“Thiếu úy, đằng kia đúng là 1 địa ngục!”
Trung sĩ Kötter, tài xế của cỗ pháo tự hành chống tăng Falke (chim ưng),của trung đội trưởng, nhận xét những lời trên khi nghe những tiếng gầm khủng khiếp của pháo binh Nga.
Đó là vào sáng sớm ngày 19 tháng 12 năm 1943, và cuộc tấn công của quân Nga đã bước sang ngày thứ 7. Tiểu đoàn pháo tự hành chống tăng hạng nặng số 519 của lục quân đã hành quân ra tiền tuyến, với vai trò là lực lượng “chữa cháy”.
“Sắp đến lúc rồi đó”, trung sĩ trắc thủ Herbert Colany chặc lưỡi.
Thiếu úy Albert Ernst, chỉ huy trung đội pháo tự hành Hornisse, đại đội 1, rít 1 hơi thuốc lá. Anh đang rất hào hứng. Đây là lần đầu tiên anh đưa cỗ pháo tự hành chống tăng to lớn này tham gia chiến đấu. Khi huấn luyện thì mọi thứ đều tốt đẹp. Thật vinh dự khi được chọn loại pháo tự hành chống tăng Hornisse với khẩu pháo ‘88’ đầy uy lực.
“Có người đến” chuẩn hạ sĩ Bretschneider hô từ cửa lán. Sau đó có 1 chiếc mô tô 3 bánh chạy tới. Bước xuống xe là đại úy Strehler, đại đội trưởng đại đội 1.
“Ernst, sẵn sàng đi! Cậu và 3 xe dưới quyền phải xuất phát trong vòng 3 phút nữa. Đến Surash.”
“Tất cả bọn tôi à?” Viên thiếu úy hỏi lại và được gật đầu xác nhận.
“Các trung đội sẽ được bố trí rải ra suốt toàn bộ bề ngang khu vực quân Nga tập trung, để “bọc lót” cho lính xung kích. Có thể nói vậy, Ernst ạ”
Viên đại úy phóng tới chỗ trung đội 2. Cái lán thấp tè của nông dân sôi động hẳn lên. Vài phút sau, 3 tổ lái đang trú trong đó đã ra xếp hàng cạnh xe của mình. Cỗ pháo tự hành chống tăng sử dụng khung gầm của xe tăng Panzer IV, với phần thân trên được gắn cố định 1 khẩu pháo 88 ly nòng dài khiến nó trông như thể là gã khổng lồ hay 1 con voi thời tiền sử.
Thiếu úy Ernst vào vị trí, nghe trung sĩ nhất Neigl báo cáo rằng trung đội đã sẵn sàng xuất phát.
“Xuất phát!” Anh ra lệnh.
Động cơ cỡ lớn gầm lên và 3 cỗ pháo tự hành chống tăng tiến ra theo đội hình cái nêm tiến thẳng tới nơi có tiếng ầm ầm của trận pháo kích. Tổ lái đứng trong khoang chiến đấu, với phần nóc để trống. Albert Ernst nhìn họ trong giây lát. Họ là những con người mà anh có thể trông cậy.
Hỏa lực pháo binh ngày càng tới gần hơn. Trước mặt họ nhữg khối đất đóng băng và đá bắn tung lên cao.
“Tiến thẳng tới chỗ pháo đang bắn, Kötter.” Ernst ra lệnh cho lái xe. Niềm hào hứng chi phối anh lúc trước giờ đã giảm đi. Sự căng thẳng làm khuôn mặt của anh trông dài hơn.
Mắt anh nheo lại, nhìn đăm đăm vào cái hỏa ngục đang đến gần.
Đến gần trưa thì họ tới cái thị trấn đang nằm trong cái rốn hỏa lực của pháo binh. Lửa trong làng bốc cao. Gió đông thổi màn khói màu vàng đen về phía 3 cỗ pháo tự hành chống tăng. Xe thiếu úy tiến lên trước thám thính. Họ tới 1 sở chỉ huy tiểu đoàn.
“Tình hình thế nào?” Ernst hỏi viên phó chỉ huy “Quân Nga sắp tới phải không ạ?”
“Chắc vậy! Hôm qua chúng đã thăm dò tuyến phòng thủ của ta và điều chỉnh pháo. Chắc là chúng nó sắp đến rồi. Hút thuốc không?”
Thiếu úy Ernst lấy 1 điếu thuốc lá. Sau đây, trong trận đánh, sẽ không có thời gian và anh cũng không muốn hút lúc đó. Anh rít vội điếu thuốc.
“Chúng nó cố nhổ vị trí này cả tuần nay rồi”, viên chỉ huy phó tiếp tục, lén nhìn viên thiếu úy trong bộ quân phục màu đen của lực lượng thiết giáp. Thấy anh này đeo 2 huân chương chữ thập sắt, huy hiệu chiến thương bạc và trên cổ là 1 huân chương cao cấp của Bulgaria. Ắt hẳn thiếu úy này phải là 1 tay giỏi.
Thiếu úy Ernst đi cùng người sĩ quan bộ binh bước vào trong sở chỉ huy. Anh được chỉ dẫn chỗ nào là nơi phục kích lý tưởng nhất và đường quay lại sau đó. Hollmann và Fressonke, trưởng xe của 2 cỗ pháo tự hành kia cũng đến cạnh anh.
“Tình hình chiến cuộc thế nào rồi, thiếu úy!”
“Bọn Nga đang tung những sư đoàn mới vào trận. Chúng muốn chiếm Vitebsk và nhổ những cái gai đóng cạnh tiền duyên của chúng.”
“Bọn lợn ngoài đó kìa” Fressonke chỉ tay về hướng trận pháo kích đang hoành hành nói.
“Chúng ta sẽ cho xe tiến đến tận dãy đồi kia, cho xe nấp dưới triền dốc.” Ernst nói. “Cuộc tấn công có thể bắt đầu ngay khi pháo chuẩn bị thôi bắn.”
Họ lái xe đến dãy đồi, leo lên cho đến khi phần trên của xe vừa nhô ra khỏi đỉnh đồi. Xạ trường rất quang đãng với vùng đất bằng phẳng phía dưới. Các xe Hornissen bố trí cách nhau 100m. Máy xe được tắt. Tiếng nổ rền vang của đạn pháo ngày càng lớn hơn.
Trung sĩ Georg Kötter. Mở nắp cửa của lái xe và nhìn đăm đăm vào cái địa ngục trước mắt. Ngày trong tháng 12 rất ngắn, mới đầu buổi chiều mà đã thấy chạng vạng tối.
Đi trước là cơn bão lửa của pháo binh và đạn nổ ngày càng cao và rộng lớn hơn. Gần như là không thấy bầu trời đâu nữa.
“Chó thật!” chuẩn hạ sĩ Sötte nói khi phải lau sạch kính ngắm đến lần thứ 10.
“Chim ưng gọi mọi người! Sẵn sàng chưa?” thiếu úy Ernst hỏi. Các trưởng xe khác từng người 1 báo cáo đã sẵn sàng giao chiến.
Hỏa lực pháo binh đã tăng cường độ. Đó là 1 dấu hiệu. Albert Ernst đã học được điều này từ mùa đông 1941-42, trước Maxcova và thời kỳ sau đó. Khi anh và cỗ pháo tự hành chống tăng được phối thuộc cho tiểu đoàn 3 mô tô trong sư đoàn xe tăng 3: Quân Nga sắp tấn công.
Có vài quả đạn pháo rơi xuống gần chỗ mấy cỗ pháo tự hành chống tăng, nện xuống mặt đất đóng băng làm xung quanh rung chuyển. Sắt thép từ 1000 khẩu pháo trút xuống các vị trí quân Đức. Dưới hỏa ngục đó là những lính xung kích của sư đoàn 14 bộ binh.
Họ buộc phải chịu đựng hỏa lực cấp tập suốt 30 phút. Đạn pháo rơi xuống dãy đồi gần hơn. Một quả pháo nổ ngay phía trước chỉ cách chiếc ‘chim ưng” chừng 30m. Những người lính hụp đầu xuống, 1 tảng đất to đập vào vỏ thép phía trước cỗ xe.
“Bọn khốn!” Bretschneider gào lên khi 1 tảng đất đập trúng lưng anh ta.
Tỉnh như ruồi, Colany nói. “Tự trách mình đê!” và lại chặc lưỡi.
Đột nhiên pháo địch ngưng bắn. Ernst giơ ống nhòm lên. Ở đằng xa, chỗ ngôi làng Surash mà địch đang chiếm, anh thấy lính hồng quân xuất hiện đông nghịt, giữa chúng là những vật tối sẫm, chắc nịch…Phải, đó chính là những xe tăng T-34 và KV-1 của quân Nga.
“Chúng nó đang đến! Sẵn sàng chiến đấu!”
Viên đạn đầu tiên đã nằm trong buồn đạn. Trung sĩ Colany nhắm sơ về hướng quân Liên xô đang tiến.
“Chưa được bắn!” Viên thiếu úy ra lệnh “Không được bắn khi chưa chắc trúng. Rồi ta sẽ cho chúng nó nếm mùi!”
Đứng trên cái bục phía sau bên trái, viên thiếu úy nhìn rõ nhất nhưng lại bị phơi ra trước hỏa lực súng máy và pháo binh. Nhìn sang 2 bên, anh thấy Diều hâu và Đại bàng đang sẵn sàng xạ kích. Trong khi đó xe tăng Liên xô chui vào 1 khu rừng bị pháo tàn phá và mất dạng. Khi chúng hiện ra lại thì đã nằm trong tầm bắn của mấy chiếc Hornissen. Những người lính đang chờ đợi trong các cỗ pháo tự hành chống tăng có thể nghe thấy tiếng gào rú ồn ào của các xe tăng địch đang tới gần. Chúng phải mau chóng tiếp cận khu phòng thủ chủ yếu của Đức với những người lính xung kích đang ôm súng máy chờ đợi trong những hố cá nhân lạnh giá.
