Suốt quãng đường đến bệnh xá, Poirot liên tục lẩm bẩm và nhiếc móc bản thân. Ông trách móc mình đủ đường.
“Lẽ ra tôi phải biết trước,” ông rên lên. “Lẽ ra tôi phải biết! Và nếu biết thì tôi có thể làm gì đây? Tôi đã đặt ra mọi biện pháp phòng ngừa. Điều xảy ra là không thể – không thể nào. Không một ai có thể lại gần cô ấy! Kẻ nào đã dám bất tuân lệnh tôi?”
Khi đến bệnh xá, chúng tôi được hướng dẫn vào chờ trong một căn phòng dưới lầu, sau vài phút thì bác sĩ Graham đến gặp chúng tôi. Trông ông ta kiệt sức và trắng bệch.
“Cô ấy sẽ sống,” ông ta nói. “Sẽ ổn cả thôi. Vấn đề là không sao biết được cô ấy đã nạp vào người cái thứ chết tiệt đó một lượng bao nhiêu.”
“Nó là gì?”
“Á phiện.”
“Cô bé vẫn sống chứ?”
“Vâng, vâng, cô ấy sẽ sống.”
“Nhưng chuyện đó xảy ra như thế nào? Làm sao hắn đến gần cô bé được? Ai đã được cho vào?” Poirot gần như nhảy cẫng lên với sự bứt rứt bất lực.
“Không ai được phép vào phòng cả.”
“Không thể nào.”
“Sự thật là vậy.”
“Nhưng sao…”
“Nó nằm trong một hộp chocolate.”
“A! Thánh thần ơi. Tôi đã dặn cô bé không được ăn bất cứ thứ gì đến từ bên ngoài kia mà.”
“Tôi không biết gì về chuyện đó. Rất khó để ngăn một thiếu nữ lại gần một hộp chocolate. Tạ ơn trời là cô bé chỉ ăn một viên.”
“Á phiện nằm trong cả hộp à?”
“Không. Cô bé ăn trúng một viên. Có thêm hai viên nữa chứa á phiện ở lớp trên cùng. Những viên còn lại thì bình thường.”
“Á phiện được nhét vào như thế nào?”
“Khá là vụng về. Viên chocolate được cắt đôi ra – á phiện được trộn vào phần nhân rồi hai nửa chocolate được đính lại vào nhau. Nghiệp dư vô cùng. Có thể khá chắc chắn là được tự làm tại nhà.”
Poirot rên lên.
“À! Giá mà tôi biết – giá mà tôi biết. Tôi gặp cô ấy được không?”
“Nếu một giờ nữa quay lại thì tôi nghĩ ông có thể gặp cô ấy,” bác sĩ nói. “Bình tĩnh lại nào, ông bạn. Cô gái không chết đâu.”
Một tiếng sau đó chúng tôi đi lòng vòng quanh những con phố St Loo. Tôi cố gắng hết sức để khiến Poirot phân tâm – nói thẳng rằng mọi chuyện vẫn trong tầm kiểm soát và sau cùng thì chưa có chuyện không may nào xảy ra.
Nhưng ông chỉ lắc đầu và liên tục lặp lại:
“Tôi đang sợ, Hastings à, tôi đang sợ…”
Và cái cách Poirot nói điều đó lạ lùng đến mức khiến tôi cũng sợ lây.
Chợt ông chộp tay tôi.
“Nghe này, bạn tôi. Tôi sai hướng cả rồi. Ngay từ đầu tôi đã đi sai hướng.”
“Ý ông là động cơ không phải vì tiền…”
“Không, không, cái đó thì đúng. Ồ, vâng. Nhưng hai đối tượng tình nghi – không thể đơn giản như vậy được – quá dễ dàng. Vẫn còn góc khuất nào đó. Đúng vậy, vẫn còn điều gì đó!”
Và rồi ông gào lên phẫn nộ:
“A! Cô bé đó! Tôi đã cấm con bé rồi mà! Tôi đã dặn kĩ Không được đụng vô thứ gì từ bên ngoài rồi mà! Và con bé dám trái lệnh tôi – tôi, Hercule Poirot. Chẳng lẽ bốn lần chơi đùa với tử thần chưa đủ à? Sao lại phải thử mạng mình lần thứ năm? Trời ơi, không thể tin nổi“
Cuối cùng chúng tôi cũng quay về bệnh xá. Sau vài phút chờ đợi chúng tôi được lên lầu.
