hai tuần từ khi Connor liên lạc. Anh ta thả một nhận xét đùa cợt vu vơ về việc là một Kẻ Hoang Đàng về hưu, cụm từ kỳ lạ này đã làm lóe lên cái gì đó. Tôi lục tìm trong hồ sơ của Tess và thấy nó trong một thư mục đặt tên là “Những người không quan trọng” gồm những trao đổi email ngắn ngủi, hầu hết từ tài khoản hotmail cũ của CÔ, với những người đàn ông mà Tess hoặc không thể nhỏ hoặc cho rằng không quan trọng. “Chỉ là mấy kẻ thô lậu. Chẳng đáng dây dưa.”
Tiếng Anh: Renegade Master.
Renegademaster72@yahoo.com là địa chỉ đó. Không có nhiều email giữa họ, mười tám cái tất cả, điều đó được giải thích bằng việc mối quan hệ diễn ra hầu như vào mùa hè. Vào thời gian đó Tess không có Công việc văn phòng và đang vẽ phông màn sân khấu cho các lễ hội, cho nên họ chủ yếu gửi tin nhắn. Và tất nhiên chưa có Facebook.
Vậy là tôi đã có nhiều chi tiết hơn về mối quan hệ của họ. Họ gặp nhau tại một bữa tiệc ở Brixton - Em có bị chảy máu mũi khi đi về phía nam của dòng sông không? Anh ta viết trong email đầu tiên và anh ta đã si mê Cô, rõ ràng thế. Cho dù những email của anh ta không có “những lời lẽ yêu đương” nào, và anh ta đang cố tỏ ra đùa cợt, ta có thể thấy biết bao tâm sức đã được bỏ ra trong những tin nhắn ngắn ngủi nhất, những câu chuyện cười và đường dẫn anh ta gửi cho Cô đã được lựa chọn cẩn thận ra sao, và anh ta đã trả lời những email của cô nhanh chóng đến mức nào.
Những email Tess gửi cho anh ta sơ sài hơn nhiều, đúng như phong cách của cô, nhưng ban đầu cô cũng đáp trả những trêu đùa của Connor. Cô sẽ trả lời bằng một câu đùa hoặc một đường dẫn của CÔ và cũng bỏ Công đưa đẩy.
Tuy nhiên qua nhiều tuần có thể nhìn ra sự suy giảm hứng thú, theo cùng một lối mòn như trong bao mối quan hệ khác của cô. Cô bắt đầu lười hơn, vài ngày mới trả lời một lần, không hiểu những câu đùa của anh ta. Nó khiến anh ta có vẻ hơi ngu ngốc.
Điều này được chứng tỏ bằng một trao đổi khá kỳ quái. Vào thứ Hai ngày 17 tháng Sáu năm 2002, lúc mười giờ mười ba phút sáng, Connor viết một email một dòng cho Tess:
Anh muốn liếm hai nách em.
Tess trả lời:
Em không cao chúng năm ngày rồi. Connor trả lời lại:
Càng tốt. Có còn cái nóng chân thừa nào không?…
Tess không hồi âm trong mười lăm giờ đồng hồ, và khi cô hồi âm thì chỉ có một từ Khiếp. Không có những cái hôn đi kèm.
Một khác biệt nữa là trước đó, trong những ngày tán tỉnh ban đầu, thói quen của họ là không trả lời trực tiếp những câu hỏi của nhau - tất cả phải theo kiểu “mớm” vào điểm chính, dí dỏm hoặc khác thường.
Tuy nhiên khi hứng thú của Tess đã cạn, Cô trở nên thẳng thừng hơn. Và tôi nghĩ, Cô khá bất công với anh ta.
Ví dụ như lúc khởi đầu, Connor cố gắng tổ chức những trò vui cho hai người thực hiện khi họ gặp nhau, cho đến khi Tess bảo anh ta một cách lấp lửng rằng cô không thích các kế hoạch, mà thích được “tự nhiên” (nghe thật buồn cười, ngẫm từ dự án của chúng tôi). Nhưng rồi, trong một email anh ta viết về niềm vui khi gặp cô tối hôm đó và thêm vào, vải vẻ hào hứng và phấn khích, Thế giới là con hàu của chúng ta, Heddy. Chúng ta xõa một bữa ở Claridges chứ? Nhảy lên một con tàu đến Brighton? Nói cách khác, anh ta đang làm đúng những gì cổ muốn, phiêu lưu và tự nhiên. Nhưng cô không hưởng ứng. Câu trả lời ngắn gọn của cô đáp rằng cô không biết cảm giác của mình ra sao tối hôm đó.
Đến cuối cùng, cuối tháng Bảy năm 2002, cô thậm chí không thèm trả lời những tin nhắn của anh ta, và rõ ràng anh ta cảm thấy có gì không ổn.
Tối qua em lo lắng chuyện gì à? Em có vẻ lặng lẽ.
Trả lời, cô viết:
Chúng ta cần nói chuyện.
Đó là lần trao đổi cuối cùng của họ.
Đọc những email, tôi cảm thấy Tess đã không cư xử tử tế với Connor, và cảm thấy hơi ái ngại cho anh ta. Và có lẽ điều đó dẫn tới chuyện xảy ra với những cung hoàng đạo.
Nhưng tôi đề cập trước đó, tôi có một quy định nghiêm ngặt với công việc của Tess. Bất cứ điều gì tôi làm hay nói trong vai Tess phải là điều cô sẽ làm hoặc nói, theo hiểu biết sâu nhất của tôi về tính cách cô. Và, như tôi đã đề cập trước đó, một phần tính cách cô là tin vào tất cả những thứ huyền bí. Đôi khi nó chỉ là một giai đoạn cô trải qua, như vi lượng đồng căn và chữa bệnh bằng năng lượng - thậm chí, trong bảy tháng, là đạo Cơ Đốc, sau khi cô tham dự cái gọi là Khóa học Alpha tại một nhà thờ ở Tây London. Nhưng cô duy trì niềm tin thường trực, khó chịu vào các cung hoàng đạo. Không quá tin vào những tiên đoán hàng ngày trên báo chí - mặc dù cô đọc hết - nhưng cho rằng những nét tính cách của chúng ta bằng cách nào đó do các vì sao quyết định.
Thường thì khi nói chuyện, tôi bảo cô miêu tả một người nào đó và cô sẽ nói kiểu, “Ồ, cô biết không, anh ta đúng là một Sư Tử điển hình”, như thể a) tôi biết “một Sư Từ điển hình” là như thế nào và b) nó mang tất cả ý nghĩa vậy. Tôi từng cố gắng đối đầu cô trong vấn đề đó và giải thích vì sao nó vô lý, và rằng tôi nghĩ việc quy chụp những nét tính cách là một sự từ bỏ trách nhiệm đối với những hành động của một con người. Cô không đón nhận điều đó cho lắm. Cô ở trong tâm trạng bực bội cả ngày hôm đó, và bảo tôi có thể biến đi.
Vì vậy, đến một ngày, ba tuần sau khi chúng tôi thư qua thư lại, Connor kể tôi nghe về cuộc trò chuyện của anh ta tối hôm trước tại một bữa tiệc rượu chia tay một đồng nghiệp chuẩn bị rời ngành luật. Anh ta đang nói chuyện vỔi vợ của một đồng nghiệp khác, người mà, tôi trích dẫn, như ba tờ giấy trước gió – nghĩa là say bí tỉ - và bà ta kể cho anh ta một câu chuyện dài về đứa con gái lớn của mình muốn kết hôn với bạn trai và vì bà ta là một nhà chiêm tinh nghiệp dư, bà ta quyết định sẽ làm một “biểu đồ” cặp đôi. Nghe chừng cung của chàng thanh niên khắc với cung của con gái bà ta, và bà ta đã khuyên con gái đừng kết hôn. Đứa con gái bảo bà là đừng có ngu ngốc thế, vẫn đâm đầu kết hôn và, xem kìa, cặp đôi ly dị trong vòng sáu tháng.
Tôi viết trả lời:
Một mụ bò cái ngu xuẩn.
Connor hồi âm:
Con báo đã thay đốm đồi sao? Anh tưởng em thích trò đó. Em luôn bảo rằng anh, nếu anh nhớ không nhầm, ”cứng nhắc và tẻ nhạt”, bởi vì anh là một Kim Ngưu.
