Tuyển tập truyện ngắn của V.S. Naipaul

Tuyển tập truyện ngắn của V.S. Naipaul

Lượt đọc: 26 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Một cách nhìn nhận vấn đề kiểu Anh

❊ ❊ ❊

Tác giả: V.S. Naipaul

Dịch giả: Tôn Trọng Húc

Viết chương này, tôi cảm thấy thật chẳng dễ dàng gì. Tôi quen biết Anthony Powell vào năm 1957, khi ấy ông 52 tuổi, đang ở thời kỳ danh tiếng lẫy lừng, còn tôi mới 25 tuổi, đang chật vật ở London, túi tiền trống rỗng, vừa mới xuất bản được một cuốn sách. Vì một lý do nào đó mà tôi không thể hiểu nổi—giữa chúng tôi vốn có sự khác biệt quá lớn—ông đã dành cho tôi tình bạn. Phải mất một thời gian, tôi mới tin rằng tình bạn ấy là thật lòng, và nó kéo dài mãi cho đến năm 1994. Lúc đó ông đã già, lưng còng, đi lại chậm chạp. Ngày hôm đó, tại cổng ngôi nhà của ông ở hạt Somerset, ông nói lời từ biệt với tôi. Cách ông nói mang theo một vẻ nghi thức, khiến tôi biết đó sẽ là lần cuối cùng chúng tôi gặp nhau, và quả đúng là như vậy, dù sau đó ông vẫn tiếp tục gặp gỡ những người khác.

Sáu năm sau, ông qua đời. Một chương trình tin tức trên truyền hình mời tôi đến phỏng vấn để nói về ông. Tôi vui vẻ đồng ý, nhưng sau đó trong phòng thu, tôi thất vọng nhận ra mình chẳng có gì nhiều để nói về các tác phẩm của ông, chỉ đành cố tỏ ra hiểu biết; trên bản tin buổi tối, điều này sẽ chẳng phải là một tin tức hay ho gì. Tôi làm bạn với con người tuyệt vời này bao nhiêu năm, vậy mà lại đọc quá ít các tác phẩm của ông.

Khi đó, tôi trân trọng tình bạn và sự hào hiệp của ông, thích trò chuyện cùng ông, cảm thấy ông là người đọc rộng hiểu nhiều và luôn sáng suốt, nhưng lại cứ trì hoãn việc đọc các tác phẩm của ông một cách có hệ thống. Ông viết bộ tiểu thuyết dài kỳ "A Dance to the Music of Time" (Điệu vũ theo dòng thời gian), viết liên tục đến tận năm 1974. Sau đó, khi đã ngoài bảy mươi, ông vẫn viết những tiểu thuyết và kịch bản rời rạc. Trong ký ức dường như đã xa xôi, tôi từng đọc hai tập đầu của bộ trường thiên tiểu thuyết ấy. Tôi nhớ chẳng được bao nhiêu, vốn dĩ cứ ngỡ là do chủ đề và sự giáo dưỡng kiểu Anh quá xa lạ với mình. Powell tự hào vì là một nhà văn Anh, ông cảm thấy điều này thật tao nhã và đặc biệt, tin rằng sớm muộn gì người ta cũng sẽ đánh giá lại khía cạnh này. Sau khi đọc hai tập đó, tôi có một ấn tượng (lúc bấy giờ tôi thấy kỳ lạ nên không tán đồng) và chưa bao giờ quên, đó là tác giả muốn phô diễn cho thấy ông hiểu biết về phong tục nước Anh đến nhường nào.

Mãi về sau, tôi mới đọc tập thứ ba trong bộ truyện. Sự tinh tế trong cách viết, cách xử lý các cung bậc cảm xúc cùng nhịp điệu của tập này đã để lại cho tôi ấn tượng sâu sắc. Tôi viết một lá thư bày tỏ lòng ngưỡng mộ với ông, và tự hứa với lòng mình rằng một ngày nào đó khi có thời gian, tôi sẽ đọc trọn bộ tác phẩm này một cách liền mạch, điều mà trước đó tôi chưa từng làm được.

Sau khi ông qua đời, một biên tập viên tạp chí văn học mời tôi viết bài về ông. Lúc đó tôi đang viết dở một cuốn sách nên chẳng thể bận tâm đến việc gì khác. Thế nhưng ý tưởng viết về Powell đã thu hút tôi, nên tôi bảo vị biên tập viên kia đợi mình một chút. Khi có thời gian, tôi dành riêng ra để đọc. Tôi tìm được hai bộ tuyển tập bìa mềm, bắt đầu đọc từ giữa và đọc liền một mạch sáu tập. Tôi cảm thấy bàng hoàng. Powell từng có được chút thành công nhỏ tại Mỹ nhờ một cuốn sách, tôi cảm giác điều đó có lẽ đã khiến ông choáng váng. Khi đọc bộ tác phẩm đồ sộ này, tôi thấy về mặt hình thức, nó hoàn toàn không giống như tôi kỳ vọng. Cách viết ngày càng thiếu chỉn chu, mọi thứ đều được giải thích quá đà, và tính tự truyện được bộc lộ một cách trần trụi. Ở nhà văn này còn xuất hiện một sự tự phụ kỳ lạ, tựa như một người cảm thấy mình đã thành danh, giờ làm gì cũng không thể sai sót, có thể như một nhà ảo thuật điêu luyện, rút ra những nhân vật hài hước từ trong chiếc mũ, và cảm thấy mình chẳng cần phải làm gì thêm nữa.

Trong sách hoàn toàn thiếu kỹ thuật tự sự, có lẽ tác giả chẳng hề cân nhắc đến việc tự sự. Trong các tập ở giữa có một đoạn, một vài nhân vật xuất hiện từ sớm đã thiệt mạng trong một vụ ném bom vào một đêm nọ. Trong mạch truyện chính—vốn đầy rẫy những sự trùng hợp ngẫu nhiên, tập nào cũng cố gắng gom nhiều nhân vật cũ lại với nhau—thì vụ ném bom này lại giống như một sự kiện riêng tư, một cuộc "Blitz" (chiến dịch oanh tạc) liên quan đến cá nhân, một lần nữa tập hợp những nhân vật đã xuất hiện: gần như không có dự báo trước, hai chiếc máy bay ném bom đã phá hủy hai ngôi nhà hoặc địa điểm mà tác giả kiêm người kể chuyện quen thuộc: hai chiếc máy bay, hai ngôi nhà, chỉ vậy thôi.

Nhà văn khi xử lý những sự việc kỳ lạ này cần phải hết sức thận trọng: đối với những tai nạn hay chuyện quái gở, nhất định phải cài cắm manh mối từ trước, thậm chí là trước một hai tập. Chẳng ích gì khi nói rằng thời chiến người ta cứ thế ra đi mà không có dự báo, một cuốn sách là một cuốn sách, nó phải có logic riêng của nó. Dù sao đi nữa, cuốn sách này được viết rất lâu sau khi sự việc đã qua, lúc đó, những điều kinh hoàng ấy lẽ ra phải được suy ngẫm kỹ lưỡng và thấu hiểu. Những gì thể hiện trong sách là hành vi kỳ lạ của một số người sắp qua đời, họ như thể khuất phục trước một sự gợi ý thần giao cách cảm nào đó, đang dài dòng từ biệt. Cuối đêm đó, tình cờ thay, tác giả biết được sự kiện tai ương này. Vốn là người thường sống tách biệt, hài lòng với vai trò người nghe và người quan sát, ông lại có một sự năng nổ khác thường, lần mò trong đêm tối đến hai ngôi nhà bị ném bom, tìm thấy nhà này rồi lại tìm thấy nhà kia, xác nhận những gì mình đã biết.

Cái chết và việc biết tin về cái chết được viết ra như thế đấy. Khoảnh khắc đó đáng lẽ phải mang ý nghĩa bi kịch sâu sắc, nhưng lại thiếu đi sức mạnh cảm xúc. Điều còn thiếu chính là việc chúng ta không thực sự hiểu những người đã khuất, chúng ta không hiểu họ như cách tác giả hiểu họ hoặc hiểu những nguyên mẫu của họ. Đây là một trong những hậu quả do phương pháp tổ chức vụng về của cuốn sách gây ra. Từ đầu đến cuối đều dùng ngôi thứ nhất, hiểu biết của chúng ta về các nhân vật phần lớn đến từ đối thoại. Kiểu tự sự này khiến người đọc cảm thấy tẻ nhạt, bởi vì mỗi đoạn đối thoại đều phải bịa đặt hoàn toàn (mặc dù Powell là bậc thầy trong việc mô phỏng các tông giọng nói của người Anh), đây là sự lãng phí thời gian, không phân định được chính phụ.

Mỗi tập truyện đều bắt đầu bằng một đoạn mà chúng ta có thể gọi là "giải trình hiện trạng", mỗi lần giải trình như thế đều kết thúc một cách đoán trước được, hơi giống như một buổi tiệc. Trong phần giải trình này, chúng ta được thoáng thấy những nhân vật trung tâm trong mạch truyện, biết được họ đã tiến triển thế nào kể từ lần cuối chúng ta gặp họ, đặc biệt là tình trạng hôn nhân hiện tại của họ. Ban đầu, cách làm này có thể gây ngạc nhiên, nhưng về sau, trò chơi "giành ghế khi nhạc dừng" này chẳng còn khiến người ta kinh ngạc nữa. Rồi chúng ta cũng bắt đầu cảm thấy, mặc dù thoạt đầu những người này đối với chúng ta là mới mẻ, là một phần kiến thức xã hội mà chúng ta chưa chắc đã có, nhưng họ lại phẳng lì, không đủ thú vị để níu chân chúng ta đọc tiếp. Sự tương tác giữa họ không hề sâu sắc hơn theo sự trôi đi của tuổi tác và thời gian. Tác giả đã tốn nhiều bút mực cho họ, nhưng chúng ta cảm thấy không hiểu sao, những gì ông nhìn thấy ở họ lại nhiều hơn những gì ông cho chúng ta thấy.

Sự thất bại như vậy thật không bình thường. Trước chiến tranh, Powell từng là biên kịch điện ảnh. Trong những cuộc trò chuyện thời kỳ đầu, ông thường dùng kinh nghiệm biên kịch để minh họa cho việc không nên viết lách thế nào. Ông và các đồng nghiệp biên kịch (theo lời ông) có thể cần giới thiệu một nhân vật ở một giai đoạn nào đó, để tạo đặc điểm cho nhân vật này, họ có thể tập trung mô tả ngoại hình, cách này đơn giản nhất. Họ có thể để nhân vật đó bị thọt chân, hoặc hay nháy mắt, hoặc nhân vật đó mặc một loại trang phục nào đó, hoặc hút một nhãn hiệu thuốc lá hay xì gà nhất định. Cách làm này hiệu quả khi viết kịch bản, nhưng lại vụng về khi viết sách. Tuy nhiên có thể nói, ở một mức độ nào đó, đây chính là phương pháp viết của Powell trong bộ trường thiên tác phẩm này.

Cuối cùng, cảm giác của tôi là con người này, bạn của tôi, có lẽ đã viết sách, có lẽ đã sống một cuộc đời văn chương, nhưng lại không phải là nhà văn mà ông ấy muốn trở thành.

Khi đọc cuốn "From a View to a Death" (Từ góc nhìn đến cái chết) của ông viết trước chiến tranh, cảm giác này càng mãnh liệt hơn. Một họa sĩ đến một ngôi nhà ở nông thôn để vẽ chân dung, cuốn sách mô tả chi tiết các phong tục nông thôn nước Anh, gần như đó là mục đích chính của việc viết cuốn sách này. Họa sĩ nhanh chóng quyết định mình muốn trở thành một điền chủ, nên sống theo lối sống của họ. Anh ta cưỡi ngựa, ngã ngựa và tử vong. Trong những cuốn sách sau này của ông, mọi thứ đều được giải thích quá đà, nói quá nhiều, nhưng liệu có cần thiết không? Liệu nghệ sĩ có nên ở lại trong lĩnh vực mà họ quen thuộc nhất? Điều này thật khó hiểu, có lẽ chẳng có ý nghĩa gì khác ngoài việc phô diễn kiến thức xã hội.