Nick đang ngồi trên giường. Đồng tử trong mắt cô bé giãn nở to. Trông cô như bị sốt bừng bừng, hai tay liên tục vặn xoắn kích động.
“Lại thêm một lần nữa,” cô lẩm bẩm.
Poirot bị xúc động mạnh khi thấy cô gái. Ông hắng giọng và cầm lấy tay cô.
“À! Quý cô… thưa cô.”
“Tôi không quan tâm nữa,” cô nói vẻ thách thức, “nếu lần này hắn đã lừa được tôi. Tôi chán ngấy rồi – chán ngấy chuyện này rồi!”
“Cô bé đáng thương!“
“Tôi không cho hắn điều hắn muốn đâu!”
“Tinh thần vậy mới phải chứ – lạc quan lên – cô phải giữ tinh thần lạc quan quý cô à.”
“Hóa ra bệnh xá cũ kĩ của ông cũng không an toàn lắm.” Nick nói.
“Nếu cô đã tuân theo yêu cầu…”
Trông cô gái hơi kinh ngạc.
“Nhưng tôi có nghe mà.”
“Tôi đã dặn rõ là cô không được ăn bất kì thứ gì đến từ bên ngoài kia mà?”
“Tôi đâu có làm thế.”
“Nhưng còn hộp chocolate…”
“Chà, hộp chocolate đâu được tính. Chính ông đã gửi nó tới mà.”
“Quý cô vừa nói gì?”
“Ông đã gửi chúng!”
“Tôi sao? Chưa bao giờ. Không bao giờ có chuyện đó.”
“Nhưng ông đã làm mà. Tấm thiệp của ông nằm trong hộp.”
“Cái gì cơ?”
Nick đưa bàn tay run rẩy đến chiếc bàn kê gần giường. Một y tá tiến đến.
“Cháu muốn lấy tấm thiệp ở trong hộp à?”
“Vâng, làm ơn thưa cô.”
Chúng tôi chờ một lát. Y tá cầm tấm thiệp quay lại phòng.
“Nó đây.”
Tôi há hốc miệng sửng sốt. Poirot cũng thế. Trên tấm thiệp là nét chữ viết tay bay bướm với nội dung y hệt những gì tôi đã thấy Poirot viết trên tấm thiệp gửi kèm giỏ hoa.
Gửi cùng những lời thăm hỏi từ Hercule Poirot.
“Quỷ thần thiên địa ơi!“
“Ông thấy chưa,” Nick nói với vẻ buộc tội.
“Tôi không hề viết thứ này!” Poirot kêu lên.
“Gì cơ?”
“Vậy mà,” Poirot lẩm bẩm, “vậy mà nó giống hệt nét chữ của tôi.”
“Tôi biết. Nó giống tấm thiệp gửi cùng giỏ cẩm chướng cam. Tôi không hề nghi ngờ rằng hộp chocolate do ai khác gởi chứ không phải ông.”
Poirot lắc đầu.
“Làm sao mà cô ngờ được! Ôi! Tên quỷ quyệt! Tên ác quỷ khôn ngoan, tàn nhẫn! Nghĩ ra cách này! À! Nhưng hắn là thiên tài, tên này đúng là thiên tài. ‘Gửi cùng những lời thăm hỏi từ Hercule Poirot.’ Quá đơn giản. Đúng vậy, nhưng nghĩ ra cách này. Và tôi… tôi còn không ngờ đến. Tôi đã không đoán trước được hành động này.”
Nick bứt rứt cựa quậy.
“Xin đừng kích động, thưa cô. Cô vô tội – cô không có lỗi gì cả. Tôi mới là người đáng trách, tôi là kẻ dại khờ đáng trách! Lẽ ra tôi phải thấy trước được điều này. Đúng vậy, lẽ ra tôi phải đoán được.”
Cằm Poirot gục xuống. Trông ông khổ sở kinh khủng.
“Tôi thật sự nghĩ…” nữ y tá lên tiếng.
Nãy giờ bà ta vẫn lượn lờ gần bên, mặt lộ rõ sự bất bình.
“Hả? Vâng, vâng, tôi sẽ đi ngay. Dũng cảm lên quý cô à. Đây là sai sót cuối cùng của tôi. Tôi thật sự xấu hổ và đau lòng – tôi đã bị qua mặt, bị lừa – như thể một cậu nhóc. Nhưng điều đó sẽ không xảy ra lần nữa. Không. Tôi xin hứa với cô. Đi thôi Hastings.”
