Hóa ra cái cớ ăn trưa với Cảnh sát trưởng mà Poirot bịa ra cũng không sai sự thật lắm. Sau bữa trưa, Đại tá Weston đến gặp chúng tôi.
Ông ta là một người cao ráo, dáng vóc nhà binh và vẻ mặt khá điển trai. Ông mang lòng sùng bái đúng mực những chiến công của Poirot, điều mà ông bạn tôi đã quá quen.
“Chúng tôi thật quá may mắn khi có ông ở đây, ông Poirot ạ,” ông ta lặp đi lặp lại.
Nỗi sợ số một của ông là bị buộc phải gọi cứu viện từ Scotland Yard. Ông ta không dám tự mình điều tra vụ bí ẩn và truy bắt hung thủ mà không có sự giúp đỡ của họ. Vì thế, Đại tá mừng rỡ vô cùng khi Poirot tình cờ có mặt ở đây.
Theo đánh giá của tôi thì Poirot tin tưởng vị Đại tá này ngay.
“Một vụ án lạ lùng và thật không may,” Đại tá nói. “Tôi chưa từng nghe đến chuyện gì như thế. Chà, ở trong bệnh xá thì có lẽ cô bé sẽ được an toàn. Tuy nhiên, ông không thể bắt cô ấy ở đó mãi mãi!”
“Điều đó chính là trở ngại lớn nhất, ngài Đại tá ạ. Chỉ có một cách giải quyết thôi.”
“Và đó là gì?”
“Chúng ta phải tóm được hung thủ.”
“Nếu những gì ông suy luận là đúng, điều đó sẽ chẳng dễ dàng đâu.”
“À! Tôi biết rõ chuyện đó chứ.“
“Bằng chứng! Tìm ra bằng chứng là việc gian nan nhất.”
Ông cau mày nghĩ ngợi, mắt nhìn xa xăm.
“Những vụ án kiểu này lúc nào cũng phức tạp, vì không có khuôn mẫu nào. Nếu ta tìm được khẩu súng lục…”
“Khả năng cao là nó đã nằm dưới đáy biển rồi, nếu mà hung thủ có đầu óc một chút.”
“À!” Đại tá Weston kêu lên. “Nhưng thường thì ngược lại đấy. Ông sẽ ngạc nhiên khi biết những điều ngớ ngẩn mà người ta làm. Tôi không nói đến giết người nhé – chúng tôi không có mấy sát nhân ở vùng này, may quá – mà những vụ bình thường mà Sở Cảnh sát vẫn thụ lý. Những kẻ ngốc nghếch rỗng tuếch ấy sẽ khiến ông không ngờ tới.”
“Tuy vậy, những kẻ đó vốn có cách suy luận khác hẳn người thường.”
“Vâng – có thể. Còn nếu Vyse là hung thủ thì, chà, ta sẽ gặp nhiều khó khăn đây. Anh ta là một người cẩn trọng và là một luật sư giỏi. Sẽ không dễ để anh ta đầu thú đâu. Còn cô gái kia – à, nếu là cô ta thì ta có nhiều cơ may hơn. Tôi cá mười ăn một là cô ta sẽ ra tay lần nữa. Phụ nữ thường không có chút kiên nhẫn nào.”
Ông đứng dậy.
“Ngày mai cuộc thẩm tra sẽ diễn ra. Điều tra viên sẽ làm việc chung với chúng ta và sẽ cố gắng tiết lộ càng ít càng tốt. Ở thời điểm này chúng ta muốn giữ mọi việc kín đáo nhất có thể.”
Đại tá đang bước ra cửa thì đột ngột quay lại.
“Trời ạ, tôi quên khuấy mất thứ muốn cho ông xem để hỏi ý kiến, có lẽ ông sẽ thấy nó hữu ích.”
Ông ngồi lại xuống ghế và rút từ túi ra một mảnh giấy bị xé có chữ viết, đưa nó cho Poirot.
“Đội cảnh sát của tôi tìm thấy nó khi khám xét hiện trường. Nó nằm không xa nơi mọi người đứng xem pháo hoa. Đó là đầu mối duy nhất họ tìm thấy.”
Poirot trải thẳng mảnh giấy ra. Chữ viết trên đó to và uốn lượn.
… phải đưa tiền ngay. Nếu không mày… chuyện gì sẽ xảy ra. Tao cảnh cáo mày.
Poirot cau mày. Ông đọc đi đọc lại tờ giấy.
“Chuyện này thú vị đây,” ông nói. “Tôi giữ nó được không?”