Súng cối quân Nga đang giã xuống phòng tuyến Đức. Những âm thanh đanh, sắc khi đạn cối nổ cứ lặp đi lặp lại. Đạn xuyên giáp bắt đầu bắn tới xung quanh 3 cỗ pháo tự hành chống tăng, rồi những loạt đạn cối cũng giập xuống mấy quả đồi.
Tai nghe áp chặt vào đôi tai, núm điều khiển âm lượng ở mức lớn khiên anh có thể nghe rõ tiếng nổ của đạn cối bên dưới. Thiếu úy Ernst đứng sau kính chỉ huy. Lúc này anh đã lấy điếu thuốc ra khỏi môi và ném nó xuống sàn và mắt dán chặt vào kính nhìn, những ngón chân miết sáng bóng sàn xe. Đó là một thói quen luôn theo sát anh.
Anh bỗng hiểu rằng: Đã đến lúc!
Xe tăng hiện ra ở cuối con đường dẫn vào rừng. 10, 15, 20 chiếc và còn nhiều hơn nữa.
“Chim ưng gọi mọi người! Cự ly 800m!”
Ngắm mục tiêu, kiểm tra rồi điều chỉnh ngắm.
“Bắn!”
Trung sĩ Colany nhấn nút khai hỏa. Viên đạn đầu tiên bay ra khỏi cái nòng dài của khẩu “88”. Sức giật làm cỗ pháo tự hành chống tăng rung chuyển. Sau nhiều tuần huấn luyện thì đây là lần đầu tiên họ bắn vào kẻ địch thật sự. Giờ họ sẽ phải chứng tỏ mình hoặc là chết.
“Nó cháy rồi!” người lính tiếp đạn chất phác Sötte gào lên trong khi tay ôm viên đạn tiếp theo và đẩy nó vào buồng đạn. Lửa phụt ra từ chiếc T-34 bị trúng đạn. Đội hình tiến công của xe tăng địch bỗng dừng lại. Diều hâu đã khai hỏa và ngay sau đó gần như đồng thời là cú bắn đầu tiên của Đại bàng.
Nhắm tiếp mục tiêu. Colany thực hiện 1 cách khẩn trương, chắc chắn.
“600m, hướng 11 giờ!”
Đã khóa mục tiêu, Bắn!
Thêm 1 cú trúng đích nữa, lần này bắn trúng thân xe. Chiếc xe tăng bùng cháy. 3 cỗ pháo tự hành chống tăng càng bắn khẩn trương hơn. Trúng! Trúng! Trúng!
Xe tăng địch bắn trả và bắt đầu có dấu hiệu lảng tránh muốn thoát khỏi cái địa ngục này.
Ba cỗ pháo tự hành chống tăng với khẩu pháo nòng dài 88 ly tiếp tục giội lửa xuống đầu những xe tăng Liên xô đang tiến công. Ngày càng thêm nhiều chiếc trúng đạn bốc cháy hay phải quay lại chạy vào rừng tìm chỗ trốn.
Đạn pháo bất ngờ rơi xuống như mưa. Rõ ràng là pháo binh đối phương đã tìm được mục tiêu mới. Đạn pháo dập xuống gần chỗ 3 cỗ xe. Hỏa ngục ụp xuống xung quanh chúng. Lửa phụt lên khắp nơi, tiếng thép va vào thép loảng xoảng, những người bị thương gào lên. Súng cối cũng gia nhập. Những “củ khoai tây” rơi xuống cứ như mưa đá nhưng không gây thiệt hại nhiều vì mảnh đạn cối 50 ly hoặc bay qua hoặc bật ra khi va vào vỏ thép thân trên các cỗ pháo tự hành chống tăng.
Tiếp đạn viên Rudolf Sötte lại nạp đạn. Khẩu “88” gầm lên, vỏ đạn lăn ra và rơi loảng xoảng xuống sàn xe.
Lửa phụt ra từ chiếc xe tăng địch khi đạn dự trữ của nó phát nổ và biến nó trở thành 1 cỗ quan tài thép nóng đỏ.
Thiếu úy Ernst không còn để ý đến gì xung quanh. Anh đang tập trung vào việc trừ khử bất cứ chiếc tăng địch nào đã tới được khu phòng thủ chủ yếu của Đức và đang cố san phẳng chiến hào đóng băng cùng các hố cá nhân.
Trận đánh tiếp tục. Ernst ra lệnh rõ ràng, chắc chắn uốn nắn mọi do dự của lính dưới quyền. Ắt hẳn là họ sẽ chặn được đợt xung phong bằng thiết giáp này.
Từng chiếc xe tăng địch cuối cùng nối nhau mất dạng lúc bóng tối buông xuống. Chúng để lại 8 đồng chí bị bắn cháy, hỏng. Sáu chiếc trong đó do “chim ưng” tiêu diệt, còn 2 tổ lái kia thì mỗi tổ 1 chiếc.
Bộ binh Nga cũng bị đánh lui. Một vài toán lính địch vẫn trụ lại ở vùng đất phía trước phòng tuyến Đức, có thể chúng ở đó chờ đợt tấn công kế tiếp.
Nhiều đám cháy kéo dài suốt đêm. Một số là những ngôi nhà ở phía trước. 2 cỗ xe tăng địch vẫn còn cháy rực. Đám khói đen dày đặc trên đầu chúng nhìn như thể bia tưởng niệm của chúng vậy.
Quân Liên xô tập hợp lại ở Surash. Những toán quân xung kích mới tiến lên trước. Thiếu úy Ernst lấy 1 tờ báo tiền tuyến ra và đọc cho tổ lái nghe thông cáo mới nhất của Wehrmacht (lục quân Đức quốc xã).
“Những trận đánh dữ dội ở khu vực Nevel đã làm cho những trận đánh khác trên mặt trận phía đông lu mờ.”
“Lạy chúa, chúng nó đánh gần Nevel à, thiếu úy?”
“Phía bắc chỗ này, 2 tuần trước.” viên thiếu úy trả lời. “Giờ chúng nó đang muốn đánh tan cánh bắc tập đoàn quân xe tăng 3 của chúng mình.”
“Nhưng bọn Nga chẳng gặp may lắm” Trung sĩ nhất Hollmann, người vừa đến chỗ họ xen vào. “Chúng tấn công vô vọng từ ngày 13 tháng 12. Cứ như hồi thế kỷ 19 ấy. Bọn nó chỉ có mà mau chết thôi.”
“Tôi e rằng chúng sẽ giữ được lâu hơn đó, đây mới là khởi đầu thôi.” Viên thiếu úy nói. “Bọn Nga đang muốn lập 1 bàn đạp ở đây để tấn công vào các nước vùng Baltic. Để đạt được mục đích đó, chúng phải đánh quị cánh bắc tập đoàn quân xe tăng bọn ta.”
“Mong rằng lính xung kích trụ được. Nếu không bọn Nga sẽ hun chúng ta ra khỏi mấy xe Hornissen này bằng vũ khí tầm gần của chúng.” Hollmann nói.
“Thiếu tướng Flörke (tư lệnh sư đoàn, vừa được thưởng huân chương chữ thập hiệp sĩ 4 ngày trước) đang ở đây và giành phần lớn thời gian lên tận chiến hào với lính xung kích đó.” Viên thiếu úy ngắt lời.
“Mấy tin nhảm ấy nghe nhiều lắm rồi” trung sĩ Fressonke càm ràm.
“Hay mình nên nói về trứng chiên và khoai tây nướng đê?” Hollmann hỏi.
“Chết tiệt!” Fressonke hét lên giận dữ. “Thiếu úy, phải cấm không cho nó nói về đồ ăn.”
Albert Ernst cười toe toét.
“Cậu nhớ không, Fressonke, trong quán ‘Wilden Sau’ gần Borna, khoai tây nướng, xúch xích với…”
“Này thiếu úy, anh đang cố giết tôi đấy phỏng?” Fressonke chất vấn.
Họ đành ăn khẩu phần nguội lạnh. Trà, được họ mang theo trong các bi đông, giờ được hâm nóng trên tấm nắp của khoang động cơ.
Đã tới nửa đêm. Ba cỗ pháo tự hành chống tăng di chuyển tới vị trí mới trên 1 điểm cao gần chỗ lính xung kích.
“Nếu không có các anh…thì chúng nó chỉ việc đạp lên đầu chúng tôi mà tiến thôi.” 1 hạ sĩ có râu đeo huân chương chữ thập nước Đức vàng nói.
“Chỉ cần canh đừng cho bọn Nga vồ được chúng tôi, còn thì cứ để bọn tôi lo hết.” Fressonke gọi với xuống.
“Đừng nói vậy chớ!” Ernst nói và mỉm cười không hài lòng. Anh chàng này mới từ đông Đức qua là dạng đặc biệt và có thể tin cậy được.
Lúc này đã là 0g5phút. “Anh nghe thấy không, thiếu úy?” Trung sĩ nhất Hollmann hỏi. Có cái gì di chuyển ở xa về phía đông bắc “Nghe như là xe tăng ấy”.
Ngay sau đó họ nghe thấy những tiếng rù rì và thấy ngọn lửa nhấp nháy phụt ra từ ống xả của 1 chiếc xe tăng địch trong màn đêm.
Thiếu úy Ernst nhìn khắp nơi chăm chú. Chúng đó! Không còn nghi ngờ gì nữa: xe tăng địch đang tiến lên! Và xa hơn về phía sau chúng là số lượng đông đảo bộ binh trong 1 đợt tiến công mới.
