Vụ án mạng trên tàu Titanic

Lượt đọc: 29 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
Chương 7
Hành khách hạng hai

❊ ❊ ❊

Mặc lễ phục dạ hội, Foster cùng Thomas Andrews - người thiết kế tàu Titanic đang dẫn đường phía trước - trông như thể đã bị lạc, bước nhầm vào mê cung nhà bếp nằm trên boong D.

Thế nhưng, không một ai bước tới làm phiền hai người họ, không một câu hỏi nào được đặt ra. Hai người băng qua những hàng tủ trắng sáng loáng và các thiết bị thép không gỉ dường như vô tận, lách qua những vỉ nướng cùng lò nướng khổng lồ. Mùi thơm và hơi nước tràn ngập không gian, tiếng "cạch cạch" cùng tiếng "loảng xoảng" vang vọng bên tai. Tất cả mọi người trong bếp - từ đầu bếp chính, thợ làm bánh, thợ làm đồ ngọt, phụ bếp cho đến người rửa bát - đều đang bận rộn nấu súp, nướng bánh, chiên cá, pha nước sốt, làm món tráng miệng và trộn salad. Việc Andrews đi thị sát đã trở thành chuyện thường ngày ở huyện.

Thực tế, sự chú ý duy nhất mà hai người nhận được đến từ một đầu bếp, người này nói với Andrews: "Máy ép nhiệt vẫn còn vấn đề, thưa ngài, điều đó đang ảnh hưởng đến chất lượng nước sốt."

Andrews cam đoan với đầu bếp rằng sẽ sớm giải quyết vấn đề này, rồi dẫn Foster tiếp tục đi về phía trước.

"Tôi luôn túc trực theo lệnh của ngài hai mươi bốn giờ một ngày," Andrews nói với Foster, "Thuyền trưởng nói, nếu ngài cần đến những khu vực cấm trên tàu, tôi cũng sẵn lòng hỗ trợ."

"Tôi không muốn làm khó ngài - tôi biết ngài rất bận, ông Andrews."

"Bạn bè gọi tôi là Tom."

"Bạn bè gọi tôi là Jack."

Họ đi ngang qua một chiếc tủ chén bát đang mở, bên trong chất đầy đồ sứ.

Andrews hỏi một cách ôn hòa: "Ngài có phiền nếu cho tôi biết lý do không, Jack? Nếu câu hỏi của tôi không vượt quá giới hạn cho phép."

Việc người thiết kế tàu Titanic đặt ra câu hỏi như vậy với Foster trông vừa nực cười, vừa khác thường.

"Tôi không thể nói với ngài," Foster đáp, "Nhưng chuyện này liên quan đến sự an toàn của con tàu."

"Vậy ra, thân phận hiện tại của ngài là một chuyên gia tội phạm học thay vì là một nhà báo hay tiểu thuyết gia?"

"Tôi thực sự không thể nói thêm gì nữa, Tom."

"Tôi hiểu."

Sau khi dùng bữa tối tại nhà hàng hạng nhất, Foster nói "xin lỗi" với Meyer, vợ chồng Harris, vợ chồng Straus cùng những vị khách khác cùng bàn, rồi đi về phía bàn ăn của thuyền trưởng. Foster và thuyền trưởng Smith bước ra xa một chút - dù không rời khỏi tầm mắt của Ismay, nhưng cũng đã vượt ra ngoài phạm vi nghe thấy của ông ta - vị tiểu thuyết gia trinh thám nói với thuyền trưởng Smith rằng ông cần nói chuyện với một hành khách ở khoang hạng hai.

Thuyền trưởng lập tức gọi Andrews đến, để hai người họ thực hiện nhiệm vụ này. Thế là hai người băng qua nhà bếp rộng lớn - nơi cung cấp bữa tối cho cả hành khách hạng nhất và hạng hai (nhà hàng hạng nhất nằm phía trước bếp, nhà hàng hạng hai nằm phía đuôi tàu) - để đến nhà hàng hạng hai.