“Dĩ nhiên rồi. Không có vết vân tay nào trên đó. Tôi mừng nếu nó có ích đối với ông.”
Đại tá Weston đứng dậy lần nữa.
“Tôi phải đi ngay thôi. Buổi thẩm tra diễn ra ngày mai nhé, như tôi đã nói. Nhân tiện thì ông đến không phải với tư cách nhân chứng đâu – chỉ Đại úy Hastings thôi. Đừng để mấy nhà báo moi móc thông tin từ ông nhé.”
“Tôi hiểu rồi. Còn họ hàng của cô gái xấu số thì sao?”
“Cha mẹ cô ấy từ Yorkshire sẽ đến đây hôm nay. Khoảng năm giờ rưỡi họ sẽ có mặt. Những con người tội nghiệp. Tôi thật lòng tiếc thương cho họ. Họ sẽ mang thi thể cô gái về vào ngày mai.”
Ông lắc đầu.
“Một vụ án thảm thương. Tôi không thích nó chút nào, ông Poirot à.”
“Chẳng ai thích cả, ngài Đại tá ạ. Đúng như ông nói, một vụ án thảm thương.”
Khi ông ta đã đi khuất, Poirot xem xét tờ giấy thêm lần nữa.
“Có phải một manh mối quan trọng không?” tôi hỏi.
Ông nhún vai.
“Ai mà biết được? Có manh mối tống tiền một ai đó! Một khách mời trong bữa tiệc tối hôm đó đã bị tống tiền một cách lỗ mãng. Tất nhiên, cũng có khả năng người đó là một trong những vị khách mà ta không quen biết.”
Ông nhìn những chữ viết tay qua một cái kính lúp bé xíu.
“Chữ viết này có quen thuộc với anh không, Hastings?”
“Nó có gợi cho tôi nhớ đến thứ gì đó… À! Tôi nhớ rồi – mẩu thư của cô Rice.”
“Đúng vậy,” Poirot chậm rãi nói. “Có những điểm tương đồng. Chắc chắn có một độ tương đồng nhất định. Thật đáng ngờ. Tuy vậy, tôi lại không nghĩ đây là nét chữ của cô Rice. Mời vào,” ông nói khi nghe tiếng gõ cửa.
Hóa ra là Trung tá Challenger.
“Tôi chỉ ghé qua thôi,” anh giải thích. “Để xem ông có tiến triển gì không.”
“Ái chà,” Poirot kêu lên, “Lúc này đây tôi cảm giác mình đang đi chậm so với tiến độ. Có vẻ như tôi đang đi thụt lùi.”
“Tệ quá. Nhưng tôi không hoàn toàn tin điều đó đâu, ông Poirot. Tôi đã nghe kể về ông rất nhiều, rằng ông là một người thông thái thế nào. Người ta đồn rằng ông chưa bao giờ thất bại.”
“Điều đó không chính xác,” Poirot nói. “Tôi đã nếm mùi thất bại cay đắng ở Bỉ năm 1893. Anh còn nhớ không Hastings? Tôi đã kể vụ đó cho anh nghe. Vụ án hộp chocolate.”
“Tôi còn nhớ,” tôi nói.
Và tôi mỉm cười khi nhớ lại lần Poirot kể vụ án đó cho tôi, ông còn dặn tôi hô lên “hộp chocolate” mỗi khi tôi thấy ông trở nên quá tự phụ. Và rồi ông cau có hờn dỗi khi tôi dùng từ khóa màu nhiệm chỉ vài giây sau đó.
“Ồ, đằng nào thì,” Challenger nói, “chuyện đó cũng xảy ra quá lâu rồi nên không tính nữa. Ông sẽ tìm ra chân tướng vụ này chứ?”
“Điều này thì tôi thề. Lấy danh dự của Hercule Poirot ra thề. Tôi như con chó đang đánh hơi thề sẽ không rời.”
“Tốt lắm. Ông có ý tưởng nào chưa?”
“Tôi nghi ngờ hai đối tượng.”
“Tôi đoán rằng tôi không được hỏi ông hai người đó là ai hả?”
“Tôi sẽ không nói đâu! Anh hiểu chứ, tôi có thể suy luận sai.”
“Tôi tin là bằng chứng ngoại phạm của mình đủ vững,” Challenger nói, thoáng nháy mắt.
Poirot mỉm cười trìu mến nhìn gương mặt rám nắng đứng trước mặt mình. “Anh đã rời Devenport sau 8 giờ 30 phút một chút. Anh đến đây lúc 10 giờ 5 phút – hai mươi phút sau vụ án mạng. Tuy nhiên, Devonport chỉ cách đây hơn ba mươi dặm và nếu đường thông thoáng thì anh chỉ mất khoảng một tiếng để đến đây. Thế nên, anh thấy đấy, chứng cứ ngoại phạm của anh không vững chút nào!”