“Thiếu úy ơi, đừng để thằng nào lọt qua nhé!” Một trong những lính xung kích đang lại gần mấy cỗ pháo tự hành chống tăng gọi. Anh ta nhìn Ernst, trong ánh sáng nhợt nhạt của trăng tròn, viên trung úy nhận ra 1 khuôn mặt dài trẻ trung. Đôi mắt to của anh ta đầy vẻ khẩn cầu.
“Chúng tôi không để các cậu phải chiến đấu một mình đâu” Ernst trả lời.
“Chú ý! Diều hâu tóm thằng bên phải còn Đại bàng là tên bên trái. Có thấy chúng không?”
“Đã bắt được mục tiêu”, 2 trưởng xe gần như cùng báo cáo 1 lúc.
“Đừng bắn nếu chưa chắc trúng.”
Họ chờ đợi. Xa về phía trước khẩu Mg-42 đầu tiên đã khai hỏa. Giao tranh đã xảy ra giữa quân xung kích và bộ binh Nga. Sau đó đội hình chính của xe tăng địch dừng lại. Lửa khạc ra từ nòng pháo 76 ly của chúng.
“Chú ý! Bắn!”
Ba khẩu “88” xạ kích cùng lúc. Những viên đạn rít lên lao thẳng vào hướng xe địch, đâm vào lớp vỏ thép và bắn hỏng 3 chiếc xe tăng địch ngay từ phát đầu tiên. Nhưng hai chiếc trong số đó vẫn còn bắn dù không còn di chuyển được nữa.
“Chúng nó đang đánh lên đồi nghĩa trang, thưa thiếu úy!”
“Ta sẽ chặn chúng lại!”
Họ khai hỏa khi chiếc T-34 đầu tiên xuất hiện gần đỉnh đồi. Những khẩu đại bác lại gầm lên, vỏ đạn loảng xoảng rơi ra, tiếng rít khi viên đạn xuyên giáp đập vào vỏ thép địch. Sau đó là 1 cú nổ ục ngay bên phải. Bùn đất đổ ụp lên đầu mấy người lính. Một tảng đất, may là mềm, đập trúng ngay mặt Sötte, người lính tiếp đạn lực lưỡng quê Leipzig. Anh này chửi thề, phun phì phì rồi lại tiếp tục công việc.
Một T-34 lao qua 1 vùng đất trũng rồi xông thẳng tới chỗ họ. Phát đạn đầu tiên bay sượt qua tháp pháo của nó. Cái tháp pháo xoay ngang, nòng pháo dài quay ngoắt lại. Rồi 1 ánh chớp lóe lên từ họng pháo chiếc xe tăng và 2 giây sau Đại bàng bị trúng 1 cú trực xạ.
Ernst nghe thấy tiếng của trung sĩ Fressonke qua điện đài “Thưa thiếu úy, bọn tôi đã…“rồi kết thúc bằng 1 chuỗi tiếng rên. Viên thiếu úy quay đầu nhìn. Anh nhìn thấy lính của chiếc đại bàng đang nằm trên mặt đất.
“Bắn!” Anh hô lớn.
Lúc này thì Colany đã bắt được mục tiêu. Viên đạn bắn trúng tháp pháo chiếc T-34, thổi bay nó ra khỏi thân xe và rơi xuống đất cách phía sau 10m.
Diều hâu cũng đã hạ 1 chiếc T-34 khác. Cuộc đột kích của xe tăng địch đã bị bẻ gãy. Quân Nga mất thêm 6 xe tăng. Như vậy là có 14 chiếc được công nhận là thành tích của những cỗ pháo tự hành chống tăng. 8 trong số đó được tính cho thiếu úy Ernst.
Quân xung kích cũng quét sạch bộ binh địch. Chúng bị đẩy lui 200m về gần đồi nghĩa trang.
Lúc trung sĩ Kötter vừa mới châm điếu thuốc đầu tiên, hạ sĩ Jolassen, tiếp đạn viên của chiếc đại bàng đi đến.
“Thưa thiếu úy, kíp lái đã được tản thương. Trung sĩ Fressonke đã chết. Nhưng tôi không về đâu, tôi muốn ở lại đây với các anh.”
Ernst sững sờ không nói nên lời mất 1 lúc rồi mới tìm ra 1 câu.
“Cậu bị thương chỗ nào?”
“Khuỷu tay trái của tôi có 1 mảnh sắt, thưa thiếu úy.”
“Với thương tích như thế cậu cần tới trạm sơ cứu ngay, Jolassen ạ. Không ở lại được đâu.”
“Nhưng thưa thiếu úy, nó hầu như không đau. Chắc chắn vẫn chiến đấu được. Tôi không muốn về đâu, thiếu úy ơi. Xin hãy cho tôi ở lại.”
Thiếu úy Ernst nhìn người hạ sĩ, mặt anh ta lộ vẻ rất cương quyết nhưng viên chỉ huy vẫn còn do dự.
“Thưa thiếu úy!” viên hạ sĩ lại nói tiếp “hãy xem đây!”. Anh ta cố giang thẳng tay ra, có tiếng kêu răng rắc ghê người và chàng trai trẻ nhăn mặt vì đau đớn.
“Jolassen, cậu phải…”
“Tôi phải ở lại đây, thiếu úy. Chỉ còn 1 ít lính xung kích thôi. Ít nhất tôi cũng có thể lấy 1 súng tiểu liên để bảo vệ các anh. Có thể họ sẽ cho tôi đi thám sát. Việc đó thì tôi thạo. Chỉ cần 1 tay tôi cũng bắn được.”
Anh ta cúi xuống dùng tay phải rút khẩu “08” (súng lục cỡ nòng 8mm) ra khỏi bao. Đến lúc này thì viên thiếu úy chịu thua. Mọi cố gắng sẽ vô ích và anh có thể dùng cậu ta. Anh lặng lẽ gật đầu. 1 nụ cười thoáng hiện trên khuôn mặt, ngay lúc này – sau trận đánh – sự ân cần vẫn không hề mất đi. Anh sẽ không bao giờ dồn lính mình vào chân tường. Họ sẽ ở lại với anh. Đó mới là điều đúng đắn.
Một tiếng đồng hồ sau thiếu úy Ernst gọi người hạ sĩ lên.
“Jolassen, hai ta sẽ đi thám sát!”
“Vâng, thưa thiếu úy” chàng trai trẻ nói.
Họ cùng xuất phát, luồn lách tiến sâu vào vùng đất giữa 2 chiến tuyến. Không bắt gặp lính Nga nào. Có vẻ sẽ không có thêm 1 đợt tấn công nào trong đêm nữa.
Trong những giờ sau đó, Jolassen đã 2 lần tiến lên trước trong vai trò lính liên lạc.
“Chúng ta sẽ rút về, bổ sung đạn dược và nạp nhiên liệu rồi nghỉ ngơi mấy tiếng. Hãy tập hợp thương binh của quân ta lại, cả tử sĩ nữa!” Ernst ra lệnh.
Trong nửa giờ đồng hồ, họ thu nhặt nhiều thương binh của sư đoàn 14 bộ binh và đặt những người này nằm trong khoang chiến đấu. Chiếc Hornisse thứ nhì cũng đã chất đầy. Những thương binh nhẹ hơn thì leo lên ngồi phía sau trên nắp máy.
“Cẩn thận nhé” họ gọi lái xe ” đứng có nóng quá kẻo chảy cả đít xe đó”
Họ từ từ lái xe quay về. Trung sĩ Kötter cẩn thận lái chuyến hàng kinh hoàng của mình về đến trạm sơ cứu tiền phương. Ở đó, thiếu úy Ernst chạy đến chỗ vị sĩ quan quân y tiểu đoàn là bác sĩ thiếu tá Brunz.
“Cần phải đưa Fressonke ra nghĩa trang, thưa thiếu tá. Chúng tôi muốn chôn cất anh ấy khi trời sáng.”
“Được thôi, Ernst” vị bác sĩ nói và giơ tay chào viên thiếu úy 30 tuổi.
Ngay trước khi họ quay lại hỏa tuyến, hạ sĩ Jolassen xuất hiện.
“Thiếu úy, tôi không ở đây đâu. Cho tôi đi cùng với.”
“Cậu điên quá rồi, Jolassen”. Ernst trả lời. “Cậu không thể ra đó với chúng tôi được. Phải hiểu chứ?”
Thiếu úy Ernst làm anh này tiu ngỉu. Người hạ sĩ khẩn khoản nhìn anh. Viên thiếu úy lại mềm lòng lần thứ nhì. Anh ra dấu cho phép Jolassen trèo lên xe.
“Cảm ơn anh, thiếu úy”, Jolassen la lớn như thể sợ viên thiếu úy đổi ý, rồi chạy về chỗ cỗ xe, đu lên và chen vào trong.
Đêm đã hết. Cả 2 chiếc Hornissen đều đã sẵn sàng tái chiến đấu. Ernst cùng lính dưới quyền được biết toàn bộ tiểu đoàn, cùng với đại đội xe tăng Tiger ( của tiểu đoàn xe tăng hạng nặng 501, được thiếu tướng Flörke gửi đến) đã diệt được 60 xe tăng địch. Riêng 3 chiếc Hornissen của thiếu úy Ernst đã diệt 14 chiếc trong số đó.
Những người lính sau đó lái xe về chỗ trú quân, lăn xuống ổ rơm và chìm ngay vào giấc ngủ.
Ngày 21 tháng chạp, mới đầu buổi chiều thiếu úy Ernst đã thức dậy. Từ ô cửa sổ đang mở, tiếng trầm đục của hỏa lực pháo binh vọng vào. Anh đứng dậy, hứng đầy nước vào chậu và rửa mặt.
“Đi với tôi không, Boghut?”