Về điểm này, tôi có thể xử trí, tôi có thể lấp liếm và nói ý tôi là người phụ nữ đó không biết mình đang làm gì, và những cung ấy thực ra rất hợp nhau, hoặc cái gì đó tương tự. Nhưng tôi không làm vậy.
À, em đã được khai sáng, tôi viết lại.
Sau một phút chần chừ, tồi nhấn nút Gửi, trong lòng trào lên nỗi lo lắng pha lẫn phấn khích. Bằng việc chủ ý bắt Tess làm một điều mà có thể cô sẽ không làm ngoài đời thực, tôi đã phá vỡ một quy tắc lớn tôi đặt ra trong công việc. Cảm giác giống như quay về trên Cỗ máy thời gian và can thiệp vào quá khứ – ngoại trừ đây là hiện tại.
Tuy nhiên khi câu trả lời của Connor đến sau bảy phút, những lo lắng của tôi bốc hơi.
A, Heddy, anh ta viết – đó là biệt danh anh ta đặt cho Tess, tôi chưa bao giờ biết nó từ đâu ra điều đó khiến anh rất vui. Đừng hiểu nhầm, nhưng nó là thứ thường khiến anh phải cắn lưỡi kìm lại trước em. Anh luôn cho rằng đây là một đống với va vớ vẩn. Chào mừng đến thế giới bình thường!
Chữ “bình thường khiến tôi rùng mình; nó như một xác nhận chắc chắn hơn tính đúng đắn trong quyết định của tôi. Tôi viết trả lời, như Tess sẽ viết:
Ôi, đủ rồi đấy!
Nhưng cứ như thể tôi đã phá bỏ niêm phong vậy. Từ đó trở đi tôi bắt đầu đưa bản thân mình vào nhiều hơn trong thư.
Tôi không muốn nói quá. Không phải tôi đột nhiên loại bỏ Tess và bắt đầu tự mình ứng đối. Tôi không làm bất cứ điều gì gây nghi ngờ. Khi đó, chỉ thỉnh thoảng lắm, nếu thích hợp, tôi mới trả lời anh ta giống tôi hơn là giống Tess. Nó chỉ là những cái nhỏ nhặt và, như tôi đã nói, hầu hết là cái tôi bỏ đi: sự vô lý của cô, tính “đồng bóng” của cô. Tôi hồi âm nhanh chóng những email của anh ta, thay vì để lại nhiều giờ hoặc nhiều ngày, như cô thường làm. Tôi trả lời những câu hỏi của anh ta. Tôi không sa đà vào cảm xúc hay mơ mộng.
Thỉnh thoảng tôi phải ứng biến khi Connor hỏi tôi một câu mà tôi không có câu trả lời. Chẳng hạn như ban đầu anh ta khá say sưa hồi tưởng quá khứ khi anh ta và Tess bên nhau. Em có nhớ người đàn ông với con mèo con ở phố Dean không? Và tôi đáp Tất nhiên, song có khả năng Tess sẽ không nói thế.
Anh ta còn hỏi những câu cắc cớ hơn, như Điều em nói về những tấm ảnh ở Hampton Court có thật không đấy? Vì tôi chẳng biết anh ta đang nói về chuyện gì, câu nói ban đầu là tốt hay xấu. Trong những trường hợp ấy tôi sẽ lảng tránh câu hỏi.
Anh ta cũng có khuynh hướng kể những câu chuyện hoặc đưa ra những nhận xét về lũ trẻ nhà mình, và dùng chúng như một bàn đạp để hỏi về tuổi thơ của tôi. Ví dụ như, anh ta kể chuyện cô con gái Maya đã hỏi hồi năm tuổi trông bố như thế nào, và anh ta chẳng nhớ gì về mình lúc ấy, thế rồi anh ta hỏi tôi những kỷ niệm hồi năm tuổi của tôi.
Trừ phi tôi biết chắc câu trả lời của Tess cho câu hỏi này, không thì tôi sẽ tự mình trả lời, điều chỉnh những chi tiết khi cần thiết. Chẳng hạn như tôi thay đường lớn Kentish Town thành Dulwich, nơi Tess sống cùng gia đình từ năm ba tuổi đến năm mười một tuổi. Ôn lại quá khứ theo kiểu đó cũng khá thú vị. Tôi chưa làm thế bao giờ. Tôi cũng không nói những chuyện đó với mẹ. Hai mẹ con hay trò chuyện, nhưng toàn về những chuyện thường ngày, việc nhà, hay trường lớp hoặc những chương trình trên tivi. Chúng tôi không thực sự bàn luận về những sự kiện trong quá khứ, vì cả hai chúng tôi đều có mặt ở đó, tôi cho là vậy, và không cần thiết.
Chênh lệch thời gian giúp tôi rất nhiều ở đây. Lúc Tess ngủ dậy ở Sointula là bốn giờ ba mươi phút chiều Ở London, và sẽ có ít nhất ba email của Connor gửi trong ngày. Sau đó, cô sẽ trả lời chúng một cách nhanh chóng. Nhưng, tất nhiên, vì tôi có thể xem email của Connor khi anh ta vừa gửi nên tôi có thời gian tra cứu và tính toán những email trả lời trước khi “Tess” ngủ dậy và tôi nhấn Gửi. Tôi thấy mình càng ngày càng ngủ ít hơn, không thể cưỡng lại mong muốn kiểm tra hộp thư của Tess.
Ban đầu, tôi lo rằng mình sẽ nói điều gì đó trái với hiểu biết của Connor về Tess. Nhưng nhanh chóng thấy rằng hình như anh ta biết rất ít về gia cảnh Cổ. Họ cũng chưa bao giờ nói đến nó, hoặc anh ta đã quên. Chẳng hạn như anh ta tưởng cô có chị gái chứ không phải anh trai, và lớn lên ở Greenwich, không phải ở Dulwich. Sau đấy tôi cảm thấy mình đã được phép làm người tự do, vì a) rõ ràng anh ta không biết về Tess nhiều đến thế, b) cho dù tám năm trước anh ta đã hỏi cô những câu tương tự, anh ta khó mà nhớ được các câu trả lời, và c) Tess được xem là thất thường, hay thay đổi chuyện của mình, và có trí nhớ kém.
Và, sau tất cả, lần cuối họ gặp nhau đã cách đây chín năm. Lẽ tự nhiên là cô sẽ thay đổi trong thời gian đó. Tôi nghĩ về căn bản chúng ta không còn là chúng ta của chín năm trước: mọi tế bào của chúng ta đã được thay mới, chưa kể những thái độ và trải nghiệm cuộc đời. Nó được gọi là Chiếc tất của Locke’. Đó là cuộc tranh luận của tôi với những người trên Red Pill, và tôi đã kể với Connor vào một buổi tối, khi chúng tôi đang nói về chuyện ở tuổi nào thì ký ức của trẻ con bắt đầu hình thành. Anh ta có vẻ rất quan tâm đến những gì tôi nói, và trả lời một cách thông minh, thận trọng.
Đó chính là vấn đề, bạn thấy đấy. Connor và tôi có nhiều điểm chung hơn là anh ta với Tess từng có. Chúng tôi có cùng quan điểm. Là một luật sư, anh ta phải giữ cái đầu lạnh, tìm hiểu mọi thứ ở khía cạnh pháp lý, xác định điểm yếu, bám theo những cuộc tranh luận tới kết quả logic cuối cùng. Anh ta không thể để bản thân bị che mắt bởi cảm xúc. Và khi tôi trở nên ít giống Tess hơn và giống tôi hơn một chút, tôi thấy giọng điệu trong những email của anh ta thay đổi. Nó giống như anh ta thở phào, và không cảm thấy mình phải làm việc quá vất vả. Như thể anh ta đã cởi bỏ bộ vest bó chặt và xỏ vào chiếc quần thể thao thoải mái. Ngữ điệu của anh ta trở nên thẳng thắn và thân mật.