Có một kiểu viết làm suy yếu chủ đề của chính nó, tôi tin rằng đại đa số những tác phẩm hay đều như vậy. "From a View to a Death" mặc dù miêu tả tỉ mỉ phong tục nông thôn, nhưng lại không thể làm sâu sắc thêm ấn tượng của độc giả về xã hội Anh. "A Dance to the Music of Time" cũng vậy.

---❊ ❖ ❊---

Có một lối viết tiểu thuyết phổ biến như thế này: một vĩ nhân qua đời, vang lên những lời ca tụng, rồi có người—thường là một kẻ sùng bái—nghiên cứu cuộc đời ông ta để viết tiểu sử, sau đó phát hiện ra đủ loại sự việc vô cùng tiêu cực. Ibsen thường sử dụng lối viết này, nhưng vĩ nhân trong sách của ông lại chưa chết. Vĩ nhân dưới ngòi bút của Ibsen trong bối cảnh như vậy gần như đã bị tiêu diệt. Tôi cảm thấy mình giống như nhân vật trong tiểu thuyết, nhưng tôi không biết câu chuyện nên viết thế nào, không biết làm sao để truyền đạt ý nghĩ của mình cho những người quen biết Powell. Tôi nghĩ chẳng ai tin rằng tôi làm bạn với Powell bao nhiêu năm, nhưng lại chưa từng đọc nghiêm túc và liền mạch các tác phẩm của ông, chỉ mới làm điều đó gần đây, và bây giờ không còn coi ông là nhà văn nữa. Đây chính là sự phát hiện tiêu cực kiểu Ibsen. Những lời này, tôi không thể nói với vị biên tập viên đã mời tôi viết về ông, nên tôi đã không làm gì, không nói gì, nhưng không hiểu sao, lại có một luồng dư luận lan truyền rằng tôi đã xúc phạm tình bạn.

Thật khó để giải thích với người khác rằng, tình bạn này vẫn rất đáng quý và không hề bị xóa sạch bởi sự phát hiện tiêu cực kia. Nhưng khi tôi gặp ông vào năm 1957, ông là một nhà văn Anh tuyệt vời, sự ưu ái của ông khiến tôi cảm thấy vừa bất ngờ vừa vinh dự, và trong suốt bao nhiêu năm giữ tình bạn, tôi vẫn luôn coi ông là một nhà văn lớn. Tình bạn có thể kéo dài lâu đến vậy, có lẽ chính là vì tôi chưa từng đọc kỹ các tác phẩm của ông.

Mục đích tôi viết cuốn sách này không phải là muốn viết phê bình văn học hay tự truyện. Ai muốn hiểu về Powell hay Derek Walcott thì có thể tìm đọc những tác phẩm phê bình đã xuất bản của hai vị này. Tôi chỉ hy vọng liệt kê theo cách cá nhân những tác phẩm mà tôi đã tiếp xúc trong sự nghiệp của mình. Tôi nói là tác phẩm, nhưng chính xác hơn, là muốn nói đến sự thấu thị, một cách quan sát và cảm nhận.

Mặc dù ý tưởng này vừa lãng mạn vừa tươi đẹp, nhưng cái gọi là "Cộng hòa văn học"—nơi mọi người mang tác phẩm của mình đến đó, ai nấy đều bình đẳng, nơi có một phòng tiếp tân, trước mặt một vị Thánh Peter văn học, họ nhận được sự đánh giá công bằng, rồi linh hồn sau khi chết sống một cuộc đời danh giá hoặc vô danh—thực chất không tồn tại. Ý tưởng về sự bình đẳng đương nhiên là sai. Mọi tác phẩm đều là sản phẩm của một sự thấu thị lịch sử và văn hóa cụ thể, điều này không có gì tranh cãi. Lịch sử văn học các nước luôn chứng minh điều này, chẳng ai bận tâm cả. Nhưng các "trường phái viết lách" mang tính lợi nhuận của Anh Mỹ lại không nghĩ vậy, họ quy định một kiểu tự sự văn xuôi gượng gạo (điều này hiện là kiểu viết phổ biến, nhưng hai ba mươi năm nữa, gần như chắc chắn sẽ trở nên lỗi thời) mới là phương pháp viết đúng đắn.

Để tôi xem liệu mình có thể giải thích đơn giản không. Ban đầu (có một sự nguy hiểm là sử dụng quá nhiều từ ngữ, như Hemingway vậy), bạn sử dụng ngôn ngữ cực kỳ đơn giản (như Hemingway), đủ để thu hút người khác chú ý đến phong cách của bạn. Thỉnh thoảng, để thu hút sự chú ý của mọi người một lần nữa, bạn có thể viết một đoạn rất đơn giản nhưng thừa thãi từ ngữ. Giai đoạn giữa, bạn có thể thả lỏng. Khi viết lách trở nên không trôi chảy, khi phải đối phó với những chỗ khó viết hoặc tinh tế, những lời sáo rỗng dù thế nào cũng sẽ ùa đến, ngôn ngữ trở nên cạn kiệt. Nhưng khi đọc phần mở đầu đơn giản và những đoạn đơn giản phía sau của bạn, sẽ không có mấy người nhận ra điều đó. Đừng quên hồi tưởng, và để tăng mật độ cho lối tự sự nhạt nhẽo, hãy hồi tưởng trong hồi tưởng. Hãy ghi nhớ quy tắc vàng trong lối tự sự của các trường phái viết lách: một đoạn mô tả, tiếp theo là hai ba dòng đối thoại, làm như vậy được coi là tiến gần đến chủ nghĩa hiện thực, nhưng đối thoại không thể luôn là lời dẫn trực tiếp. Sau khi được sàng lọc qua các xưởng viết lách này, trải nghiệm của người Trung Quốc, người Ấn Độ và người châu Phi khi viết ra, hình dáng và cảm giác đều là kiểu Mỹ, kiểu hiện đại. Những nhà văn xuất thân từ các xưởng viết lách này đều đóng chung một dấu ấn cá tính hiện đại, đây là một phần biểu hiện cho thành công của họ.

Tôi lớn lên trên một hòn đảo gần quê hương của Derek Walcott, các chủng tộc khác ở ngay sát bên, nhưng năm sáu tuổi khi tôi vừa chào đời, những năm 1930, tôi sống trong một cộng đồng người Ấn Độ được di thực sang, cộng đồng này đang bị cuốn trôi bởi những thiếu sót trong cuộc sống thuộc địa của chúng tôi, nhưng lúc đó vẫn cảm thấy là một chỉnh thể. Điều này cũng mang lại cho tôi một nền tảng cảm giác cũng như tri thức văn hóa, về điểm này, ngay cả những người sinh sau tôi cũng không có được. Tôi sở hữu nền tảng cảm giác này suốt đời. Tôi nghĩ nói như vậy không sai: ban đầu, sống trong cộng đồng người Ấn Độ phi thường này, tôi nhìn thấy những người thuộc chủng tộc khác, nhưng đồng thời tôi lại không nhìn thấy. Điều này khiến tôi dễ dàng chấp nhận những truyện ngắn cha tôi viết về cuộc sống của người Ấn Độ bản địa tự cung tự cấp và hiệu quả chữa lành của các nghi lễ Ấn Độ. Tôi không những dễ dàng chấp nhận những truyện ngắn này mà còn vô cùng xúc động. Tôi đã chứng kiến quá trình sáng tác của những truyện ngắn đó và để lại ấn tượng sâu sắc. Điều này cùng với phiên bản nông thôn thô sơ của "Ramleela"—vở kịch ngoài trời dựa trên sử thi "Ramayana"—thuộc về những trải nghiệm văn học sớm nhất của tôi.

Tôi không biết Edgar Mittelholzer sẽ nhìn nhận thế nào về những truyện ngắn của cha tôi được in trong cuốn sách nhỏ bìa xanh đó (nếu trong lúc ông đang ấp ủ bắt chước vị Phật tử nhúng chiếc xô nhựa nhỏ vào lửa, ông chịu dành thời gian xem cuốn sách nhỏ đó), tôi nghĩ đánh giá của ông sẽ không cao. Khát vọng lớn nhất của Edgar là trở thành một nhà văn nổi tiếng, phong cách thuộc về những năm 1930 hoặc sớm hơn. Điều đáng kinh ngạc là ông đã thành công một nửa. Giống như môi giới bất động sản sẽ luôn miệng nhắc về môi trường, Edgar cũng sẽ nhấn mạnh vào cốt truyện, cốt truyện, cốt truyện (thực tế ông đã nói với tôi như vậy). Và vì xuất thân Hà Lan-Thụy Sĩ-Guyana không rõ ràng của mình, ông có quan điểm riêng về thế nào là tính phổ quát. Ông sẽ coi những truyện ngắn của cha tôi là văn học dân gian, mang màu sắc bản địa Ấn Độ, xa xôi cách trở. Ở một mức độ nào đó, ông nhìn nhận như vậy cũng không sai: cha tôi đáng lẽ nên viết về thế giới xung quanh mình vào những năm 1940, chứ không phải quay ngược về thế giới mơ hồ của năm 1906.

Edgar—thỉnh thoảng còn có những người khác—đã hỏi về những ảnh hưởng mà tôi nhận được, họ ngạc nhiên khi tôi coi trọng những truyện ngắn cha tôi viết đến vậy. Những truyện ngắn này không chỉ cho tôi thấy thế nào là khổ luyện văn chương, mà còn giúp tôi hiểu về xuất thân và quá khứ của mình. Tôi sinh ra ở vùng nông thôn nơi người Ấn Độ tập trung sinh sống tại Trinidad, nhưng tôi nhanh chóng bắt đầu đi nơi khác sinh sống. Những truyện ngắn của cha tôi đã thêm vào nhân khẩu cho vùng nông thôn đó, mang lại cho tôi một tri thức rất chân thực. Nếu không có tri thức này, ở thuộc địa Trinidad, tôi sẽ lạc lõng về tinh thần, giống như rất nhiều người tôi thấy xung quanh mình sau này. Tôi nghĩ đáng lẽ tôi cũng sẽ giống như Edgar và những người khác, tự thêu dệt nên tổ tiên (đây là chứng thần kinh của thuộc địa), hoặc thậm chí giống như Sam Selvon—ông ấy là người Ấn Độ và ngoại hình khôi ngô, nhưng lại cắt đứt với xuất thân của mình (trong các truyện ngắn của mình, sự thiếu hiểu biết về cách làm của người Ấn Độ khiến ông hơi giống một người mù chữ)—chỉ thể hiện mỗi chủng tộc và vẻ ngoài bảnh bao của mình.

Có lẽ những truyện ngắn của cha tôi đối với bất kỳ ai cũng không có ý nghĩa lớn lao như đối với tôi. Cha tôi bắt đầu tập hợp những truyện ngắn này vào một cuốn sách nhỏ bìa xanh vào năm 1943, cuốn sách này rất giống với "Twenty-five Poems" (Hai mươi lăm bài thơ) của Derek Walcott sáu năm sau đó. Cuốn sách của Derek Walcott được in bởi nhà xuất bản "The Beacon" ở Barbados, còn của cha tôi được in bởi xưởng in của tờ "Trinidad Guardian" ở Trinidad—xưởng in thương mại của tờ "Guardian". Giá của cả hai cuốn sách đều là một đồng nội tệ, tức khoảng hai mươi mốt xu, tương đương tiền lương một ngày của một công nhân. Cuốn sách của cha tôi chẳng gây ra tiếng vang gì, kém xa cuốn của Derek Walcott; thậm chí ở Trinidad, những ấn phẩm đó bị coi là quá xa rời cuộc sống. Nhưng vài nghìn bản in vẫn bán hết, chủ yếu là bán cho người Ấn Độ, tôi nghĩ họ thích đọc những gì viết về chính mình, thích nhìn thấy tên người Ấn Độ được in ra, và còn thích nhìn thấy cuộc sống Ấn Độ thường ngày được nâng lên một tầm cao. Vì vậy, cuốn sách này đã đạt được thành công vào năm 1943—1944, sau đó chưa bao giờ có được thành công tương tự.

