Hiểm Họa Ở Nhà Kết

Lượt đọc: 21920 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 18
gương mặt bên cửa sổ

Những gì diễn ra trong ngày tiếp đó hoàn toàn mờ mịt trong kí ức tôi. Xui thay vừa mở mắt dậy tôi đã phát hiện mình bị sốt. Kể từ lần bị sốt xuất huyết, tôi rất hay lên cơn sốt vào những lúc trớ trêu như thế này.

Hậu quả là những gì diễn ra trong ngày đó đối với tôi như một cơn ác mộng – với Poirot đi ra đi vào như một anh hề kì khôi trong rạp xiếc, thỉnh thoảng mới xuất hiện.

Tôi đoán rằng ông đang rất hài lòng với việc mình làm. Điệu bộ tuyệt vọng thống khổ của ông cực kỳ thuyết phục. Tôi không rõ ông đã làm những gì để thực hiện kế hoạch mà ông đã bật mí cho tôi vào sáng sớm. Những rõ là ông đã làm được.

Mọi chuyện không dễ dàng chút nào. Phạm vi của trò lừa gạt và đánh lạc hướng này rất lớn. Bản tính của người Anh là không ưa nói dối những chuyện có quy mô như vậy, và đó chính xác là những gì kế hoạch của Poirot cần. Đầu tiên, ông nhờ bác sĩ Graham tham gia vào kế hoạch. Một khi có bác sĩ Graham làm đồng minh, ông thuyết phục Quản lý bệnh xá cùng một số nhân viên ở đó cùng thực hiện. Chắc hẳn ông đã gặp không ít khó khăn. Có lẽ nhờ đến tầm ảnh hưởng của bác sĩ Graham mà mọi thứ mới trót lọt.

Và rồi đến Cảnh sát trưởng và đồn cảnh sát. Poirot lúc này đang chống lại cả một bộ máy hành chính. Tuy nhiên, cuối cùng Đại tá Weston cũng miễn cưỡng đồng ý với ông. Đại tá nói rõ rằng chuyện này không dính dáng gì đến trách nhiệm của ông ấy. Chỉ có một mình Poirot chịu trách nhiệm cho việc lan truyền những báo cáo sai sự thật. Poirot đồng ý. Ông sẵn sàng đồng ý với mọi điều kiện, miễn là kế hoạch của ông được phép tiến hành.

Suốt cả ngày hầu như tôi chỉ ngồi gật gù trên chiếc ghế bành lớn với tấm mền dày phủ lên gối. Cách mỗi hai hoặc ba tiếng thì Poirot sẽ chạy vào và báo cáo tiến độ.

“Anh thế nào rồi, anh bạn? Nhìn anh tôi thấy xót quá. Nhưng có lẽ chuyện này cũng tốt. Anh không diễn kịch giỏi bằng tôi được. Tôi vừa mới đặt một vòng hoa viếng – một vòng hoa khổng lồ – tuyệt đẹp. Hoa loa kèn, anh bạn ạ – rất nhiều loa kèn. ‘Với lòng tiếc thương tận đáy lòng. Từ Hercule Poirot.’ Chà! Quả là tấn hài kịch.”

Và ông lại bỏ đi.

“Tôi mới trò chuyện đầy chua chát với cô Rice,” lần tiếp theo ông kể. “Cô ta đã vận đồ đen chỉnh tề. Cô bạn thân tội nghiệp – quả là một thảm kịch! Tôi đã rên rỉ đầy cảm thông. Nick, cô ta nói, lúc nào cũng vui vẻ, sôi nổi. Không thể tưởng tượng nổi rằng cô ấy đã chết. Tôi đồng ý ngay, tôi nói. ‘Thật là trớ trêu khi thần chết lại bắt đi những con người như thế. Chỉ còn những kẻ già nua và vô dụng được chừa lại.’ Ôi! Chà chà! Tôi lại rên lên.”

“Ông có vẻ thích thú với chuyện này nhỉ,” tôi yếu ớt lầm bầm.

“Không hề. Đây là một phần kế hoạch của tôi, thế thôi. Để hoàn thành vở kịch một cách thuyết phục, anh phải nhập tâm vào nó. Chà, và rồi, sau khi thể hiện sự tiếc thương đúng mực xong, cô Rice nói đến một vấn đề gần hơn. Cô ta thao thức cả đêm nghĩ về những viên chocolate đó. Điều đó không thể – không thể được. ‘Thưa cô,’ tôi nói, ‘không phải là không thể đâu. Cô có thể xác nhận điều đó trong báo cáo phân tích.’ Rồi cô ta nói, giọng run rẩy cực kì, Ông nói nó là… á phiện đúng không? Tôi tán thành. Rồi cô ta thốt lên, ‘Ôi Chúa ơi. Tôi chẳng hiểu gì cả.’“

“Có lẽ điều đó là đúng.”