Trung sĩ nhất Willi Boghut gật đầu. Họ bước ra khỏi cái lán nơi một số đồng đội vẫn còn ngủ và đi ra sân trống. Những cỗ xe Hornissen được lái sang bên cạnh cái lán và ngụy trang bằng rơm. Nhìn giống như 1 phần nhà được cơi nới ra và không thể phát hiện được.
“Ngủ thế nào hả, Willi?” Ernst hỏi bạn.
“Chẳng sao cả” Boghut trả lời pha lẫn 1 chút bực bội. “Dướng như là cứ khi tôi cùng trung đội mình tiến ra thì bọn Nga không bao giờ tới. Còn anh mà ra thì chúng nó lại xuất hiện hàng loạt.”
Tuyết bắt đầu rơi. Gió đông thổi những bông tuyết bay về phía ngôi làng. Tuyết bay vào chỗ mấy cỗ pháo tự hành chống tăng, tuyết phủ đầy lên chiếc xe mô tô ba bánh không để ngoài trời của trung đội. Một lính gác của đại đội, chân đi đôi ủng lót lông dày đi tới. Khi thấy 2 người, anh ta định đứng nghiêm để chào, nhưng Albert Ernst đã khoát tay. Hai người lại đi vào nhà.
“Hôm nay có thư chứ thiếu úy?”, Hollmann vừa rửa xong mặt và đang cạo râu hỏi.
“Có thể thư sẽ tới buổi trưa cùng với đồ ăn. Này, bác Sasha, đang làm gì đó?”
Một ông lão người Nga, người giúp việc của cả bọn, ưỡn thẳng cái lưng còng và khoe điếu thuốc lá vừa mới cuốn.
“Đây này! Ngài thiếu úy! Thuốc lá ngon đó!” ông ta giơ 1 trong số mấy điếu thuốc lên và nói.
“Hmm, toàn mùi bạc hà với hoa hướng dương, tốt hơn là đừng động đến”. Ernst nói và cười. Ông già cũng cười toe và châm 1 điếu thuốc, rồi ông đứng dậy và lê bước vào trong cái kho của mình.
Ernst nhìn xung quanh. Có 1 tấm phẳng là chỗ đã đặt Fressonke nằm. Lúc này anh đã ở ngoài nghĩa trang, và ngày mai họ sẽ chôn anh ta.
“Bếp dã chiến tới rồi”, một người nói trong khi đánh thức mọi người dạy để dùng bữa. Họ ùa ra cửa và mở tung nó ra. Trận đánh đã lắng xuống. Chiến tranh đang tạm ngừng để lấy hơi cho hiệp đấu tiếp theo.
Bếp dã chiến được đặt phía sau cái lán của đại đội trưởng. Binh lính đã ra ngoài sân. Mỗi kíp xe có 1 người, mang theo 5 cà mèn dơ dáy với tay cầm được xếp sao cho anh ta có thể dùng 1 tay mang cả 5 xuất ăn. Tay kia thì xách 1 cái hộp để đựng đồ ăn nguội.
Colany và Hollmann chạy tới chiếc xe tải đi cùng.
“Thư đâu?, Schaarschmitt!” họ hỏi viên trung sĩ nhất quân bưu. Anh này nháy mắt qua lớp kính đeo mắt dày và ra hiệu về phía sau.
Hollmann vồ lấy bao đựng thư rồi chạy về chỗ mấy cái lán. Khi Bretschneider mang đồ ăn về thì thư đã được phân loại và bỏ vào túi chuyển qua trung đội 2.
Họ ăn vội vàng, Albert Ernst cũng vậy, anh chỉ muốn bỏ thức ăn lại để xé bì thư ra đọc. 2 trong số mấy bức thư có những dòng chữ nắn nót của cô vợ trẻ của anh. Nhưng anh vẫn ráng dằn lòng mà múc tiếp những thìa xúp đậu nóng.
Gần như họ đều mở thư ra xem cùng lúc. Rồi sau đó, bác Shasha thấy những điều lạ diễn ra.
“Vợ của anh viết à?” Ông hỏi viên thiếu úy. Ernst gật đầu.
“Cô ấy được chứ?”
“Phải, cô ấy được lắm.” Ernst nói. Những chữ do chính tay người vợ yêu dấu viết trong thư đã lái suy nghĩ của anh vào 1 hành trình vượt qua hàng ngàn cây số.
Mọi thứ khác đều không làm anh để ý đến nữa. Anh chỉ còn thấy những dòng chữ viết tay và biết rằng từ nơi xa ấy luôn có người đang lo lắng, cầu nguyện cho anh.
Tâm trạng ồn ào phấn khởi phá tan sự tĩnh lặng. Không khí vui vẻ, nhẹ nhõm, tin cậy tràn khắp phòng cho tới khi trung sĩ nhất Hollmann đưa 3 lá thư cho trung đội trưởng. Chúng là thư của trung sĩ Fressonke, 1 bức của bố mẹ anh ta gửi từ Leipzig, còn 2 bứa kia là của cô vợ mới cưới ở Borna.
Mọi việc giờ đảo ngược lại. Fressonke đã chết. Trong khi người thân ở quê nhà vẫn hy vọng mọi việc tốt đẹp, thì anh đã làm xong trách nhiệm của người lính. Anh chết cũng như khi còn sống: âm thầm, kín đáo. Anh là người đồng đội mà họ sẽ không bao giờ quên.
Ernst, với tư cách trung đội trưởng, sẽ phải viết thư cho cha mẹ của anh ta. Có thể những câu chữ của anh sẽ an ủi được họ. Anh cam đoan với họ rằng Fressonke ra đi thanh thản. Dù việc này không thể làm anh ta sống lại nhưng nó sẽ góp phần xoa dịu nỗi đau của họ.
Phản kích
Chuông điện thoại reo vang. Buổi sáng 22 tháng 12 đến sớm. Albert Ernst thấy người chuẩn hạ sĩ ra dấu cho anh nghe điện. Anh bật dậy đón lấy cái tổ hợp.
“Thiếu úy Ernst, trung đội 1 nghe đây ạ”
Giọng nói sang sảng của thiếu tá Wolf-Horst Hoppes oang oang.
“Ernst, cậu lấy 1 xe đến Surash ngay. Bộ binh Nga đã tấn công. Lính xung kích của ta đang cần hỗ trợ.
“Tôi sẽ đi ngay, thưa thiếu tá!”
“Lại đi nữa hả?, thiếu úy” Hollmann hỏi.
“Cậu ở nhà. Kíp lái của xe chim ưng sẵn sàng nào!”
Ba phút sau họ ra khỏi lán. Băng giá của trận bão tuyết thổi qua mặt họ. Tuyết cứng như băng nhưng may mắn là không quá dày đặc. Sau khi họ vào vị trí và làm nóng động cơ, tuyết có dịu đi tí chút.
“Tiến lên! Kötter! Hướng về nghĩa trang!”
Chiếc Hornisse bắt đầu di chuyển. Động cơ mạnh mẽ gầm lên. Cỗ pháo tự hành chống tăng lao nhanh, làm tuyết bắn tung tóe rồi chạy xuống thung lũng kế tiếp.
Một toán công binh chiến đấu chỉ đường cho họ. Đi theo hướng được chỉ, họ cẩn thận tránh những quả mìn chống tăng được cài để đánh xe tăng địch và cuối cùng cũng đến chỗ quân xung kích tập trung. Một thiếu tá lạ mặt chạy đến chỗ họ.
“Thế nào? Anh có đủ đạn trái phá không thiếu úy?”
Albert Ernst gật đầu.
“Hướng đột phá chủ yếu đâu ạ?” Anh hỏi.
“Theo tôi. Tôi sẽ đưa anh tới đó. Trên đó có 1 ổ súng máy đang ghìm đầu chúng tôi.”
Cỗ xe lách cách lăn bánh theo viên thiếu tá. Khi 1 loạt đạn súng máy khiến cho ông ta phải ẩn nấp, cỗ pháo tự hành chống tăng vượt lên trước. Ernst nghiêng người qua thành chiếc Hornisse.
“Ta phải diệt mục tiêu đó thôi, thưa thiếu tá. Tín hiệu tấn công là gì?”
“Một phát pháo hiệu xanh bắn chếch về phía trước. Đừng có chạy nhanh quá đó.”
“Nói lính của anh đừng túm tụm phía sau xe, nguy hiểm lắm.”
Viên thiếu tá gật đầu. Sau đó họ chạy vượt qua rồi tới chỗ 1 đám cây thông nhỏ. Lúc này có 4 tia lửa từ ngọn đồi phụt ra.
Ernst hạ lệnh:“Diệt ổ súng máy đó”
Trung sĩ Colany nhắm mục tiêu. Anh cố nhắm sao cho viên đạn sẽ bắn trúng vào dưới chớp lửa chừng nửa mét. Một viên đạn trái phá.
Tiếng nổ vang lên khi anh bắn và sức giật khiến chiếc Hornisse lùi lại 1 khúc.
“Trúng rồi!” một trong số những lính xung kích đang nằm 2 bên reo lên. Cú bắn thứ 2 và 3 đã tiêu diệt hoàn toàn ổ súng máy.
“Pháo hiệu kìa! Thiếu úy”
Albert Ernst đã nhìn thấy.
“Tiến lên! Tốc độ chậm thôi!”
Cỗ pháo tự hành chống tăng tiến về phía trước. Viên đạn trái phá tiếp theo đã nằm trong buồng tiếp đạn. Colany chưa bắn. Anh đợi 1 mục tiêu rõ ràng. Quân xung kích tiến theo cách cỗ xe chưa đầy 10m. Khi có 1 cặp súng cối bắt đầu khai hỏa thì họ chạy đi tìm chỗ nấp.