Năm 1976, nhà xuất bản André Deutsch đã ra một tập truyện ngắn của cha tôi, tôi viết một bài tựa dài, những dòng chữ nhiệt huyết trên bìa sách là do Diana Athill viết. Sau đó cuốn sách này đã bị giảm giá bán thanh lý. Nhà xuất bản Heinemann cũng ra mắt vào năm 1994, lần đó in mỏng hơn, đóng bìa đẹp. Tôi không thấy có tin tức gì, tôi nghĩ cuốn sách này xuất bản chẳng có gì đáng đưa tin, cũng không đi tìm hiểu cụ thể. Mười năm sau nó cũng được xuất bản ở Ấn Độ, ngay cả theo tiêu chuẩn thấp của ngành xuất bản Ấn Độ, cuốn sách này cũng được làm rất tệ, trên bìa không có lấy một dòng chú thích về nội dung, nói cuốn sách này là sách ma thuật, sách dạy nấu ăn hay sách châm ngôn Ấn Độ đều được. Nhà xuất bản nói lúc đó ông bận, nếu vị nhà xuất bản này có thể dành ra một giờ đồng hồ, những truyện ngắn này có khả năng được giới thiệu như những tác phẩm tiên phong trong cộng đồng người Ấn Độ hải ngoại. Nhưng nước Ấn Độ thực dụng vẫn là nước Ấn Độ thực dụng, hoàn toàn không cân nhắc đến lịch sử hay văn học của chính mình. Mặc dù hiện nay người ta nói rất nhiều về cộng đồng người Ấn Độ hải ngoại, nhưng cộng đồng mà người Ấn Độ quan tâm, chỉ là loại có thể giúp họ có được thẻ xanh hoặc một người con rể, con dâu có quốc tịch Mỹ. Trên các tờ báo chủ nhật từ Nam chí Bắc, ở mục quảng cáo rao vặt, bạn đều có thể thấy nhu cầu cấp bách của loại quảng cáo rộng rãi đó.

Bây giờ tôi phải thừa nhận những truyện ngắn đó đã không còn sự sống, chỉ còn sống trong lòng tôi. Hòn đảo của Derek Walcott tương tự như hòn đảo của chúng tôi, nhưng giữa chúng tôi lại có sự khác biệt quá lớn. Dẫn đến những khác biệt này là hai sự thật quan trọng: tôi sinh ra ở Trinidad của người Ấn Độ vào năm 1932, từ khoảng bảy tuổi, tôi đã thấy cha viết truyện ngắn, điều này có nghĩa là tôi sớm đã ở trong một thế giới tinh thần độc đáo—một thế giới khác với những nơi khác trên đảo, thậm chí khác với phần còn lại trong đại gia đình của mẹ tôi; giữa Derek Walcott và tôi còn có một sự khác biệt lớn khác: sau khi tầm mắt tôi rộng mở hơn, tôi có thể vượt ra khỏi cộng đồng nhỏ bé của mình, hiểu được nhu cầu và khát vọng của ông (đứa trẻ da đen được giải phóng khỏi những bài ca không nhà, mái tóc nâu giữa biển cả quý tộc), nhưng ở tôi có những chỗ khiến ông khó lòng thấu hiểu.

Cách nhìn của ông về hòn đảo không phải là của tôi. Một người ghi nhớ hòn đảo của Derek Walcott thật chặt trong tâm trí và trái tim sẽ nhìn thế giới theo cách riêng của mình. Ông sẽ không (lấy một ví dụ cực đoan) quan tâm đến nước Anh của Tony Powell, cũng không cảm thấy đủ liên quan đến nó, không có khả năng đánh giá các tác phẩm viết từ nước Anh. Sự gượng gạo của P.G. Wodehouse và Agatha Christie lại là chuyện khác, hai tác giả này dường như mang đậm nét Anh, ai cũng có thể đánh giá họ. Tác phẩm của họ tự thân là những câu chuyện cổ tích hiện đại, vì nhiều lý do, người Anh giỏi tạo ra thần thoại rất thạo kiểu viết này.

Là một phần trong đặc điểm người Anh của mình, Tony sẽ thích khía cạnh tinh tế và đặc biệt đó, thích được đưa vào khuôn mẫu tạo dựng thần thoại ấy. Khi bộ trường thiên tác phẩm đó sắp kết thúc, một buổi lễ tạ ơn trọng thể đã được tổ chức tại Nhà thờ Thánh Paul sau chiến tranh, người kể chuyện đã tham dự. Thực tế đối với chiến tranh, ông không tham gia nhiều, nhưng lúc này, ông giống như Henry V sau trận Agincourt. Ông trích dẫn toàn văn phiên bản gốc của bài "God Save the King" được hát tại buổi lễ, ý đồ—tôi cảm thấy là giả tạo và quá khôn lỏi—là để thêm vào những gì đã viết trước đó (phần lớn đều là chuyện vặt vãnh) một nét sử thi mang tính hồi cố. Đây chính là màn trình diễn của Tony trong thần thoại nước Anh, những gì ông kỳ vọng sẽ giáng xuống mình, tức là một sự thừa nhận ông với tư cách là người tạo dựng thần thoại nước Anh thế kỷ hai mươi, và chút thành công nhỏ bé tại Mỹ—lúc đó chính là lúc ông đang say sưa viết bộ tiểu thuyết đa tập—dường như cuối cùng đã chỉ về hướng đó. Nhưng bộ tiểu thuyết tự truyện của ông chỉ có vậy: mang tính tự truyện, và mang tính cá nhân, đầy rẫy những chi tiết, chỉ những người quen thuộc trong ngoài cuộc đời ông mới có thể hiểu thấu thâm ý. Chút thành công nhỏ bé tại Mỹ của ông không kéo dài được lâu.

---❊ ❖ ❊---

Vào giữa năm 1957, Francis Wyndham – một biên tập viên tại nhà xuất bản André Deutsch – đã viết thư cho Anthony Powell để nhắc đến tôi. Francis là người đầu tiên đọc bản thảo cuốn sách đầu tay của tôi. Ông ấy thích cuốn sách đó, nhưng André Deutsch lại muốn xuất bản một cuốn tiểu thuyết dài hơi, và tôi đã nhanh chóng viết xong một cuốn (thời đó dường như một ngày dài hơn bây giờ). Khoảng một năm sau, khi sách đã ra mắt, có một buổi sáng, tôi cùng Diana Athill đã gặp Francis tại quán cà phê Gaggia trên phố Dean, không xa tòa soạn của nhà xuất bản André Deutsch là bao. Francis có một khoang làm việc chứ không phải phòng riêng. Trong tòa soạn, khoảng cách giữa các vách ngăn chật hẹp đến mức ông phải lách người mới vào được bàn làm việc của mình. Ông nói André Deutsch trả lương cho ông rất ít, nếu ít hơn nữa thì chắc nhà xuất bản phải đi tù mất. Lúc đó tôi không biết, mãi rất lâu sau này tôi mới hay Francis là người có quan hệ rộng rãi. Có lẽ chính vì tôi hoàn toàn không hay biết gì nên lại giúp ích cho việc duy trì tình bạn giữa chúng tôi. Tôi quý mến sự thông tuệ và hài hước của ông, tôi nghĩ ông là trí thức thực thụ đầu tiên mà tôi từng quen biết. Sau lần gặp đầu tiên, có một thời gian chúng tôi gặp nhau hàng tuần.

Không lâu sau, Anthony Powell gửi cho tôi một bức thư hoặc một tấm thiệp. Khi ấy ông là biên tập viên văn học của tạp chí "Punch", họ đã đăng một bài phê bình khen ngợi cuốn sách đầu tay của tôi. Chúng tôi hẹn nhau qua điện thoại tại quán bar El Vino, một quán bar trên phố Fleet mà các nhà báo thường lui tới. Anthony có vẻ ngoài bảnh bao, dễ gần. Tôi đã cảm ơn ông vì bài phê bình trên "Punch". Sau này tôi mới biết ông không chỉ giao sách cho người khác viết phê bình, mà chính ông cũng đã đọc nó, điều này khiến tôi thấy bất ngờ. Ông lại nói một câu mà lúc đó tôi thấy rất thông thái, về sau tôi còn dùng lại nhiều lần, đến cuối cùng tôi thấy đó chỉ là một lời nhận xét xác đáng. Ông nói rằng bất kể có những khiếm khuyết gì, cuốn tiểu thuyết đầu tay của một nhà văn luôn có một nét trữ tình mà chính tác giả không bao giờ có thể bắt gặp lại được nữa. So với những gì tôi từng gặp trước đó, đây là một ý kiến đánh giá ở tầng bậc cao hơn nhiều.

Ông kể với tôi rằng ba bốn năm trước, ông cũng gặp Kingsley Amis lần đầu tại quán bar El Vino, đó là khi Amis chưa nổi đình nổi đám với cuốn "Lucky Jim". Anthony thích những bài phê bình của Amis nên đã liên lạc với ông ấy. Trong lần gặp đầu tiên, Amis nói ông không thể ở lại lâu với Anthony, dù rất muốn, vì cuối ngày hôm đó, cũng tại nơi này, ông đã hẹn gặp một "kẻ ngốc". Cách nói này đã thêm vào lần gặp đầu tiên của họ một chút ý vị tinh nghịch, Anthony tự hỏi kẻ ngốc mà Amis nhắc đến là ai. Người đó đúng hẹn mà đến: đó là Terence Kilmartin, biên tập viên văn học của tờ "Observer", người sau này đã hiệu đính các tác phẩm của Marcel Proust do Scott Moncrieff dịch, ông ấy hoàn toàn không phải là một kẻ ngốc.

Đó là trò đùa nhỏ của Amis, Anthony vẫn luôn nhớ mãi, đúng với tính cách của ông. Ông thích giao du, coi bạn bè là những người không tầm thường, thích quan sát họ từ mọi góc độ để thấy được tất cả các khía cạnh trong tính cách của họ, và làm như vậy hoàn toàn không có ác ý. Điểm không có ác ý này cũng nói lên rất nhiều điều. Ông lưu giữ thư từ của tất cả bạn bè, có thể dễ dàng rút ra từ văn phòng nhỏ của mình một lá thư của John Betjeman hay Constant Lambert viết từ những năm ba mươi (Betjeman viết theo lối cổ điển, chữ viết khít khao; Lambert thì viết bằng ngòi bút thô, rộng và phẳng). Tôi nghi ngờ ông đã lưu trữ thư từ theo thứ tự bảng chữ cái.

Có thể nói, ông sưu tầm con người, giống như những nhà văn viết về "tính cách" thời thế kỷ XIX hay như John Aubrey khi viết tác phẩm "Brief Lives". Ông từng viết một cuốn sách về John Aubrey trong thời chiến, bạn sẽ thấy tác giả và đối tượng viết là một cặp bài trùng. Nhưng cuốn sách của Anthony viết lại rất tẻ nhạt, giống như Graham Greene một ngày nọ không nhịn được đã nói thẳng với Anthony. Anthony đã ghi lại chuyện này trên giấy trắng mực đen mà không hề phản hồi. Bạn sẽ thấy cuốn sách viết về Aubrey đó khó mà đọc trọn vẹn, nhưng cũng phải nói rằng, đối với một người sống hoàn toàn bằng tư cách nhà văn, nhiều cuốn sách của ông cũng mang lại cảm giác này, khó mà đọc hết, điều này thật kỳ lạ. Trước chiến tranh, ông nỗ lực viết lách để tìm lối thoát, sau chiến tranh, ông lại nỗ lực để trở lại, vô cùng cẩn trọng, không cho phép mình thất bại, cho đến khi ông cảm thấy mình đã thành công.