“Cô ta hiểu rất rõ rằng mình đang gặp nguy hiểm. Cô ta rất thông minh. Tôi đã nói với anh rồi đấy. Đúng vậy, cô ta đang gặp nguy hiểm và ý thức rõ điều ấy.”

“Vậy mà theo tôi thấy thì dường như ban đầu ông không nghĩ cô ta là hung thủ.”

Poirot cau mày. Thái độ hào hứng của ông xẹp bớt.

“Những gì anh vừa nói khá là thâm thúy đấy Hastings. Không, đối với tôi thì – bằng một cách nào đó dường như mọi chuyện không ăn khớp với nhau. Những vụ án này thứ nổi bật nhất ở chúng là sự khôn ngoan gian xảo, đúng không nào? Thế nhưng câu trả lời lại không gian ngoan chút nào – nó vô cùng cơ bản, dễ dàng, rõ ràng. Không, không hợp lí lắm.”

Ông ngồi xuống bên bàn.

“Vậy đấy – cùng xem xét lại những dữ kiện nào. Có ba trường hợp. Có khả năng hộp chocolate được cô Rice và Lazarus mang tới. Trong trường hợp đó một trong hai hoặc cả hai người đều có tội. Và cuộc điện thoại được cho là từ cô Nick chỉ đơn thuần và dễ hiểu là do họ bịa ra. Rất đơn giản – câu trả lời rõ ràng nhất.

“Trường hợp thứ hai: Hộp chocolate còn lại – hộp đến bằng đường bưu điện. Người gửi có thể là bất cứ ai. Các đối tượng tình nghi trong danh sách từ A đến J. đều có thể làm chuyện đó. (Anh còn nhớ chứ? Phạm vi nghi ngờ rất rộng). Nhưng, nếu đó là hộp tẩm độc, tại sao phải thực hiện cuộc điện thoại kia làm gì? Tại sao phải làm mọi việc rối rắm thêm với hộp chocolate thứ hai?”

Tôi yếu ớt lắc đầu. Khi cái đầu đã nóng đến 39 độ thì tôi thấy mọi cố gắng làm tình thế rối rắm hơn đều vô ích và không cần thiết.

“Trường hợp thứ ba: Một hộp chocolate tẩm độc đã bị đánh tráo với hộp chocolate vô tội của cô Rice. Trong trường hợp này cuộc điện thoại là một hành động khéo léo và hợp lí. Cô Rice đã đóng vai trò người thế mạng. Cô ta đã bị lợi dụng. Vậy là trường hợp thứ ba nghe hợp lí nhất – nhưng, chao ôi, cũng là cái khó thực hiện nhất. Làm sao hắn đánh tráo chiếc hộp đúng thời điểm được? Nhân viên phục vụ có thể đã mang hộp chocolate lên lầu ngay lập tức – có một trăm lẻ một trở ngại có thể xảy ra khiến cái hộp không tài nào bị đánh tráo được. Không, nghe không có lí chút nào.”

“Trừ phi người đó là Lazarus,” tôi nói.

Poirot nhìn tôi.

“Anh đã bị sốt, anh bạn à. Nó đã trở nặng hơn đúng không?”

Tôi gật đầu.

“Thật lạ lùng thay, tăng thêm vài độ có lẽ đã kích thích trí khôn của anh. Anh đã nêu ra một giả định cực kỳ đơn giản. Đơn giản đến mức tôi đã không nghĩ đến nó. Nhưng nó mở ra một loạt tình huống gây tò mò khác. Anh Lazarus, người bạn yêu dấu của cô Rice, lại tìm mọi cách để cô ta bị treo cổ. Nó mở ra nhiều khả năng rất đáng chú ý. Nhưng sẽ phức tạp đây – cực kì phức tạp.”

Tôi nhắm mắt lại. Tôi mãn nguyện vì đã có một nhận xét thông minh, nhưng không muốn nghĩ đến những thứ phức tạp nữa. Tôi chỉ muốn ngủ thôi.

