Buổi thẩm tra diễn ra rất ngắn gọn – đi thẳng vào vấn đề. Họ đưa ra bằng chứng của cuộc điều tra, rồi tôi nêu chứng cứ lúc tìm thấy cái xác. Tiếp đó là các thông số y tế.
Buổi thẩm tra sẽ bị tạm hoãn trong một tuần.
Vụ án mạng ở St Loo đã trở thành tâm điểm báo chí. Thậm chí nó còn vượt mặt tin “Seton vẫn còn mất tích. Số phận của chàng phi công mất tích chưa rõ.”
Giờ thì Seton đã chết và đã được tưởng nhớ, một tin giật gân mới đã thế chỗ. Vụ án bí ẩn ở St Loo đã ban ơn cho cánh nhà báo cạn ý tưởng trong các số báo tháng Tám.
Sau buổi thẩm tra, tôi tránh mặt các phóng viên và đi gặp Poirot. Chúng tôi cùng phỏng vấn mục sư Giles Buckley và vợ ông.
Cha mẹ của Maggie là một cặp rất đẹp đôi, thanh tao và giản dị.
Bà Buckley là một người phụ nữ đức hạnh, cao dong dỏng, nước da trắng và có nét miền Bắc rất rõ. Chồng bà thì nhỏ con, tóc đã bạc và có cung cách nhỏ nhẹ đáng mến.
Họ là những phụ huynh đáng thương hoàn toàn sững sờ trước tấn thảm kịch đổ ập xuống gia đình và cướp đi người con gái rất mực yêu thương. Họ gọi cô bé là “Maggie của chúng tôi”.
“Đến giờ tôi vẫn khó chấp nhận nổi,” ông Buckley nói. “Nó là một đứa trẻ ngoan hiền, ông Poirot à. Luôn lặng lẽ và vị tha – lúc nào cũng nghĩ cho người khác. Ai mà lại muốn hãm hại nó chứ?”
“Tôi đọc bức điện tín mà không tin nổi,” bà Buckley nói. “Vì chúng tôi mới chào tạm biệt con bé sáng hôm đó thôi mà.”
“Giữa sự sống luôn hiện diện cái chết,” ông chồng lẩm bẩm.
“Đại tá Weston rất tử tế,” bà Buckley nói. “Ông ấy cam đoan với chúng tôi rằng sẽ điều tra đến nơi đến chốn hung thủ của vụ án này. Chắc chắn hắn là một tên điên loạn. Không còn lời giải thích hợp lí nào khác.”
“Thưa bà, tôi chẳng thể nào diễn tả được lòng thương tiếc trước nỗi đau của bà – và sự mến phục dành cho lòng dũng cảm của bà!”
“Đau khổ đâu mang Maggie về lại cho chúng tôi được.” bà Buckley buồn bã nói.
“Vợ của tôi thật tuyệt vời,” ông mục sư nói. “Bà ấy luôn có nhiều niềm tin và dũng khí hơn tôi. Mọi thứ thật… thật quá điên cuồng, ông Poirot à.”
“Tôi biết – tôi biết thưa ngài.”
“Ông là một thám tử vĩ đại phải không, ông Poirot?” Bà Buckley lên tiếng.
“Người ta bảo thế, thưa bà.”
“Ồ! Tôi biết chắc mà. Ngay cả ở vùng quê hẻo lánh chúng tôi còn nghe đến danh ông. Ông sẽ tìm ra sự thật chứ, ông Poirot?”
“Tôi sẽ không bao giờ nghỉ ngơi cho đến khi thành công, thưa bà.”
“Ông Poirot, ông sẽ thấy thôi,” vị mục sư run rẩy. “Quỷ dữ sẽ luôn bị trừng phạt.”
“Đúng là kẻ ác sẽ luôn bị trừng phạt, thưa ngài. Nhưng thỉnh thoảng sự trừng phạt rất âm thầm.”
“Ý ông là sao, ông Poirot?”
Poirot chỉ lắc đầu.
“Cháu Nick bé bỏng đáng thương,” bà Buckley nói. “Trong tất cả mọi người, tôi thấy tội nghiệp cho con bé nhất. Tôi đã nhận một lá thư cực kỳ xúc động. Con bé nói rằng nó cảm thấy như đã mời Maggie đến với án tử của nó.”
“Nghe u ám quá,” ông Buckley nói.