John Locke đưa ra giả thuyết một chiếc tất bị thủng. Ông đặt ra câu hỏi liệu chiếc tất đó có còn là chiếc tất cũ sau khi có thêm một miếng vá. Nếu có, thì nó có còn là chiếc tất cũ sau khi có thêm miếng vá thứ hai? Cứ thế sau nhiều năm nó có còn là chiếc tất cũ sau khi đã bị thay thế hoàn toàn bằng những miếng vá. Song thỉnh thoảng tôi lại nhớ ra sự cách biệt tuổi tác giữa chúng tôi. Connor hay ôn lại những chương trình truyền hình và những bài hát từ những năm tám mươi - chẳng hạn như bộ phim thiếu nhi Bagpuss, hoặc ban nhạc Spandau Ballet - làm tôi phải tra Google. Nhưng tôi phải tra Google cả về thế hệ của tôi cơ mà, nên tôi quen rồi.
Trái ngược với những email khác Tess gửi và nhận, chủ yếu là trao đổi thông tin, những email của chúng tôi gần như không có những cái thực tiễn nhàm chán trong đó. Chúng tôi viết về những suy nghĩ và cảm nhận. Thường thì những email chỉ có vài dòng, như chúng tôi đang ngồi nói chuyện cạnh nhau. Chúng có thể ngớ ngẩn hoặc sâu sắc. Trong một email, anh ta kể sáng hôm đó trên đường đi làm, anh ta nhìn thấy một người vô gia cư khóc trên con phố gần London Bridge, cảnh đó làm anh ta cảm thấy thật kinh khủng. Hoặc anh ta có thể gửi cho tôi một bài tho anh ta sáng tác khi ngồi buồn chán trong phòng xử án sáng hôm đó.
Có một luật sư ở Hull. Anh ta thích nghĩ mông lung…
Đôi khi, biết tôi đang online, anh ta chuyển qua IM và nã một loạt câu hỏi vào tôi, với những chủ đề có vẻ tùy hứng: Tuix hay Snickers?? Không hứng thú với múa đương đại
Viết tắt của “instant messaging”: là dịch vụ cho phép hai người trở lên nói chuyện trực tuyến qua mạng máy tính như MSN hay Yahoo. 2. Tên của hai loại kẹo chocolate. có sao không? Vì tôi không có thời gian nghiền ngẫm những tin nhắn của anh ta và chuẩn bị câu trả lời, những cuộc hỏi đáp đó khá là thách thức, nhưng tốc độ yêu cầu cũng thật kích thích. Tôi chưa bao giờ trao đổi kiểu đó với bất cứ ai, và hào hứng sử dụng những năng lực mới này. Điều tôi thích nhất là không có câu trả lời sai. Dường như Connor thấy mọi điều tôi nói đều thông minh hoặc hài hưỐC, như thể anh ta nhấn “Thích” ngay sau mỗi câu trả lời.
Tôi nên chỉ ra rằng tôi không bỏ bê những phương diện khác trong cuộc sống của Tess do thường xuyên giao du với Connor. Tôi trả lời những email đến, cập nhật Facebook. Tôi mở những lời nhắn ghi âm tới máy trả lời tự động của mẹ cô vài tuần một lần và Susie, bạn cô vào ngày sinh nhật cô ấy. Tôi bỏ ba tiếng đồng hồ tìm hiểu về điêu khắc hiện đại để đưa ra một quan điểm hiểu biết nhưng châm biếm về một nghệ sĩ mỏi mà Isobel đang có ý định đầu tư. Tôi tiếp tục dành một phần lớn thời gian hàng ngày thực hiện cốt truyện của Tess và luyện tập những lĩnh vực trong cuộc sống của cô mà tôi không giỏi.
Sau Connor, tôi trao đổi thư từ nhiều nhất với bạn của Tess tên là Shona. Shona là bạn học cũ của Tess, đã kết hôn và có một đứa bé mười lăm tháng tuổi tên Rufus. Cô ta có mái tóc vàng mỏng và cái mũi nhọn, ảnh profile thể hiện cô ta đang nhìn xuống Rufus theo phong cách của một bức tranh tôn giáo Cổ. Nhìn profile, bạn sẽ nghĩ cô ta yêu thích việc làm mẹ, nhưng những tin nhắn cô ta gửi cho Tess lại kể một câu chuyện khác. Cô ta viết, đang để tang con người cũ của mình. Cô ta cho rằng quan điểm làm mẹ là hạnh phúc chính là một âm mưu, và nếu cô ta có thể trở về với đời độc thân, khi cô ta có thể bước ra khỏi cửa bất cứ lúc nào mình muốn, cô ta sẽ làm thế ngay lập tức. Việc Tess chuyển đến Sointula đã bắt đầu ám ảnh cô ta – cậu đang thực hiện mơ ước của tớ - và trong mấy tuần đầu tiên, cô ta viết hầu như hàng ngày, than vãn vì bị mắc kẹt trong nhà với đứa bé và hỏi cặn kẽ những dự định của Tess. Tôi thấy hình như cô ta đang hành hạ bản thân, như một người đói khát đòi một bản miêu tả sinh động một bữa ăn. Thế nên, với Shona, tôi không những phải nghĩ ra những thứ mới mẻ và thú vị để kể cho cô ta về Sointula mà còn phải xoa dịu nỗi đau khổ phải làm mẹ của cô ta, điều mà, như các bạn có thể thấy rõ, không phải thế mạnh của tôi. Tôi tìm ra một diễn đàn dành cho cha mẹ và nghiên cứu các phản ứng của họ. Mấy năm đầu tiên luôn là địa ngục, tôi viết. Rồi nó sẽ trở thành một đứa nhỏ mà cậu có thể trò chuyện và tất cả sẽ được đền bù. Tôi đang chăm chỉ báo cáo quá trình cho Adrian, hay “Ava”, qua Facebook. Sau câu liên lạc, Hey chào ban đầu đó chúng tôi đã hình thành việc trao đổi tin nhắn bán thường xuyên. Thường xuyên là về phía tôi, không thường xuyên lắm là phía anh. Hai lần một tuần tôi gửi cho anh sơ lược những việc Tess định làm, một danh sách giao tiếp của cô với bạn bè
214
ESTAS SE
và gia đình, những kế hoạch mới tôi đặt ra cho tương lai của cô. Những hồi âm của anh lác đác hơn nhiều. Đôi khi anh chẳng trả lời cái báo cáo nào, hoặc mấy ngày sau tôi mới nhận được một cái:
Làm tốt! Có vẻ em đã kiểm soát tất cả. Anh biết em là người phụ nữ dành cho việc này mà.
Những tin nhắn của anh thường có một cảm giác ngẫu hứng, thỉnh thoảng chính tả và dấu cầu của anh tùy tiện. Tôi biết anh rất bận rộn và tôi không phật ý trước những hồi âm rời rạc và sơ sài này, mà tôi hài lòng với những dịp hiếm hoi khi anh hiển nhiên có nhiều thời gian hơn để suy nghĩ câu trả lời. Trong những tin nhắn đó, anh sẽ nhặt ra những điều tôi đã nói và hỏi kĩ hơn, như thể anh thực sự quan tâm. Ví dụ như, nếu tôi có đề cập chuyện Tess đã đi cưỡi ngựa vào cuối tuần, anh có thể hỏi con ngựa của cô màu gì và họ có nhảy qua chướng ngại nào trong chuyến đi hay không?
Và thỉnh thoảng, anh chẳng bận tâm đến Tess, thay vào đó lại hỏi tôi dạo này thế nào, tôi đang “chịu đựng ra sao, với một thái độ quan tâm và lo lắng thực sự. Khi đó, tôi sẽ nhớ về cuộc gặp ngoài đời của chúng tôi ở Heath. Những khoảnh khắc như tia lửa điện của hai ánh mắt gặp nhau khi anh nhìn dõi vào mặt tôi theo cách tôi chưa bao giờ nhận được, kể cả từ mẹ. Em ổn, tôi sẽ trả lời. Hơn cả ổn. Hạnh phúc. Phải, em rất thích công việc này.
12:
Dù sao đi nữa, như tôi đã nói, tất cả đã được tính toán, sáu tuần đầu tiên của Dự án Tess không quá vất vả. Thật ngạc nhiên vì chỉ có một số ít người thực sự cần đến một người họ không gặp. Ngay những tin nhắn của Shona cũng bắt đầu thưa thớt sau vài tuần, và những người bạn đầu sốt sắng đòi nói chuyện qua Skype, như Simon, cũng bỏ cuộc sau mấy lần tôi kiếm cớ từ chối. Không ai buồn hỏi đến lần thứ ba. Có lẽ tôi chỉ cần cập nhật trạng thái vài lần một tuần là xong.