Poirot hình như vẫn tiếp tục nói, nhưng tôi không nghe nổi nữa. Giọng ông nghe mơ màng êm ái…

Chiều muộn tôi mới gặp lại ông ấy.

“Kế hoạch nho nhỏ của tôi đã giúp tiệm hoa mua may bán đắt,” ông thông báo. “Ai cũng đặt hoa viếng cả. Ông Croft, anh Vyse, Trung tá Challenger…”

Cái tên cuối bật lên sự áy náy trong lòng tôi.

“Nghe này, Poirot,” tôi nói. “Ông phải chừa anh ấy ra khỏi vụ này. Anh chàng tội nghiệp, anh ta sẽ bị đau khổ đến mụ mẫm đầu óc. Điều đó không công bằng.”

“Anh luôn có thiện cảm với anh chàng đó, Hastings à.”

“Tôi quý anh ấy. Một chàng trai đúng đắn đường hoàng. Ông phải cho anh ta biết về bí mật này.”

Poirot lắc đầu.

“Không được, bạn tôi. Tôi không đặt ra ngoại lệ được.”

“Nhưng ông không nghĩ anh ta có nhúng tay vào vụ án mà?”

“Tôi không loại trừ một ai hết.”

“Hãy nghĩ xem anh ấy đang đau đớn đến chừng nào.”

“Trái lại thì, tôi thích nghĩ rằng mình đang chuẩn bị một bất ngờ hạnh phúc cho anh ấy. Phút trước đinh ninh rằng người mình yêu đã chết – phút sau nhận ra rằng cô ấy còn sống! Một cảm giác độc nhất vô nhị – tuyệt vời.”

“Ông đúng là lão già xấu tính. Anh ta sẽ giữ bí mật được mà.”

“Tôi không tin chắc đâu.”

“Anh ta có một tâm hồn ngay thẳng. Tôi dám chắc điều đó.”

“Việc giữ bí mật còn khó hơn. Giữ bí mật là bộ môn nghệ thuật đòi hỏi nhiều lời dối trá được kể ra đầy khéo léo, kết hợp với khả năng diễn kịch và nhập tâm vào nó. Trung tá Challenger có giả vờ như không biết gì được không? Nếu anh ta đúng như những gì anh nói, thì không tài nào giả vờ được đâu.”

“Vậy nên ông sẽ không nói cho anh ta biết?”

“Hẳn là tôi không muốn làm lộ kế hoạch nhỏ của mình chỉ vì lí do cảm xúc của ai đó. Chúng ta đang chơi đùa giữa sự sống và cái chết đấy, bạn thân mến à. Đằng nào thì đau khổ là trải nghiệm tốt cho con người mà. Nhiều linh mục nổi tiếng của nước Anh đã nói thế – thậm chí Giám mục cũng nói thế, nếu tôi không lầm.”

Tôi không cố thuyết phục ông nữa. Theo tôi thấy thì Poirot đã quyết như đinh đóng cột.

“Tôi sẽ không ăn vận đẹp đẽ cho bữa tối,” ông lẩm bẩm. “Vì tôi đang là một ông già đau khổ. Đó là vai diễn của tôi, anh hiểu chứ. Lòng tự tin của tôi đã sụp đổ – tôi đang tan nát cõi lòng. Tôi đã thất bại. Tôi sẽ không ăn tối – không còn muốn ăn gì cả. Tôi nghĩ đó là thái độ hợp lí. Ở phòng riêng của mình tôi sẽ ăn ít bánh mì ngọt và bánh su phủ chocolate (họ gọi nó như thế), may mà tôi đã tiên liệu trước và ra cửa hàng mua. Còn anh thì sao?“

“Chắc thêm vài viên thuốc ký ninh nữa, tôi nghĩ vậy.” tôi rầu rĩ đáp.

“Chao ôi, Hastings đáng thương của tôi. Nhưng lạc quan lên nào anh bạn, ngày mai anh sẽ khỏe lại thôi.”

“Có lẽ vậy. Thường những cơn sốt này chỉ kéo dài hai mươi bốn tiếng thôi.”

Tôi không nghe tiếng ông trở về phòng. Chắc lúc đó tôi đã ngủ say.

Khi tỉnh giấc, tôi thấy ông đang ngồi ở bàn viết. Trước mặt ông là một mảnh giấy nhàu nhĩ đã được vuốt thẳng. Tôi nhận ra đó là tờ danh sách các đối tượng tình nghi – từ A. đến J. – mà Poirot đã viết rồi vò nát nó vứt đi.

