THIÊN NHÃN PHONG THỦY SƯ

Lượt đọc: 1981 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 692
Ngoại truyện: Ngũ hành

❊ ❊ ❊

"Ngoại truyện:"

Chương này nói về ba việc.

Những vấn đề mọi người phản hồi nhiều, sau này tôi sẽ giảng đi giảng lại.

Chỗ nào mọi người không hiểu, cứ thoải mái để lại bình luận là được.

Chỉ là câu hỏi của một vài bạn, hỏi mà nghe chẳng giống fan của tôi chút nào, cảm giác như những kiến thức trong sách mọi người chẳng nỡ học lấy một chút, cứ thế lướt vèo một cái đến chương hiện tại...

Không lấy một xu? Mọi người cũng không cần khách sáo như vậy đâu, haha.

Lúc mới bắt đầu đọc, chỗ nào không hiểu có thể lướt qua.

Nhưng đã đọc đến tận đây rồi, thì đừng lướt qua nữa.

Lướt nữa là hết rồi đấy.

Đọc đến bây giờ mà thấy bản thân vẫn chưa thay đổi, thì hãy quay lại xem thêm lần nữa.

Chỗ nào không hiểu, có thể để lại bình luận ở đoạn đó để hỏi, hoặc lướt qua cũng được.

Nhưng đừng lướt đi sạch sành sanh, ít nhiều cũng nên học một chút.

Dưới đây nói về thuộc tính ngũ hành của Thiên can và Địa chi.

Hình trên là hình "Hai mươi bốn sơn".

Chữ màu đỏ là 12 con giáp, tức là Địa chi.

Chữ màu xanh là Thiên can, tuy nhiên Mậu Kỷ Thổ là "bay", không cố định.

Cho nên các chữ màu xanh cố định là 8 Thiên can.

Cộng thêm 4 cung số chẵn ở bốn góc, được khoanh tròn màu vàng.

Tổng cộng 12 + 8 + 4 = 24.

Hình này trong các hệ phái khác nhau lại có cách nói khác nhau.

Để tránh nhầm lẫn, ở đây tôi chỉ nói về thuộc tính ngũ hành của Bát tự truyền thống thôi nhé.

Thuộc tính ngũ hành của tám quẻ trong Cửu cung, mọi người đều nhớ cả rồi chứ?

Đại khái là phân chia theo Đông, Nam, Tây, Bắc.

Phương Đông là mùa xuân, thuộc Mộc, Chấn 3 và Tốn 4 là Mộc.

Phương Nam là mùa hè, thuộc Hỏa, Ly 9 là Hỏa.

Phương Tây là mùa thu, thuộc Kim, Đoài 7 và Càn 6 là Kim.

Phương Bắc là mùa đông, thuộc Thủy, Khảm 1 là Thủy.

Đông Bắc và Tây Nam là Thổ, Cấn 8 và Khôn 2 là Thổ.

Thuộc tính ngũ hành của Thiên can và Địa chi cũng được phân chia theo bốn phương vị này.

Dùng hình này để ghi nhớ Thiên can Địa chi, tính quy luật rất mạnh.

Xoay theo chiều kim đồng hồ, Xuân Hạ Thu Đông.

Ngũ hành của Thiên can và Địa chi đều rất chỉnh tề, nhất quán với các mùa.

Thiên can phương Đông là Giáp và Ất, đều là Mộc mùa xuân.

Địa chi phương Đông là Dần, Mão, Thìn; Dần Mão là Mộc, Thìn là Thổ.

Trong 12 Địa chi có khái niệm "kho", tức là Thổ, Địa chi cuối cùng của mỗi mùa đều là Thổ.

Thiên can phương Nam là Bính và Đinh, đều là Hỏa mùa hè.

Địa chi phương Nam là Tỵ, Ngọ, Mùi; Tỵ Ngọ là Hỏa, Mùi là Thổ.

Thiên can phương Tây là Canh và Tân, đều là Kim mùa thu.

Địa chi phương Tây là Thân, Dậu, Tuất; Thân Dậu là Kim, Tuất là Thổ.

Thiên can phương Bắc là Nhâm và Quý, đều là Thủy mùa đông.

Địa chi phương Bắc là Hợi, Tý, Sửu; Hợi Tý là Thủy, Sửu là Thổ.

Đây là ngũ hành của Thiên can Địa chi.

Tính cách Bát tự và vận thế Bát tự đã giảng ở trước, một cái là xem Thiên can, một cái là xem Địa chi.

Hãy xem ví dụ hình dưới đây.

Để mọi người nhìn rõ, tôi đã dùng hai kiểu sắp xếp khác nhau.

Hai chữ quan trọng nhất trong Bát tự, một là Địa chi của tháng, hai là Thiên can của ngày.

Địa chi của tháng là chữ có sức mạnh lớn nhất trong Bát tự.

Thiên can của ngày đại diện cho bản thân.

Bản ngang ở trên có thể thấy rất rõ, hai chữ quan trọng nhất nằm ngay vị trí cốt lõi của Bát tự.

Bản dọc ở dưới là để mọi người nhìn rõ, một cái là Địa chi nằm ở dưới, một cái là Thiên can nằm ở trên.

Xem tính cách là xem chữ đại diện cho bản thân, tức là Thiên can của ngày, cũng chính là chữ Mậu trong hình trên, ngũ hành thuộc Thổ, có đặc tính của Thổ: đôn hậu, trọng chữ tín, đáng tin cậy, nhưng khả năng tùy cơ ứng biến hơi yếu, không giỏi hoa ngôn xảo ngữ.