Họ không gặp bồi bàn hay phụ bếp nào. Andrews và Foster không đi qua cửa chính hai tầng của nhà hàng hạng hai, mà đi vào từ một cánh cửa nhỏ bên phải. Họ đứng trong góc, tìm kiếm giữa hàng trăm hành khách đang dùng bữa. Những vị khách đó đều ăn mặc chỉnh tề nhưng không ai mặc lễ phục dạ hội chính thức, điều này khiến Andrews và Foster trông như những quản lý nhà hàng.

Nhà hàng ấm cúng và rộng rãi này - với những tấm ốp gỗ sồi kiểu Anh không trang trí - nhỏ hơn nhà hàng hạng nhất một chút, nhưng cũng không đáng kể; nó có chiều rộng bằng nhà hàng hạng nhất (tức chiều rộng con tàu) và dài khoảng bảy mươi feet. Cửa sổ ở đây là cửa sổ mạn tàu, không hề được ngụy trang, tạo cảm giác đang đi trên tàu rõ rệt hơn so với hạng nhất. Vô số bàn ăn dài và những chiếc ghế xoay cố định trên sàn lát vải sơn dầu mang lại cho nhà hàng này bầu không khí như căng tin sinh viên, nhưng kiểu bài trí này lại rất phổ biến ở các nhà hàng hạng nhất của các hãng tàu khác. Khăn trải bàn bằng vải lanh trắng cùng đồ sứ cao cấp thể hiện sự tao nhã điển hình kiểu Titanic, còn thức ăn - cá tu hài nướng, cà ri gà, cơm, thịt cừu - trông và ngửi đều rất hấp dẫn.

"Đã thấy người ngài cần tìm chưa?" Andrews hỏi Foster, người đang đưa mắt quan sát khắp nhà hàng.

"Chưa... tốt nhất chúng ta nên đi dạo một vòng."

Họ đi dọc theo lối đi ở giữa, vài vị khách đang dùng bữa ngước nhìn họ.

Sau đó, Foster đã tìm thấy người mình cần, ngay bên cạnh cây đàn piano ở phía sau nhà hàng: Louis Hoffman, ông ta đang ngồi giữa hai đứa con nhỏ tóc tai bù xù đáng yêu của mình.

"Tôi cần một mình qua đó," Foster nói.

Andrews gật đầu, ngồi xuống một chiếc ghế cạnh cột trụ.

Hoffman và hai đứa con sắp dùng bữa xong, người cha giúp đứa con trai nhỏ hơn xúc thìa bột sắn cuối cùng từ trong cốc. Lần này, cách ăn mặc của ba cha con vẫn vô cùng quý phái: hai cậu bé mặc áo khoác vải chéo màu xanh dương giống hệt nhau, quần lửng và tất quá gối; Hoffman mặc bộ vest màu xanh nhạt, thắt cà vạt lụa màu xanh đậm, cổ áo sơ mi lật ra ngoài. Ông là một người cha cưng chiều con, điều đó có thể thấy rõ qua thái độ thân thiết giữa ông và hai đứa trẻ, một tình yêu tràn ngập trong gia đình này.

Foster gần như căm ghét chính mình khi phá vỡ sự bình yên hạnh phúc đó, nhất là với một chủ đề khó chịu như vậy, nhưng ông không còn lựa chọn nào khác.

Chiếc ghế đối diện Hoffman còn trống, Foster lách qua bàn ăn dài rồi ngồi xuống chiếc ghế đó.

Người cha có mái tóc đen và đôi má lúm đồng tiền ngước lên nhìn thoáng qua, dưới bộ ria mép mềm mại là một nụ cười tử tế, nhưng nụ cười của ông nhanh chóng biến mất, một đám mây u ám hiện lên trên vầng trán cao.

"Ông Hoffman, tôi tên là Foster."