Ông gật đầu thay lời đáp cho suy nghĩ không thốt thành lời của tôi.

“Đúng vậy, bạn tôi. Tôi đã moi nó lại. Tôi đang xem xét nó ở một góc độ mới và lập ra một bản câu hỏi có liên quan đến từng người. Có những câu có thể không liên quan đến vụ án – chỉ là những điều tôi chưa giải đáp được – những thứ còn bỏ ngỏ mà tôi muốn vắt bộ óc của mình để tìm ra.”

“Ông làm đến đâu rồi?”

“Tôi vừa xong. Anh có muốn nghe qua không? Anh đã đủ khỏe chưa?”

“Vâng, thật ra tôi đã thấy khỏe hơn hẳn rồi.”

“Tuyệt quá! Tốt lắm, tôi sẽ đọc lên cho anh nghe. Sẽ có những đoạn mà thể nào anh cũng thấy hơi ngây ngô.”

Ông hắng giọng.

A. Ellen – Vì sao bà ta ở trong nhà mà không ra ngoài xem pháo hoa? (Điều này bất thường, dựa trên bằng chứng và sự ngạc nhiên của quý cô). Bà ta có nghi ngờ ai không? Bà ta có lén cho ai (ví dụ như J). vào nhà không? Bà ta có nói sự thật về ngăn tủ bí mật không? Nếu điều đó là thật, tại sao bà ta không nhớ nổi nó nằm ở đâu? (Quý cô khẳng định rằng nó không tồn tại – và cô ấy lẽ ra là người biết rất rõ). Nếu bà ta bịa ra ngăn tủ bí mật thì vì lí do gì? Bà ta đã đọc những lá thư tình của Micheal Seton chưa, hay là bà ta thật lòng ngạc nhiên khi nghe tin cô Nick đã đính hôn?

B. Ông chồng của bà ta – Ông ta có khờ khạo như vẻ ngoài không? Ông ta có biết những gì Ellen biết không, dù thông tin đó là gì? Ông ta có vấn đề tâm thần theo bất kì cách nào không?

C. Đứa nhỏ – Sự thích thú với máu me của nó có tự nhiên và hợp lí với độ tuổi và tâm sinh lý của nó không, hay được xem như bệnh hoạn? Nếu bệnh hoạn thì có phải tính cách đó được thừa hưởng thì cha hay mẹ? Nó đã bao giờ thử bắn bằng súng đồ chơi chưa?

D. Ông Croft là ai? – Ông ta thật ra đến từ đâu? Ông ta có gửi bức di chúc đi đúng như lời hứa không? Nếu không gửi thì vì động cơ gì?”

E. Bà Croft – Tương tự như trên. Ông bà Croft là ai? Họ có đang trốn tránh điều gì đó không – nếu có thì lí do gì? Họ có liên quan gì đến gia đình Buckley không?

F. Cô Rice – Cô ta có biết chút gì về cuộc đính hôn giữa Nick và Micheal Seton không? Cô ta đoán ra điều đó hay đã đọc những lá thư họ viết qua lại? (Trong trường hợp đó, cô ta chắc chắn đã biết rằng Seton đã để lại tài sản cho Nick). Cô ta có biết rằng mình là người thừa kế hợp pháp của Nick không? (Điều này tôi nghĩ rất có khả năng. Có lẽ Nick đã tự mình kể chuyện đó, nói thêm rằng chẳng có mấy tài sản để thừa kế đâu). Việc Trung tá Challenger bật mí về chuyện Lazarus bị thu hút bởi cô Nick có thật không? (Điều này có thể giải đáp được sự thiếu thân thiện giữa hai cô bạn thể hiện khá rõ vài tháng qua). Ai là ‘cậu bạn’ cung cấp ma túy được nhắc tới trong lá thư của cô ta? Có phải người đó là J. không? Tại sao cô ta lại bị ngất trong chính phòng này ngày hôm kia? Có phải do điều gì đó ta nói – hoặc điều gì đó cô ta nhìn thấy chăng? Câu chuyện về cuộc điện thoại nhờ mua chocolate của cô ta có thật không – hay chỉ là lời nói dối suông. Câu nói ‘Những chuyện còn lại thì đúng, nhưng lần này không thể nào’ có ý gì? Nếu cô ta thật sự không gây án, thì cô ta đang giấu giếm chuyện gì?