“À, tôi…”
“Tôi cân nhắc tất cả mọi thứ, anh hiểu không. Chứng cứ ngoại phạm của anh không vững, như tôi vừa nói. Nhưng có nhiều thứ khác bên cạnh chứng cứ ngoại phạm. Tôi nghĩ anh rất muốn cưới quý cô Nick đúng không?”
Chàng thủy thủ đỏ mặt.
“Tôi đã luôn muốn cưới cô ấy,” anh khàn giọng nói.
“Chính xác là vậy. Đúng thế – Quý cô Nick đã đính hôn với một người đàn ông khác. Có thể điều đó cho anh thôi thúc muốn giết anh ta. Nhưng điều đó không cần thiết – anh ta đã chết như một anh hùng.”
“Vậy điều đó là thật – Nick đã đính hôn với Micheal Seton ư? Cả thị trấn đồn ầm ĩ về chuyện đó cả sáng nay.”
“Đúng vậy – tin tức phát tán đi nhanh thật. Trước đây anh chưa từng ngờ đến chuyện đó à?”
“Tôi mới biết chuyện Nick đã đính hôn với ai đó – cô ấy kể cho tôi cách đây hai hôm. Nhưng cô ấy không chịu cho tôi biết người đó là ai.”
“Đó chính là Micheal Seton. Nói riêng thôi nhé, tôi nghĩ anh ta đã để lại cho cô bé một khối tài sản khổng lồ. À! Dĩ nhiên là anh sẽ không vì điều đó mà ra tay giết quý cô Nick. Hiện tại cô bé đang để tang cho người yêu đã khuất, nhưng con tim luôn biết cách tự chữa lành. Cô ấy còn rất trẻ. Và tôi nghĩ rằng, quý ông ạ, cô bé rất mến anh…”
Challenger im lặng trong vài phút.
“Chỉ ước gì được thế…” anh ta lẩm bẩm.
Có tiếng gõ cửa vang lên.
Frederica Rice xuất hiện.
“Em đang đi tìm anh,” cô nói với Challenger. “Họ nói anh đang ở đây. Em muốn hỏi xem anh đã lấy chiếc đồng hồ đeo tay của em về chưa.”
“À, rồi, anh vừa đến lấy sáng nay.”
Anh ta thò tay vào túi và lấy chiếc đồng hồ đưa cho cô gái. Nó có hình dáng khá lạ lùng – mặt tròn như quả địa cầu với dây đeo bằng vải lụa đen đơn giản. Tôi sực nhớ Nick Buckley cũng đeo trên cổ tay chiếc đồng hồ y hệt.
“Hy vọng nó sẽ chạy đúng giờ hơn.”
“Nó khá là phiền phức. Lúc nào cũng gặp trục trặc.”
“Nó là một món đồ đẹp nhưng không mấy tiện ích, quý cô à,” Poirot nói.
“Sao không thể có được cả hai nhỉ?” cô gái nhìn từng người. “Tôi có xen ngang vào cuộc thảo luận không?”
“Không đâu, quý cô ạ. Chúng tôi chỉ bàn chuyện phiếm thôi – không phải về vụ án. Chúng tôi vừa bảo nhau rằng tin tức lan truyền thật nhanh – giờ đây ai cũng biết rằng cô Nick đã đính hôn với chàng phi công vừa qua đời.”
“Vậy đúng là Nick đã đính hôn với Micheal Seton!” Frederica kêu lên.
“Quý cô ngạc nhiên vì chuyện đó sao?”
“Tôi hơi ngạc nhiên. Không rõ vì sao. Tôi biết chắc rằng mùa thu năm ngoái anh ấy đã bị Nick thu hút. Họ dành nhiều thời gian đi đó đây cùng nhau. Và rồi sau Giáng sinh thì cả hai im hơi lặng tiếng hẳn. Theo tôi biết thì họ rất ít gặp nhau.”
“Họ đã giữ bí mật rất kĩ.”
“Tôi đoán lí do là ngài Matthew già nua. Ông ta hơi điên, tôi nghĩ thế.”
“Cô không nghi ngờ chút nào sao, quý cô? Nick là bạn rất thân của cô mà.”