"Tôi có thể giúp gì cho ngài?" Giọng của Hoffman không phải kiểu Anh, cũng chẳng phải kiểu Đức hay Pháp, mặc dù Clifton từng chỉ ra Hoffman là "người Pháp". Dựa vào cách ăn mặc và cử chỉ của người đàn ông này, Foster đoán ông ta có thể đến từ Trung Âu - Séc hoặc Slovakia...

"Bố!" Đứa con trai lớn hơn gọi, rồi đứa trẻ bắt đầu nói chuyện với cha bằng tiếng Pháp lưu loát (rõ ràng là muốn xin thêm bột sắn), người cha trả lời lại bằng cùng ngôn ngữ đó (rõ ràng là từ chối một cách nhẹ nhàng). Bây giờ, Foster hoàn toàn bối rối - Hoffman nói tiếng Pháp bằng giọng Slovakia, và con của ông ta cũng vậy.

"Có một vấn đề liên quan đến cả hai chúng ta," Foster nói.

"Sao có thể như vậy được?" Hoffman đáp lại một cách ngắn gọn, đôi mắt đen trở nên lạnh lùng, sắc bén, "Tôi chưa bao giờ gặp ngài."

"Nhưng cả hai chúng ta đều đã gặp John Clifton."

Hoffman nheo mắt: "Cái tên đó tôi không quen."

"Ông Hoffman, tôi thấy ông nói chuyện với hắn trên boong chính vào chiều thứ Tư... hơn nữa Clifton cũng từng nhắc đến ông với tôi."

Lúc này, đôi mắt đó mở to - chúng vẫn tỏ ra lạnh lùng và sắc bén. Dù trước mặt con cái ông ta rất hòa nhã, nhưng ông ta là một người đàn ông nguy hiểm. "Ngài đang nói tôi nói dối sao?"

"Tin tôi đi, với tư cách là một 'khách hàng' khác của ông Clifton, tôi hiểu tầm quan trọng của sự thận trọng... chúng ta có thể nói chuyện riêng không?"

Ánh mắt Hoffman chuyển từ đứa con này sang đứa con kia. Đứa nhỏ nhất, dù trông chưa đầy hai tuổi, vẫn có cử chỉ rất ngoan ngoãn. Cũng là một người cha, Foster cảm thấy điều này thật đáng quý.

"Tôi không thể rời xa các con," Hoffman nói, "Chúng luôn ở bên tôi."

"Chúng có nói tiếng Anh không?"

"Không."

"Vậy thì, dẫn cả chúng theo đi, có lẽ chúng ta có thể đến phòng của ông."

Hoffman cân nhắc một lúc rồi nói: "Không, chúng ta cứ nói chuyện riêng đi. Xin đợi một chút."

Ông đứng dậy, vòng qua hai chiếc ghế, bước đến bên một người phụ nữ tóc vàng quyến rũ khoảng ngoài hai mươi tuổi. Ông nói gì đó với cô bằng tiếng Pháp; cô mỉm cười, gật đầu, trả lời ông bằng tiếng Pháp pha giọng Thụy Điển. Từ duy nhất mà Foster nghe hiểu trong câu trả lời của cô là "vâng", mặc dù là hậu duệ của người Huguenot, vốn tiếng Pháp của ông chỉ đủ để gọi món trong nhà hàng Pháp.

Khi người phụ nữ tóc vàng thay thế vị trí của người cha ngồi giữa hai đứa trẻ, Hoffman ngượng ngùng mỉm cười với cô, cảm ơn cô; sau đó ông cúi người, hôn lên trán mỗi đứa trẻ. Cử chỉ của ông vừa không gây chú ý, lại vừa tự nhiên, rõ ràng xuất phát từ trái tim của một người cha thực sự yêu thương con cái. Sau đó, vẻ mặt ôn hòa của Hoffman dần thay đổi, khi nhìn về phía Foster, ông đã trở nên cau có. Hoffman gật đầu về phía cửa ra vào, ra hiệu cho Foster đi theo sau mình.