“Anh thấy không,” Poirot đột ngột chen ngang, “những câu hỏi liên quan đến cô Rice nhiều vô kể. Từ đầu đến cuối, cô ta vẫn còn là một ẩn số. Và điều đó buộc tôi phải kết luận. Một là cô Rice là hung thủ, hai là cô ta biết – hoặc có thể nói là cô ta nghĩ mình biết – hung thủ là ai. Nhưng những gì cô ta biết có chính xác không? Cô ta biết hay chỉ đơn thuần nghi ngờ thôi? Và làm cách nào để ép cô ta khai được?”

Ông thở dài.

“Chà, thôi tôi sẽ đọc tiếp danh sách câu hỏi.

G. Anh Lazarus – Đáng tò mò thật – gần như anh ta không dính tới câu hỏi nào – trừ một câu tối quan trọng, ‘Anh ta có đánh tráo hộp chocolate không?’ Ngoài ra tôi chỉ có một câu hỏi ngoài lề, nhưng vẫn ghi nó ở đây. Tại sao Lazarus trả đến năm mươi bảng cho một bức tranh chỉ đáng giá hai mươi bảng?

“Có lẽ anh ta muốn giúp Nick,” tôi gợi ý.

“Anh ta sẽ không làm cách đó đâu. Anh ta là nhà buôn tranh. Anh ta sẽ không bao giờ chịu mua lỗ đâu. Nếu muốn tỏ ra hào phóng, anh ta sẽ cho Nick mượn tiền riêng.”

“Đằng nào cũng không liên quan gì đến vụ án mạng.”

“Vâng, anh nói đúng – nhưng đằng nào thì tôi cũng muốn tìm hiểu. Tôi rất quan tâm đến tâm lý con người, anh biết mà.”

“Giờ ta đến người H.”

H. Trung tá Challenger – Tại sao cô Nick kể chuyện đã đính hôn với một người khác cho anh ta? Điều gì thôi thúc cô ấy kể cho anh ta? Cô ấy không hề kể cho ai khác. Anh ta đã cầu hôn Nick chưa? Mối quan hệ giữa anh ta và ông chú như thế nào?

“Ông chú sao Poirot?”

“Đúng vậy, ông chú bác sĩ. Đó là một nhân vật còn bỏ ngỏ. Liệu tin tức về cái chết của Micheal Seton có được người trong Hải quân biết trước khi công bố ra công chúng không?”

“Tôi không hiểu ông đang hướng tới điều gì Poirot à. Ngay cả khi Challenger biết trước về cái chết của Seton thì cũng chẳng cho ta biết thêm điều gì. Nó đâu cho thấy động lực hợp lí nào để giết người con gái ta yêu thương được.”

“Tôi đồng tình. Những gì anh nói hoàn toàn hợp lí. Chúng chỉ là những thứ tôi đang thắc mắc thôi. Tôi vẫn còn là một chú chó, anh hiểu chứ, đang sục sạo xung quanh và hít hà những thứ không mấy thơm tho!”

I. Anh Vyse – Tại sao anh ta nói rằng cô em họ điên cuồng bám chặt lấy Nhà Kết? Có động cơ nào sau câu nói đó không? Liệu anh ta đã nhận được bức di chúc chưa? Anh ta có thật sự là người trung thực hay không?

Và giờ đến J – Đúng thế, J. vẫn như lần trước tôi viết – một dấu chấm hỏi to tướng. Có một nhân vật nào ngoài danh sách hay không…

“Ôi lạy Chúa! Bạn tôi, có chuyện gì thế?”

Tôi vừa nhảy chồm ra khỏi ghế và rú lên. Tôi chỉ ngón tay run rẩy về phía cửa sổ.

“Một gương mặt, Poirot à!” tôi rú lên. “Một gương mặt in sát cửa kính. Một gương mặt kinh khủng! Nó biến mất rồi… nhưng tôi vừa nhìn thấy nó.”

Poirot tiến đến mở cửa sổ. Ông chồm ra ngoài.

“Không có ai ở ngoài này cả,” ông trầm ngâm nói. “Anh có chắc là mình không tưởng tượng ra nó không Hastings?”

“Tôi khá chắc. Đó là một gương mặt khủng khiếp.”

“Đây là ban công, dĩ nhiên rồi. Ai cũng có thể đến đây dễ dàng nếu muốn nghe lén cuộc trò chuyện của chúng ta. Khi anh miêu tả một gương mặt kinh khủng thì ý anh là gì hả Hastings?”

“Một gương mặt trắng bệch, trừng trừng, gần như không giống con người.”