Thiếu úy Ernst nhìn qua kính chỉ huy. Anh thấy những hình dáng màu nâu đất của lính Nga dưới lòng chảo. Lúc đó thì chiếc Hornisse đang đứng trên đỉnh 1 ngọn đồi. Tầm nhìn từ đó rất tốt.
“600m, hướng 12 giờ!”
“Đã thấy mục tiêu!” người pháo thủ báo ngay sau đó.
“Bắn!”
Khẩu pháo lớn gầm lên. Vỏ đạn rỗng bật ra rồi rơi loảng xoảng xuống sàn. Sötte đã tống quả đạn tiếp theo vào buồng. Khóa nòng đóng phập. Viên đạn rơi đúng vào giữa 1 toán lính hồng quân đang tập hợp chuẩn bị cho 1 đợt tiến công mới trong lòng chảo. Quân Đức tấn công đã khiến chúng bất ngờ.
“Tiến lên! Tiến!” viên thiếu tá vừa mới đến bên cạnh chiếc Hornisse gào lên. Ông ta vẫy tay chỉ về phía lòng chảo. Quân xung kích nhảy lên và bắt đầu chạy. Trung sĩ Kötter cho cỗ pháo tự hành chống tăng với động cơ gầm gừ chạy phía sau họ.
Thiếu úy Ernst thấy hạ sĩ Jolassen đang phụ giúp người lính tiếp đạn. Khuôn mặt người lính trẻ trắng nhợt, ‘mong rằng anh ta trụ được’ Ernst nghĩ. Nhưng rồi Jolassen đã gục xuống. Với nỗ lực cuối cùng, anh ta cố bò qua 1 bên để không cản đường Sötte. Ernst tự hứa rằng, sau khi xong trận, anh sẽ đích thân đưa Jolassen đến trạm sơ cứu.
Trận tiến công diễn tiến rất nhanh. Họ đã tới trước vị trí quân Nga. Đạn trái phá nện vào hệ thống đề kháng địch. Quân Nga bắt đầu bỏ chạy.
“Xe tăng! thiếu úy!” trung sĩ Kötter la lớn. Qua kính lái, anh đột ngột phát hiện 1 chiếc T-34 nhô ra từ bên phải 1 khe núi. 3 rồi sau đó là 5 chiếc xe tăng khác chạy theo sau.
Viên đạn trái phá cuối cùng gầm lên bay khỏi nòng cỗ pháo tự hành chống tăng. Người lính tiếp đạn nạp 1 viên đạn xuyên giáp vào buồng đạn. Đạn pháo Nga rơi xuống mặt đất đóng băng ở 2 bên xe. Một tảng đất cứng như đá văng vào trán Colany. Người pháo thủ gục xuống không 1 tiếng kêu.
“Đỡ cậu ta dậy!” viên thiếu úy hét lên. Anh cùng Sötte đỡ người đồng đội đang bất tỉnh qua 1 bên. Chuẩn hạ sĩ Bretschneider bắt đầu chăm sóc cho anh ta. Ernst quan sát qua kính ngắm của pháo thủ. Chiếc T-34 đầu tiên đã rơi vào vòng ngắm. Nó nằm ngay trên dấu chữ thập của kính. Thêm 1 điều chỉnh nhẹ và anh nhấn nút bắn. Viên đạn xuyên giáp bay ra khỏi nòng và bắn trúng chiếc T-34, khiến tháp pháo của nó bật ra khỏi thân.
“Trúng rồi, thiếu úy!” Sötte reo lên.
Thiếu úy Ernst nhìn khuôn mặt đầm đìa mồ hôi của người hạ sĩ khi anh ta bê viên đạn. Anh biết đây là người mà anh có thể trông cậy được.
“Cẩn thận, Sötte!” anh nhắc nhở khi tay của anh chàng to con để quá gần chỗ đẩy vỏ đạn ra. Rất nhiều lính tiếp đạn đã bị giập nát tay khi pháo giật. Nhưng Sötte đã lường trước nguy hiểm.
“Thưa thiếu úy, Colany ổn rồi!” Colany gọi giọng nhẹ nhõm.
Thiếu úy Ernst không nghe thấy tiếng anh ta nói. Anh nhìn thấy 1 ánh chớp lóe lên rồi 1 viên đạn pháo bay xẹt qua cỗ pháo tự hành chống tăng rồi cắm xuống mặt đất phía sau họ.
“Hướng 3 giờ!”. Anh ra lệnh. Kötter cho xe lúc lắc quay. Phát đạn từ khẩu “88” bắn văng bánh xe bên phải phía trước chiếc T-34 trong khi nó đang chuẩn bị bắn lần thứ nhì. Lực tác động làm chiếc xe tăng quay tròn khiến cú bắn của nó đi trật lất.
Bỗng nhiên chiếc Hornisse bị bắn từ bên trái ở cự ly 300m.
“Chạy zig zag, hết ga!” Ernst hét.
Cỗ pháo tự hành chống tăng rẽ ngoặt như 1 gã khổng lồ đi không vững, rồi nó quay thẳng về phía chiếc T-34. Khẩu pháo của nó lại khạc ra 1 tia lửa.
“Dừng xe! Dừng!”
Chiếc Hornisse đứng khựng lại và Ernst bắn. Đó là phát đạn “chí mạng” của khẩu 88ly. Viên đạn đã bắn xuyên qua tấm giáp trước mũi chiếc T-34.
Trong 1 lúc, có vẻ không có gì xảy ra hết. Rồi cửa tháp pháo mở bung ra. Trưởng xe và pháo thủ, quần áo cả hai đều bị cháy, nhảy ra. Chúng chạy sang bên và lăn mình xuống đất để dập lửa. cái đầu của tên thứ 3 ló ra khỏi nắp cửa. Khi mới chui ra được nửa thân thì 1 tiếng nổ xé toang chiếc T-34, giết chết hắn cùng thành viên thứ 4 của kíp xe.
Chiếc Hornisse chạy lên phía trước 1 quãng ngắn rồi dừng lại ở 1 vùng trũng. Sau đó rẽ sang bên rồi rùng rùng chạy nhanh lên dốc để chiếm lĩnh vị trí xạ kích mới.
Đây là 1 trận đánh sinh tử. Nếu xe tăng Nga diệt được bọn họ, thì quân xung kích đang phải ẩn nấp trên đồng trống sẽ bị tràn ngập và tận diệt.
Họ lại cho xe xông về phía địch. Chiếc xe tăng thứ 5 của Liên xô nổ tan tành khi trúng đòn của khẩu “88”. Rồi họ lại hạ tiếp tên thứ 6. Lỗ hổng trong khu vực địch tập trung đã quá rộng nên quá trình chuẩn bị tấn công của đối phương đã hầu như bị bẻ gãy.
Khi mọi thứ yên tĩnh trở lại, họ cho xe chạy về vị trí ban đầu. Colany hỏi: “Anh hạ được mấy tên, thiếu úy?”
“6, bạn già ạ!”
“Đủ tiêu chuẩn thay tôi được rồi” Colany trả lời.
Ernst đến bên hạ sĩ Jolassen, lúc này đang được điện đài viên chăm sóc. Cậu ta nằm trên 1 tấm chăn, 2 tấm khác đắp trên người. Jolassen vẫn chưa tỉnh.
Họ cho xe về khu phòng ngự chủ yếu, quân xung kích đã lùi về vị trí này. Viên thiếu tá nói lời cảm ơn thiếu úy Ernst.
“Nếu không có các cậu, thì bọn tôi đã lọt vào giữa khu vực bọn Nga tập trung rồi. Cậu có thể hình dung những gì sẽ xảy đến sau đó.”
“Chúng tôi chỉ làm bổn phận của mình thôi, thưa thiếu tá!” Ernst trả lời và vươn người ra ngoài thành xe để bắt tay viên thiếu tá. Động cơ của cỗ pháo tự hành chống tăng lại nổ giòn vui vẻ.
“Tới trạm sơ cứu” Ernst nói sau khi xe về đến làng. Kötter cho xe đi tiếp. Người đồng đội được khiêng vào trạm. Sau khi Jolassen đã được chăm sóc đầy đủ, họ lại cho xe tới tiếp liệu để bổ sung đạn dược và đổ xăng.
Trên đường về làng tổ lái được thông báo rằng quân Nga đã tấn công vào bộ bình.
“Tất cả các xe đều ra trận rồi, thiếu úy!”, trung sĩ nhất Boghut nói.
“Được rồi, chúng ta sẽ lại xông vào và bắt chúng nó cút đi.”
Ernst cùng tổ lái lại tham chiến lần thứ 2 trong ngày. Họ thấy kẻ thù đang dàn quân tấn công có chiều sâu trước các vị trí bộ binh.
Qua kính chỉ huy Ernst nhìn thấy những đám đông đặc lính hồng quân nằm phía trước khu phòng thủ chủ yếu. Chúng nằm chết ngay cạnh hàng rào. Thật là 1 cảnh tượng kinh hoàng. Những cái áo khoác màu nâu đất của những lính Nga chết hiện rõ trên nền tuyết. Phải có đến hàng trăm xác. Nhưng vẫn có hết đợt này tới đợt khác những đợt tấn công mới bị súng máy quạt ngã. Những đợt tấn công tiến lên rồi tan rã. Một vài tên lính tiến đến gần hơn, rúc xuống tuyết và mất dạng.
Bỗng nhiên pháo binh Nga bắt đầu bắn phá dữ dội. Tiếng rú, rít inh ỏi của vô số trái đạn pháo dập xuống phần lớn tiền duyên quân Đức. Một số viên bị hụt tầm cũng rơi xuống những toán quân Nga tấn công đẫn đầu. Lát sau pháo chuyển làn vào sâu trong phòng tuyến Đức. Không gian tràn ngập tiếng nổ của đạn pháo, tiếng đạn hú và tiếng rít chói tai của mảnh đạn.