Anthony mà tôi yêu quý giống như John Aubrey, một người sưu tầm con người và những thói kỳ quặc của họ, rất ít khi chê bai, cảm thấy mọi người, đặc biệt là bạn bè của ông, khiến thế giới này trở nên đầy quyến rũ. Tuy không nói rõ, nhưng thực tế, điều tôi luôn hy vọng tìm thấy trong xã hội Anh rộng lớn hơn chính là sự rộng mở về tầm nhìn và việc bản thân có thể nhận được sự chào đón như thế. Tôi khao khát được rời xa sự ác ý tràn lan ở nơi nhỏ bé mà tôi đã lớn lên. Ở nơi đó, mọi đánh giá đều là về đạo đức, đầy rẫy sự thù ghét, hủy hoại danh tiếng người khác, dùng lời đồn đại để phán xét con người. Nhưng cho đến lúc đó, tôi không gặp may mắn ở Anh. Tôi từng đặt kỳ vọng cao vào đại học, nhưng tôi không tìm thấy mấy điều hay ho ở đó. Tại ngôi trường tôi theo học, đại đa số mọi người đều tư tưởng hẹp hòi, thiển cận, tài năng tầm thường, ở BBC cũng vậy.

Tuy nhiên, đã có Henry Swanzy, và không lâu sau đó là Francis Wyndham, họ là những ngoại lệ. Rồi sau đó, không lâu sau khi quen Francis, tôi đã tìm thấy Anthony Powell. Đây chính là nước Anh mà tôi từng muốn tìm kiếm, dù vốn dĩ tôi đã từ bỏ việc tìm kiếm. "Nét trữ tình" trong cuốn sách đầu tay – tôi chưa bao giờ nghe một đánh giá văn học sâu sắc như vậy được thốt ra một cách nhẹ nhàng, câu nói đó thể hiện sự tu dưỡng sâu sắc. Trong đối nhân xử thế, Anthony cũng thể hiện sự tu dưỡng sâu sắc. Tôi bắt đầu cố ý học theo ông, điều này cũng trở thành một phần trong tính cách của chính tôi. Điều tôi cần là những thứ đầy sức quyến rũ, chứ không phải những thứ hợp đạo đức, để chống lại sự hèn hạ và đố kỵ đang thống trị thế giới. (Nhiều năm sau, tôi gặp một nhà xuất bản thành công người châu Âu, nghe nói ông ta đố kỵ với tất cả mọi người, đó là nguyên tắc sắt đá của ông ta.) Nhưng nếu không có tấm gương như Anthony, tôi sẽ không biết mình đang tìm kiếm điều gì. Sớm muộn gì tôi cũng sẽ phát hiện ra rằng đối với tôi, những điểm đáng giá trong tác phẩm của ông rất ít. Nhưng Anthony là một phần trong sự giáo dục của tôi, là một phần trong quá trình đào tạo tôi trở thành nhà văn, và ông cũng biết nhiều hơn cả những gì Anthony nghĩ.

Khi tôi quen ông, về tác phẩm của ông, tôi chỉ biết bản chuyển thể phát thanh của cuốn "What’s Become of Waring", cuốn sách ông xuất bản trước chiến tranh vào năm 1939. Anthony sau đó nói cuốn này chỉ bán được 999 bản, ám chỉ rằng vì chiến tranh bùng nổ nên cuốn sách không thể bán chạy hơn. Cuốn sách này có cấu tứ đơn giản, viết về một nhà văn du ký không thực sự đi du lịch. Cấu tứ này đơn giản đến mức không có gì ngạc nhiên khi trong năm sáu cuốn sách trước và sau đó, ông đều sử dụng lối cấu tứ này. Trong bản chuyển thể phát thanh, những gì được thể hiện là sự trần thuật bị nhấn chìm bởi những lời thoại thao thao bất tuyệt. Bản thân cuốn sách cũng vậy, theo cách của Powell, mọi thứ đều được giải thích quá mức.

Tôi không thể nói là mình không thích bản chuyển thể phát thanh, nên tôi hỏi Anthony ông cảm thấy thế nào. Sự khôn ngoan trong văn chương này – đá quả bóng sang phía đối phương, quả thực là vậy, sau này trong những tình huống tương tự vẫn có hiệu quả – chính là điều tôi nghĩ ra vào khoảnh khắc đó.

Ông nói ông thích, nhưng các diễn viên không một ai là không diễn quá lố, ngay cả khi nói một câu đơn giản như "Làm ơn đưa cho tôi điếu thuốc được không?", họ cũng cố gắng thêm vào chút kịch tính, tôi nghĩ đó là lý do khác khiến tôi thấy phiền lòng.

---❊ ❖ ❊---

Gạt bản chuyển thể phát thanh của "What’s Become of Waring" sang một bên, điều khiến tôi kinh ngạc là tôi thường cảm thấy bối rối trước những cuốn tiểu thuyết nổi tiếng thời bấy giờ như thế nào. Cuốn "The Quiet American" của Graham Greene khiến tôi không hiểu nổi, đây là cuốn sách hot năm 1955, bối cảnh là Đông Dương, về cuộc chiến tranh sắp xảy ra. Cuốn sách này giúp Greene nổi tiếng vì người ta nói ông có tầm nhìn xa. Một phần lý do tôi không hiểu cuốn sách đó là vì lúc bấy giờ tôi không đọc báo, hoặc nói đúng hơn là tôi đọc có chọn lọc. Tôi không đọc tin tức về nước Mỹ, hoàn toàn không đọc về cuộc chạy đua tổng thống, còn thông cảm cho những phóng viên phải theo sát đưa tin. Thomas De Quincey (về phương diện sưu tầm những con người xuất chúng hay khác biệt, ông ấy cũng giống như Anthony Powell) khi gặp Wordsworth đã thất vọng khi phát hiện ra người xuất chúng này – dù sao cũng là một nhà thơ – lại có thể quan tâm đến những thứ bình thường như báo chí.

Tôi không biết một người thích đào sâu tận cùng như De Quincey sẽ nhìn nhận tôi thế nào. Nếu lúc đó có ai hỏi tôi, tôi sẽ nói rằng mặc dù tôi không biết gì về chính trị Mỹ, nhưng tôi quan tâm đến cả thế giới. Lúc đó tôi đọc "Manchester Guardian" và "The Times". Graham Greene thường nói với những người phỏng vấn (họ quen đọc các cuộc phỏng vấn trước đó, nên câu hỏi nào cũng như nhau) rằng tầm nhìn của ông về Việt Nam và những nơi khác đến từ việc đọc báo kỹ lưỡng. Lúc đó tôi có suy nghĩ khác về việc đọc báo tỉ mỉ, tôi coi đó là một hành động nhàm chán. Mọi sự vật phát triển theo quỹ đạo của nó, bầu cử thì cứ bầu cử, nước Anh và Vương quốc Anh về cơ bản vẫn vận hành như thường, đọc những gì xảy ra trong giai đoạn chuyển tiếp đều là lãng phí thời gian, đọc những bài viết ví dụ như về vị Thủ tướng tốt nhất mà chúng ta từng có, cũng là lãng phí thời gian.

Lợi ích của việc này là khi tôi bắt đầu đi du lịch, những nơi tôi nhìn thấy đều tươi mới, nhưng lợi ích chỉ dừng lại ở đó. Đã có nhiều năm, tôi khao khát bước vào thế giới rộng lớn, lúc này tôi đã ở trong đó, nhưng tôi giữ khoảng cách với các sự kiện thời sự, sống như thể đang ở Trinidad vậy. Tôi từng phê bình những người xuất thân từ bối cảnh giống tôi rằng họ thiếu sự tò mò, ý tôi là sự tò mò về văn hóa, nhưng những người tôi phê bình lại có cái nhìn riêng về tầm quan trọng tương đối của sự vật, họ cũng ngạc nhiên không ít về sự thiếu tò mò chính trị của tôi. Một khi tôi bắt đầu xem xét những việc này, tôi mới thấy được sự thiếu hiểu biết của chính mình (không có từ nào khác để gọi tên nó). Quan điểm có hạn chế này cũng là một khía cạnh trong lịch sử và văn hóa của chúng tôi. Về mặt lịch sử, nông dân ở lưu vực sông Hằng không có quyền không có thế, chúng tôi từng bị các bạo chúa cai trị, thường là bị cai trị từ xa, những bạo chúa đó đến rồi đi, thường thì chúng tôi thậm chí không biết tên họ. Trong bối cảnh này, không có lý do gì để quan tâm đến các công việc công cộng – nếu coi những việc đó là tồn tại. Tình hình chính trị ở lưu vực sông Hằng như thế nào thì ở Trinidad, thuộc địa trước chiến tranh, cũng như vậy. Về phương diện này, trong mắt những người từ Ấn Độ đi tàu biển đến đây, không có gì có thể khiến họ bị chấn động.

Đối với lũ trẻ chúng tôi trong ngôi nhà đó, điều kỳ lạ là thế giới bên ngoài – cái mà chúng tôi không thể kiểm soát – cũng tạo ra tiếng vang trong thế giới nội tâm của chúng tôi. Trong ngôi nhà của bà ngoại tôi, thậm chí khi chúng tôi còn ở Port of Spain, thỉnh thoảng lại có các hoạt động tôn giáo, đọc kinh Ấn Độ, có thể kéo dài cả buổi sáng, cả ngày hoặc hai ngày, đôi khi là cả tuần.

Học giả tiếng Phạn Dattaram (mọi người không đặc biệt tôn trọng ông lắm) có thể cưỡi xe máy từ nông thôn lên. Ông có ngoại hình tuấn tú, vóc dáng thanh mảnh, làn da nâu sáng bóng, mang theo vẻ mặt lơ đãng. Trên trán ông vừa được bôi một chút tro đàn hương, nhưng ngoài ra, ông trông hoàn toàn không giống một học giả tiếng Phạn. Chiếc xe máy khiến ông trông sành điệu, cũng có thể nói ông (giống như một số học giả tiếng Phạn khác) có một công việc lương cao tại một căn cứ quân sự của Mỹ, lái xe tải, một ngày năm đô la (nếu xe tải là của mình thì một ngày mười đô la). Nhưng sau khi Dattaram thay bộ đồ lấy từ chiếc hộp nhỏ buộc sau xe đạp (khăn quấn eo, áo khoác trắng, chuỗi hạt và chiếc khăn quàng cổ sành điệu có tua rua), khi ông lười biếng ngồi trên tấm ga trải giường bằng vải cotton đã trải sẵn cho mình, và bằng giọng nói dịu dàng, uyên bác nói chuyện này chuyện nọ, ông trông rất ổn, nghe ông nói chuyện cũng khiến người ta thấy dễ chịu.

Tôi không hiểu tiếng Phạn và tiếng Hindi dùng trong giảng đạo (giống như người La Mã cổ đại), đã học cách sống với một quan niệm rằng: tôn giáo của chúng tôi – mặc dù trong mắt chúng tôi là chuyện cá nhân, là sở hữu của từng cá nhân – là một thứ gì đó huyền bí, được thực hiện bằng ngôn ngữ mà trẻ con chúng tôi không hiểu, một số nghi thức tế lễ có những biểu tượng vừa giống như chỉ có ở trong làng, vừa khiến người ta cảm thấy vừa quen thuộc vừa xa lạ: những bàn thờ đất đắp bằng bùn, là chúng tôi mô phỏng theo bàn thờ phủ cỏ thời cổ đại, trên đó cắm những cây chuối nhỏ mới chặt, còn có đống lửa dâng tế tỏa ra mùi thơm, đốt những mảnh gỗ thông tưới lên bơ tinh luyện và đường đỏ.

Đó là một nửa thế giới mà chúng tôi sở hữu trong đại gia đình. Bên ngoài còn có một thế giới mà chúng tôi hiểu rất ít, luôn ở đó, bạn cứ bước ra là luôn có thể nhìn thấy, theo một nghĩa khác, đó là điều huyền bí. Ở Trinidad, khi chúng tôi lớn lên, mang theo những khái niệm cực kỳ đơn giản về xã hội hoặc khi liên tưởng đến con người: ngoài gia đình ra, là đồn điền mía, giếng dầu, các tòa nhà chính phủ, v.v., chính trị từng có nghĩa là một người đàn ông Grenada để râu quai nón, tên là Tubal Uriah Buzz Butler, ông ta là người da đen, cuồng tín với Kinh Thánh, có một số cách nói mang màu sắc chủng tộc về sách Khải huyền. Năm 1937, ông ta đã kích động một cuộc đình công tại các mỏ dầu (trong đó có một cảnh sát da đen bị thiêu sống), rồi ông ta không biết bước tiếp theo phải làm gì. Chính trị cũng có thể có nghĩa là Albert Gomes – người Bồ Đào Nha ở Port of Spain, để ria mép kiểu Stalin, mơ ước trở thành lãnh tụ của ba mươi vạn người da đen ở Trinidad.