“Bạn tôi à, chắc do cơn sốt của anh rồi. Một gương mặt, thì đúng. Một gương mặt xấu xí, thì đúng. Nhưng một gương mặt không giống con người – thì không thể. Những gì anh thấy chắc là do hắn ịn sát gương mặt vào tấm kính thôi – cái đó cộng với cơn sốc do việc thấy nó đột ngột xuất hiện.”

“Đó là một gương mặt kinh khủng,” tôi khăng khăng nói.

“Không phải là mặt một người anh quen biết?”

“Không hề.”

“Hừm… nhưng cũng có thể! Tôi ngờ rằng dưới tình huống này anh không nhận ra nổi. Tôi nghĩ vậy – đúng vậy, tôi rất nghi…”

Ông trầm ngâm sắp xếp lại giấy tờ.

“Ít nhất cũng có một điểm tốt. Nếu chủ nhân gương mặt đó nghe lén, nãy giờ ta cũng không tiết lộ gì đến chuyện Nick vẫn còn sống và khỏe mạnh. Dù cho kẻ nghe lén có thu thập được gì thì bí mật đó vẫn được bảo toàn.”

“Nhưng chắc là,” tôi nói, “kết quả của… Ờ… mưu kế thông thái này của ông đến giờ hơi gây thất vọng một chút. Nick đã qua đời và không có gì tiến triển vượt bậc thêm nữa!”

“Tôi chưa mong chờ chúng xảy ra. Tôi đã cho thời hạn là hai mươi bốn tiếng. Bạn tôi à, ngày mai sẽ có nhiều chuyện xảy ra. Nếu không – nếu không thì từ đầu đến giờ tôi đã sai bét. Ngày mai thư sẽ đến, anh biết đấy. Tôi vẫn giữ hy vọng vào những lá thư ngày mai.”

Sáng hôm sau khi thức giấc, người tôi vẫn yếu ớt nhưng đã hạ sốt. Poirot và tôi dùng bữa sáng trong phòng khách.

“Sao?” Tôi trêu đùa khi thấy ông soạn thư. “Những lá thư có đúng như ông kì vọng không?”

Poirot vừa mở hai phong thư rõ ràng chỉ chứa hóa đơn và không trả lời tôi. Tôi thấy ông có vẻ hơi xuống tinh thần chứ không tự mãn như mọi ngày.

Tôi mở thư của chính mình. Lá đầu tiên là thư mời đến một buổi họp mặt tâm linh.

“Nếu mọi chuyện thất bại, ta nên đến gặp các nhà tâm linh,” tôi nói vu vơ. “Tôi luôn tự hỏi sao họ không thí nghiệm thêm về việc này. Linh hồn của nạn nhân hiện lên và chỉ ra hung thủ. Đó là một bằng chứng.”

“Điều đó chẳng giúp ích mấy cho chúng ta đâu,” Poirot lơ đãng nói. “Tôi ngờ rằng Maggie Buckley cũng chẳng biết ai giết cô ấy đâu. Nếu có thể lên tiếng chắc cô ấy cũng chẳng có gì giá trị để kể chúng ta nghe. Đây. Điều này lạ thật.”

“Cái gì vậy?”

“Anh vừa nhắc đến linh hồn trò chuyện, và ngay lúc đó tôi mở lá thư này.”

Ông ném nó qua cho tôi. Lá thư gửi từ bà Buckley và nội dung như sau:

Từ Langley Rectory.

Ông Poirot thân mến, Khi về đến nhà tôi đã nhận được một lá thư do con gái đáng thương của tôi viết khi con bé vừa đặt chân tới St Loo. Tôi e là trong thư không có gì khiến ông chú ý, nhưng tôi nghĩ có lẽ ông sẽ muốn đọc qua nó.

Cảm ơn về lòng tốt của ông,

Thân gửi,

Jean Buckley.

Lời kết thư khiến cổ họng tôi nghẹn lại. Những lời của bà ấy viết quá đỗi lịch thiệp và hoàn toàn không có chút dấu vết u buồn nào của thảm kịch vừa qua.

Mẹ kính yêu, con đã đến nơi an toàn. Chuyến đi khá thoải mái. Chỉ có hai người ở chung xe suốt đến tận Exeter.

Thời tiết ở đây rất dễ chịu. Nick trông vẫn khỏe và tươi tỉnh – có lẽ hơi kích động một chút, nhưng con không hiểu sao em ấy đã gửi điện tín như thế. Thứ Ba cũng chẳng khác gì.