“Có xe tăng nữa kìa, thiếu úy!” Kötter la lên. Một lần nữa anh ta lại là người phát hiện những tên địch đang tiếp cận.
Lúc này thì thiếu úy Ernst cũng đã nhìn thấy. Cách chừng 2000m là 1 chiếc T-34 đang lắc lư chạy giữa đội hình đông đảo của đợt tấn công thứ 4 như 1 tên khổng lồ quái dị.
“Colany, Cự ly 2000m!”
Chiếc Hornisse dừng lại. Viên trung sĩ cẩn thận nhắm bắn. Phát đạn đầu tiên là 1 phát trúng trực tiếp và chiếc đã T-34 bị diệt.
Trung đội súng cối Đức mà họ vừa vượt qua bắt đầu nã những viên đạn 80 ly xuống đội hình tiến công của Nga. Những ổ súng máy cùng những ụ pháo cao xạ 4 nòng cũng vãi đạn ào ào.
Đội hình đông đảo lính Liên xô đã bị quật ngã. Những đại đội bị tan rã. Thương binh cố tự mình bò về phòng tuyến của mình, những tên khác đào hố chui xuống đất. Địa ngục dường như vô tận. Chỉ 1 chốc sau pháo binh Đức dội lửa xuống vùng đất giữa 2 chiến tuyến, xuống đầu đợt sống tiến công thư tư.
“Việc này không bao giờ kết thúc sao, thiếu úy?” Kötter rên rỉ, khi nhìn thấy từ xa xuất hiện đợt tiến công thứ 5. Ernst lắc đầu. Có lẽ sẽ không có chuyện dừng lại cho đến khi quân tấn công chết hết. Quân Nga có vẻ như chấp nhận hy sinh mọi thứ để đạt mục đích.
Cơn bão chết chóc đến từ hàng ngũ quân Nga. Lính hồng quân tiến công các vị trí quân Đức, cố vượt qua và bao vây mọi thứ bằng cơn lốc của sự hủy diệt. Viên thiếu úy tin rằng mình hiểu vì sao quân Nga lại cố sống cố chết tấn công như vậy. Sau những đơn vị xung kích, có những tiểu đoàn chặn hậu sẽ chặn bắt bất kỳ tên lính nào bỏ chạy và xua chúng quay lại trận đánh. Đó là việc thường xảy ra như cơm bữa.
“Đạn trái phá!” Anh ra lệnh.
Mười lăm phút sau đó tràn ngập tiếng nổ của đạn pháo, đạn súng máy bắn trúng vỏ thép của chiếc Hornisse. Những tiếng nổ khi những xe chở quân của địch trúng đạn và bốc cháy rồi cả tiếng nổ khi những viên đạn trái phá rơi xuống giữa những đám đông người.
“Còn 2 viên trái phá cuối cùng, thưa thiếu úy!” Sötte báo.
“Bắn hết! Sau đó ta sẽ quay về lấy đạn. Chúng ta sẽ giữ lại 1 ít đạn xuyên giáp để phóng xa.” Họ bắn hết 2 viên đạn cuối cùng, rồi báo qua điện đài rằng sẽ rút ra và quay về phía sau. Khi về tới làng Plissovo, ở giữa tiền duyên và nơi đóng quân của họ, thì xe bị 1 toán lính bộ binh Đức chặn lại. Hầu hết những người này là thương binh. Thiếu úy Ernst thấy rõ nỗi kinh hoàng hằn rõ trên mặt mấy người lính.
Nghiêng người ra khỏi thành xe, anh hỏi “Chuyện gì vậy?”
“Xe tăng Nga đã chọc thủng ở phía bắc chỗ này”
“Chính xác là chỗ nào?”
“Thẳng tới con đường đất kia, rồi anh sẽ thấy chúng, thưa thiếu úy.”
“Rẽ đi, Kotier!”
Không cần đợi nhắc, Sötte đặt 1 viên đạn xuyên giáp vào trong buồng đạn. Họ tiến tới đầu mút phía đông bắc ngôi làng và dừng lại. Qua ống nhòm, Ernst thấy 1 chiếc xe tăng đang đậu nhô ra như 1 cái chấm nhỏ trên đồng trống.
“Ít ra là 4km, Colany. Mình diệt nó được không?”
“Chắc chắn là được, thưa thiếu úy.” Người pháo thủ trả lời. Anh lấy đường nhắm vào chiếc xe tăng đối phương.
Phát đạn đầu tiên lóe lên khi rời nòng. 10 giây sau đó là phát thứ 2. Một đám tuyết mù mịt tung lên trước mũi chiếc T-34 khi phát thứ 3 bắn ra. Phát thứ 4 thì trúng trực tiếp. Một cột khói đen ngày càng lớn và dày hơn bốc lên từ chiếc xe tăng Liên xô bị trúng đạn. Khuôn mặt Ernst thoáng một nụ cười. Sau đó có 4 tiếng nổ và chiếc xe tăng đã bị tiêu diệt. Anh rất hài lòng vỉ đã giúp đỡ cho những đồng đội bộ binh. Lần đầu tiên anh mới thấy cảm giác lạnh cóng nơi tay. Anh liền đút tay vào túi bộ quân phục ngụy trang của mình.
Mọi người hút thuốc trong khi Kötter lái xe về chỗ trạm tiếp liệu. Động cơ gầm lên khi chạy với tốc độ cao. Gió rít vù vù quanh chiếc Hornisse.
Họ đang trên đường quay về chỗ trú quân ấm áp. Khi họ vừa bổ sung đạn dược cho chiếc chim ưng xong và đang đậu xe ở khúc quanh phía sau nhà thì trung sĩ nhất Schaarschmitt bước ra khỏi cửa và tiến lại. Anh ta cười toe toét, đôi mắt hấp háy sau cặp kính dầy.
“Xếp đang ở trong ấy đấy, thiếu úy” Anh ta nói.
“Tốt”, người thiếu úy trả lời. Anh bước vào trình diện.
“Trung đội Ernst báo cáo sau khi chiến đấu về. Cuộc tấn công của quân Nga đã bị đánh lui. 7 xe tăng dịch bị diệt.”
“Giỏi lắm, Ernst! Tôi hy vọng anh sẽ sớm được thưởng huân chương chữ thập hiệp sĩ sau hôm nay. Hôm qua bộ tư lệnh tối cao lục quân đã đề cập tới chiến công hôm 21 tháng 12 trong nhật lệnh.”
“Cám ơn thiếu tá.”
Ernst bắt tay vị tiểu đoàn trưởng của mình. Ông là 1 chỉ huy đơn vị có phong cách. Vị sĩ quan cao lớn này đã được thưởng huân chương chữ thập nước Đức vàng. Ông từng chiến đấu ở Tây Ban Nha trong tiểu đoàn do trung tá Ritter von Thoma chỉ huy và được đeo huân chương chữ thập Tây ban Nha bạc cùng huy hiệu xe tăng xung kích Tây Ban Nha.
“Cậu học cách sử dụng xe Hornisse khá lắm, Ernst ạ. Có còn nhớ lúc học chuyển loại ở Spremberg không? Khi mà cậu không sao tìm thấy áo khoác và phải ở trần ra trình diện ấy?”
Vị thiếu tá nhe răng ra cười với tay trung đội trưởng của mình. Hai người rất hiểu nhau. Viên thiếu úy nghĩ lại về những ngày đầu của họ ở tiểu đoàn pháo tự hành chống tăng 519 của lục quân.
Lúc đó anh đang làm việc cùng 1 tổ lái Hornisse. Đó là hè năm 1943, trời rất nóng. Anh cởi áo khoác ra và mặc độc chiếc quần đùi làm việc trong cỗ pháo tự hành chống tăng. Là sĩ quan, anh phải biết điều khiển mọi thứ vì anh biết sẽ có lúc mạng sống của mình phụ thuộc vào việc đó. Bọn họ đang lắp khoang trữ đạn mới thì có tin thiếu tá đến. Ernst vội bò ngay ra khỏi khoang chiến đấu và với lấy áo – nhưng không thấy nó đâu.
Anh thậm chí vẫn còn nhớ mình đã nghĩ gì lúc đó. Nhưng rồi anh vượt qua hết và dẫn tổ lái ra trình diện mà không mặc áo sơ mi.
“Cái gì đây?” Viên thiếu tá hỏi.
“Thiếu úy Ernst, trung đội 2 đang trong huấn luyện. Thưa thiếu tá. Tôi đã biết cách hoạt động của mọi thứ.”
Viên thiếu tá nghĩ mấy giây rồi lại quay qua người thiếu úy.
“Tôi sẽ đi xem 1 tí với cậu.” Cuối cùng ông nói và đi về phía chiếc Hornisse cùng tay thiếu úy. Sau đó ông quan sát cách Ernst làm việc với người của mình và thấy mọi việc răm rắp như thế nào.
Lát sau, ông gọi các sĩ quan trong tiểu đoàn tới và nói. “Các quý ông, tôi hy vọng ngày mai các anh sẽ mặc quần áo bảo hộ vào giống như lính của mình. Người sĩ quan là thành viên thứ nhất của cỗ pháo. Anh ta phải biết hết mọi thứ và khi tôi đã nói là mọi thứ thì các anh đã hiểu thế nào rồi chứ?”
Trước lúc đó các sĩ quan khác không biết nhiều về Albert Ernst. Nhưng ngay sau đó mọi thứ đã thay đổi.
“Câu đang nhớ hồi ở Spremberg đó hả Ernst?”, người thiếu tá mắt dò hỏi nhìn anh chàng sĩ quan.
“Vâng ạ, thưa thiếu tá!” viên thiếu úy trả lời.
“Thời đó thích thật, đặc biệt là chuyến đi tới Oldenbrück để diễu hành đám Hornissen trước nhhững vị khách từ bộ tư lệnh lục quân OKH và bộ tư lệnh tối cao OKW.”