Việc đầu tiên Poirot làm là chất vấn quản lý bệnh xá. Theo lẽ thường, bà ta cũng vô cùng phiền lòng về việc vừa xảy ra.
“Tôi gần như không tin nổi, ông Poirot ạ, không thể tin nổi. Một việc như thế mà lại xảy ra ở ngay trong bệnh xá của tôi.”
Poirot tỏ ra vô cùng thông cảm và khéo léo. Sau khi an ủi giúp bà nguôi ngoai, ông bắt đầu điều tra về sự xuất hiện của gói hàng chết người. Bà quản lý khẳng định rằng để có nhiều thông tin nhất thì ông nên hỏi nhân viên có ca trực lúc gói hàng xuất hiện.
Hood là tên anh chàng đó, một người tầm hai mươi hai tuổi với vẻ mặt khờ khạo nhưng thật thà. Trông anh ta đầy lo lắng và sợ hãi. Tuy nhiên Poirot trấn an ngay.
“Anh không có lỗi gì cả,” ông nhẹ nhàng bảo. “Nhưng tôi cần biết thời gian và cách thức chính xác mà gói hàng đó được giao tới.”
Nhân viên phục vụ lộ rõ vẻ bối rối.
“Khó để nói chắc lắm, thưa ngài,” anh ta chậm rãi nói. “Có rất nhiều người đến hỏi thăm tin tức và nhờ đưa đồ đạc cho các bệnh nhân khác nhau.”
“Y tá nói rằng gói hàng đến vào tối hôm qua,” tôi nói. “Khoảng sáu giờ tối.”
Mặt anh chàng sáng bừng lên.
“À vậy thì tôi nhớ rồi, thưa ngài. Một quý ông đã mang nó tới.”
“Một quý ông mặt ốm, tóc vàng?”
“Đúng là tóc vàng – nhưng tôi không chắc về mặt ốm ạ.”
“Liệu có phải Charles Vyse tự mình đem nó đến không?” tôi thì thào với Poirot.
Tôi quên khuấy mất rằng anh hộ lý cũng biết tên của người trong vùng.
“Không phải anh Vyse đâu,” anh ta nói. “Tôi biết anh ấy mà. Quý ông này cao to hơn, điển trai – lái một chiếc xe hơi to.”
“Lazarus,” tôi thốt lên.
Poirot bắn một ánh nhìn cảnh cáo khiến tôi lập tức ân hận vì sự hấp tấp của mình.
“Vậy là anh ta lái một chiếc xe hơi to đến và gửi lại gói hàng. Nó được đề người nhận là cô Buckley à?”
“Đúng vậy, thưa ngài.”
“Và rồi anh đã làm gì với nó?”
“Tôi không hề đụng đến nó, thưa ngài. Một y tá đã mang nó lên lầu.”
“Có vẻ vậy, nhưng anh đã đụng vào nó khi nhận từ tay quý ông kia, đúng không?
“Ồ! Điều đó thì tất nhiên, thưa ngài. Tôi cầm từ tay anh ta và để nó lên bàn.”
“Bàn nào? Anh làm ơn chỉ tôi xem.”
Nhân viên phục vụ dẫn chúng tôi xuống hành lang. Cửa trước đang mở. Gần cánh cửa, đặt giữa sảnh là một chiếc bàn cẩm thạch dài, trên bàn để đầy thư từ và hàng hóa.
“Mọi thứ được gửi đến bệnh xá đều tập trung ở đây, thưa ngài. Rồi các y tá mang lên cho từng bệnh nhân.”
“Anh có nhớ gói hàng được gửi tới lúc mấy giờ không?”
“Chắc là tầm năm giờ rưỡi, hoặc trễ hơn một chút. Lúc đó người đưa thư vừa mới tới, và thường anh ta tới lúc năm giờ rưỡi. Đó là một buổi chiều bận rộn, có rất nhiều khách đến thăm bệnh nhân và gửi hoa.”
“Cảm ơn anh. Giờ tôi nghĩ chúng ta nên gặp nữ y tá đã mang gói hàng lên.”
Cô này hóa ra là một y tá tập sự, một cô gái tròn trịa nhỏ nhắn đang vô cùng kích động. Cô nhớ rõ rằng mình đã mang gói hàng lên lúc sáu giờ tối khi vừa đổi ca.