Foster ngoái đầu lại nhìn, thấy Andrews đang nhíu mày, bước theo một bước. Foster ra hiệu cho ông ở lại chỗ cũ, Andrews gật đầu rồi ngồi xuống.

Phòng của Hoffman nằm ở cuối boong D, gần sát đuôi tàu. Suốt dọc đường, không ai nói một lời nào, Foster đi sát theo sau người đàn ông có vóc dáng thấp hơn mình một chút này. Sau đó, Hoffman dừng lại trước cửa phòng, dùng chìa khóa mở cửa, ra hiệu cho Foster vào trong, và Foster làm theo.

Căn phòng hạng hai này trông ấm áp, dễ chịu và không hề chật chội, thậm chí còn thoải mái hơn cả những phòng hạng nhất mà Foster từng đi trên các con tàu khác: hai giường tầng bên trái, giường sofa bên phải, bàn trang điểm gỗ gụ đặt sát tường giữa hai giường, phía trên có một chiếc gương và một chậu rửa mặt. Tường màu trắng, sàn lát vải sơn dầu.

"Tôi có thể ngồi không?" Foster hỏi, ra hiệu về phía ghế sofa.

Hoffman gật đầu, đôi mắt vẫn đầy vẻ nghi hoặc.

Foster ngồi xuống, Hoffman cũng ngồi xuống chiếc giường thấp hơn đối diện với Foster.

"Trước hết, ông Hoffman, tôi muốn cam đoan với ông rằng tôi không đại diện cho bất kỳ cơ quan chính phủ nào."

Vẻ cảnh giác thoáng qua trong đôi mắt đen của Hoffman, nhưng khi trả lời, ông cố gắng làm cho giọng mình bình thản và tùy ý nhất có thể: "Nếu ngài đại diện cho họ thì sao?"

"Bởi vì ông đang đi du lịch bằng tên giả."

"Vớ vẩn."

"Ông là người Slovakia, mang theo hai đứa con nói tiếng Pháp là Lolo và Momon, nhưng khi đăng ký lên tàu, ông lại sử dụng một cái tên Anh là 'Hoffman'."

Mắt Hoffman mở to, ông bật dậy khỏi giường: "Hắn còn nói gì với ngài nữa?"

Foster vỗ vỗ vào không trung, như muốn trấn an một đứa trẻ: "Không có gì..."

Hoffman thọc một tay vào túi áo vest: "Ngài cùng một hội với hắn sao?"

"Cái gì?"

"Ngài cũng là... thành viên của cái vòng đó sao?"

"Không!"

Tay Hoffman rút ra khỏi túi, trên tay nắm chặt một khẩu súng lục ổ quay màu xanh nhỏ bé nhưng chắc chắn là có thể gây chết người. Nòng súng đang chĩa thẳng vào Foster.

Giọng Hoffman run rẩy vì tức giận, và vì một cảm xúc tồi tệ hơn - nỗi sợ hãi: "Ngài hãy nói với hắn, nói với Clifton rằng cái giá duy nhất tôi trả cho hắn chính là đạn. Hãy nói với hắn như vậy."

Foster đứng dậy, chậm rãi giơ hai tay lên, lòng bàn tay hướng ra ngoài: "Tôi không cùng một hội với Clifton."

Hoffman dí nòng súng vào bụng Foster, nói: "Cái gì? Ngài nghĩ mình có thể tùy tiện can thiệp vào trò chơi của hắn sao? Có lẽ ngài muốn thay đổi lập trường, phải không?"

"Không, ông Hoffman, tôi không phải kẻ tống tiền, tôi cũng ở vị trí giống ông - chết tiệt, tôi cũng là nạn nhân của Clifton."

Hoffman suy nghĩ về lời nói của ông, rồi dời nòng súng khỏi bụng Foster, lùi lại một bước.