Dẫu vậy, phải thừa nhận là tôi lo ngại về lượng thời gian tôi đang bỏ ra Với Connor. Tôi biết càng mở rộng trao đổi thư từ với anh ta, khả năng tôi ít làm những việc mà Tess sẽ làm càng lớn. Xét cho cùng, Tess mới là người chấm dứt mối quan hệ của họ, và cô cho rằng nó chẳng có gì quan trọng nên không cần nhắc đến với tôi. Hơn nữa, trừ người bạn trai đầu tiên, Michael “Bootsy” Collingwood, cô không tin vào chuyện duy trì tình bạn với “những ngọn lửa củ”, như cô gọi họ. ”Không bao giờ quay lại”, là quan điểm của cô. Nên có lẽ cô sẽ không chấp nhận việc xây dựng lại quan hệ của Connor. Cô có thể trao đổi vài dòng lịch sự, nhưng khó mà bỏ nhiều thời gian thư qua thư lại với anh ta như tôi.
Vì lý do này mà tôi không nhắc đến Connor trong những báo cáo gửi Adrian; mặc dù anh ta là đối tượng trao đổi thư chính của Tess, như thể anh ta là một phần LOTTIE MOGGACH
cuộc sống của tôi ở London hơn là của cô ấy ở Sointula. Và cùng với lý do ấy tôi quyết định đã đến lúc cho Tess một người bạn trai.
Bạn thấy đấy, thay vì ngồi ở nhà viết cho Connor thì cô thích ra ngoài khám phá hòn đảo và làm quen với mọi người hơn chứ. Và theo tôi thì hoàn toàn có khả năng trong thời gian đó cô sẽ gặp một người đàn ông mới. Tess hình như ở đâu cũng gặp được đàn ông: cô thường được tiếp cận ở nơi công cộng bởi những đối tượng nồng nhiệt. Có lần một người đã tiến đến chỗ cô khi cô đang rời tàu điện ngầm và tặng cô cuốn sách mình đang đọc, Nhà giả kim, với số điện thoại của anh ta viết bên trong. Và hồi cô làm việc ở cửa hàng quần áo và gallery nghệ thuật, gần như ngày nào cũng có một khách hàng mời cô đi chơi: được săn đón dường như là chuyện thường ngày và không đáng chú ý với cô.
Vì thế, trong lịch trình của Tess nhất định phải có một bạn trai, và tôi dự tính là trong vòng ba tháng sau khi cô đặt chân lên đảo. Tuy nhiên trong hoàn cảnh này tôi quyết định đẩy sự kiện lên sớm một tháng. Tôi báo cho Adrian sự phát triển này trong tin nhắn tiếp theo. Ý hay đấy, cũng đến lúc rồi! Anh nhắn lại. Và quý ông may mắn đó là ai vậy?
Tôi đã phác họa ra nhân vật Wes Provost. Người Canada, ba mươi ba tuổi – Tess thích đàn ông trẻ hơn mình.
1217
Ngoại hình anh ta được tôi xây dựng dựa trên một người tên Mike, người đã làm việc ở ngôi nhà cạnh nhà chúng tôi Ở phố Leverton vào một mùa hè. Anh ta có đôi tay ngắn chắc nịch và đôi môi đỏ khác thường, như môi con gái. Sau khi biết tên tôi, mỗi lần gặp tôi, anh ta lại hát, “Em làm tôi nghiêng ngả”, mẹ tôi bảo đó là một câu trong một bài hát nổi tiếng tên là “Layla”. Tôi chỉ ra cho Mike rằng tên tôi với tên bài hát không đánh vần giống nhau, nhưng anh ta vẫn cứ hát.
Chiếc xe tải của Mike luôn nhận được vẻ phạt đỗ xe và tôi sẽ nghe tiếng anh ta than vãn khi bắt gặp chúng. Vì thế mỗi khi anh ta ở trên giàn giáo, tôi lại quan sát từ cửa sổ và, khi viên cảnh sát giao thông cài tờ vé phạt vào dưới cần gạt nước xe anh ta, tôi liền chạy ra ngoài lấy tấm vé và dúi nó xuống cống nước bên đường trước khi anh ta thấy nó. Tôi cũng chụp lén anh ta bằng điện thoại, rồi dùng máy tính dựng thành một đoạn phim từ những tấm ảnh và chèn bài hát làm nền, như một video nhạc pop. Nó chỉ dành cho riêng tôi, tôi không đăng nó lên YouTube hay bất cứ đâu.
Đến cuối mùa hè, khi Mike dỡ giàn giáo xuống, tôi nói vỔi anh việc mình đã làm với những tấm vé phạt: có năm cái tôi đã vứt đi cho anh ta. Tôi cho rằng đó là một cách chuyển lời tỏi anh ta rằng tình cảm tôi dành cho anh ta cũng giống với tình cảm anh ta dành cho tôi. Tôi trông đợi anh ta tỏ ra vui mừng, nhưng mặt anh ta tái đi, và trong thoáng chốc, co rúm lại. Rồi anh ta mỉm cười yếu ớt và nói, “Cảm ơn, em thật tốt.” Lần sau gặp tôi, anh ta không hát bài hát đó nữa, và phóng xe đi không một lời tạm biệt.
Dù sao đi nữa, tôi chỉ sử dụng vẻ ngoài của Mike cho Wes; phần tính cách còn lại tôi tự dựng lên. Khả năng tưởng tượng của tôi ngày càng tiến bộ. Wes làm việc trên những chiếc thuyền ngắm cá voi cùng với Roger, bạn trai của Leonora. Đó là cách anh ta gặp Tess. Anh ta đã sống Ở một nơi trên đất liền gọi là Edmonton trước khi chuyển đến Sointula cùng với bạn gái bốn năm trước, để được gần hơn với thiên nhiên. Mối quan hệ không có kết quả và cô bạn gái đã bỏ về Edmonton, nhưng Wes yêu thích hòn đảo và định cư ở đó, bắt tay làm ăn cùng Roger. Thời gian rảnh rỗi anh ta thích nghe những bài hát trong các vở nhạc kịch và nấu ăn, đặc biệt là làm bánh. Anh ta chỉ uống rượu vang trắng vì vang đỏ làm anh ta đau đầu. Trong buổi hẹn hò đầu tiên, anh ta và Tess đã đi uống bia gừng ở quán cà phê Waterside, sau đó họ gặp nhau ba lần. Ban đầu Tess lo rằng anh ta “quá” tốt bụng - tất cả những gì tôi nói hay làm đều “tuyệt!” - nhưng càng tìm hiểu, cô càng thích anh ta hon.
Sẽ cần có một tấm ảnh. Đặc biệt là Simon bạn của Tess, nhất định sẽ đòi xem. Cần phải có ảnh là phản ứng tiêu chuẩn của anh ta vì, trong quá khứ, Tess đã email cho anh ta về một người đàn ông. Tôi tìm lại xem còn giữ tấm ảnh nào của Mike không, nhưng nhớ ra tôi đã xóa hết chúng vào ngày anh ta lẳng lặng bỏ đi. Đằng nào thì trong ảnh, anh ta đúng là một công nhân xây dựng ở London, trong khi Wes làm việc trên thuyền ở Canada, nên không dùng được.
Tôi nhận ra mình sẽ phải sử dụng ảnh của một người khác. Tôi nghĩ sẽ tìm được một người phù hợp trên Flickr và bỏ một buổi tối soạn ra một danh sách ngắn các ứng viên. Nhưng tôi không sao giũ bỏ được nỗi lo rằng vì nó trên một trang công cộng nên một trong những người bạn của Tess có thể tình cờ bắt gặp tấm ảnh. Nguy cơ rất nhỏ, nhưng vẫn là nguy cơ. Tự tôi chụp một tấm sẽ tốt hơn nhiều, vì khi đó tôi có thể kiểm soát được.