“Vâng, nhưng em hiểu con bé cảm thấy như thế nào. Ước gì họ cho em vào thăm con bé. Thật kì lạ khi ngay cả họ hàng cũng không được vào thăm.”
“Các bác sĩ và y tá rất nghiêm khắc,” Poirot đánh lạc hướng. “Họ đã đặt ra luật lệ và vì thế, không thể thay đổi được. Và chắc hẳn họ lo rằng cô bé sẽ bị xúc động mạnh – theo đúng lẽ thường – khi gặp ông bà.”
“Có thể,” bà Buckley nghi hoặc nói. “Nhưng tôi không thích bệnh xá chút nào. Sẽ tốt cho Nick hơn nhiều nếu họ cho con bé về ở với tôi – tránh xa nơi này.”
“Cũng có thể – nhưng tôi e rằng họ sẽ không đồng ý đâu. Đã bao lâu rồi ông bà chưa gặp quý cô Buckley?”
“Lần cuối tôi gặp con bé là mùa thu năm ngoái. Con bé đã ghé qua Scarborough. Maggie đến chơi cả ngày với con bé, rồi cả hai về nhà và ngủ qua đêm ở nhà chúng tôi. Con bé thật xinh xắn – tuy nhiên tôi không ưa mấy đứa bạn của Nick lắm. Và cách mà cuộc sống con bé rẽ hướng – chà, cũng chẳng phải lỗi của đứa trẻ tội nghiệp đó. Con bé chẳng được dạy dỗ đàng hoàng chút nào.”
“Nhà Kết là một căn nhà kì lạ,” Poirot trầm ngâm nói.
“Tôi không có cảm tình với nó chút nào,” bà Buckley thừa nhận. “Chưa bao giờ. Có điều gì đó rất sai ở căn nhà đó. Tôi rất không ưa ngài Nicholas. Ông ta làm tôi ớn lạnh.”
“Tôi e rằng ngài Nicholas không phải là người tốt,” ông chồng lên tiếng. “Nhưng ông ta có cái duyên rất thu hút.”
“Em chưa cảm thấy thế bao giờ,” Bà Buckley nói. “Căn nhà đó toát ra vẻ độc địa sai trái. Em ước gì chưa bao giờ để Maggie của chúng ta đến đó.”
“À! Ước gì,” ông Buckley lắc đầu.
“Chà,” Poirot nói. “Tôi không muốn can thiệp lâu hơn vào chuyện của ông bà. Tôi chỉ muốn gửi đến ông bà lời chia buồn sâu sắc nhất.”
“Ông rất tử tế, ông Poirot ạ. Và chúng tôi thật sự cảm kích với những gì ông đang làm.”
“Khi nào ông bà quay về Yorkshire?”
“Ngày mai. Một chuyến đi thật buồn. Chào tạm biệt, ông Poirot, và cảm ơn ông lần nữa.”
“Những con người giản dị đáng mến,” tôi lên tiếng khi chúng tôi rời đi.
Poirot gật đầu.
“Làm tim ta đau quặn thắt, phải không bạn tôi. một thảm kịch quá vô ích – quá vô nghĩa. Cô gái trẻ đó – À! Nhưng tôi tự trách mình ghê gớm. Tôi, Hercule Poirot có mặt ngay lúc đó nhưng không thể ngăn được vụ án mạng.”
“Không ai có thể ngăn được chuyện đó.”
“Hastings à, anh nói mà không suy nghĩ. Đúng là không người thường nào có thể ngăn được chuyện đó – nhưng Hercule Poirot là người có các tế bào chất xám vượt trội hơn người bình thường. Điều đó có ích gì nếu tôi không làm được những điều mà người thường bó tay?”
“À, dĩ nhiên,” tôi nói. “Nếu ông nghĩ theo hướng đó…”
“Đúng là vậy. Tôi cảm thấy bẽ bàng và thất vọng – hoàn toàn bẽ mặt.”
Tôi cảm thấy sự bẽ mặt của Poirot có nét giống lòng tự cao tự đại một cách kì lạ, nhưng thận trọng không nhận xét gì.
“Và giờ thì,” ông nói. “Đi tiếp thôi. Tới London.”
“London?”
“Đúng thế. Ta có dư thời gian bắt chuyến tàu lúc hai giờ. Mọi chuyện ở đây yên ổn rồi. Quý cô đã được an toàn trong bệnh xá. Không ai có thể làm hại cô ấy. Vì thế những chú chó canh đã có thể rời đi. Có một vài vấn đề tôi muốn kiểm chứng.”