Với một động tác nhanh đến mức chính ông cũng cảm thấy khó tin, Foster vung tay đánh rơi khẩu súng trong tay Hoffman xuống sàn vải sơn dầu. Tạ ơn trời đất, nó không bị cướp cò. Hoffman kinh ngạc, lập tức nổi giận đùng đùng, ông tung một cú đấm về phía Foster, nhưng người đàn ông có vóc dáng cao hơn ông một chút này lách người né tránh, khiến cú đấm hụt hơi.

Sau đó, Foster vung một cú đấm vào bụng Hoffman, khiến ông lảo đảo lùi lại mấy bước, ngã khuỵu xuống giường.

Foster nhặt khẩu súng lục nhỏ lên từ dưới sàn, kiểm tra cơ chế bắn và phát hiện đạn đã lên nòng. Mồ hôi rịn trên mặt Foster, giọng ông cũng mang theo chút căng thẳng: "Ông đang ở thế bất lợi đấy, Hoffman, ngồi xuống, ngay lập tức."

Hoffman ôm bụng, ngồi xuống chiếc giường thấp hơn.

"Tôi không phải kẻ tống tiền," Foster nói, ông tháo đạn trong súng ra, ném xuống sàn rồi trả lại khẩu súng rỗng cho Hoffman, người vẫn ngồi im bất động ở đó. "Tôi cũng không phải bạn của John Clifton. Để tôi kể cho ông nghe cách hắn đe dọa tôi..."

Thế là Foster cũng ngồi xuống ghế sofa, bình tĩnh kể cho Hoffman nghe chuyện Clifton lấy bệnh suy sụp tinh thần làm cái cớ để đe dọa ông. Dần dần, Hoffman lấy lại bình tĩnh, vẻ mặt cũng trở nên dịu lại.

"Xin lỗi," Hoffman nói, rồi ông bắt đầu nức nở.

Foster kinh ngạc, ngay cả khi người đàn ông này chĩa súng vào mình, ông cũng không ngạc nhiên đến thế. Ông đứng dậy, bước đến bên giường, ngồi cạnh người đàn ông thấp bé này, vòng tay qua vai ông.

Như một bậc phụ huynh sáng suốt, Foster dịu dàng nói: "Nói tôi nghe đi, ông Hoffman, chuyện này là sao? Clifton đe dọa ông và các con, phải không?"

Hoffman vẫn đang rơi lệ, nức nở gật đầu: "Ngài có..."

"Tất nhiên." Foster rút một chiếc khăn tay đưa cho ông.

"...Tên tôi không phải Hoffman. Tôi là một thợ may, đúng vậy, tôi sinh ra ở Slovakia, nhưng mười năm nay tôi sống ở Pháp. Tôi cưới một cô gái người Ý rất trẻ đẹp..."

Lại một quốc gia khác.

"...Chúng tôi sinh được hai cậu con trai kháu khỉnh. Không ai có cuộc sống hạnh phúc hơn tôi."

Nghe những lời này thốt ra từ miệng một người đàn ông mặt đầy nước mắt, mũi sụt sùi, môi run rẩy, chỉ có thể hiểu rằng bi kịch sắp sửa diễn ra.

Quả nhiên là vậy, và đó là một câu chuyện quen thuộc: "Công việc kinh doanh của tôi bắt đầu đi xuống, vợ tôi ngoại tình... chúng tôi chia tay, bọn trẻ sống với mẹ. Lolo và Momon, chúng được gửi đến sống với tôi trong dịp lễ Phục sinh, thế là tôi... tôi đã bắt cóc chúng."

"Ông bắt cóc chính con mình?"

Hoffman không nức nở nữa, ông đã kiểm soát được cảm xúc: "Đúng vậy, tôi đã sắp xếp cuộc sống mới cho chúng tôi ở Mỹ. Một cộng sự cũ của tôi mời tôi làm ăn chung - tôi là một thợ may giỏi, tôi sẽ tạo ra môi trường sống tốt cho các con mình."