“Sáu giờ tối,” Poirot lẩm bẩm. “Vậy thì nó đã nằm trên chiếc bàn dưới lầu khoảng hai mươi phút.”
“Sao ạ?”
“Không có gì, thưa cô. Xin hãy nói tiếp. Cô mang gói hàng lên cho cô Buckley, đúng chứ?”
“Vâng, có vài thứ được gửi đến cho cô ấy. Có hộp chocolate đó và một ít hoa – hoa đậu thơm – do ông bà Croft gửi, tôi nhớ là vậy. Tôi mang cả hai bên cùng lúc. Và còn có một gói hàng được gửi qua đường bưu điện – và kì lạ thay gói hàng đó cũng là một hộp chocolate Fuller.”
“Gì cơ? Một hộp chocolate thứ hai?”
“Đúng vậy, quả là một sự tình cờ. Cô Buckley khui cả hai hộp. Cô ấy nói: ‘Ồ! Tiếc quá. Tôi không được phép ăn chúng.’ Và rồi cô ấy hé mở nắp hộp và thấy cả hai đều y như nhau, nhưng một hộp có tấm thiệp của ông. Cô ấy nói ‘Mang hộp không an toàn đi đi, chị y tá ơi. Nếu không tôi sẽ nhầm lẫn giữa hai hộp.’ Ôi trời! Ai mà ngờ chuyện đó lại xảy ra? Cứ như tiểu thuyết của Edgar Wallace vậy, phải không?”
Poirot cắt ngang câu chuyện dài dòng.
“Cô vừa nói là có hai hộp chocolate đúng không? Ai đã gửi hộp còn lại?”
“Không có tên người gửi.”
“Và hộp đề tên tôi – hộp mà giả mạo là do tôi gửi, đã đến bằng cách nào? Qua đường bưu điện hay có người mang đến?”
“Tôi phải nói rằng, tôi không nhớ rõ. Tôi có nên lên hỏi cô Buckley không ạ?”
“Nếu cô không phiền.”
Nữ y tá chạy lên cầu thang.
“Hai hộp chocolate,” Poirot càu nhàu. “Bắt đầu rắc rối rồi đây.”
Cô gái đã trở lại, hụt cả hơi.
“Cô Buckley không nhớ chắc. Cô ấy khui cả hai trước khi nhìn vào trong hộp. Nhưng cô ấy nghĩ không phải là hộp đến bằng đường bưu điện đâu ạ.”
“Hả?” Poirot hơi bối rối.
“Hộp do ông gửi là hộp không đến bằng đường bưu điện. Ít nhất là cô ấy nghĩ thế, nhưng không chắc chắn lắm.”
“Quỷ quyệt thật!” Poirot kêu lên khi chúng tôi rời đi. “Sao không có ai khẳng định được gì hết vậy? Trong tiểu thuyết trinh thám – thì đúng. Nhưng đời, đời thật, bao giờ cũng rối rắm kinh khủng. Tôi có dám tự mình khẳng định bất cứ điều gì không? Không, không, ngàn lần không.”
“Lazarus,” tôi nói.
“Vâng, bất ngờ thật đúng không?”
“Ông có định tra khảo anh ta về chuyện đó không?”
“Dĩ nhiên rồi. Tôi rất muốn nghe xem anh ta trả lời thế nào. Nhân tiện thì ta sẽ nói quá tình trạng nguy kịch của quý cô lên nhé. Cứ cho là cô ấy đang đứng trước ngưỡng cửa tử thần cũng chẳng có hại gì. Anh hiểu chứ? Làm mặt nghiêm trọng vào – đúng rồi, tốt lắm. Trông anh gần giống người lo mai táng rồi đấy. Hoàn hảo rồi.“
Chúng tôi gặp may khi đi tìm Lazarus. Anh ta đang đứng lom khom trước ca-pô xe ngay trước khách sạn.
Poirot tiến thẳng đến chỗ anh ta.
“Quý ông Lazarus, chiều hôm qua anh đã gửi một hộp chocolate cho quý cô,” ông nói mà không thèm mào đầu.
Lazaarus trông khá ngạc nhiên.
“Vâng?”
“Chuyện anh làm rất tử tế.”
“Thật ra hộp chocolate đó do Freddie gửi, cô Rice ấy. Cô ấy nhờ tôi mua giúp.”
“Ồ! Ra là thế.”
“Tôi lái xe chở cô ấy và hộp chocolate tới.”
“Tôi hiểu.”