Việc đầu tiên chúng tôi làm khi đến London là đi gặp luật sư của Trung tá Seton, ông Whitfield ở văn phòng Pargiter & Whitfield.
Poirot đã đặt lịch hẹn trước, thế nên tuy đã quá sáu giờ tối, chúng tôi vẫn được ông Whitfield, người đứng đầu hãng luật, tiếp riêng.
Luật sư Whitfield là một người rất lịch sự và gây ấn tượng mạnh. Trước mặt ông là lá thư từ Cảnh sát trưởng và một vị quan chức cấp cao nào đó ở Scotland Yard.
“Chuyện viếng thăm này rất lạ lùng và bất thường, thưa ông… à… Poirot.” Ông vừa nói vừa lau kính.
“Đúng là thế, ông Whitfield ạ. Những vụ án mạng này cũng rất lạ lùng và khác thường, tôi cho là thế.”
“Đúng. Đúng. Nhưng tìm mối liên hệ giữa vụ án mạng này và chúc thư của thân chủ quá cố của tôi có xa vời quá không?”
“Tôi không nghĩ vậy.”
“À! Ông không nghĩ vậy. Chà… trong trường hợp đó thì… và tôi phải thú thật rằng ngài Henry đã yêu cầu rất rõ trong thư – Tôi rất vui lòng được giúp đỡ hết sức, trong quyền hạn của mình.”
“Ông là cố vấn pháp lý của Trung tá Seton quá cố đúng không?”
“Tôi đại diện cho mọi thành viên gia đình Seton, quý ngài thân mến ạ. Chúng tôi đã làm thế – ý tôi là hãng luật của tôi đã làm thế – được hàng trăm năm rồi.”
“Hoàn hảo. Ngài Matthew Seton quá cố có lập di chúc không?”
“Chúng tôi đã lập giúp ông ấy.”
“Và ông ấy đã phân chia tài sản như thế nào?”
“Ông ấy có trao từ thiện một ít cho Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên – nhưng phần lớn tài sản – tôi có thể nói rằng, phần tài sản khổng lồ của ông ấy – được trao toàn quyền cho Trung tá Micheal Seton. Ông ấy không còn họ hàng thân cận nào khác.”
“Ông nói rằng ông ấy để lại rất nhiều tài sản ư?”
“Ngài Matthew quá cố là người giàu thứ nhì ở Anh quốc.” ông Whitfield điềm đạm đáp.
“Ông ấy có quan niệm hơi dị thường phải không nhỉ?”
Ông Whitfield nghiêm nghị nhìn Poirot.
“Một triệu phú, ông Poirot ạ, được phép khác người mà. Ai cũng nghĩ vậy.”
Poirot nhẹ nhàng tiếp nhận lời sửa sai và hỏi một câu khác.
“Tôi được biết rằng ông ấy đã qua đời một cách đột ngột?”
“Cực kì đột ngột. Ngài Matthew có sức khỏe tốt đặc biệt. Tuy vậy, trong người ông có một khối u mà không ai hay biết. Khối u lan tới một khối mô tối quan trọng và ông ấy phải phẫu thuật cấp tốc. Thường những cuộc phẫu thuật kiểu này lúc nào cũng thành công. Nhưng ngài Matthew đã không qua khỏi.”
“Và tài sản của ông ấy được trao lại cho Trung tá Seton.”
“Đúng vậy.”
“Tôi cũng được biết là Trung tá Seton đã lập một bản di chúc trước khi rời khỏi Anh quốc đúng không?”
“Cũng đúng – nếu ông gọi nó là bức di chúc,” ông Whitfield trả lời không vui vẻ lắm.
“Nó hợp lệ chứ?”
“Nó hoàn toàn hợp lệ. Nguyện vọng của bức di chúc cực kì đơn giản và nó đã được chứng kiến theo đúng thông lệ. Vậy nên, nó hoàn toàn hợp lệ.”
“Nhưng ông không tán thành với nó?”
“Quý ngài thân mến ạ, chúng tôi có quyền gì để nói cơ chứ?”
Lúc nào tôi cũng thắc mắc chuyện đó. Tôi đã có cơ hội lập một bức di chúc cực kì đơn giản cho chính mình, và rồi khiếp hãi khi thấy văn phòng luật sư chỉnh sửa nó thành dài dòng và phức tạp kinh khủng.