Trong bối cảnh này, việc đọc về triều đình của Louis XIV (trong bộ sách "Tự học lịch sử", đọc là để có kiến thức nền về Molière và những người khác) hoặc Cách mạng Pháp, hoặc những biến động chính trị khó hiểu của nước Pháp thế kỷ XIX, đều giống như đang đọc về những sự việc ở một vùng đất cổ tích. Không một ai trông giống người thật. Triều đình là gì? Triều thần là gì? Quý tộc lại là gì? Tôi phải tự bịa ra trong đầu, nhưng hầu hết thời gian, tôi cứ để chúng dừng lại ở nghĩa đen. Như vậy, tôi có được rất nhiều sự thật, nhưng lại thiếu nội dung, khó mà nắm bắt, nhưng lúc đó tôi sống trong màn sương mù của sự thiếu hiểu biết, thế giới xung quanh tôi – trong nhà bà ngoại khi tổ chức hoạt động tôn giáo, trong sách giáo khoa khi tôi đi học – đều là một mảnh hỗn độn. Tôi sống như vậy cũng thấy nhẹ nhàng; kỳ lạ là, sự giáo dục mà tôi nhận được khiến tôi học được rất ít, và tôi cứ nghĩ lẽ ra phải là như vậy.

Khi tôi nhận được học bổng đến Anh nhờ thành tích xuất sắc, tôi mang theo sự thiếu hụt về kiến thức này. Lần đầu tiên tôi buộc phải hiểu ra sự thiếu hụt này, rồi lại phải vừa đọc vừa viết để bù đắp sự thiếu hụt của chính mình.

Nhưng bây giờ tôi cảm thấy, những tác giả mà tôi không đọc vào lúc đó cũng có một phần trách nhiệm. Nếu nói năm 1955, tôi không biết "The Quiet American" viết về cái gì, chỉ có thể gấp sách lại khi đọc được hai phần ba, đó là vì Graham Greene đã không làm rõ chủ đề của ông. Ông tưởng thế giới của mình là thế giới duy nhất quan trọng. Ông giống như Flaubert trong cuốn "Giáo dục tình cảm", tưởng rằng lịch sử phức tạp và rối rắm của nước Pháp giữa thế kỷ XIX là quan trọng nhất, ai cũng biết, nhưng không phải nhà văn thành thị nào cũng giống như Flaubert và Greene. Maupassant trong các truyện ngắn của mình dù không gian sử dụng rất nhỏ, nhưng ông luôn giải thích chi tiết về thời gian và địa điểm, ngay cả những nhân vật phụ cũng có tên tuổi và lịch sử gia đình (Maupassant luôn viết về một đời người), khiến thế giới xa xôi dưới ngòi bút của ông trở nên trọn vẹn, dễ tiếp nhận, thậm chí mang tính phổ quát. Bạn không cần phải hiểu lịch sử nước Pháp thế kỷ XIX mới có thể hiểu được cảnh ngộ bi thảm của những người nông dân dưới ngòi bút của ông hay vết thương sâu sắc mà chiến tranh Pháp-Phổ để lại. Người Nga (trừ Turgenev) luôn viết rất rõ ràng, Mark Twain đến từ Missouri xa xôi luôn viết rất rõ ràng. Kỳ lạ là, đợi đến cuối cùng, đợi đến khi bụi trần lắng xuống, những người viết mà cứ ngỡ mình là trung tâm thế giới lại có khả năng bộc lộ ra rằng chính họ mới là những kẻ quê mùa.

Năm 1955, tức năm "The Quiet American" nổi tiếng, Evelyn Waugh xuất bản cuốn "Officers and Gentlemen", tập hai trong bộ ba chiến tranh của ông, cuốn sách này cũng khiến tôi đọc không thuận lợi. Tôi cảm thấy mặc dù có những tuyên bố thông thường, cuốn sách này vẫn quá gần với sự thật, cần phải có hiểu biết nhất định về tiến trình chiến tranh và một trận chiến nhỏ ở một nơi nhỏ, hơn nữa cuốn sách viết một cách kiểu cách, dầu môi dẻo mép, nhiều lời thoại không biết xuất phát từ miệng ai, bạn phải lật lại xem người nói là ai. Viết như vậy, có lẽ cố ý là muốn nói giảm nói tránh, nhưng lại là lười biếng, là di sản từ hài kịch trước chiến tranh, phù hợp cho những cuộc trò chuyện nhàn rỗi, nhưng lại không phù hợp để miêu tả giai đoạn đầu của một cuộc chiến tranh khủng khiếp. Quan trọng nhất là, cuốn sách này tràn ngập một sự tự phụ kỳ lạ, không phải sự tự phụ liên quan đến quốc gia – trong một cuốn sách miêu tả chiến tranh, nếu có thì cũng có thể hiểu được – mà là sự tự phụ trong giao tiếp xã hội thời chiến, giống như một người, trước chiến tranh tính cách u sầu, rồi khi đánh trận, lại phát hiện ra những đức hạnh cao hơn: tình đồng chí giữa những người mà ông cho là cao cấp hơn mình. Kỳ lạ thay, điều này giống như Kipling, cũng khiến cuốn tiểu thuyết này mang tính cá nhân rất cao.

Theo một nghĩa nào đó, tôi hiểu ra từ những cuốn sách này rằng làm nhà văn chỉ có thể đi con đường của riêng mình, điều này khiến tôi cảm thấy nhẹ nhõm. Tôi còn nhớ một chuyện khác của năm 1955, đó là vào cuối năm, khi tôi sắp sửa nộp bản thảo cuốn tiểu thuyết mà nhà xuất bản André Deutsch yêu cầu, tôi nghĩ nên xem bậc thầy viết lời thoại như thế nào. Tôi đã mua cuốn "The Painted Veil" của Maugham tại một sạp báo ở hiệu sách W.H. Smith, đứng đọc vài trang, rất nhanh chóng kết luận rằng tôi không thể nhận được sự chỉ dẫn nào từ nhà văn Maugham, không phải vì ông kém, mà là vì chất liệu của tôi và ông khác nhau quá lớn, đó là chất liệu của riêng tôi, tôi chỉ có thể giữ lấy nó, xử lý tốt nhất có thể theo cách của mình. (Mặc dù có điều kiêng kỵ là tiết lộ quá sớm, nhưng tôi vẫn phải nói rằng điều khiến tôi cảm thấy nhẹ nhõm là quá trình học tập này bắt đầu đi kèm với khả năng từ bỏ, cảm thấy mình không cần phải đọc những từ ngữ hoa mỹ nhưng rỗng tuếch của Henry James nữa, điều này thật nhẹ nhõm biết bao.)

Mặt khác của việc đi con đường của riêng mình, có nghĩa là tôi đang nỗ lực làm nhà văn ở một nơi thực tế không có không gian phát triển cho tôi, ở đây có nhận thức riêng về việc viết lách là gì, và trái ngược với những gì tôi nghĩ kể từ khi hình thành hoài bão lớn lao rõ ràng, ở đây hoàn toàn không có một nền văn học cộng hòa nào cả.

Điều này cũng khiến tình bạn của Anthony Powell dành cho tôi càng trở nên ý nghĩa phi thường.

---❊ ❖ ❊---

Tôi vốn tưởng cuộc sống của ông gối cao không lo, nhưng vào năm 1957, ông sống không như ý muốn. Ông rất nổi tiếng, nhưng sách chỉ bán được 7000 bản, không đủ để ông duy trì cuộc sống, ông buộc phải tìm một công việc, vì vậy ông làm biên tập viên văn học tại tạp chí "Punch", công việc này đối với ông mà nói, đầy rẫy sự nhục nhã. Tạp chí "Punch" có vài trang văn học, có lẽ chỉ có hai trang, biên tập viên Bernard Hollowood – một họa sĩ biếm họa tư chất tầm thường – thường nói chính ông ta có thể biên tập phần văn học. Anthony nói có người trong tòa soạn đã tách tên của Hollowood ra, gọi thành "Hollow Wood" (Gỗ rỗng). Câu chuyện này rất giải thích rõ vì sao ông sống không như ý tại tạp chí "Punch".

Thế nhưng, chính thông qua Tony, vào khoảng những năm 1957 đến 1958, tôi đã trở thành người viết phê bình sách cho tờ tuần báo "New Statesman". "New Statesman" vượt xa các tờ báo cùng loại, là tuần báo xuất sắc nhất nước Anh thời bấy giờ. Những trang đầu của tờ báo mang tính chính trị, viết về chủ nghĩa xã hội và Công đảng. Các trang nghệ thuật phía sau có trình độ rất cao, dung nạp mọi khuynh hướng chính trị. Người ta yêu thích sự kết hợp kỳ lạ này. Số lượng phát hành của "New Statesman" đạt tám mươi nghìn bản mỗi kỳ, một con số đáng kinh ngạc đối với loại tuần báo như vậy. Có thể xuất hiện trên tạp chí này đồng nghĩa với việc đã có chút danh tiếng, vì mọi thứ đăng trên đó đều lan tỏa khắp thế giới nói tiếng Anh. Khi tôi đến Ấn Độ vào năm 1962, rất nhiều người, đôi khi thậm chí là cả nhân viên phục vụ toa giường nằm trên tàu hỏa, đều đối xử với tôi rất khách khí, bởi lẽ tôi viết bài cho "New Statesman" (mọi người đều biết tờ báo này có thái độ thân thiện với Ấn Độ). Vị đạo diễn điện ảnh lỗi lạc Satyajit Ray cũng muốn trò chuyện với tôi về những bài phê bình phim trên "New Statesman".

Nhưng con đường trở thành người phê bình sách cho "New Statesman" của tôi không hề bằng phẳng. Cuốn sách đầu tiên tôi được giao thử bút (tôi nhớ là được báo gấp) là "A Book of Anecdotes", do học giả được nhiều người yêu mến Daniel George biên soạn. Thực tế đây là một cuốn sách kể chuyện cười, tôi không biết phải phê bình thế nào. Nếu hôm nay phải viết ba bốn trăm chữ cho một cuốn sách như vậy, tôi sẽ đi đường tắt, chọn ra hai ba mẩu thú vị nhất để nhận xét, rồi tìm vài câu sáo ngữ về giai thoại để lấp đầy (tôi cũng chẳng chắc mình sẽ viết gì). Lúc đó, tôi đã đọc từ đầu đến cuối cuốn sách của Daniel George, vốn dĩ là một việc dễ chịu, cuối cùng lại biến thành sự tra tấn. Trong mấy ngày sau đó, tôi viết đi viết lại một bài ngắn, bắt đầu thấy nhức đầu. Sau cùng, vì chẳng có gì để nói, tôi nghĩ mình nên phê bình Daniel George, thế là tôi viết bằng giọng điệu gay gắt như một sinh viên đại học. Cuối cùng, tôi mang bài viết đến phố Great Turnstile, ném vào tòa soạn "New Statesman". Chẳng bao lâu sau, tôi gặp một người quen làm việc ở tờ "Sunday Express", tôi hỏi anh ta về Daniel George, anh ta nói George là người tính tình tốt, rộng lượng. Tôi bắt đầu lo lắng bài viết tệ hại của mình có thể sẽ được đăng. Mấy tuần sau đó, tôi sợ không dám đọc "New Statesman", nhưng rốt cuộc cũng không thấy bài viết đó đâu, tôi cảm thấy nhẹ nhõm.