Ông im lặng vài phút rồi nói thêm:
“Cô Rice đang ở đâu?”
“Tôi nghĩ cô ấy đang ngồi ở sảnh chờ.”
Chúng tôi tìm thấy Frederica đang ngồi uống trà. Cô ta nhìn lên với vẻ mặt lo âu.
“Chuyện Nick đang bị bệnh mà tôi vừa nghe là sao?”
“Thưa cô, đó vẫn còn là vấn đề bí ẩn. Cho tôi biết nào, hôm qua cô gửi cho Nick một hộp chocolate phải không?
“Vâng. Thật ra thì cô ấy nhờ tôi mua giúp.”
“Cô ấy nhờ cô mua và gởi đến?”
“Vâng.”
“Nhưng cô ấy không được phép gặp ai hết. Làm sao mà cô gặp Nick được?”
“Tôi đâu có gặp. Nick đã gọi điện cho tôi.”
“À! Và cô ấy đã nói gì?”
“Tôi có thể mua giúp cô ấy một hộp chocolate Fuller hai pound không.”
“Giọng cô ấy nghe có yếu ớt không?”
“Không, không hề. Khá khỏe mạnh. Nhưng nghe hơi bất thường sao ấy. Ban đầu tôi còn không nhận ra người gọi là Nick.”
“Cho đến khi cô ấy nói với cô mình là ai?”
“Vâng.”
“Cô có chắc đó là bạn của mình không, thưa cô?”
Frederica hơi giật mình.
“Tôi… tôi… chà, tất nhiên là chắc. Còn ai vào đây nữa chứ?”
“Đó là một câu hỏi thú vị, thưa cô.”
“Ý ông không phải là…”
“Cô có dám thề rằng đó là giọng của bạn thân cô không – trừ việc cô ấy đã tự xưng tên?”
“Không,” Frederica chậm rãi nói, “Tôi không dám chắc. Giọng nghe rất lạ. Tôi cứ tưởng do đường dây điện thoại – hoặc do cô ấy không khỏe…”
“Nếu cô ấy không tự xưng tên, hẳn cô đã không nhận ra?”
“Không, không, tôi nghĩ tôi đã không nhận ra. Người đó là ai vậy ông Poirot? Ai đã gọi?”
“Đó là điều tôi muốn biết, thưa cô.”
Vẻ trầm trọng in hằn trên mặt ông đã khiến cô gái nghi ngờ.
“Nick có… có chuyện gì đã xảy ra sao?” cô nín thở hỏi.
Poirot gật đầu.
“Cô ấy đang ngã bệnh… bệnh rất nặng. Những viên chocolate đó đã bị tẩm độc, thưa cô.”
“Những viên chocolate tôi gửi cô ấy sao? Nhưng điều đó là không thể – không thể nào!”
“Không phải không thể đâu, thưa cô, vì lúc này Nick đã rất gần cửa tử.”
“Ôi, Chúa ơi.” Cô gái úp mặt vào đôi tay, rồi ngẩng khuôn mặt trắng nhợt run lẩy bẩy lên. “Tôi không hiểu – tôi không hiểu gì cả. Những chuyện còn lại thì đúng, nhưng lần này không thể nào. Làm sao mà chúng bị tẩm độc được. Ngoài tôi và Jim ra không có ai chạm vào chúng hết. Ông đã phạm sai lầm nghiêm trọng rồi, ông Poirot.”
“Người phạm sai lầm không phải là tôi – ngay cả khi tên tôi nằm trong hộp chocolate.”
Cô gái nhìn ông trừng trừng với vẻ mặt trống rỗng.
“Nếu cô Nick không qua khỏi…” ông nói và đưa tay lên vẻ hăm dọa.
Cô gái bật khóc khe khẽ.
Ông quay lưng bỏ đi, kéo tôi theo, và đi thẳng lên phòng khách.
Ông ném mũ lên mặt bàn.
“Tôi chẳng hiểu gì cả – không một thứ gì! Tôi đang mò mẫm trong bóng tối. Như một đứa con nít. Ai là người hưởng lợi từ cái chết của quý cô? Cô Rice. Ai là người mua hộp chocolate, thú nhận về chuyện đó và bịa ra câu chuyện về một cuộc điện thoại hoàn toàn thiếu căn cứ? Cô Rice. Quá đơn giản – quá ngu ngốc. Và cô ta thì không hề đần độn, không hề.”