Đó là lúc tôi nghĩ tới Jonty. Khả năng ai đó Tess quen biết sẽ chạm mặt cậu ta ngoài đường và nhận ra cậu ta rất mong manh (Tôi đã kiểm tra bạn bè trên Facebook của cậu ta, không có mối liên hệ nào với bất cứ ai Tess biết). Cậu ta nhỏ hơn họ mười lăm tuổi và vừa chân ướt chân ráo đến London. Cậu ta hoạt động trong những phạm vi hoàn toàn khác với bạn bè của Tess, nhiều người trong số họ đã lập gia đình hoặc có những mối quan hệ lâu dài với con cái đầy đủ và sống ở những khu ngoại ô giàu có của London. Hầu hết bạn bè của Tess hiếm khi ra ngoài, và khi ra ngoài thì họ đến rạp chiếu phim hoặc những lớp học Pilates, hoặc những
SA 220
KA
BLUE LOTTIE MOGGACH
bữa trưa tập thể ở một quán rượu nơi mà, theo những email gửi sau đó, thể nào cũng sẽ có người để quên quần áo trẻ con và không thanh toán suất ăn của mình. Khi Jonty ra ngoài với bạn học, họ đến những quán kebab ở Dalston hoặc di chuyển giữa hai điểm vui chơi giải trí ở trung tâm London tùy thuộc khung giờ giảm giá của chúng.
Bên cạnh đó, ngay cả khi có người tình cờ chạm trán cậu ta ở London và nghĩ trông cậu này quen quen, thì lý thuyết dao cạo Occam bảo rằng họ sẽ không nghĩ đó là Wes; người, xét cho cùng, đang ở Sointula. Nếu họ có tiến đến hỏi Jonty rằng cậu ta có phải là Wes không, tất nhiên cậu ta sẽ chẳng biết họ đang nói về chuyện gì. Cho nên tình huống tồi tệ nhất có thể xảy ra là một tin nhắn gửi cho Tess từ một người trong số họ bảo rằng họ đã gặp một anh chàng nom rất giống bạn trai mới của cô.
Với Jonty, tôi sẽ được tự do sắp đặt bức ảnh như tôi muốn, sau đó photoshop vào một khung cảnh Sointula, và tôi sẽ có cơ hội sử dụng lại cậu ta nếu cần thiết. Ở tuổi hai sáu, cậu ta hơi quá trẻ so với Wes, nhưng tôi quyết định cho cậu ta đeo kính râm trong ảnh, giống như Connor, giúp che bớt mặt cậu ta. Cậu ta không đẹp trai như những người đàn ông Tess thường hẹn hò, nhưng tôi thấy điều đó cũng không lạ. Dù sao thì thị phần đàn ông ở Sointula cũng nhỏ hơn nhiều, và ngoại hình bình thường của cậu ta là biểu hiện cho cách tiếp cận cuộc sống mới, bột nông cạn
221
hơn của cô, hướng đến nội tâm hơn vẻ ngoài.
Quyết định chọn Jonty rồi, tôi muốn làm xong những tấm ảnh càng sớm càng tốt. Nhưng trớ trêu thay, lần duy nhất tôi thực sự muốn cậu ta ở gần, thì cậu ta biến đâu mất, và tôi phải chờ tới một ngày rưởi trước khi cậu ta trở về căn hộ. Hôm đó là chiều Chủ nhật, cậu ta kể rằng bữa tiệc mừng ngày lễ Thánh George hôm thứ Sáu, tôi trích lời, “đã biến thành bữa tiệc rượu có phần say sưa”. . Dường như với cậu ta và các bạn của cậu ta thì một dịp mù mờ nhất cũng trở thành cái cớ để uống rượu. Tôi chờ cậu ta về phòng, bật nhạc lên rồi mới gõ cửa. Đó là lần đầu tiên tôi chủ động tiếp cận cậu ta kể từ ngày cậu ta chuyển đến, và cậu ta ngạc nhiên ra mắt khi mở cửa.
“Ồ, chào!”
Đến lượt tôi bị bất ngờ, vì cậu ta chỉ mặc mỗi quần đùi. Ngực cậu ta phủ đầy lông vàng. Tôi đảo mắt quanh căn phòng. Tôi đã không nhìn thấy nó từ khi cậu ta dọn vào, và cậu ta đã biến thứ Vốn là một cái hộp linh tinh thành một đống rác phát gớm. Nó không giống sự bừa bãi trong phòng Tess, nơi bạn có thể nói như thế, bất chấp sự lộn xộn, đồ dùng của cô đều là hàng chất lượng cao; còn đây là sự bừa bãi rẻ tiền điển hình. Các bức tường dán kín ảnh cậu ta và bạn bè cậu ta cùng những bức ảnh cắt từ tạp chí. Có một tấm poster lớn về một con mèo đeo kính râm, và một tấm nữa của ban nhạc mang tên The Stone Roses. Cái chăn lông của cậu ta không có vỏ, và có hai lỗ thủng lớn trên tường nơi lớp vữa bị đục ra.
Jonty thấy tôi cứ nhìn bức tường liền giải thích rằng cậu ta đã cố đóng một cái giá nhưng nó rơi xuống vì tường quá mềm.
“Tôi sẽ dọn dẹp”, cậu ta nói. “Xin lỗi, xin lỗi, xin lỗi.” Tôi bảo cậu ta rằng tôi không để ý đâu, mặc dù không phải, sau đó hắng giọng và nói rằng vì ngày hôm nay đẹp trời, tôi quyết định đi dạo và không biết cậu ta có muốn đi cùng không. Cậu ta nom càng ngạc nhiên tợn, và trông sung sướng hơn là miễn cưỡng trước yêu cầu.
“Được chứ”, cậu ta nói. “Ra bãi biển thôi!” “Bãi biển nào?”
“Bãi biển trên sông Thames tôi kể cho cô đó. Chỉ đi mất năm phút.”
Tôi không thể nhớ cậu ta kể về một bãi biển lúc nào, hẳn cậu ta đã nhầm, nhưng tôi vẫn gật đầu.
“Trời nắng đấy”, tôi bảo. “Có lẽ anh nên mang kính râm.” “Đương nhiên, tôi không đi đâu mà thiếu nó.” Cho đến giờ, mọi chuyện diễn ra tốt đẹp.
Theo gợi ý của cậu ta, chúng tôi dừng lại ở Londis mua một “bữa dã ngoại”. Tôi chọn một túi khoai tây chiên và một chai Ribena nhưng cậu ta mua cả giỏ đồ, những tuýp dầu olive nhỏ và pho mát, một cái bánh mì baguette và vài lon bia. Cậu ta chào hỏi người đàn ông sau quầy như thể quen biết ông ta. Khi chúng tôi ra khỏi cửa hàng, cậu ta thì thào, “Cô có để ý thấy Manu để chai giấm rượu trắng trong tủ lạnh, cạnh chai vang Chardonnay không?”
quang cảnh Sau đó cậu ta dẫn tôi đi xuống một con đường nhỏ theo hướng xa khỏi Tesco, con đường tôi chưa đi bao giờ. Chúng tôi đi qua một quán rượu với tấm biển đề: Tối nay: Ca sĩ Clive Stevens biểu diễn trực tiếp. Chẳng mấy chốc xung quanh chúng tôi trở nên tươi đẹp hơn, con đường chuyển từ rải nhựa sang rải sỏi và những ngôi nhà chuyển từ gạch đỏ mới xây thành những tòa nhà trắng nghiêng nghiêng cũ hơn. Jonty luôn miệng giảng giải về lịch sử của Rotherhithe, lĩnh vực cậu ta hình như đã nghiên cứu.
Mấy phút sau, chúng tôi đến bờ sông. Tôi không biết nó gần căn hộ đến vậy; như đã nói, hiểu biết của tôi về Rotherhithe chỉ gói gọn trong tàu điện ngầm, Tesco Extra và phố Albion. Có một con đường mòn chạy dọc bờ sông, ta có thể trông thấy Tower Bridge và những tòa nhà cao tầng của thành phố ở xa xa. Cảnh tượng khá đẹp.
Và Jonty nói đúng - phía dưới đường đi bộ là một bãi cát, xuống dưới đó phải leo bằng một cái thang trông ọp ẹp. Bãi cát nhỏ đầy sỏi, có khá nhiều tác dạt lên bờ, những chai nhựa và những thứ tương tự, nhưng dù sao vẫn là một bãi cát. Tôi vốn định chụp ảnh Jonty với bầu trời phía sau, nhưng rồi nảy ra một ý: bãi cát này có thể là một bãi biển ở Sointula. Ở đó cũng nhiều sỏi. Nếu tôi chụp gần, cắt bớt khung cảnh, thì tôi gần như không cần dùng photoshop nữa.