“Những khi muốn thì Nick là con quỷ nhỏ kín tiếng kinh khủng,” Frederica lẩm bẩm. “Nhưng giờ tôi đã hiểu vì sao gần đây cô ấy bị căng thẳng. Ôi! Lẽ ra tôi phải đoán ra điều đó từ những gì Nick thổ lộ hôm trước.”
“Cô bạn của cô rất quyến rũ, quý cô à.”
“Jim Lazarus cũng từng nghĩ như thế,” Challenger nói với tràng cười giòn giã, gần như là thô lỗ.
“Ồ! Jim…” Frederica nhún vai, nhưng tôi đoán là cô khá mếch lòng.
Cô quay sang Poirot.
“Nói tôi biết nào, ông Poirot, ông có…”
Cô im bặt. Dáng người cao dong dỏng của cô lảo đảo và mặt càng thêm tái nhợt. Frederica nhìn đăm đăm vào mặt bàn.
“Trông quý cô không khỏe.”
Tôi đẩy một chiếc ghế tới và giúp cô ngồi xuống. Cô ta lắc đầu, lầm bầm, “Tôi ổn” và cúi đầu tựa vào hai tay. Chúng tôi đứng nhìn cô đầy bối rối.
Chỉ một phút sau cô ta ngồi thẳng dậy ngay.
“Lạ lùng làm sao! George, anh à, đừng nhìn em lo lắng vậy. Nói về vụ án đi. Nói về cái gì hấp dẫn ấy. Tôi muốn biết ông Poirot có đang đi đúng hướng không.”
“Vẫn còn quá sớm để khẳng định, quý cô à,” Poirot nói không mấy hứng thú.
“Nhưng chắc ông đã có vài suy luận rồi chứ?”
“Có lẽ. Nhưng tôi vẫn cần thêm rất nhiều bằng chứng nữa.”
“Ồ!” cô kêu lên nghi hoặc.
Rồi cô đứng dậy đột ngột.
“Tôi đau đầu quá. Tôi nghĩ mình phải đi nằm nghỉ một chút. Có lẽ ngày mai họ sẽ cho tôi vào thăm Nick.”
Cô gái vội vã rời phòng. Challenger cau mày.
“Ta chẳng bao giờ hiểu nổi phụ nữ toan tính những gì. Nick có thể gần gũi với cô ta, nhưng tôi nghĩ cô ta không thích Nick cho lắm. Nhưng thật chẳng thể đoán được phụ nữ nghĩ gì. Lúc nào cũng cưng ơi, cưng à, rồi bạn yêu quý… trong khi điều họ thật sự muốn nói có lẽ là ‘đồ chết tiệt’. Ông chuẩn bị ra ngoài à, ông Poirot?”
Poirot vừa đứng dậy và cẩn thận phủi một hạt bụi ra khỏi mũ.
“Vâng, tôi chuẩn bị xuống thị trấn.”
“Tôi đang rảnh rỗi. Tôi đi theo ông được không?”
“Chắc chắn rồi. Tôi rất vui lòng.”
Chúng tôi rời phòng. Poirot vội cáo lỗi và quay ngược lại.
“Cây gậy của tôi,” ông giải thích khi quay lại.
Challenger hơi nhăn mặt. Và đúng là cây gậy với viền vàng khắc nổi có hơi khoa trương thật.
Poirot ghé thăm tiệm hoa đầu tiên.
“Tôi phải gửi ít hoa cho quý cô Nick,” ông giải thích.
Ông tỏ ra vô cùng khó tính trong việc lựa hoa.
Cuối cùng ông chọn một số cành cẩm chướng màu cam cắm trong chiếc giỏ vàng được trang trí công phu. Bên ngoài còn buộc một cái nơ xanh thật to.
Người phụ nữ bán hoa đưa ông một tấm thiệp và ông viết vài lời bằng nét chữ phóng khoáng: “Gửi cùng những lời thăm hỏi từ Hercule Poirot.”
“Tôi đã gửi hoa cho cô ấy sáng nay,” Challenger nói. “Có lẽ tôi sẽ gửi thêm ít trái cây.”
“Vô ích thôi!” Poirot nói.
“Sao cơ?”
“Tôi nói rằng điều đó chỉ vô ích thôi. Những thứ ăn được đều bị cấm.”
“Ai nói thế?”
“Tôi nói. Tôi đã đặt ra luật đó. Quý cô Nick đã được thông báo rõ điều đó. Cô ấy đã hiểu.”
“Trời ạ!” Challenger nói.
Anh ta giật mình kinh ngạc, dán cái nhìn chằm chằm đầy nghi hoặc vào Poirot.
“Chuyện là thế, đúng không?” anh nói. “Ông vẫn còn lo sợ.”