“Sự thật là,” ông Whitfield nói tiếp, “Vào lúc lập di chúc Trung tá Seton có rất ít tài sản để lại, gần như là không có gì. Anh ấy phụ thuộc hoàn toàn vào tiền trợ cấp từ ông chú. Tôi đoán là anh ta cho rằng viết di chúc như thế nào cũng được.”
Tôi nhủ thầm, nghĩ thế cũng đúng.
“Và nội dung của bức di chúc là gì?” Poirot hỏi.
“Anh ấy để lại mọi tài sản cho người vợ mới hứa hôn, cô Magdala Buckley. Anh ta nhờ tôi làm người thi hành bức di chúc.”
“Vậy thì cô Buckley là người thừa kế?”
“Chắc chắn cô Buckley là người thừa kế.”
“Và trong trường hợp cô Buckley qua đời vào thứ Hai trước thì sao?”
“Trung tá Seton đã qua đời trước cô, nên tiền sẽ về tay người thừa kế hợp lệ trong di chúc của cô ấy – trong trường hợp không lập di chúc thì người họ hàng gần nhất sẽ thừa kế.”
“Tôi dám nói rằng,” ông Whitfield nói thêm với vẻ hân hoan, “khoản thuế tử sẽ lớn khổng lồ. Khổng lồ! Ba cái chết liên tục, ông nhớ chứ.” Ông lắc đầu. “Khổng lồ!”
“Nhưng sau khi trả hết thuế thì vẫn còn nhiều tài sản chứ?” Poirot nhỏ nhẹ hỏi.
“Quý ngài thân mến, tôi đã nói rồi, ngài Matthew là người đàn ông giàu thứ nhì Anh Quốc đấy.”
Poirot đứng dậy.
“Ông Whitfield, cảm ơn ông rất nhiều vì những thông tin ông vừa cung cấp.”
“Không có chi. Không có chi. Tôi hứa sẽ liên lạc với cô Buckley ngay – thật ra tôi nghĩ họ vừa gửi lá thư đi rồi. Tôi sẽ rất vui lòng được hỗ trợ cô ấy.”
“Cô ấy là một thiếu nữ rất trẻ,” Poirot nói, “chắc chắn cần nhiều lời khuyên pháp lý.”
“Tôi chỉ e rằng sẽ có nhiều thợ săn tiền lảng vảng,” ông Whitfield lắc đầu thốt lên.
“Có vẻ là vậy,” Poirot đồng tình. “Chúc một ngày tốt lành, thưa ngài.”
“Chào tạm biệt, ông Poirot. Rất vui được phục vụ ông. Tên ông… à! – rất quen thuộc đối với tôi.”
Ông nói điều này rất vui vẻ – như thể vừa nhận ra điều gì đó rất đáng giá.
“Mọi chuyện đúng y hệt những gì ông đã suy luận, Poirot à,” tôi nói khi cả hai ra ngoài.
“Bạn tôi à, chắc chắn phải như vậy. Không còn khả năng nào khác cả. Giờ chúng ta sẽ ghé nhà hàng Cheshire Cheese để dùng bữa tối sớm với Japp.”
Ở nơi đã hẹn, chúng tôi gặp Thanh tra Japp từ Scotland Yard đang chờ sẵn. Ông ta chào Poirot với vẻ nồng nhiệt hết mức.
“Đã bao năm rồi tôi mới gặp lại ông hả, quý ngài Poirot? Tôi cứ ngỡ ông đang trồng bí ngô ở nông thôn cơ đấy.”
“Tôi đã cố, Japp ạ, tôi đã cố. Nhưng ngay cả khi trồng bí ta cũng không thoát khỏi những vụ án mạng được.”
Ông thở dài. Tôi biết ông đang nghĩ gì – ông nghĩ đến vụ án kì lạ ở công viên Fernly. Tiếc thay lúc đó tôi đang đi xa.
“Và cả Trung tá Hastings nữa,” Japp nói. “Ngài thế nào rồi?”
“Khỏe lắm, xin cảm ơn,” tôi nói.
“Và giờ có thêm án mạng nữa à?” Japp nói tiếp với vẻ bông đùa.
“Anh nói đúng rồi đó – thêm án mạng nữa.”
“Chà, ông cũng đừng nên buồn rầu thế, ông bạn già à.” Japp nói. “Ngay cả khi ông không còn tinh tường nữa – thì, tuổi này rồi ông đâu thể mong chờ mình phong độ giống như thời trai trẻ. Chúng ta ai rồi cũng mụ mẫm dần theo thời gian thôi. Phải để đám thanh niên có cơ hội thể hiện nữa, ông hiểu chứ.”