Tôi vui mừng vì diễn biến tình cờ và bất ngờ này, nhưng giữ trong lòng. Đầu tiên chúng tôi trèo xuống cái thang và ngồi lên mấy tảng đá để dùng bữa dã ngoại. Tôi chợt nhận ra đây là bữa ăn đầu tiên tôi ăn cùng một người đàn ông, và tôi hơi lo lắng về việc chúng tôi sẽ nói những chuyện gì. Nhưng tôi lo thừa. Jonty vui vẻ thao thao bất tuyệt, về lịch sử vùng đất, về những tên cướp biển và những con tàu săn cá voi.
“Tưởng tượng xem tất cả những chuyện đó đã diễn ra ở chính nơi này, trên bãi biển này”, cậu ta nói. “Thật điên rồ.”
Tôi nói rằng tôi không thực sự nghĩ đến những chuyện như thế, và tôi không thấy được sự hấp dẫn của lịch sử. Cậu ta phản ứng trước việc này bằng vẻ ngạc nhiên thái quá.
“Thế cô không quan tâm mình hòa nhập ra sao ư?” Cậu ta hỏi.
“Tôi chưa từng nghĩ đến điều đó”, tôi nói, nhưng ngay lúc ấy, tôi bị sao lãng vì nhớ ra chuyện Tess từng kể: cô đã tham dự bữa tiệc ở một căn hộ nhìn ra sông Thames, uống say và tụt xuống bãi bùn ở bờ sông, hỏng
225
EVO
LERE SUS
mất chiếc váy. Tôi nhìn những căn hộ dọc bờ sông, những dãy ban Công nhỏ không người, và tự hỏi nó có nằm trong Số đó không. Tôi hình dung cô đứng trên lan can, hai tay dang rộng, như trong cảnh phim Titanic, làm ngơ những lời khẩn cầu cô đi vào trong nhà của các bạn.
Jonty bắt đầu nói về những lớp học diễn xuất của cậu ta, kể cho tôi họ đã làm một bài tập trong đó cả lớp đến vườn thú London, chọn một con thú để nghiên cứu, sau đó phải dành toàn bộ buổi chiều đóng vai con thú đó, trước mặt tất cả mọi người. Cậu ta đã chọn làm một con khỉ.
“Ý tôi là, nó khá hiển nhiên nhưng tôi biết đóng con nào khác đây?” Cậu ta nói, rồi kể chuyện có một cô gái “xinh ngây ngất” trong lớp học và nghe đồn rằng cô ấy sẽ làm một con linh dương gazen. Vào ngày biểu diễn, không ít hơn bốn thành viên nam trong lớp chọn làm sư tử, và cả buổi chiều lởn vởn xung quanh cô.
Nó là một câu chuyện khá buồn cười, tôi ghi lại để kể cho Connor tối hôm đó. Tôi sẽ áp câu chuyện vào Leonora, người từng muốn trở thành diễn viên.
“Anh có giỏi về diễn xuất không?” Tôi hỏi.
Cậu ta cười to. “Không giỏi lắm. Hình như tôi không thể là gì khác ngoài bản thân mình, một điều không hề lý tưởng. Nhưng tôi đã được tuyển vào làm mục quảng cáo cho một Công ty bảo hiểm. Họ đang tìm kiếm một anh chàng ngu ngốc. Tôi có thể làm được. Cảm thấy rất hưng phấn.”
Tôi chỉ ra rằng thật mỉa mai vì cậu ta đã rời Công ty bảo hiểm để theo nghiệp diễn xuất và giờ cậu ta có thể xuất hiện trong một mục quảng cáo cho bảo hiểm.
“Tôi chưa từng nghĩ theo chiều hướng đó”, cậu ta đáp. “Ờ, có lẽ tôi đúng là một kẻ đạo đức giả.” Cậu ta có vẻ không quá buồn rầu trước viễn cảnh ấy. “Còn cô thì sao? cô làm gì trong phòng suốt ngày vậy?”
Tôi đã chuẩn bị cho câu hỏi này, và trả lời rằng tôi đang viết một kịch bản phim.
“Ái chà!” Cậu ta thốt lên, tròn xoe mắt. “Nó nói về cái gì?”
“Một câu chuyện tình.”
Cậu ta thở dài đánh thượt và nằm vật ra nền sỏi, chắc hẳn nó làm lưng cậu ta đau điếng.
“Đừng nói với tôi về tình yêu. Tôi hoàn toàn vô vọng. Tôi chỉ bị ám ảnh và họ liền nghĩ tôi là thằng kỳ quái. Tôi toàn phải lòng những cô gái chỉ thích vui đùa.”
Lúc đó tôi đã ăn xong túi khoai chiên, còn Jonty vẫn đang nhai nhồm nhoàm cái bánh mì Pháp - cậu ta có thói quen gom vào một lần tất cả đồ ăn kèm mỗi thứ một ít, chống hai khuỷu tay để xây một cái tháp nhỏ bằng pho mát, thịt nguội và bánh mì. Tôi cố giấu nỗi sốt ruột, nhưng khi cậu ta vừa ngừng nhai là tôi rút điện thoại ra và hỏi xin một kiểu ảnh. Cậu ta đồng ý ngay - “miễn cô gửi nó cho tôi” - và ngả người ra sau tạo một dáng thư giãn. Tuy nhiên cậu ta đã bỏ kính râm ra trong lúc chúng tôi ăn, nên tôi đề nghị cậu ta đeo lại.
“Được, càng che đi vẻ chếnh choáng.”
Khi cậu ta đeo kính lên, tôi liền gạt đám đồ ăn qua một bên, để những nhãn mác tiếng Anh không lọt vào, và chụp một tấm ảnh từ trên cao sao cho phía sau chỉ có bãi cát. Rồi cậu ta khăng khăng đòi chụp cho tôi, tôi đành phải đồng ý để cậu ta không thấy toàn bộ chuyện này quá bất thường.
Sau đó, chúng tôi đi bộ về căn hộ. Jonty xem ra vô cùng vui vẻ với chuyến đi này. “Ra ngoài chơi thật thích”, cậu ta nói. Tôi để cho cậu ta ôm mình, Cố không tỏ ra khó chịu.
Trở về phòng, tôi chỉnh sửa tấm ảnh - tôi đã đúng, chỉ cần photohop một chút - và soạn email gửi cho Justine, Shona và Simon. Này, tớ đã gặp một anh chàng… Tôi cũng sẽ kể cho Marion nhưng là sau này, bằng ngôn từ nghiêm túc hơn.
Justine viết lại ngay lập tức. Không thể nào tin được. Ở thì tớ tin, nhưng BẤT côNG quá! Tớ chẳng có cơ may nào suốt hai năm qua, còn cậu chưa kịp dỡ đồ ra đã có được một anh rồi.
Trong khi đó, Simon trả lời bằng phong cách thô lỗ thường thấy.
SURA Bảnh đấy, nhưng tớ muốn nhìn anh ta không đeo kính. Đôi mắt là cửa sổ tâm hồn Cơ mà.
Lúc đó, tôi không chú ý nhiều đến việc này. Simon là người ít được yêu chuộng nhất trong bạn bè của Tess. Trong khi những người khác vui vẻ chấp nhận ngay những gì Tess nói, Simon dường như lại thấy mình có vai trò thử thách tất cả, như thể anh ta hiểu Tess hơn chính cô. Dĩ nhiên tôi thích những người biết suy xét và phản đối gay gắt sự ngu ngốc nhưng anh ta không làm điều đó một cách thông minh; mà đó là phản ứng mặc định của anh ta trước mọi chuyện. Anh ta cũng cực kỳ nông cạn, chỉ thích giao du với những người sành điệu” và phán xét người khác dựa vào cách họ ăn mặc. Anh ta làm điều này ngay cả khi họ được cho là bạn của anh ta và Tess, như Joy, người anh ta chê trách vì vẫn mặc quần jeans ống loe. Miêu tả một tối đi chơi cho Tess, anh ta nói câu lạc bộ không hấp dẫn như anh ta trông đợi, toàn dân tỉnh lẻ và những size truời hai”. Anh ta có chín trăm ba mươi bạn Facebook, những bài đăng của anh ta đều vô nghĩa và khó chịu, những đường dẫn đến những bài hát mà anh ta bắt mọi người phải nghe ngay lập tức, hoặc cập nhật nơi anh ta đến - Vauxhall. Home. Berlin - như thế thế giới đang dõi theo chi tiết đường đi nước bước của anh ta.