Tôi cứ ngỡ duyên phận của mình với "New Statesman" đến đây là hết, nhưng vẫn còn một người nhân từ – chắc chắn là Tony – đang để mắt đến tôi tại phố Great Turnstile. Ông đã thuyết phục biên tập viên văn học trợ lý cho tôi thêm một cơ hội. Tôi nhận được vài cuốn sách khác, một cuốn về John Lyly và các uyển ngữ (tôi thích cuốn này), vài cuốn về Jamaica, giúp tôi nảy ra vài ý cười. Tôi bắt đầu đăng bài, "New Statesman" thậm chí còn đăng những mẩu chuyện cười về Jamaica do tôi biên soạn ("Mỗi ngày ăn một quả chuối, người Jamaica sẽ không đến làm phiền bạn"), điều mà ngày nay sẽ chẳng bao giờ được duyệt. Sau đó, tôi chuyển sang phê bình tiểu thuyết, mỗi tháng một lần, chuyên mục một nghìn chữ, nhuận bút mười guinea. Mỗi bài chuyên mục phải viết mất một tuần. Tôi viết như vậy suốt ba năm.

Khi đó, tôi sống trong một căn phòng áp mái quá nhiều đồ đạc và bừa bộn ở Muswell Hill. Hai vợ chồng chủ nhà lớn tuổi đều từng kết hôn trước đó, căn gác mái chất đầy đồ đạc dư thừa. Trong phòng khách khá rộng có một góc ngăn ra để chứa than, ở đó cũng có chuột, đôi mắt chúng sáng quắc, bạn vừa tiến lại gần là chúng đã hoảng sợ. Cửa sổ mái phía sau nhìn xuống một sân chơi bóng gỗ. Một vài buổi tối, từ ngôi nhà phía bên kia sân chơi vọng lại tiếng hát luyện giọng bài "When the Saints Go Marching In". Chim sáo đá tấn công khắp các khu vườn, tha chiến lợi phẩm lên mái nhà có cửa sổ. Đôi khi một quả anh đào rơi ra từ miệng chúng, con chim thất vọng rõ ràng là tức giận, kêu chít chít rồi cào cấu lên những viên ngói trên mái.

Thời điểm đó, tôi đã từ bỏ một công việc, ban đầu làm chỉ để gửi tiền cho mẹ (trong thư bà chỉ nhắc đến tiền). Tôi đang viết một cuốn sách mới theo cách có thể gọi là đơn độc, không người giúp đỡ. Vì lý do nào đó – có lẽ tôi cảm thấy cuốn sách này chỉ là tạm thời – tôi đã viết tay trên giấy không dòng kẻ. Khoảng thời gian sống ở gác mái, tôi cảm thấy chán nản, chỉ có chuyên mục mỗi tháng một lần trên "New Statesman" mới giúp tôi phấn chấn lên đôi chút. Mỗi kỳ báo ra vào thứ Sáu, tôi đều đến thư viện công cộng Muswell Hill xem họ có dùng bài của tôi không. Trong phòng đọc luôn có một người đàn ông dáng người cao gầy, mặc bộ vest đen xếp hàng trước tôi. Anh ta tầm hai ba mươi tuổi, tạp chí mở trước mặt, anh ta nở nụ cười chân thành, vừa đọc vừa búng tay. Đến lượt tôi, tôi xem bài của mình có được đăng không, nếu có, tôi sẽ vô cùng ngượng ngùng, cẩn thận không đọc nó, cũng không nhìn vào những trang đó, khi đọc tạp chí tôi thường kẹp chặt những trang ấy lại. Thấy tên mình được in thành chữ chì, tôi lại cảm thấy thẹn thùng hoặc hư vinh, điều này tôi vẫn chưa thể khắc phục được.

Một thời gian sau, tôi bắt đầu đi du lịch, mối quan hệ với "New Statesman" không thể duy trì được nữa. Sau vài năm, khi đã ổn định trở lại, mười guinea mà "New Statesman" trả không đủ đáp ứng nhu cầu của tôi. Tony giúp tôi tìm công việc viết phê bình tiểu thuyết cho tờ "Daily Telegraph", mỗi bài ba mươi bảng, gần đủ để nuôi sống gia đình. Nhưng họ có vài quy tắc quan liêu: phải phê bình đủ số lượng sách nhất định, và trong câu đầu tiên của phần tương ứng, bắt buộc phải nhắc đến tên sách. Vì những quy tắc này, tôi không dễ viết được một bài phê bình tử tế như khi viết cho "New Statesman". Điều này khiến bài phê bình tiểu thuyết dài trở nên giống như những bài viết đặc biệt nhạt nhẽo, dường như chẳng ai đọc những gì tôi viết. Viết bài cho "Daily Telegraph" chẳng giúp ích gì cho danh tiếng của một người, nhưng ba mươi bảng Anh thì là tiền thật.

---❊ ❖ ❊---

Trong khoảng thời gian này, Tony vẫn không ngừng tiến bước theo cách riêng của mình, cứ hai ba năm lại ra một cuốn sách, cũng viết cả phê bình sách. Tony và tuần báo "Punch" cuối cùng chia tay trong không vui, nhưng ông tiếp tục viết phê bình sách cho "Daily Telegraph". Biên tập viên văn học ở đó là H.D. Ziman, một cây bút tầm thường, thường đi đi lại lại trong tòa soạn "Daily Telegraph" vừa đọc chính tả bài phê bình, vừa chào hỏi người mới đến rồi lại tiếp tục như thế. Tôi nhớ hình như một trong những đạo cụ của ông là chiếc tẩu thuốc, nhưng tôi không chắc, giờ cũng chẳng tìm được ai để hỏi. Ông là người New Zealand, tôi nghĩ vậy, ngoài điều đó ra thì chẳng có gì xuất chúng. Tony có tính cách độ lượng và thích "sưu tầm" con người, Ziman khiến ông mê mẩn, tôi không biết là vì điểm nào. Ông gọi ông ta là "Z", không dưới một lần kể cho tôi nghe những câu chuyện về "Z", ông cảm thấy ông ta rất đặc biệt, nhưng tôi đều không nhớ nổi. Đối với Tony, việc ông mê mẩn Ziman sẽ tăng thêm vài phần quyến rũ cho mối quan hệ hữu nghị giữa ông và "Daily Telegraph". Những cuốn sách cần phê bình vốn có thể gửi đến tận nhà ông ở Somerset, nhưng ông thích đến London xem những cuốn sách đó hơn, tôi nghĩ đồng thời ông cũng muốn cảm nhận bầu không khí của tòa soạn.

Sau đó có một chuyện đại hỉ thay đổi cuộc đời ông. Sau khi cha qua đời, ông để lại cho ông một khoản tiền không nhỏ. Chuyện tốt đến muộn này, cùng với việc cuộc sống của ông không còn phải chật vật nữa, rất có thể đã ảnh hưởng đến việc viết lách của ông, khiến những tập cuối trong bộ tiểu thuyết tự truyện của ông trở nên sống động hơn một chút. Cha ông là một quân nhân, thời hoàng kim nhất là giữa hai cuộc thế chiến, lúc đó rất ít người được thăng chức, Tony vẫn luôn nghĩ cha mình rất nghèo. Tony nói trước đây khi đến thăm cha, lúc nhận tiền ông cụ đưa để mời ông một ly rượu gin, ông cảm thấy không nên. Đến bây giờ, Tony có thể quên đi những "Hollow Wood" và bao nhiêu "Hollow Wood" xuất hiện sau này. Ông và vợ bắt đầu những chuyến du ngoạn mang tính văn hóa.

Bạn bè rất vui khi được ở bên người đàn ông vừa trút bỏ được gánh nặng này, nhìn thấy nỗi u sầu trước đây của ông tan biến. Bởi tôi cảm thấy mặc dù đời sống viết lách kiểu Anh mang lại cho Tony phong cách đặc biệt, nhưng cũng khiến ông trở nên u sầu. Những người cùng thời hoặc gần cùng thời với ông làm tốt hơn nhiều về mặt này – Waugh, Greene, Orwell, Connolly (dù có lẽ Connolly không làm tốt bằng), Betjeman, Amis. Với tất cả những người này (ngoại trừ Greene), Tony đều yêu mến họ theo cách riêng của mình, yêu mến họ như những cá tính độc đáo. Người mà ông đặc biệt yêu mến là Waugh với lối nói chuyện trào phúng; cách trân trọng từng người như vậy đã hóa giải sự đố kỵ có thể có ít nhiều. Tôi cũng trân trọng ông, cảm thấy ông đáng để noi theo, ông đã làm gương cho tôi, giúp tôi chuẩn bị tâm thế cho chặng đường gian nan phía trước.

Đôi khi khi đến London, ông mời tôi cùng ăn trưa tại nhà hàng "Travellers". Ông sẽ nói về những khó khăn trong việc viết sách, bảo tôi cho ý kiến, nhưng thực ra không hẳn muốn nghe; thường thì – trước khi gặp vận may – tôi sẽ thấy ông trở nên lơ đãng, hơi gù lưng, rất u sầu, sắc mặt ông gần như xám xịt, trên khuôn mặt già nua đó lởm chởm những sợi lông ngắn.

Tôi từng thường tự hỏi tại sao ông lại viết, tại sao lại dấn thân vào con đường văn chương, tại sao lại kiên trì đến cùng (người bắt đầu thì nhiều, người kiên trì thì ít), liệu có thực sự cần thiết như vậy không. Việc viết lách của ông dường như không phải vì nhu cầu. Ông dường như chưa từng mạo hiểm bất cứ điều gì. Sau khi tốt nghiệp đại học, ông bước vào ngành xuất bản; rồi đến thời chiến, chiến tranh không đòi hỏi gì nhiều ở ông, sau chiến tranh ông quay lại với ngành sách. Khác với Greene, Orwell và Waugh, chưa bao giờ ông chủ động tiếp xúc với thế giới, cái ông tin phụng chính là thế giới của ông đã là đủ rồi.

Ông có lẽ sẽ nói – nhưng đây là tôi đang cố gắng suy diễn – rằng trong tay những người như Greene, tiểu thuyết về cuộc sống ở nước ngoài chỉ là hào nhoáng, bối cảnh nước ngoài thô lậu dễ khiến nhân vật có tính kịch. Nếu hỏi ông (ông từng suy nghĩ rất sâu sắc), ông sẽ nói, trước đây có rất nhiều nhà văn vĩ đại chỉ quanh quẩn trong xã hội của họ, và quả thực là vậy. Dickens đáng đọc luôn viết về nước Anh, Tolstoy viết về nước Nga là đạt đến đỉnh cao, Balzac viết về nước Pháp. Nhưng những nhà văn này đều là những người tiên phong, viết những gì người ta chưa viết. Đến năm 1930 khi Tony bắt đầu viết, về những xã hội quan trọng này của châu Âu, gần như không còn gì là chưa có người viết. Vì nhiều lý do, bản thân những xã hội đó cũng nhỏ lại – chiến tranh, cách mạng; và thế giới xung quanh những xã hội từng không bị thách thức này dần dần mở rộng. Một chủ đề tự minh chứng của một xã hội luôn là chính nó, nó có quan điểm riêng về vị thế của bản thân trong thế giới. Một xã hội đã nhỏ lại không thể dùng cách cũ, tức cách phê bình xã hội để viết.