Xem vận thế là xem Địa chi của tháng, ví dụ chữ Tỵ trong hình trên, ngũ hành thuộc Hỏa. Nghĩa là, Hỏa trong Bát tự quá mạnh, "tổn hữu dư mà bổ bất túc" (bớt chỗ thừa bù vào chỗ thiếu), quá mạnh thì cái gì khắc nó mới là tốt.

Thủy khắc Hỏa, vậy nên vào những năm Thủy, hoặc tháng Thủy (mùa đông), hay giờ Thủy (nửa đêm) sẽ thuận lợi hơn.

Lấy thêm một ví dụ về xem vận thế.

Năm nay là năm Giáp Thìn, Địa chi Thìn thuộc Thổ, Thổ khắc Thủy. Nghĩa là người sinh vào tháng Thủy (ví dụ tháng Hợi hoặc tháng Tý), năm nay sẽ khá vượng.

Vận thế này chỉ nói về trường hợp xác suất cao, vì có tổng cộng tám chữ mà chúng ta chỉ xét một chữ là Địa chi tháng.

Bởi vì Địa chi của nguyệt lệnh là mạnh nhất.

Chúng ta rốt cuộc có thuộc trường hợp xác suất cao này không, cứ lấy vận thế những năm trước ra đối chiếu là rõ ngay.

Ví dụ năm vận thế tốt nhất của bạn là năm 2019, năm Hợi Thủy.

Thủy khắc Hỏa, vậy có phải bạn sinh vào mùa hè không?

Như vậy là đối chiếu ra rồi.

Nói đơn giản hơn một chút, chính là cân bằng Âm Dương.

Người vượng Hỏa, gặp năm Thủy hoặc mùa đông thì vận thế khá hơn.

Người vượng Thổ, gặp năm Mộc hoặc mùa xuân thì vận thế khá hơn.

Người vượng Kim, gặp năm Hỏa hoặc mùa hè thì vận thế khá hơn.

Người vượng Thủy, gặp năm Thổ hoặc cuối mỗi mùa thì vận thế khá hơn.

Người vượng Mộc, gặp năm Kim hoặc mùa thu thì vận thế khá hơn.

Vận thế khá hơn ở đây chủ yếu chỉ tâm trạng thông suốt.

Ngũ hành nào vượng, Địa chi của tháng đóng vai trò quan trọng hơn cả.

Vấn đề này xin giải thích đến đây.

Việc thứ hai là, có người hỏi về miếng dán điện thoại.

Lý do ban đầu thiết kế nó là vì bộ tem "Thần thoại cổ đại Trung Quốc" do Bưu chính Trung Quốc phát hành năm 2019 bị rất nhiều người nghi ngờ là vẽ sai, gây ra sóng gió rất lớn vào thời điểm đó, nên tôi mới muốn làm một miếng dán điện thoại để bày tỏ thái độ của mình.

Chính văn chưa viết đến đoạn đó, đợi viết đến rồi sẽ nói chi tiết sau.

Hiện nay Bát quái ở nhiều nơi đều vẽ sai.

Nhìn cái sai nhiều quá, người ta quên mất cái đúng phải vẽ như thế nào.

Nhất là khi các danh lam thắng cảnh trùng tu mà vẽ sai, sẽ gây ảnh hưởng rất lớn đến đời sau.

Bởi vì nó có thể trở thành bằng chứng trong miệng những kẻ phản bác.

Cũng bao gồm cả một số hình ảnh xuất hiện dưới danh nghĩa đồ cổ, ví dụ như hình dưới đây.

"Ly trung hư, Khảm trung mãn".

Trong vòng tròn đỏ ở hình trên, một cái là Ly vi Hỏa, một cái là Khảm vi Thủy.

Hai cái đặt cạnh nhau.

Hình này vẽ cũng không thỏa đáng lắm, nhưng đây là cách nói chủ lưu hiện nay, tạm thời cứ dùng cái này để xem đã.

Vòng bên trong là Tiên thiên Bát quái.

Vòng bên ngoài là Hậu thiên Bát quái.

Dù là Tiên thiên Bát quái hay Hậu thiên Bát quái, Ly và Khảm đều được đặt ở vị trí đối lập nhau.

Thế mà món đồ cổ phía trên, Thủy và Hỏa lại thành bạn tốt, đứng vai kề vai.

Tôi kiến văn hạn hẹp, không biết ngoài Tiên thiên và Hậu thiên Bát quái ra còn bao nhiêu loại Bát quái chính thống khác.

Dù sao thì các loại hình Bát quái tôi từng thấy không dưới 10 loại, không biết là thuộc bí truyền của môn phái hay do cá nhân tự sáng tạo.

Tôi thấy có một cách nói là: Hàng ngàn năm nay, nhân loại không ngừng tiến bộ, sao còn có thể tiếp tục sử dụng hình Bát quái của hàng ngàn năm trước được?

Ừm...

Người hiện đại chúng ta, sáng tạo quá nhiều rồi.

Chữ "Nhân" (người) + chữ "Vi" (làm) = chữ "Ngụy" (giả).

Cá nhân tôi cho rằng, phát triển thì cứ phát triển, nhưng một số truyền thừa vẫn cần phải tôn trọng.

Nói hơi xa rồi, kéo lại thôi, chương sau quay về chính văn.

[DeepSeek phụ dịch] ChuongId:603
Nguồn: Việt Nam Thư Quán
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 1 tháng 7 năm 2026

« Lùi Tiến »