"Còn mẹ chúng thì sao?"

Hoffman cúi đầu: "Tôi vẫn yêu cô ấy, nếu cô ấy có thể hồi tâm chuyển ý, rời bỏ gã đàn ông kia, có lẽ một ngày nào đó cô ấy sẽ đến Mỹ tìm chúng tôi, trở về với gia đình nhỏ của mình."

Ông lại bắt đầu nức nở.

"Làm sao Clifton biết chuyện này?"

Giọng Hoffman lộ ra vẻ cay đắng: "Đào bới vết thương của người khác là nghề của hắn. Vợ tôi đã treo thưởng, tờ rơi khắp nơi... Clifton nói nếu tôi không cho hắn làm cộng sự trong công việc kinh doanh mới, hắn sẽ giao tôi cho cảnh sát, và tôi sẽ phải ngồi tù vì bắt cóc chính cốt nhục của mình."

Foster vỗ lưng người đàn ông này: "Lần cuối cùng ông gặp Clifton là khi nào?"

Hoffman nhún vai: "Ngày hôm đó trên boong tàu, hắn cũng giống như ngài - ở khoang hạng nhất. Hắn không đến làm phiền tôi nữa - nhưng hắn sẽ đợi tôi ở Mỹ, hắn sẽ đợi tôi ở Mỹ."

"Không, hắn sẽ không làm vậy đâu."

Hoffman ngước đôi mắt đỏ hoe nhìn Foster: "Ý ngài là sao?"

"Nếu tôi nói cho ông một chuyện, ông Hoffman..."

"Navire, Michel Navire."

Người đàn ông thấp bé chìa tay ra, Foster bắt tay ông.

"Ông Navire, tôi cần ông thề rằng, nếu tôi tiết lộ bí mật, nó sẽ không lọt ra khỏi căn phòng này."

"Tôi thề."

"John Clifton đã chết."

"...Chết như thế nào?"

"Có người đã giết hắn."

"Không phải tôi!"

"Tất nhiên, tôi e rằng ông chỉ dám bắn chết hắn rồi ném xuống biển thôi. Không, hắn bị gối đè ngạt thở. Những người có trách nhiệm trên tàu Titanic tạm thời phong tỏa tin tức này vì lợi ích cá nhân của họ. Nhưng ông phải cẩn thận - họ đã biết ông là một trong những đối tượng bị hắn tống tiền."

"Sao họ biết?"

"Trong phòng hắn có một danh sách 'khách hàng'. Ông cần phải rời khỏi con tàu này, ngay khi nó cập bến, ông phải đưa các con biến mất càng nhanh càng tốt."

"Ngài... ngài không định..."

"Giao ông ra ư? Không, tôi không biết việc ông làm có đúng hay không, ông Navire, nhưng tôi biết ông thực sự yêu các con mình... và tôi tin chắc rằng, ông không giết John Clifton."

"Tôi thà giết hắn còn hơn."

"Cảm giác đó rất dễ hiểu... chúc ông may mắn."

Sau đó hai người đàn ông lại bắt tay một lần nữa.

Thái độ của Navire đã trở nên khá ôn hòa, ông tiễn Foster trở lại nhà hàng hạng hai, sau đó người cha này nhập hội với các con, còn Foster quay lại chỗ Andrews.

"Việc ngài cần làm xong rồi chứ?" Khi họ rời khỏi nhà hàng, Andrews hỏi.

"Xong rồi."

"Không gặp khó khăn gì chứ?"

"Không quá lớn."

Khi hai người đàn ông ăn mặc chỉnh tề đi dọc theo lối cũ băng qua nhà bếp, nhịp độ vội vã trong căn bếp rộng lớn đã dịu lại, nghệ thuật ẩm thực đã bị thay thế bởi thực tế của việc rửa bát, xếp đĩa và đổ rác. Còn trong nhà hàng hạng nhất trống trải, bàn ghế đã được lau sạch, trải khăn trải bàn mới, bày lại đồ sứ và đồ bạc.