Về xã hội vừa nhỏ lại vừa bị viết nát này, cách làm của Waugh là đúng đắn, đó là viết những câu chuyện cổ tích mang tính trào phúng ("Decline and Fall") và những câu chuyện lãng mạn sau này ("Brideshead Revisited"), cuốn sau là về khát vọng đối với tầng lớp thượng lưu (về bản chất mà nói, giống như Walcott viết khi còn trẻ, về mái tóc nâu trong biển quý tộc của Saint Lucia), gần như mang đặc tính nữ giới, trong khát vọng đó, suốt năm sáu mươi năm, xã hội Anh dân chủ từng mơ ước trở nên quý tộc hóa. Ảo tưởng đó không phải là mục tiêu của Tony. Ông hy vọng nắm bắt được một cách chính xác, trung thành với trải nghiệm của bản thân, thực tế là viết lại một lần nữa. Theo một nghĩa nào đó cũng không khó, vì tư liệu đã có sẵn (sau khi kết giao, ông từng nhắc với tôi rằng ông sáng tác không được thuận lợi); theo một nghĩa khác, như vậy là tự đánh bại chính mình, vì trước đó đã có người làm vậy rồi, cuốn sách không có tính nguyên bản thì không có sự sống. (Giống như cuốn tự truyện thế kỷ 19 của Leigh Hunt, trong sách, tác giả dường như đang liệt kê những việc ông đã làm hoặc nhìn thấy mà ông tán thưởng, giống như một chuyến du lịch giáo dục khắp châu Âu; hoặc giống như bộ tự truyện nhiều tập nhạt nhẽo của họa sĩ biếm họa Osbert Lancaster năm mươi năm trước, nhắc đến ở đây chỉ vì những cuốn sách đó có thể minh chứng vấn đề, tác giả trong sách tuyệt đối vui lòng không nói gì thêm ngoài những ký ức thiêng liêng về người nổi tiếng, thỏa mãn với việc nói: "Tôi cũng có mặt ở đó." Xã hội có trình độ văn hóa quá cao tự có những cái bẫy của nó.)

Vì đã nhắc đến tên Walcott trong chương này, tên ông lại làm tôi nhớ đến người khác, theo tôi thấy (tôi không muốn nhấn mạnh quá mức điều này), cách Tony đối xử với thế giới của mình hơi giống cách cha tôi đối xử với thế giới của ông, tất nhiên hai thế giới và hai cách viết này không thể so sánh được. Những truyện ngắn thời kỳ đầu của cha tôi loại trừ mọi thứ khác trên đảo, thậm chí có thể nói là loại trừ cả thời gian. Ông làm vậy là vì nỗi đau cá nhân, nhưng với tư cách là một nhà văn, ông không nên làm thế. Làm người tiên phong không dễ, cũng có rất nhiều cám dỗ khiến người ta làm những việc tầm thường. Nếu trong lĩnh vực của ông có người thứ hai hoặc thứ ba, nếu có người từng viết về màu sắc địa phương, viết về tôn giáo và nghi lễ trước ông, cha tôi có khả năng đã trở thành một nhà văn giỏi hơn. Vậy, giả định cha tôi muốn viết trong một hoàn cảnh khác (đây là một giả định táo bạo), ông có thể đã thấy có vô vàn tư liệu đang chờ đợi mình, tức những thứ tôi muốn khám phá từ ông, về cuộc đời ông và xã hội thuộc địa những năm hai mươi.

---❊ ❖ ❊---

Người mở đường khó làm, có lẽ đến cuối cùng còn khó hơn.

Sau khi trải qua cuộc đời xuất bản một cách êm đềm, Tony lui về vùng quê ở tuổi bốn mươi sáu. Cuộc sống của ông tiếp tục trôi đi bình lặng. Ông tập trung viết bộ tiểu thuyết tự truyện nhiều tập của mình, điều này có nghĩa là với tư cách một nhà văn, thậm chí còn hơn cả trước chiến tranh, ông bây giờ phải vắt óc ra mà viết.

Hành động của ông, giống như người cùng thời Waugh, người sau mười năm lang bạt trên thế giới đã lui về vùng quê ở tuổi ba mươi bốn. Đối với Waugh – không bàn đến trải nghiệm của ông trong Thế chiến II – điều này giống như rút lui khỏi cuộc sống. Những dinh thự nông thôn bình thường, những người hầu được thuê chính thức, có lẽ giúp ông sống như một nhà văn thành công lui về ở ẩn, nhưng không thể cung cấp cho ông bất cứ thứ gì để viết, ngoài sự suy sụp của chính bản thân ông sau này. Cuộc sống nông thôn của Waugh khác với cuộc sống nông thôn của Faulkner hay Maupassant vĩ đại, ở đó hoàn toàn không có gì có thể nuôi dưỡng và mở rộng trí tưởng tượng của ông. Mọi khía cạnh xã hội của cuộc sống nông thôn Anh đều đã được viết hết, hoàn toàn không có gì mới để khám phá. Sống ở vùng quê nước Anh, có được nơi ẩn nấp, cũng là một cách đi đến cái chết một cách đầy sáng tạo.

Đối với nhà văn, xã hội đã được viết quá nhiều có những khó khăn riêng của nó. Trong thế giới liên kết lẫn nhau ngày nay, mọi thứ đều vận hành nhanh hơn trước, thế giới này đã lung lay, trung tâm thế giới đã dịch chuyển. Hoạt động văn học của nước Pháp thế kỷ 19 có lẽ dường như có tính bền vững, thế giới ngày nay lại gần như không nghe thấy tin tức gì về các tác phẩm Pháp đương đại. Năm 1920, công ty Jonathan Cape xuất bản cuốn "Babbitt" của Sinclair Lewis, cuối sách có kèm bảng từ vựng, thu thập những từ tiếng Mỹ dường như khó hiểu, ngoài ra còn có lời tựa của Hugh Walpole, khẩn cầu độc giả Anh tha thứ cho sự thô ráp tổng thể của cuốn sách. Nhưng chỉ ba mươi năm sau, sự giao lưu sách vở giữa hai bờ Đại Tây Dương đã gần như thay đổi hoàn toàn hướng đi; chỉ vài năm sau, những nơi từng nằm ở ngoại vi – Mỹ Latinh và Ấn Độ – từng quá xa xôi quá không quan trọng, lại trở nên nổi tiếng. Tư liệu ở những nơi này vì tính mới mẻ nên chắc chắn sẽ được chào đón, nơi đó cũng được xem là nguồn gốc của sức sống, điều mà văn học Anh đã đánh mất (chỉ có thể nghĩa là tư liệu của Anh giờ đã trở nên lỗi thời).

Khi tôi bắt đầu viết vào giữa những năm năm mươi, tôi cảm thấy không tìm được đường vào. May mắn là năm 1955, tôi có Andre Deutsch và Diana Athill làm biên tập viên, nếu không có họ, tôi có lẽ đã mất hứng thú, có lẽ vĩnh viễn không thể bắt đầu. Tư liệu tôi sử dụng khiến tôi đụng đâu cũng gặp khó, mất mấy năm mới xuất bản được sách ở Penguin. Mãi đến năm 1961, nhà xuất bản lớn Knopf của Mỹ vẫn trả lại sách của tôi mà không thèm đọc: người đại diện ngu ngốc của tôi ở Anh – một nhân vật ở công ty Curtis Brown – cứ khăng khăng bắt tôi đến khách sạn Claridge tự tay trao cuốn sách của mình cho Blanche Knopf. Mãi mười tám năm sau, tôi mới thiết lập được mối quan hệ có thể coi là ổn định với nhà xuất bản Knopf. Hai mươi lăm năm sau khi tôi bắt đầu viết, thế giới đã thay đổi diện mạo.

Tuy nhiên, tôi cũng cảm thấy – chỉ là bây giờ, đo lường những thứ này cần thời gian – điều đó là tốt với tôi, nhưng với Tony thì không. Khi ông bắt đầu viết bộ tiểu thuyết tự truyện nhiều tập, tư liệu ông sử dụng – câu chuyện trưởng thành của tầng lớp trung lưu Anh – có lẽ có thể nói là được mọi người công nhận lúc bấy giờ. Nhưng đợi đến khi ông viết đến hồi kết sau hai mươi lăm năm, thế giới đã thay đổi, nước Anh cũng đã thay đổi. Ông bị coi là nhân vật lỗi thời, tư liệu ông sử dụng đã chết, chúng thuộc về một thời đại đã bị vượt qua.

Ông không hiểu rõ lắm tại sao lại như vậy. Tinh thần độ lượng, thói quen "sưu tầm" con người và sự không lo lắng về tiền bạc đều khiến ông mù mờ trước những thay đổi của tình hình. Trong số những người bạn cũ, thân phận của ông là một nhà văn già, hoàn toàn không biết người khác nói gì sau lưng mình. Một ngày nọ, có người nói với Sonia Orwell rằng trong sách của Tony, con người bị điều khiển bởi ý chí, cô làm mặt nhăn nhó, giống như vẻ khinh bỉ. Mà Tony và vợ rất thích George Orwell, tôi nhớ Sonia trò chuyện với Tony tại nhà riêng ở Gloucester Road, bàn về việc cô hỗ trợ biên tập, chuẩn bị xuất bản các tập thư từ và bài báo của Orwell tại công ty Penguin.

Nhà báo Malcolm Muggeridge là bạn tốt của Tony, hoặc đó là ấn tượng tôi có được từ những câu chuyện Tony kể về ông. Đầu những năm năm mươi, ông là biên tập viên tạp chí "Punch", Tony có lẽ quen ông ở đó. Tôi nghĩ ông là một trong những người Tony đã "sưu tầm". Ông thường đến nhà Powell ở Somerset. Có một câu chuyện kể rằng ông dậy sớm vào buổi sáng, viết bài bằng bút chì và giấy trên giường, trước bữa sáng đã hoàn thành hai đến ba bài báo cho tuần đó. Tony không coi thường bản lĩnh này mà cho rằng đó là tài năng độc đáo, cứ thế viết ra những bài báo trí tuệ, hấp dẫn và được yêu thích. Sau khi nghe Tony nói những lời ngưỡng mộ như vậy, tôi kinh ngạc khi thấy Muggeridge viết một bài phê bình không mấy thân thiện, đầy vẻ mỉa mai về những cuốn tiểu thuyết sau này của Tony. Muggeridge viết rất trúng đích. Trong mắt một số người, bài phê bình này là tín hiệu rõ ràng, tức là đặc biệt là khi những tập sau của bộ tiểu thuyết ra mắt với vẻ hơi sống động, Tony đã trở thành một nhân vật văn học lỗi thời mà không hề hay biết. Tony không biểu hiện ngay là mình bị tổn thương, mà phải rất lâu sau đó mới lộ ra.

Ziman – người mà Tony gọi là "Z" – sau này không còn giữ chức biên tập viên văn học của "Daily Telegraph" nữa, người kế nhiệm ông là David Holloway, trước đây làm ở tờ "News Chronicle". Một ngày nọ, khi tôi đến "Daily Telegraph" lấy sách hoặc nộp bài, Holloway nói với tôi: "Anh là bạn của Powell, đúng không?" Holloway hơi bị lác mắt, khiến anh ta trông có vẻ thẹn thùng hoặc đầy ác ý. Lúc này anh ta không hề tỏ ra thẹn thùng. Sau khi tôi thừa nhận mình là bạn của Powell, anh ta nói: "Anh thấy ông ấy viết thế nào?" Tôi chưa kịp nói gì, anh ta đã nói – giọng điệu hơi bực bội và trợn đôi mắt có tật của mình lên: "Tôi sẵn sàng trả tiền để ông ấy đừng viết nữa." Chỉ nói vậy thôi, nhưng tuần này qua tuần khác, anh ta vẫn đăng bài phê bình chính của Tony ở vị trí đầu trang.

Thực tế, những bài phê bình sách của Tony viết rất hay, thậm chí còn hay hơn tiểu thuyết của ông. Phạm vi các nhà văn được nhắc đến trong bài phê bình cực kỳ rộng lớn, bao hàm những suy tư cả đời của ông, và được viết bằng lối viết trực diện. Tony viết những bài phê bình này không phải vì nhuận bút của "Daily Telegraph", ông viết như một phần của cuộc đời viết lách. Ông cho rằng buổi tối của một nhà văn nên dành cho việc này, ông nói điều đó giúp ông có thứ để đọc từ thứ Hai đến thứ Sáu. Ông viết bài phê bình vào sáng thứ Bảy, quy tắc của ông là không bao giờ dành quá nhiều thời gian cho một bài phê bình, vì có quy tắc này nên thời gian luôn đủ. Để tìm được giọng điệu đó, khi viết ông tưởng tượng mình đang giới thiệu cuốn sách này với một người cụ thể.