“Và cả bữa tiệc sau đó nữa, thưa thiếu tá”
“Phải, sau bữa đó tôi không thể lôi nổi thằng nào ra khỏi giường”
Vị thiếu tá mỉm cười rồi đưa thuốc lá cùng mấy cái kẹo mang theo cho anh ta.
“Bảo trọng nhé, bây! Xe và người đều quan trọng như nhau!”
Anh ra khỏi nhà. Mọi người nằm xuống ổ rơm. Một ngày chiến đấu nữa đã trôi qua. Lần này họ không bị tổn thất gì và cảm thấy rất mừng vì được ngủ vài tiếng trong căn nhà êm ấm. Họ chìm ngay vào giấc ngủ.
Ông già người Nga để 1 chồng gạch chỗ cái bếp lò lớn đang cần sửa chữa. Ông làm việc nhẹ nhàng vì biết những người lính đang cần vài tiếng để nghĩ ngơi. Thiếu úy Ernst gối tay dưới đầu, anh nhìn chằm chằm thanh xà bám đầy bồ hóng trong phòng. Với động tác nhanh chóng anh đập 1 con rận trước khi nó chui xuống chỗ trốn.
Rồi anh nhìn sang Bretschneider, đang ngồi dựa vào tường trên 1 cái thùng lật ngược và viết thư. Anh ta dùng 1 tấm bản đồ để lót viết.
Anh ta viết gì cho người yêu đây? Viết rằng họ đang sống trong 1 khách sạn sang trọng, mọi thứ đều tốt đẹp. Bretschneider có cái gì đó giống nhà thơ và thật tuyệt khi anh luôn tìm thấy những mặt tốt đẹp trong mọi tình huống.
Một lát sau, Ernst, cũng chìm vào giấc ngủ.
Trinh sát đêm
Tối đến, bác Sasha che kín mấy cái cửa sổ trong căn nhà của trung đội 1. Một cây nến nhỏ chập chờn trước cơn gió thổi luồn qua ô cửa sổ đang mở. Trung sĩ nhất Hollmann đang chơi bài với 2 thành viên trong tổ lái. Họ quăng mấy quân bài chủ lên bàn. Nắm tay đập xuống bàn, cười hô hố khi thắng hay chửi om sòm khi thua dù có bài đẹp trong tay.
Albert Ernst tháo khẩu tiểu liên của mình ra lau. Tất cả sẽ trông cậy cả vào thứ vũ khí này nếu như quân Liên xô leo được lên chiếc chim ưng.
Có tiếng chuông điện thoại kêu ngay khi anh vửa lắp khẩu súng lại. Viên thiếu úy bật dậy lao tới cầm tổ hợp.
“Trung đội Ernst đây ạ!”
“Ernst, hình như bọn Nga lại định tấn công đêm nay. Hãy đi kiểm tra khu vực, xem có gì không, nếu có biến thì lái xe lên tiền duyên để yểm trợ cho quân xung kích.”
“Đã rõ, thưa thiếu tá! Xin hết!”
“Bernlöhr! Sẵn sàng đi tuần thám nhé!”
Người hạ sĩ, một ‘tổ lái’ mô tô đứng dậy. Anh ta khoác chiếc áo da có lót lông của mình vào. Kéo mũ lông xuống che tai và đeo cặp kính lái xe lớn vào. Sau đó anh ta lấy khẩu súng tiểu liên, đeo lên vai và báo cáo đã chuẩn bị xong.
“Tốt. Tôi cũng xong. Lấy mô tô ra làm vài vòng đi.” Viên thiếu úy nói.
Ernst cũng lấy khẩu tiểu liên của mình rồi bước ra khỏi nhà. Tiếng pháo bắn, lúc trước chỉ ở xa vọng tới giờ nghe đã trở nên to và rõ hơn.
Chiếc mô tô rồ máy lao ra khỏi nhà kho. Friedhelm Bernlöhr dừng lại trước cửa ra vào. Ghế sau xe đã được lau sạch.
“Ổn cả chứ, Bernlöhr? Xăng đầy bình chưa?”
“Đến tận Maxcơva cũng được, thưa thiếu úy”
“Bọn ta chẳng mong đi xa tới tận đó đâu.” viên thiếu úy trả lời rồi leo lên ngồi vào chỗ phía sau lái xe.
Chiếc mô tô rồ máy chạy trên còn đường họ đã thuộc. Sau khi xuât phát họ leo lên 1 cái dốc đóng băng, chạy xuống 1 cái khe rồi lao qua 1 ổ gà. Bernlöhr cho chiếc xe vọt lên và lao tiếp lên trước.
Cuối cùng 2 người đã tới chỗ mấy cái lều gần các vị trí tiền tiêu. Họ gặp 1 viên trung úy. Anh ta chỉ đường cho họ và cả 2 lái xe vào vùng đất giữa 2 chiến tuyến.
Khi vừa mới tới gần những ngôi làng có quân địch, 2 người nghe thấy tiếng xe tăng.
“Xe tăng chúng không chạy mà chỉ nổ máy để làm nóng động cơ. Thiếu úy ạ.” Bernlöhr nêu ý kiến.
“Cậu đúng đó! Và đó có nghĩa là sẽ có 1 đợt tấn công mới!”
Vừa lúc đó pháo binh Nga bỗng khai hỏa dữ dội. Bầu trời ngay lập tức tràn ngập bởi tiếng rú, rít bởi đạn pháo nổ tung khắp nơi với 1 địa ngục của tiếng ồn kinh khủng và chớp sáng.
“Về thôi! Bernlöhr!” Ernst ra lệnh.
“Vượt qua cái hỏa ngục này ư, thiếu úy? Hay là ta đợi cho đến khi chúng nó chuyển làn về phía sau?”
“Thế thì quá muộn rồi. Lúc đó bộ binh của chúng đã xông lên. Đi thôi.”
Hai người bèn quay về. Lát sau họ nghe thấy âm thanh của đợt tiến công ngay sau lưng. Khi lên đến đỉnh 1 ngọn đồi và nhìn lại họ thấy hàng ngũ dày đặc của những toán quân đang tiến lên. Những lính bộ binh có thể nhìn rõ nhờ ánh lửa từ những ống xả của các xe tăng hộ tống.
“Cuộc tấn công này nhằm vào vùng trách nhiệm của ta đó.” Ernst nói.” Chúng ta phải về lấy xe và cảnh báo cho quân xung kích”.
Đạn pháo rơi xuống rất gần. Sóng xung kích từ 1 vụ nổ gần đó đánh giấu mục tiêu khi 1 toán quân địch xuất hiện. Kíp xe phối hợp với nhau rất ăn ý, họ làm việc thuần thục và không hề mắc lỗi.
“Tăng địch đâu thiếu úy?” Störtz hỏi.
“Không thấy được đâu. Nhưng cứ phải cẩn thận!” Ernst gọi về.
Cỗ pháo tự hành vừa đi qua một khúc quanh thì gặp 1 cơn mưa đạn súng máy. Đạn đập vào vỏ giáp xe, rít lên nảy ra và bay vào bóng đêm.
“Chú ý! Chỉ huy gọi mọi người: bắn vào đám súng máy đi!”
Ba tiếng nổ lớn khi 3 khẩu “88” khai hỏa. Những chốt chặn, sẽ khiến quân xung kích phải đổ nhiều máu, đã bị loại trừ.
Những cỗ máy lại tiếp tục phóng lên. Một toán lính Nga túa ra từ 1 khu vườn và xông về phía chiếc xe của Ernst. Theo bản năng anh vớ lấy súng tiểu liên. Lính Nga đã tới chỗ họ. Một tên vung tay ném 1 chai cocktail Molotov (chai cháy). Viên thiếu úy siết cò súng. Loạt đạn ghim vào người gã lính Nga và quật hắn xuống đất. Xăng đổ ra bùng cháy và lửa đỏ bao phủ tên lính chết.
Chuẩn hạ sĩ Bretschneider, điện đài viên, khai hỏa khẩu súng máy từ chỗ ngồi của mình. Loạt đạn đầu tiên quạt trúng đám quân địch đang xông đến. Chỉ có 1 số tên là thoát chết. Cuộc tấn công nhằm vào chiếc Hornisse đã bị bẻ gãy ở những giây cuối cùng.
Chiếc diều hâu từ bên phải chạy tới. Trung sĩ nhất Hollmann bắn vào 1 toán lính Liên xô đang mang theo 1 khẩu súng cối chạy ngang qua đường. Rồi anh cho xe phóng lên, húc đổ tường 1 căn nhà khi nó rẽ, và chôn vùi cái nhà dưới xích cỗ pháo tự hành chống tăng.
Lính xung kích Đức đã theo kịp mấy cỗ pháo tự hành chống tăng và lao vào 1 trận chiến trên đường phố với bộ binh Liên xô. Súng trường và súng tiểu liên của họ nhả đạn. Binh lính đánh hết vị trí này sang vị trí khác. Màn đêm tràn ngập những tiếng la hét của những kẻ sắp chết. Thiếu úy Ernst cũng nghe thấy âm thanh đó. Bỗng anh giật bắn người khi nhìn qua bóng tối mờ ảo. Một khẩu pháo chống tăng địch đột ngột hiện ra ngay trước mặt. Nó đang được 1 toán lính kéo xuống bên lề con đường dẫn tới trung tâm làng.
“Kötter, lùi lại!”
Người lái xe sang số lùi và chiếc Hornisse chạy lui xuống vệ đường. Sau đó nó chuyển vị trí và khai hỏa khi đám lính Nga đang triển khai khẩu pháo.