Bên cạnh cầu thang lớn phía sau nhà hàng, Andrews gật đầu với Foster rồi rời đi, có lẽ là về phòng của mình. Foster thì đi về phía phòng tiếp đón rộng rãi, nơi bữa tiệc âm nhạc đang diễn ra.

Giống như nhà hàng hạng nhất và hạng hai, phòng tiếp đón có chiều rộng bằng con tàu. Dù không gian rộng lớn (Foster ước chừng chiều dài của nó hơn năm mươi feet), nhưng lại tạo ra cảm giác thân mật - trên những bức tường ốp gỗ trắng được chạm khắc các họa tiết phù điêu tinh xảo, ánh sáng dịu nhẹ, thảm Axminster trải trên sàn, những chiếc ghế mây thư giãn và ghế sofa sang trọng được bài trí hài hòa, những tàu lá cọ tươi tốt cắm trong bình hoa khổng lồ đặt trên các bàn mây bốn người.

Ban nhạc ngũ tấu của nghệ sĩ vĩ cầm Wallace Hartley đang vây quanh cây đàn piano sang trọng (phòng tiếp đón không có sân khấu), biểu diễn tác phẩm "Chuyện kể của Hoffman" của Offenbach. Bản nhạc này trong tai Foster mang một ý nghĩa mỉa mai, vì ông vừa mới nghe một câu chuyện về "Hoffman" khác. Ban nhạc rất giỏi biểu diễn nhạc nhẹ cổ điển - Puccini, Liszt, Bizet - và ở phần cuối của buổi hòa nhạc, sẽ có một buổi khiêu vũ không chính thức, chủ yếu là theo yêu cầu của các hành khách trẻ, họ sẽ biểu diễn điệu nhảy Fox-trot mới nhất. Đối với ban nhạc không có tay trống này, nhạc Fox-trot không phải là tiết mục sở trường của họ.

Foster tìm thấy vợ chồng Meyer và Harris ở chiếc bàn nhỏ gần cửa sổ, ông nhập hội với họ. Ngoài cửa sổ là mặt biển yên tĩnh, bầu trời đêm quang đãng, sao sáng rực rỡ; sự rung lắc của con tàu dù nhẹ nhưng vẫn có thể cảm nhận được, giống như giai điệu lặp lại dưới giai điệu chính. "Buổi hòa nhạc" không chính thức, khi nhân viên trên tàu mang cà phê, trà và bánh nướng đến, mọi người nhìn chung đều ngừng trò chuyện.

"Cô ấy là một cô gái xinh đẹp," Harris nói.

"Đừng có nảy sinh ý đồ xấu, Henry B," Ryan nói đùa, bà mặc lễ phục dạ hội bằng lụa màu xanh lá cây, đội vương miện đính kim cương, trên đó cắm vài chiếc lông chim thiên đường, trông rất xinh đẹp.

"Ai là cô gái xinh đẹp đó?" Foster hỏi.

"Dorothy Gibson," Mel giải thích. Đêm nay Mel đặc biệt xinh đẹp, cô mặc chiếc váy dạ hội bằng lụa satin màu kem, tóc búi cao, không đội mũ. "Một nữ diễn viên điện ảnh trẻ mà Henry và Ryan đã gặp trên boong chính chiều nay."

"Một con bé trơ tráo," Ryan nói, đảo mắt một vòng, "Nó tự mình bước tới và giới thiệu bản thân với chúng tôi." Một nhận định như vậy được thốt ra từ miệng một người phụ nữ hiện đại và tự tin như thế khiến Fortier cảm thấy thú vị.

"Cô ta có một người mẹ đáng ghét giống hệt mẹ cậu vậy," Henry nói, "Thông thường tôi không thể chịu nổi hạng người này. Nhưng cô gái này, Dorothy, lại có quan hệ làm ăn với... Jules Brulatour, ông ta là nhà phát hành phim."