Tôi thực lòng ước mình cũng có thể học được quy tắc của ông ấy. Khi đó tôi phát hiện ra thời gian dành cho việc viết một bài phê bình sách (cho tuần báo "New Statesman") ngày càng kéo dài: sáng thứ Bảy, rồi cả ngày thứ Bảy, phần lớn thời gian tối Chủ nhật, và thậm chí là cả sáng thứ Hai. Đến khi biết biên tập viên văn học chốt số vào sáng thứ Tư, tôi lại tận dụng nốt khoảng thời gian dư thừa đó. Ban đầu, tôi chỉ mất hai ba tiếng để hoàn thành một bài phê bình, tương đương thời gian viết một bài luận ở đại học, tôi cảm thấy như vậy là quá nhiều. Tôi từng có một suy nghĩ sai lầm rằng, làm việc càng lâu thì viết càng thuận tay, rồi sẽ trở thành một Malcolm Muggeridge. Rốt cuộc, nó bắt đầu trở nên lãng phí thời gian vì tôi cứ chăm chăm vào những ý tưởng vụn vặt mà chẳng thu lại được gì đáng kể. Chính vì lý do này (cộng thêm cảm giác tội lỗi vì công việc vô giá trị này trong khi có bao nhiêu cuốn sách mới đang chờ đợi), ngay khi có thể không phụ thuộc vào nhuận bút, tôi đã từ bỏ công việc phê bình định kỳ và không bao giờ quay lại với nó nữa. Nếu bây giờ còn viết phê bình sách, tôi nghĩ mình sẽ mất gấp đôi thời gian so với khi ba mươi tuổi.

Những vinh dự này khác đổ dồn lên đầu Tony, đủ để ông tự cho mình là một nhà văn thành công dù đã luống tuổi, một "con sư tử mùa đông". Ông đã hai lần dùng bữa tối với Thủ tướng Margaret Thatcher (cùng một nhóm nhân vật kiệt xuất), một trong số đó là tại số 10 phố Downing. Đại học Oxford trao cho ông bằng danh dự, Hiệu trưởng Harold Macmillan (cựu Thủ tướng) đã đọc bài điếu văn bằng tiếng Latinh. Cả Macmillan và Tony đều thích tác phẩm mang phong vị cổ xưa đó, trong đó ví Tony như Menander tái thế, so sánh ông với vị kịch tác gia Hy Lạp cổ đại mà người đời chẳng mấy ai biết đến này. Không lâu sau đó, tôi tình cờ gặp ông Macmillan tại New York, ở phòng chờ hoặc phòng tiếp khách lộn xộn của chương trình "The Dick Cavett Show". Ông Macmillan mặc bộ đồ vải tweed màu nâu dày cộm, còn khoác thêm áo choàng, trông vóc dáng thật đồ sộ, nhưng ông đã già và ốm yếu, thái độ thì lạnh nhạt. Tôi hỏi về bài điếu văn đó, đặc biệt là đoạn nhắc đến Menander. Chúng ta biết được bao nhiêu về người này? Ông dùng đôi bàn tay to lớn của mình làm động tác xòe ra, rồi bằng giọng nói trầm hùng lúc bấy giờ đã suy yếu, ông đáp: "Chỉ là những mảnh vụn." Những cuốn sách tôi có trong tay cũng nói với tôi như vậy, chính xác là cụm từ đó. Vì thế tôi nghĩ ông cũng chẳng biết nhiều hơn chúng ta là bao, thực tế là ông đã đánh cược một lần trong bài điếu văn bằng một tài liệu tham khảo học thuật mơ hồ như thế.

Tony rất thích các nghi thức liên quan đến bằng danh dự. Ông và vợ là Violet đã chụp rất nhiều ảnh, họ đặc biệt vui mừng vì được gặp nhà thơ hạng hai Philip Larkin, người mà Tony từng nhắc đến miệng không rời với những lời tán dương hết mực, tôi có cảm giác ông sắp sửa đưa Larkin vào bộ sưu tập của mình. Tôi khá mừng là ông đã không làm vậy, bởi vì chúng ta sớm đọc được—sau khi Larkin qua đời—những lời nhục mạ tồi tệ nhất nhắm vào Tony, trích từ nhật ký của Larkin hoặc trong một bức thư Larkin viết sau lần gặp gỡ ở Oxford. Larkin lúc đó thân hình sồ sề, chẳng thể gọi là khôi ngô, không hiểu sao lại nói Tony có vẻ ngoài xấu xí (chủ yếu là bịa đặt) để nhục mạ ông.

Sự độ lượng của Tony, thói quen chủ động tiếp cận mọi người của ông, đã mang lại cho ông một sự bảo hộ nào đó, đồng thời cũng khiến ông chuốc lấy những lời nhục mạ kiểu Larkin. Có một sáng Chủ nhật—khi đó tôi đang nghỉ cuối tuần tại nhà họ—Tony và Violet đưa tôi đến một dinh thự ở khá xa để gặp chủ nhân ở đó, hình như là một người trong giới học thuật và văn chương, lúc đó tôi vừa mới nghe tên ông ta. Chà, nhiều năm sau, tôi gặp lại người này tại một bữa tiệc lớn ở London. Sau đó, trong cơn ngà ngà say vì rượu vang kém chất lượng, ông ta nói với tôi: "Anh là bạn của Tony Powell, phải không?" Kỳ lạ là, trong hoàn cảnh này, tôi lại bị định vị là bạn của Tony, trong khi xét cho cùng, người này kết bạn với Tony chắc chắn là trước tôi, nhiều năm về trước, khi tôi được đưa đến dinh thự của ông ta, lúc đó Tony đang danh tiếng lẫy lừng. Tôi đang định đáp lời câu mở đầu của ông ta, nhưng cũng giống như lần ở tòa soạn tờ "The Daily Telegraph", David Holloway không đợi tôi trả lời mà nói thẳng rằng ông sẵn sàng trả tiền để Tony đừng viết nữa, thì giờ đây, vị "bạn giả" này lại ra vẻ như một kẻ say rượu, nói với giọng điệu như đang phát biểu tại hội nghị: "Tony Powell, sự tầm thường hoàn hảo." Ông ta chỉ muốn nói với tôi có vậy, nói xong liền lê bước bỏ đi. Tôi có cảm giác trong lúc bực tức hoặc ghen tị—một số người từng quý mến Tony nhưng không vui khi nghĩ đến việc giờ đây Tony đã giàu có—ông ta đã dùng từ không chuẩn, ông ta không phải nói đến tầng nấc cao nhất của sự tầm thường, mà có lẽ là sự tầm thường đến cùng cực, đạt đến một tầm cao mới.

Lúc đó, David Holloway đã không còn là biên tập viên văn học của "The Daily Telegraph" nữa, đã nghỉ hưu hoặc qua đời, quãng sự nghiệp tẻ nhạt đó cũng đã kết thúc. Có một biên tập viên văn học mới, ông ta nghĩ nên để Auberon Waugh phê bình sách mới của Tony, không phải bộ tiểu thuyết dài tập đó—đã viết xong từ lâu—mà là một vài bài văn học, chủ yếu là những bài phê bình sách ông viết cho "The Daily Telegraph". Không hiểu sao, Auberon lại ghét Tony, bài phê bình ông viết là một bài nhục mạ dài dằng dặc. Điều này cực kỳ bất công, nhưng Auberon vốn dĩ chẳng định đưa ra những nhận xét công bằng, bạn sẽ cảm thấy cả đời ông ta chỉ chờ đợi cơ hội viết bài này. Nội dung bài phê bình chẳng liên quan gì đến những bài văn học được tập hợp trong sách, những bài đó rất hay và đáng được đánh giá tử tế. Bài phê bình cũng chẳng liên quan gì đến tiểu thuyết dài tập của Tony, mà là quan điểm của Auberon về Tony được hình thành từ những mảnh vụn vặt vãnh.

Trong chốc lát, dư luận xôn xao, quan trọng nhất là trên mặt báo đầy rẫy những lời lẽ tranh cãi, còn kẻ châm ngòi là Auberon thì lại bình thản, vững vàng.

Tờ "Sunday Telegraph", tờ báo chị em với "The Daily Telegraph" xuất bản từ thứ Hai đến thứ Bảy, đã đăng một bài phê bình khẳng định cuốn sách, tác giả là người hâm mộ Tony. Tony nghe tin "The Daily Telegraph" sắp đăng một bài "hiểm hóc" hơn, tôi nghĩ chính từ "hiểm hóc" đó làm Tony tức giận. Có người nói Tony không nên mong đợi hai tờ báo này—"The Daily Telegraph" và "Sunday Telegraph"—sẽ đăng bài phê bình tích cực, Tony chỉ nói: "Tại sao lại không?" Ông đã viết phê bình cho "The Daily Telegraph" suốt bao nhiêu năm trời, họ nợ ông một ân tình.

Bài phê bình của Auberon khiến Tony canh cánh trong lòng, ông không thể buông bỏ, có lẽ đó chính là điều Auberon mong đợi nhất. Tại sao Auberon lại nhắm vào Tony? Nhiều người thắc mắc, chẳng ai thực sự biết rõ. Auberon thường xuyên chỉ trích cha mình là Evelyn Waugh, nhưng ông không muốn bất kỳ ai khác cũng chỉ trích cha mình; có lẽ trong những câu chuyện về việc quý mến ai đó mà Tony kể, ông đã đi quá giới hạn. Có lẽ chẳng có lý do gì cả, Auberon chỉ muốn nói những lời cay độc, còn Tony là một mục tiêu dễ bắn.

Mặc dù Tony vì đau đớn và phẫn nộ mà tinh thần bất ổn, nhưng cách ông giải thích về hành vi của Auberon lại cho thấy sự độ lượng thường thấy của ông. Ông nói: "Auberon luôn ghét bạn bè của cha nó." Ông vẫn coi mình là bạn của Evelyn.

Nhưng khi Auberon cuối cùng cũng mở lời về chuyện này, thì vẫn như trước, lời lẽ vẫn cay độc. Ông nói cha mình là Evelyn chẳng bao giờ có thời gian kết giao với Tony như một nhà văn, gần như không coi ông là nhà văn, chưa bao giờ chỉ trích ông, nhưng cũng chưa bao giờ nói gì tốt đẹp về ông. Tôi không biết những lời này thật đến mức nào, tôi khá mừng là Tony đã không nghe thấy chúng.

Mặc dù hiện nay cả Auberon và Tony đều đã không còn trên cõi đời này, nhưng sau khi Auberon chết, những lời ác ý của ông ta vẫn còn đeo bám Tony. Những năm cuối đời, Tony viết nhật ký, nội dung thẳng thắn, không che đậy, tập đầu tiên chưa qua chỉnh sửa thực sự rất đáng đọc, giúp độc giả hiểu rõ về con người này, trí tuệ và sự độ lượng của ông. Nhưng sau khi Auberon viết bài phê bình đó, không ít người cảm thấy nhà xuất bản quá bất cẩn khi xuất bản nhật ký mà không biên tập, trong những cuốn nhật ký vốn dĩ phóng túng này, Tony sẽ lại khiến bản thân phải hứng chịu những đòn tấn công dữ dội kiểu Auberon. Dù nực cười là, có người lại nghĩ kẻ như Auberon muốn cay nghiệt thì cần gì lý do, nhưng trong những cuốn nhật ký sau này của Tony, vì thế mà đã xóa bỏ bất kỳ nội dung nào có thể kích động "con bò mộng" Auberon. Sau quá trình thanh lọc này, cuốn sách xuất bản ra nhạt như nước ốc, ngoài danh sách tên người ra thì chẳng còn gì khác. Làm vậy là có ý tốt, nhưng Tony trong những tập nhật ký cuối cùng lại vô tình xác thực đánh giá của những kẻ thù về mình.

Còn phần con người của Tony Powell có thể khiến người ta đánh giá lại ông, thì thế gian lại chẳng có cách nào biết được.

Dịch Thuật: Gemini & DeepSeek AI
Nguồn: Việt Nam Thư Quán
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 4 tháng 7 năm 2026

« Lùi Tiến »