Size 12 ở Anh tương đương size 42 ở châu Âu, dành cho những người to béo. Nhưng bình luận của anh ta đã găm vào đầu tôi, vì nó trùng hợp với điều vẫn làm tôi băn khoăn về Connor: tôi thực sự không biết anh ta trông ra sao. Trong bức ảnh duy nhất tôi có về anh ta, bức ảnh ở Công viên, anh ta cũng đeo kính râm. Tôi không nghĩ mình có thể phát hiện ra anh ta trong đám đông. Tôi có một khao khát đột ngột, mãnh liệt là muốn thấy mặt anh ta.
Rồi tôi nhận thấy thực ra gặp Connor bằng xương bằng thịt là chuyện vô cùng đơn giản, và không nguy hiểm chút nào. Tôi biết nơi anh ta làm việc, một văn phòng luật tên là Asquith và các cộng sự ở Temple. Tôi hơi hơi biết dáng vẻ anh ta. Và qua các email, tôi nắm khá rõ lịch trình hàng ngày của anh ta
Vì vậy kế hoạch của tôi là đi ngang văn phòng anh ta vào giờ ăn trưa, vào một ngày mà tôi biết anh ta sẽ ở đó chứ không ở tòa án, và đợi anh ta ra ngoài đi ăn. Khi đó tôi có thể nhìn anh ta rõ hơn. Tôi lập luận: dù sao nó cũng chỉ tốt cho công việc của tôi khi có được hiểu biết đầy đủ về một trong những đối tượng trao đổi thư từ của Tess. Mọi thông tin thu thập được về Connor đều có lợi cho công việc của tôi.
Tối hôm ấy tôi viết mail hỏi anh ta ngày mai sẽ làm gì, Có đến tòa án không. Anh ta trả lời là đang chết gí trong văn phòng, giải quyết một vụ bế tắc. Anh ta hỏi tôi đang làm gì, tôi bảo là mình đang có một buổi học kép với Natalie, cô bé tôi đang làm gia sư, vì cô bé đang chuẩn bị thi lấy học bổng vào một trường nghệ thuật ở Vancouver.
Hôm sau tôi dậy vào giữa trưa, ngủ quên qua cả báo thức lúc mười một giờ, không có thời gian lấy quần áo từ hiệu giặt, nên đành mặc lại quần thể thao và áo sơ mi đã mặc hôm trước. Trang phục không thành vấn đề, tôi nghĩ: đằng nào Connor cũng không biết tôi là ai, có khi anh ta còn chẳng chú ý đến tôi nữa. Tôi xuống tàu điện ngầm ở Temple và Google map chỉ tôi rời khỏi một con đường lớn rẽ vào một đường hẻm cũ, chỉ vừa một người đi, đi hết đường, tôi lọt vào một không gian mà, nếu tôi là kiểu người thở dốc thành tiếng, chắc chắn nó sẽ khiến tôi làm thế. Nó có vẻ ngoài của một thành phố phép thuật bí mật. Những con đường rải sỏi và những tòa nhà cổ: có một nhà thờ xinh đẹp xây bằng đá màu kẹo caramel Werther’s Original. Hầu như không có xe ô tô hay những dấu hiệu của đời sống hiện đại - nó ắt sẽ không lạc lõng trong một tập phim Harry Potter. Nó yên tĩnh và thanh bình, và tất cả những người tôi bắt gặp dường như đều mặc đồ công sở tối màu, như thể có một tấm biển quy định trang phục mà tôi đã bỏ qua trên đường đến đây. Thật khó mà tin được nơi này thực sự ở London, và tôi nhớ mình đã thoáng tiếc nuối vì mẹ chẳng bao giờ đưa tôi đến những nơi thế này, vì chúng tôi đã dành tất cả thời gian ở trong nhà.
Mất một lúc mới tìm thấy dãy văn phòng của Asquith
231
Dm và các cộng sự, trong một tòa nhà hẹp, mỏng mảnh. Bên cạnh cánh cửa đen là một tấm bảng với nửa tá cái tên trên đó. Không có tên Connor, nhưng tôi biết anh ta chưa phải là một cộng sự trong Công ty, nên có lẽ đó là lý do. Phía đối diện có một công viên nhỏ, tôi ngồi xuống một băng ghế và chờ.
Khi tôi đến là mười hai giờ năm phút. Tôi đoán Connor sẽ ra ngoài ăn trưa trong khoảng một giờ đến hai giờ chiều, nhưng tất nhiên tôi không thể chắc chắn. Tôi mang theo một tờ báo miễn phí lấy trên tàu điện ngầm, thế là tôi giả vờ đọc báo trong lúc canh chừng cánh cửa.
Bất tiện một cái là băng ghế Công viên quay lưng lại văn phòng của Connor, nên tôi cứ phải chốc chốc ngoái đầu nhìn. Mặc dù đã xem kĩ ảnh anh ta, tôi vẫn lo mình bỏ qua anh ta, vì những người đàn ông mặc đồng phục cứ na ná nhau. Bên cạnh đó tôi không biết tấm ảnh anh ta được gửi chụp vào thời điểm nào, có thể anh ta đã cắt tóc hoặc thay đổi cân nặng kể từ đó.
Nhưng hóa ra tôi vẫn nhận ra anh ta, ngay lập tức. Lúc đó là một giờ mười bảy phút, và tôi đang đọc tới giữa bài báo về một thiếu niên bị đâm chết, thì cánh cửa mở ra và anh ta xuất hiện.
Tôi không được chuẩn bị cho tác động của việc nhìn thấy Connor ngoài đời. Tôi cảm thấy gần như chóng mặt, tim đập thình thịch; khi đứng lên hai chân tôi bủn rủn. Tôi nghĩ đó chính là một chiêu lừa; cảm giác này giống hệt cảm giác khi theo dõi Mike từ sau rèm ở phố Leverton.
Anh ta đi với một người đàn ông lớn tuổi hơn, cả hai đều mặc vest. Hình như họ đang dở cuộc trò chuyện và đi ngược lên phố cùng nhau. Connor đút hai tay túi quần; người đàn ông lớn tuổi lấy ra một điếu thuốc và châm lửa trong lúc rảo bước.
Hai chân tôi vẫn bủn rủn, tôi bắt đầu đi theo họ, tăng tốc cho đến khi ở sau họ khoảng mười mét. Tôi tự nhủ rằng Connor không cách nào biết được tôi là ai. Tất nhiên tôi chỉ có thể nhìn thấy sau lưng anh ta. Tóc anh ta nhìn khác trên ảnh; giờ nó bóng mượt và chải hất ra sau. Thỉnh thoảng anh ta quay sang nói gì đó với người bên cạnh và tôi sẽ thoáng thấy gương mặt anh ta, nhưng từ vị trí đó không sao nhìn rõ mắt anh ta được.
Tôi tự hỏi người đàn ông kia có phải là đồng nghiệp Colin của anh ta, người mà anh ta thường nhắc đến trong email. Colin là, Connor nói, một “anh chàng tốt” nhưng có chiều hướng mô phạm và khù khờ, và Connor khoái chọc tức ông ấy. Song anh ta chưa bao giờ kể rằng Colin hút thuốc, và xem ra anh ta không thấy người này nhàm chán. Thực vậy, Connor còn cười khá lớn trước lời Colin nói. Qua những cái nhìn tôi có được khi anh ta quay sang, thì mắt anh ta nheo lại mỗi khi cười.
Nghe thật kỳ cục, tôi biết, nhưng khi thấy họ cười với nhau tôi cảm thấy nhói lên một nỗi ghen tị rằng anh ta đang thấy ai đó khác thú vị và lôi cuốn. Anh ta đã bảo tôi rằng viết cho tôi là điểm sáng trong ngày của anh ta, thế nên tôi cho rằng tôi đã trông đợi nhìn thấy anh ta khổ sở hơn hiện giờ. Nhưng khi ý nghĩ ấy vừa hiện ra trong đầu, tôi liền quả trách bản thân đã vô lý. Tôi nên vui vì anh ta thích môi trường làm việc và sự bầu bạn của đồng nghiệp mới phải.