“Thế nhưng chó già vẫn nắm nhiều mánh lới hơn,” Poirot lầm bầm. “Nó rất sắc sảo. Nó sẽ không bỏ lỡ dấu vết.”
“Ồ! Thì… chúng ta đang nói về người mà, đâu phải chó.”
“Có khác biệt gì nhiều sao?”
“Chà, cũng tùy theo cách ông nhìn nữa. Nhưng ông là người thận trọng, phải không Trung tá Hastings? Nào giờ đã vậy. Trông ông không thay đổi mấy – tóc trên đầu hơi thưa hơn nhưng trên mặt thì rậm rạp hơn bao giờ hết.”
“Hử?” Poirot nói. “Vậy là sao?”
“Ông ấy đang khen ngợi bộ ria mép của ông đấy,” tôi nhẹ nhàng đáp.
“Đúng vậy, hẳn là nó rất quý phái,” Poirot tự mãn vuốt ve bộ ria.
Japp phá ra cười giòn giã.
“Chà,” sau một hai phút ông tiếp, “Tôi đã hoàn thành phần việc ông nhờ. Mấy dấu tay ông gửi cho tôi…”
“Sao?” Poirot nôn nóng nói.
“Chẳng có kết quả gì. Dù chủ nhân của dấu vân tay là ai – kẻ đó vẫn chưa bị chúng tôi tóm lần nào. Mặt khác, tôi đã gọi đến Melbourne và không có ai từng sống ở đó trùng khớp với mô tả.”
“Chà!”
“Thế nên có chuyện gì đó đáng nghi ở đây. Nhưng ông ta không nằm trong số tội phạm.”
“Và chuyện còn lại,” Japp nói tiếp.
“Vâng?”
“Lazarus và con trai có tiếng tăm khá tốt. Trong mua bán thì rất thẳng thắn và uy tín. Nhạy bén, dĩ nhiên – nhưng đó là vấn đề khác. Để làm kinh doanh thì anh phải nhạy bén. Nhìn chung họ không có vấn đề gì. Tuy vậy họ đang gặp khó khăn – ý tôi là trong vấn đề tài chính.”
“Ồ! Thật thế sao?”
“Vâng – thị trường tranh sụt giảm đã ảnh hưởng đến họ nặng nề. Và cả đồ nội thất cổ nữa. Hiện nay đồ nội thất hiện đại đang là mốt. Họ mới khai trương cơ sở mới năm ngoái và – chà, như tôi nói đấy, cũng không xa tình cảnh phá sản lắm đâu.”
“Tôi biết ơn anh nhiều lắm.”
“Có gì đâu mà. Mấy chuyện này không phải là sở trường của tôi, ông biết đấy. Nhưng vì ông muốn biết nên tôi đã quyết tâm tìm hiểu. Lúc nào cũng có cách moi móc thông tin.”
“Anh bạn Japp tốt bụng, tôi phải làm sao nếu không có anh đây?”
“Ồ! Đừng lo mà. Lúc nào tôi cũng sẵn lòng giúp đỡ bạn cũ. Ông đã cùng tôi phá nhiều vụ án thú vị ngày trước rồi, nhớ không?”
Tôi chợt nhận ra rằng lần này Thanh tra Japp đang trả ơn cho Poirot, người đã giúp ông phá nhiều vụ án hóc búa.
“Vâng – quả là những ngày huy hoàng.”
“Tôi không ngại thỉnh thoảng bàn luận với ông, ngay cả trong thời gian này. Có thể phương pháp của ông đã cũ, nhưng đầu óc ông còn hoạt động minh mẫn lắm, Poirot à.”
“Còn câu hỏi còn lại của tôi thì sao. Về bác sĩ MacAllister ấy?”
“À, ông bác sĩ! Ông ta là bác sĩ chuyên khám cho phụ nữ. Ý tôi không phải là bác sĩ phụ khoa đâu nhé. Ông ấy là bác sĩ thần kinh, khuyên người ta sơn tường phòng ngủ màu tím và trần màu cam, hỏi han họ về ham muốn tình dục – chả hiểu làm gì – và khuyên họ nuôi dưỡng nó. Theo tôi thì ông ta hơi gàn, nhưng lại rất am hiểu phụ nữ. Họ đổ xô đến khám ông ta. Ông bác sĩ được mời qua nước ngoài – làm công tác khám chữa bệnh gì đó ở Paris, theo tôi biết là vậy.”