"Quan hệ làm ăn," Ryan nói, "Từ này nghe mới mẻ đấy."

"Dù sao đi nữa," Henry nói, "Tôi dự định sẽ cho cô ta một vai trong vở kịch Broadway sắp tới của mình."

"Tôi hy vọng có thể nói chuyện với cô ta," Mel nói.

Harris phẩy tay, "Nhìn cái cách cô ta thể hiện kìa, không cần phải... những mối quan hệ của cô ta có lẽ sẽ giúp tôi sản xuất bộ phim của riêng mình vào cuối năm nay."

"Anh chắc rằng những bộ phim đó sẽ là xu hướng của tương lai chứ?" Fortier hỏi, lắc đầu.

"Tương lai nằm ở đây, chính là lúc này, Jack. Tôi dự định tìm một kịch bản thú vị... Anh có quen nhà văn nào giỏi không?"

"Không quen," Fortier nói, sau đó anh gật đầu ra hiệu cho một người phục vụ đến rót cà phê. Quay đầu lại, vị tiểu thuyết gia trinh thám chú ý thấy Benjamin Guggenheim đang ngồi ngay cạnh đó tại một bàn bốn người cùng với cô nhân tình tóc vàng xinh đẹp, Madame Pauline Aubart. Người phụ nữ đó mặc chiếc váy dạ hội bằng nhung màu tím, vóc dáng thon thả, vô cùng quyến rũ.

Guggenheim là một gã kỳ quặc, kẻ nổi loạn của đế chế thép, giờ đây, khi đã gần năm mươi tuổi, ông ta đã ổn định và không còn đi chệch hướng nữa. Nhờ địa vị của mình, ông nhận được sự kính trọng rộng rãi từ mọi người. Fortier tận mắt chứng kiến ngay trước bữa tối, Astor đã dừng lại bên cạnh ông để trò chuyện; Margaret Brown cũng đối xử với ông như một người bạn cũ, có lẽ họ đã quen biết nhau từ khi Guggenheim còn khai thác mỏ vàng ở Colorado.

Nhưng trong phòng tiếp khách, không ai ngồi cùng Guggenheim và cô nhân tình xinh đẹp của ông. Triệu phú có đôi mắt xanh, làn da trắng và mái tóc bạc sớm này dù sao cũng là người Do Thái, mà người Do Thái thường thích ngồi cùng nhau, dù là do bản tính chủng tộc hay trong trường hợp này là do sự sắp xếp từ trước của hãng White Star Line. Nhưng bạn có thể tưởng tượng ra cảnh một biểu tượng của đời sống hôn nhân, một Madame Straus bảo thủ—người có địa vị xã hội tương xứng nhất với Guggenheim—lại ngồi bên cạnh người đàn ông này cùng cô nhân tình của ông ta không?

Ban nhạc nhỏ đã chơi xong bản "Chuyện kể của Hoffmann" và nhận được một tràng pháo tay; sau đó họ bắt đầu chơi một bản nhạc nhẹ khác. Lúc này Guggenheim đứng dậy, âu yếm vỗ nhẹ vào vai người bạn đồng hành xinh đẹp của mình, mỉm cười nhìn cô, rồi bước ra khỏi phòng tiếp khách.

Fortier nghiêng người, thì thầm bên tai Mel: "Tôi cần nói chuyện với Guggenheim, có lẽ ông ta ra ngoài hút thuốc rồi."

Mel nở một nụ cười tinh quái, "Liệu tôi có nên nói vài lời khen ngợi với Madame Aubart không nhỉ?"

"Em thật tốt quá, cưng à... Hãy xem chúng ta có thể phát hiện ra điều gì nào."

Dịch Thuật: Gemini & DeepSeek AI
Nguồn: Việt Nam Thư Quán
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 21 tháng 6 năm 2026