Hai người đàn ông đi trên đường được khoảng trăm mét thì rẽ vào một con đường rải sỏi nhỏ hơn. Họ dừng lại ở một quán cà phê. Hẳn là họ bán sandwich rất ngon, vì dòng người xếp hàng ra tận cửa. Connor và người đi cùng đứng nối vào hàng. Tôi do dự, và trong lúc chần chừ thì một người phụ nữ đã chen vào sau họ. Tôi vội vàng chiếm chỗ sau lưng người đó.
Thật may vì tôi đã không đứng ngay sau Connor. Tim tôi vẫn đang đập lớn đến mức tôi cảm thấy như tất cả mọi người trong hàng đều nghe được. Có một cảm giác lạ lùng, trống rỗng trong bụng tôi, không hẳn là cảm giác đói nhưng rất giống.
Kể cả với người phụ nữ chắn giữa, tôi vẫn ở đủ gần để nghe được bập bõm cuộc trò chuyện giữa Connor và đồng nghiệp. Hình như họ đang nói về một cầu thủ bóng đá đã chơi tệ hại vào tối qua: “Đúng là thằng hề”, Connor nói, “không thể tin được là hắn sút hỏng phạt đền.” “Lỗi Sơ đẳng”, bạn anh ta tán thành. Ở gần như vậy, tôi ngửi được mùi chanh hình như tỏa ra từ Connor, và nhận thấy anh ta có một vạt tóc mỏng, kích cỡ bằng một cái bánh Wagon Wheel. Phần gáy anh ta mới được cạo, và tôi bị một thôi thúc kỳ quái lướt qua là được chạm vào chỗ da đó. Tôi nhìn hai tại anh ta, chúng chìa ra hệt như trong ảnh, và nghĩ đến việc, nếu tôi bước lên, tôi có thể thì thầm vào chúng những chuyện sẽ khiến anh ta bàng hoàng. Những chuyện riêng tư anh ta kể cho tôi trong những email. Anh ta thú nhận hồi trung học anh ta mê cô ca sĩ của một nhóm nhạc pop, đến tận bây giờ từ “Tºpau” vẫn khiến anh ta rùng mình. Tôi có thể thì thầm chuyện đó. Tôi có thể nói với anh ta điều anh ta đang nghĩ đến tại tòa án hôm trước, trong phiên xét xử tay trộm người Ba Lan, về một bài báo anh ta đọc trên tạp chí GQ về một nhà thám hiểm ở Nam Cực đã phải ăn những con chim cánh cụt hoàng đế để sống sót.
Tất nhiên tôi đã thực sự chẳng nói bất kỳ chuyện gì trong số đó. Dòng người nhích từng bước vào quán, nơi những chồng bánh sandwich nằm đông cứng bên dưới một quầy kính. Tôi tự hỏi Connor sẽ chọn loại nào, và quyết định là cái nào có cá: anh ta từng bảo tôi rằng anh ta ghen tị với mọi món hải sản tươi sống có thể có ở Sointula. Tôi không kìm được nụ cười khi đến lượt anh ta và anh ta gọi một baguette trắng phủ sốt mayonnaise cua. Tôi gần như chắc chắn anh ta sẽ ăn nó cùng với khoai tây chiên
235
EN vị pho mát và hành, vì anh ta đã tâm sự với tôi trong một lần tám chuyện trên trời dưới biển là anh ta lo rằng mình nghiện chúng mất rồi, và cảm thấy phát ốm nếu cả ngày không được ăn một suất.
Tuy nhiên tôi không nhận ra là sắp đến lượt tôi được hỏi dùng gì từ người đàn ông nhanh nhẹn sau quầy. Tôi bị bất ngờ, và buột miệng nói thứ nhảy ra trong đầu mình: một túi khoai chiên vị pho mát và hành.
Chỉ đến khi người đàn ông bảo hết 50 xu, tôi mới sực nhở mình không mang theo đồng nào. Song tôi nhớ thường có mấy đồng bạc lọt qua những lỗ thủng trong túi áo xuống gấu áo khoác, nên tôi ra tay lên mặt vải xem có sờ được đồng nào trốn ở đó không. Tôi phát hiện vài hình tròn cứng đầy hứa hẹn, nhưng sau đó phải dồn chúng qua gấu áo để moi chúng ra, và cuối cùng phải xé cái lỗ cho rộng hơn để dễ lấy hơn.
Tôi mải mê vải việc này đến nỗi chẳng để ý đến tiếng thở dài từ người phục vụ, và câu nói “Anh dùng gì?” khi ông ta tiếp tục nhận yêu cầu từ người đứng sau tôi. Sau độ một phút, tôi cũng giải cứu được mấy đồng xu từ gấu áo. Đặt chúng lên mặt quầy, tôi thấy tổng cộng chỉ được ba tám xu.
Lúc đó người đàn ông bắt đầu phục vụ những người xếp hàng sau tôi, để túi khoai chiên bên cạnh những đồng xu trên mặt quầy. Tôi đang đếm lại tiền lần nữa thì một điều kỳ diệu xảy ra: Connor bước đến. Anh ta và đồng nghiệp đang đứng sang một bên, chờ chiếc sandwich được nướng, và hẳn đã quan sát tôi loay hoay. Anh ta đặt một đồng mười xu và một đồng hai xu lên quầy bên cạnh đám xu của tôi.
“Của cô đây”, anh ta nói, và tặng tôi một nụ cười tuyệt đẹp. Tôi sững người nhìn anh ta. Mắt anh ta màu xanh lam nhạt, và chúng gần như biến mất khi anh ta cười. Rồi người đàn ông sau quầy đưa cho đồng nghiệp của anh ta chiếc sandwich đựng trong túi giấy màu trắng, và Connor quay người rời khỏi cửa hàng cùng với ông ấy.
Tôi bị cám dỗ muốn đi theo họ về văn phòng, nhưng tôi đang quá chao đảo nên rẽ sang hướng khác và đi xuôi con đường rải sỏi, Cố lấy lại bình tĩnh. Tôi thậm chí không ăn nổi túi khoai chiên. Tôi đi lòng vòng chừng hai mươi phút. Rồi tôi ngồi xuống vệ đường và đăng nhập vào tài khoản gmail của Tess bằng điện thoại.
Tôi có một khao khát lớn được nhìn thấy một email từ Connor. Tôi muốn biết liệu anh ta có nhắc đến cuộc chạm trán anh ta vừa có với tôi trong quán cà phê không. Lần đầu tiên tôi đăng nhập mà không có email nào của anh ta, nhưng hai mươi phút sau nó đến. Tuy nhiên nó chỉ chứa một đường link dẫn tới một clip trên YouTube, với lời nhắn: anh nghĩ cô ta trông khá giống em. Không đả động đến vụ việc Ở giờ ăn trưa. Mặc dù có phần thất vọng,
237
PORN nhưng tôi kết luận rằng chắc hẳn anh ta thực hiện những hành động tử tế nho nhỏ này thường xuyên: với anh ta, nó không đáng để kể.
Về đến nhà tôi click vào đường link YouTube. Đó là video ca nhạc của một ca sĩ trình diễn một điệu nhảy phức tạp, lôi cuốn cùng với một vũ đoàn đông đảo mặc quần áo nịt sặc sỡ. “Một, hai, ba, bốn, hãy nói anh yêu em nhiều hơn”, cô ca sĩ hát. Cô ta có nhiều nét giống Tess – gầy, mắt đen và để tóc mái ngang trán – nhưng cô ta không quyến rũ bằng.
Em nghĩ em xinh hơn. Tôi trả lời.
Cái đó thì khỏi bàn. Connor viết.
Lúc đó là năm giờ hai mươi phút sáng, chỉ số pin của tôi đang nhấp nháy đỏ. Căn lều vẫn kéo khóa kín nhưng tôi có thể thấy trời đang sáng dần; lớp vải canvas đang sáng lên và lũ chim bắt đầu ríu rít. Tôi vừa nhìn thấy một cái bóng chạy vụt qua, nó khiến tôi nhảy dựng lên, nhưng tôi đoán chỉ là một trong những con chó, hoặc Milo đang đi tiểu. Tôi hi vọng như thế. Chúc ngủ ngon.