“Tại sao ông hỏi về bác sĩ MacAllister?” Tôi hoang mang hỏi. Tôi chưa nghe đến cái tên này bao giờ. “Ông ta có liên quan gì?”
“Bác sĩ MacAllister là chú ruột của Trung tá Challenger,” Poirot giảng giải. “Anh còn nhớ đến lần ông ta kể về ông chú làm bác sĩ của mình không?”
“Ông chu đáo quá,” tôi nói. “Ông nghĩ rằng ông ta đã phẫu thuật cho ngài Matthew sao?”
“Ông ta không phải là bác sĩ phẫu thuật đâu nhé,” Japp nói.
“Bạn tôi,” Poirot nói, “Tôi muốn cân nhắc mọi trường hợp. Hercule Poirot là một chú chó khôn ngoan. Chó khôn sẽ lần theo dấu vết, và trong trường hợp đáng tiếc là không có dấu vết nào để theo thì nó sẽ sục sạo xung quanh – tìm những thứ không dễ ngửi cho lắm. Hercule Poirot cũng giống vậy. Và hầu như là – Ồ! Hầu như trong mọi vụ án – tôi sẽ tìm ra điều gì đó!”
“Công việc của chúng tôi chẳng sung sướng gì đâu,” Japp nói. “Hôi như phô mai Thụy Sĩ, ông có nghĩ vậy không? Tôi không ngại nói thế đâu. Không, chẳng phải là công việc nhàn hạ đâu. Và ông còn khổ hơn tôi – ông không có chức danh chính thức, và vì thế ông phải chui rúc vào nhiều xó xỉnh ngầm hơn.”
“Tôi không bao giờ chui rúc cả Japp. Tôi không bao giờ náu mình.”
“Ông không thể,” Japp nói. “Ông quá độc đáo. Một khi người ta đã thấy ông thì không quên được.”
Poirot nghi hoặc nhìn ông ta.
“Tôi nói đùa thôi,” Japp nói. “Đừng bận tâm đến tôi. Uống một ly port không? Tôi không ngại đâu.”
Buổi chiều hôm đó trôi qua yên ả. Chúng tôi nhanh chóng lạc vào vùng đất hồi tưởng. Vụ án này, vụ án kia rồi vụ án nọ. Tôi cũng nói về quá khứ với sự hăng hái nhiệt thành. Ôi những ngày tháng huy hoàng đó. Tôi cảm thấy mình đã có tuổi và dày dặn kinh nghiệm làm sao?
Ông bạn già Poirot đáng thương. Ông vẫn còn bị cắn rứt bởi vụ án – tôi biết chắc điều đó. Trông ông không tràn trề sinh lực như mọi khi. Tôi có cảm giác rằng ông ấy chuẩn bị thất bại – và vụ án mạng của Maggie Buckley sẽ không bao giờ được ghi vào sử sách.
“Can đảm lên nào, bạn tôi,” Poirot nói và vỗ lên vai tôi. “Còn nước còn tát. Đừng làm vẻ mặt rầu rĩ như thế, tôi xin anh đấy.”
“Ổn cả mà. Tôi vẫn ổn cả.”
“Tôi cũng vậy. Và Japp cũng vậy.”
“Chúng ta đều ổn tất,” Japp hài hước tuyên bố.
Chúng tôi chia tay nhau sau câu nói ấm lòng đó.
Buổi sáng hôm sau chúng tôi quay trở về St Loo. Khi về đến khách sạn Poirot gọi đến bệnh xá và đề nghị được nối máy với Nick.
Tôi thấy vẻ mặt ông đột ngột thay đổi – ông suýt đánh rơi ống nghe.
“Gì cơ? Chuyện đó là sao? Làm ơn nói lại đi.”
Ông lắng nghe trong một hai phút. Rồi ông nói:
“Vâng, vâng, tôi sẽ đến ngay.”
Ông quay gương mặt tái nhợt qua nhìn tôi.
“Tại sao tôi lại rời đi, hả Hastings? Ôi lạy Chúa! Tại sao tôi lại đi?”
“Chuyện gì đã xảy ra?”
“Quý cô Nick đang bệnh nặng. Ngộ độc á phiện. Cuối cùng hắn đã ra tay. Ôi lạy Chúa! Ôi lạy Chúa! Tại sao tôi lại bỏ đi?”