“Chà, vậy thì…”
“Nhưng cô ta dùng á phiện, Hastings à. Tôi khẳng định chắc chắn cô ta có dùng á phiện. Không chối cãi gì cả. Và trong số chocolate đó cũng có á phiện. Và ý cô ta là gì khi nói ‘Những chuyện còn lại thì đúng, nhưng lần này không thể nào.’ Câu đó cần một lời giải thích! Và còn anh Lazarus ranh mãnh nữa – vai trò của anh ta trong những chuyện này là gì? Cô Rice đó, cô ta biết những gì. Cô ta đang nắm giữ thông tin gì đó. Nhưng tôi không bắt cô ta khai được. Cô ta không phải là người mà ta có thể hỏi cung được. Nhưng cô ta đang nắm giữ điều gì đó, Hastings à. Câu chuyện về cuộc điện thoại của cô ta là thật hay bịa đặt? Nếu là thật thì giọng nói đó là của ai?
“Tôi nói anh nghe, Hastings à. Mọi thứ đang mù mờ kinh khủng – hoàn toàn mù mờ.”
“Trước bình minh trời lúc nào cũng tối đen nhất,” tôi trấn an.
Ông lắc đầu.
“Còn hộp chocolate kia – hộp được gửi bằng bưu điện. Liệu ta có thể loại trừ nó ra không? Không, ta không thể làm thế vì quý cô không nói chắc được. Thật là phiền phức!”
Ông rên lên.
Tôi vừa mở miệng toan nói thì bị ông ngăn lại.
“Thôi, đừng. Đừng dẫn một câu tục ngữ nào nữa. Tôi không chịu nổi đâu. Nếu anh muốn làm người bạn tốt – một người bạn hữu ích…”
“Vâng,” tôi háo hức đáp.
“Làm ơn ra ngoài và mua cho tôi một bộ bài tây, tôi xin anh.”
Tôi nhìn sững.
“Tốt thôi,” tôi lạnh lùng nói.
Tôi nghĩ rằng ông chỉ cố tình tìm một cái cớ để đuổi tôi đi.
Tuy nhiên, tôi đã hiểu lầm ông. Tối hôm đó, khi quay lại phòng khách tầm mười giờ tối, tôi thấy Poirot đang dựng một ngôi nhà từ các lá bài – và nhớ ra ngay!
Đó là một mánh cũ của ông ấy để xoa dịu thần kinh. Ông mỉm cười với tôi.
“Đúng vậy – anh còn nhớ chứ. Trò này cần sự chính xác tuyệt đối. Từng lá bài một – ở vị trí chính xác để nâng đỡ trọng lượng của nhau và xếp cao lên nữa, lên nữa. Đi ngủ đi Hastings. Để tôi ở đây với ngôi nhà bài của tôi. Tôi sẽ sắp xếp lại đầu óc.”
Khoảng năm giờ sáng thì tôi bị lay dậy.
Poirot đang đứng kế bên giường tôi. Trông ông rất hài lòng và tươi tỉnh.
“Anh nói rất đúng, bạn tôi à. Ồ! rất chính xác. Nó còn đúng theo tâm linh nữa.
Tôi hấp háy mắt nhìn ông, vẫn lơ mơ chưa tỉnh ngủ hẳn.
“Lúc nào trước bình minh trời cũng tối nhất – anh đã nói thế. Mọi thứ đã rất mù mịt – và giờ thì bình minh rồi.”
Tôi nhìn ra cửa sổ. Ông nói đúng.
“Không, không, Hastings. Trong đầu ấy! Trong tâm trí! Trong những tế bào chất xám ấy!”
Ông ngừng một chút rồi hạ giọng nói tiếp:
“Anh biết đấy, Hastings, quý cô đã qua đời.”
“Cái gì?” Tôi sững sờ, thoắt tỉnh ngủ hẳn.
“Suỵt… suỵt. Tôi chỉ nói vậy thôi. Điều đó không đúng – dĩ nhiên rồi – nhưng chuyện đó có thể dàn xếp được. Vâng, trong 24 giờ thôi. Tôi sẽ dàn xếp chuyện đó với bác sĩ và các y tá.
“Anh hiểu chưa Hastings? Vụ án mạng đã thành công. Hung thủ đã cố gắng bốn lần nhưng thất bại. Vào lần thứ năm này hắn đã thành công.
“Và giờ, ta sẽ quan sát xem chuyện gì xảy ra tiếp…
“Chắc sẽ thú vị lắm đây.”