Không còn tin gì nữa ạ. Chúng con chuẩn bị dùng trà với hàng xóm. Họ là người Úc và mới thuê căn nhà nhỏ ngay cổng để ở. Nick bảo rằng họ rất tử tế nhưng hơi phiền. Rice và anh Lazarus sẽ ghé qua chơi. Anh ta là nhà buôn tranh. Con sẽ gửi lá thư này vào hòm thư kế bên cổng, rồi bưu tá sẽ mang nó đi. Ngày mai con sẽ viết tiếp.

Con gái yêu của mẹ,

Maggie.

TB. – Nick nói rằng em ấy kích động như vậy là có lí do. Em ấy sẽ kể cho con nghe sau bữa tiệc trà. Em ấy có vẻ rất kì lạ và bức bối.

“Lời kể của người chết,” Poirot lặng lẽ nói. “Và nó cho ta biết – không gì cả.”

“Hòm thư kế bên cổng,” tôi vu vơ nhận xét. “Đó là nơi ông Croft nói đã gửi bức di chúc đi.”

“Đúng – ông ta đã nói thế. Tôi băn khoăn. Tôi đang rất băn khoăn!”

“Trong đống thư còn lại của ông không còn gì thú vị sao?”

“Không. Hasting à, tôi đang rất bực bội. Tôi đang mò mẫm trong bóng đêm. Vẫn còn hoàn toàn mù mờ. Tôi chẳng hiểu gì cả.”

Đúng lúc đó điện thoại reo lên. Poirot đến nhấc máy.

Ngay lập tức tôi thấy mặt ông biến đổi. Ông kiềm chế không bộc lộ điều đó qua hành động, nhưng tôi thấy rõ sự phấn khích tột cùng ông đang cố giấu.

Những gì ông nói trong cuộc điện đàm không thể hiện chút thông tin gì, thế nên tôi không đoán nổi nội dung của nó.

Tuy nhiên chẳng mấy chốc sau ông kết thúc với câu “Tốt lắm. Cảm ơn anh,” rồi đặt ống nghe xuống tiến tới chỗ tôi đang ngồi. Mắt ông lấp lánh đầy háo hức.

“Bạn tôi ơi,” ông nói. “Tôi đã nói gì với anh nào? Đã bắt đầu có chuyển biến rồi.”

“Chuyện gì vậy?”

“Charles Vyse vừa mới gọi. Anh ta báo rằng sáng nay mới nhận được một lá thư qua đường bưu điện. Đó là bức di chúc được kí bởi em họ anh ta, cô Buckley, và đề ngày gửi là ngày 25 tháng Hai.”

“Cái gì? Bức di chúc đó sao?”

“Chắc chắn là nó.“

“Nó đã xuất hiện sao?”

“Vào thời điểm phù hợp nhất, Không phải sao?“

“Ông có nghĩ anh ta nói sự thật không?”

“Hay là tôi nên nghĩ rằng ngay từ đầu anh ta đã giữ bức di chúc? Ý của anh là vậy đúng không? Chà, chuyện đó cũng đáng nghi lắm. Nhưng tôi chỉ khẳng định được một điều; tôi đã bảo anh rằng một khi cô Nick được thông báo đã qua đời, ta sẽ có thêm nhiều tiến triển – và chúng đã bắt đầu xảy ra!”

“Kì diệu thật,” tôi nói, “Ông đã nói đúng. Tôi đoán rằng bức di chúc này viết rằng Frederica Rice là người thừa kế hợp pháp?”

“Anh Vyse không đả động gì đến nội dung bức di chúc. Anh ta quá cẩn trọng. Nhưng cũng ít có lí do để nghi ngờ rằng đây là bức di chúc hoàn toàn khác. Anh ta báo với tôi rằng di chúc được Ellen Wilson và chồng bà ta làm chứng.”

“Vậy chúng ta quay trở về với vấn đề cũ,” tôi nói. “Frederica Rice.”

“Nhân tố bí ẩn!”

“Frederica Rice,” tôi vô thức lẩm bẩm. “Nó là cái tên hay.”

“Hay hơn cách mà bạn bè gọi cô ta. Freddie,” ông nhăn mặt, “Nghe không hay lắm đối với một thiếu nữ.”

“Chẳng có mấy cách gọi tắt cho cái tên Frederica,” tôi bảo. “Không giống như tên Margaret có đến cả tá cách gọi tắt – Maggie, Margot, Madge, Peggie…”

“Cũng đúng. Chà, Hastings, giờ anh đã hài lòng chưa? Khi đã có tiến triển?”

“Vâng, tất nhiên. Nói tôi nghe, ông có dự đoán chuyện này sẽ xảy ra không?”

“Không – không hẳn. Tôi không mong chờ chính xác chuyện gì cả. Tôi chỉ nói rằng sau khi có một kết quả cụ thể, những nguyên nhân gây nên kết quả đó sẽ tự mình lộ diện.”

“Vâng,” tôi thận trọng tán đồng.

“Trước khi điện thoại reo tôi tính nói gì ấy nhỉ?” Poirot nghĩ ngợi. “Ồ, đúng rồi, lá thư của cô Maggie. Tôi muốn đọc lại nó lần nữa. Sâu trong tâm trí tôi vừa mách bảo có điều gì đó đáng xem xét lại.”

Tôi nhặt lá thư từ chỗ vừa ném xuống và đưa nó cho Poirot.

Ông đọc lại lá thư. Tôi băng ngang qua phòng, nhìn ra cửa sổ và ngắm mấy chiếc du thuyền đua nhau lướt trong vịnh biển.

Bất thần, tôi giật bắn mình khi nghe một tiếng rú ai oán. Tôi quay phắt lại. Poirot đang vùi đầu vào hai bàn tay và lắc lư người tới lui, rõ là đang đau khổ tột cùng.

“Ôi!” Ông rên lên. “Nhưng tôi đã bị che mắt – hoàn toàn che mắt.”

“Có chuyện gì vậy?”

“Tôi đã nói vụ án này phức tạp ư? Khó hiểu ư? Nhưng không. Nó đơn giản vô cùng – quá đơn giản. Và tôi đã quá khổ sở nhưng không nhìn ra gì cả – không một điều gì.”

“Trời đất ơi Poirot, ý tưởng nào vừa đột ngột lóe lên trong đầu ông thế?”

“Khoan, khoan – đừng nói gì cả! Tôi phải sắp xếp lại các luận điểm của mình. Sắp xếp lại chúng với góc nhìn mới của phát kiến kì diệu này.”

Ông chộp lấy bản câu hỏi và lặng thinh lướt qua một lượt, môi mấp máy không ngừng. Một hai lần ông gật đầu dứt khoát.

Và rồi ông đặt danh sách xuống, tựa người vào lưng ghế và nhắm mắt lại. Tôi tưởng cuối cùng ông ấy đã thiếp đi.

Đột nhiên ông thở dài và mở mắt.

“Nhưng rất đúng!” ông nói. “Mọi thứ đều ăn khớp với nhau! Tất cả những điều khiến tôi băn khoăn. Tất cả những thứ mà tôi cảm thấy hơi bất thường. Chúng đều trở nên hợp lí.”

“Ý ông là – ông đã hiểu ra mọi thứ sao?”

“Gần như mọi thứ. Tất cả những gì quan trọng. Có vài chỗ tôi đã suy luận đúng. Vài thứ khác tôi đã đi xa sự thật đến mức lố bịch. Nhưng giờ mọi thứ đã sáng tỏ. Hôm nay tôi sẽ đánh điện tín để hỏi hai câu hỏi – những câu trả lời tôi đã luận ra rồi – ở trong này!” Ông vỗ lên trán.

“Và khi nào ông mới nhận được câu trả lời?” Tôi tò mò hỏi.

Ông đứng bật dậy.

“Bạn tôi, anh có nhớ rằng cô Nick từng nói muốn tổ chức diễn kịch ở Nhà Kết không? Tối nay ta sẽ dàn dựng một vở kịch ở Nhà Kết. Nhưng vở kịch sẽ do Hercule Poirot chủ trì. Quý cô Nick sẽ đóng một vai trong đó.” Ông đột nhiên nở nụ cười. “Anh hiểu không Hastings, sẽ có một con ma trong vở kịch này. Đúng vậy, một con ma. Nhà Kết chưa bao giờ chứng kiến con ma nào. Tối nay sẽ có. Không,” ông ngăn lại khi tôi tính đặt câu hỏi. “Tôi sẽ không tiết lộ thêm gì nữa. Tối này ta sẽ công diễn vở kịch của mình, Hastings à – và lật mở sự thật. Nhưng giờ có rất nhiều thứ cần làm – nhiều thứ cần chuẩn bị.”

Ông vội vã chạy ra khỏi phòng.

« Lùi
Tiến »