Viên đạn bắn trúng tấm chắn của khẩu pháo, làm các mảnh thép bay tung tóe. Những tên pháo thủ đó không bao giờ còn cơ hội để bắn nữa.
“Thưa thiếu úy, thông báo của thiếu tá: có 1 toán lính Nga với 4 khẩu súng máy đang cố thủ 1 vị trí trước mặt.”
Người lính liên lạc thở hổn hển sau quãng đường chạy đưa tin.
“Leo lên phía sau. Chỉ đường cho tôi!”
Người lính leo lên chiếc Hornisse và chiếc xe tiến lên. Khi họ tiến tới 1 vị trí nhìn thấy những chớp sáng của súng máy quân Nga, Colany cẩn thận nhắm bắn.
Cú bắn đầu tiên đã làm 2 khẩu súng máy câm họng. Một điều chỉnh nhẹ nữa rồi 1 tiếng nổ lớn và cả 4 khẩu súng máy đều đã bị tiêu diệt.
Toán lính xung kích chạy vượt qua chiếc Hornisse xông tới chỗ căn nhà và bức tường, họ vừa chạy vừa bắn và ném lựu đạn.
Trung sĩ nhất Hollmann gọi điện đài cảnh báo Ernst: “Chú ý! Pháo binh địch!”
Ít giây sau Ernst cùng tổ lái đã cảm thấy sự hiện hữu của nó. Đạn pháo Nga dập xuống ngôi làng. Quân Liên xô quyết tâm giữ lấy ngôi làng để tạo 1 bàn đạp cho 1 đột tiến công mới.
Lính Nga cố thủ, chiến đấu đến hơi thở cuối cùng cho đến khi bị đạn nhọn hay đạn pháo giết chết. Tuy nhiên những người còn sống lại tiếp tục thực hiện đợt tấn công mới.
“Chỉ còn 5 viên đạn trái phá, thưa thiếu úy!” tiếp đạn viên, Rudolf Sötte báo cáo.
“Chúng ta sẽ bắn chúng và đánh bật thằng Nga cuối cùng ra rồi thì…”
Viên thiếu úy ngừng lời. Anh nghe thấy tiếng hú ghê người và biết đây là 1 viên đạn pháo nhằm vào họ.
“Nấp đi!” Anh hét mấy người khác.
Trong khoảnh khắc, viên đạn pháo cắm xuống mặt đất đóng băng ngay trước cỗ pháo tự hành chống tăng. Luồng khí từ 1 tiếng nổ kinh hồn giáng vào chiếc Hornisse khiến nó rúng động, quật tổ lái ngã xuống sàn.
Thiếu úy Ernst cố gượng dậy và cảm thấy vai trái rất đau. Anh nghĩ mình đã bị thương.
Anh thấy môi của Sötte bật ra tiếng rên. Khi nhìn sang bên cạnh anh nhìn thấy ống tay áo bên trái bộ quân phục ngụy trang của người lính tiếp đạn đẫm máu.
“Sao thế, Sötte?”
“Bị trúng mảnh pháo, thưa thiếu úy” người hạ sĩ rên rỉ.
Dù ánh sáng từ lửa và những chớp nổ rất chập chờn. Anh vẫn thấy khuôn mặt tái xanh của chàng trai 22 tuổi. Làn da xám ngắt của anh ta hiện rõ dưới lớp bụi đất.
“Ta không thể nhúch nhích gì được, chim ưng đã bị hỏng, thưa thiếu úy!” một thành viên kíp xe thổn thức.
“Tránh ra!” Ernst kêu lên đau khổ.
Anh nhảy qua chỗ Sötte và cùng Colany đỡ người thương binh dậy. Hai người đưa anh ta ra khỏi xe.
Trung sĩ Kötter rời ghế lái. Anh ta vừa mới nhảy ra sang bên khi 1 khẩu súng máy Maxim bắn tới. Loạt đạn bắn trúng đẩy anh bật lùi lại và từ từ ngã xuống.
Trong khi ấy thiếu úy Ernst và Colany vừa mới kéo người lính tiếp đạn bị thương tới chỗ cái rãnh.
Chuẩn hạ sĩ Bretschneider, người đã chạy đến bên Kötter, hét lên tiếng gì đó giữa mớ âm thanh hỗn độn của trận đánh, nhưng họ không thể hiểu được.
Hai lính Nga xông tới chỗ viên chuẩn hạ sĩ đơn độc. Anh này siết cò khẩu tiểu liên và xả hết cả băng đạn. Anh đang cực kỳ đau đớn trước các chết của người bạn.
“Đừng bỏ đi” Sötte rên lên khi người thiếu úy dợm đứng dậy.
“Tôi đang ở đây mà, Sötte”. Ernst trả lời.
“Tôi rất tiếc, thưa thiếu úy!” Người thương binh hổn hển nói “tôi chắc chết mất”
“Đừng lo nghĩ Sötte à. Khi vết thương lành là cậu sẽ lại về ngay thôi.”
Họ băng 1 cuộn băng sơ cứu lên vết thương của người đồng đội. Bretschneide chạy tới chỗ bên cạnh.
“Thiếu úy ơi, Kötter chết rồi!”
Ernst gật đầu. Anh chẳng biết nói gì nữa. Có ai đó hét lên với anh: “Địch đang ép mạnh, thiếu úy. Quân xung kích đang rút lui!”
“Phải thu lại khí tài” Colany nhắc.
“Yểm trợ cho tôi, tôi sẽ đi lấy” Ernst nói.
Anh vọt ngang qua đường, chạy đến và nhảy vào trong xe. Ernst gỡ hết những thiết bị quan trọng. Đến khi đứng dậy anh mới nhận thấy tình thế đã biến chuyển như thế nào. Một toán xung kích Nga đã áp sát những người lính bị kẹt lại. Nhưng rồi chiếc xe đại bàng đã ầm ầm phóng tới chỗ họ. Trung sĩ nhất Störtz nhảy xuống xe.
“Thiếu úy, 3 người của tôi bị hạ do trúng mảnh pháo” anh ta hét lên giữa tiếng ồn của trận đánh.
“Rồi, tôi sẽ sử dụng anh. Ta sẽ lập ra 1 tổ lái mới. Kể từ lúc này anh làm pháo thủ, Colany lo tiếp đạn.”
Họ leo vào cỗ pháo tự hành chống tăng sau khi đã đưa những tử sĩ và người tiếp đạn bị thương của chiếc chim ưng lên đó. Lát sau họ tiến thẳng về phía kẻ thù. Chiếc Đại bàng đã bắn tung nhiều ổ đề kháng địch.
Rồi họ chỉ còn viên đạn cuối cùng. Nó đã được dùng để khóa mõm 1 ổ súng máy. Chiếc Đại bàng đã lập được thành tích. Bằng cách đập tan khu vực tập trung của quân Liên xô trong ngôi làng, những cỗ pháo tự hành chống tăng và quân xung kích Đức đã giúp các chiến hữu bộ binh có thời gian để tập hợp lại.
Những cỗ pháo tự hành chống tăng đã về đến trạm cứu thương. Sau khi để Sötte lại cho những người ở đó chăm sóc. Tổ lái chuyển sang công việc đau lòng là đưa 2 tử sĩ – 1 của chiếc Diều hâu và 1 trung sĩ Kötter của chiếc Chim ưng – ra nghĩa trang.
Sau khi nạp nhiên liệu và bổ sung đạn dược, họ lái chiếc Hornisse về chỗ trú quân của mình. Tất cả đều kiệt sức và buồn bã.
Ba tiếng đồng hồ đã trôi qua kể từ lúc họ trở về. Thiếu úy Ernst ngồi suy tư trên cái 1 thùng đạn. Anh đang nghĩ về chiếc Chim ưng. Cỗ xe đang nằm cách chiến tuyến Đức 500m phía bên trong đất địch. Rất có thể sẽ có thêm 1 cỗ pháo tự hành chống tăng nữa cùng đạn dược của khẩu “88” bị rơi vào tay quân Nga và chúng có thể dùng chiếc chim ưng để chống lại những người chủ cũ của nó.
“Mày phải đi thôi!” Viên thiếu úy nhẹ nhàng nói.
“Cái gì đi?” Willi Boghut hỏi.
“Chiếc Chim ưng” Ernst trả lời.
“Làm sao anh làm được? Đó là đất địch. Có khi bọn Ivan đã vào trong ấy rồi.”
“Tôi không nghĩ vậy đâu, Willi!”
Thiếu tá Hoppe bước vào. Ông ta không cần phải tường trình vì đã biết những gì xảy ra. Ông lặng lẽ đến ngồi cạnh Albert Ernst. Khuôn mặt rộng của ông toát lên vẻ khâm phục và quan tâm.
Người thiếu tá châm thuốc hút rồi nói “Ta phải hủy cái xe trước khi bọn địch thu hồi và dùng nó đánh lại chúng ta, Ernst ạ.”
Ernst gật đầu.
“Tôi nghĩ rằng, thưa thiếu tá. Ta có thể làm điều đó với 1 toán đột kích nhỏ. Tôi sẽ chỉ huy”
“Được đó, Ernst. Làm đi! Nhưng chỉ lấy người nào xung phong thôi.”
Khi Ernst hỏi xem ai xung phong, thì tất cả đều muốn đi.
Ernst kết thúc câu chuyện. “Lúc này thiếu tá đã gọi cho tiểu đoàn trưởng quân xung kích. Ông ta sẽ phái 1 toán quân đi yểm trợ cho ta.”
“Bọn ta sẽ dùng cái gì để cho nổ nó, thiếu úy?”
“Ta có 4 mìn chống tăng và 3 bộc phá. Tôi nghĩ chỉ cần 2 mìn và 2 bộc phá là đủ rồi.”
Những người lính trong toán đột kích đã sẵn sàng. Họ vẫn còn vài tiếng đồng hồ rảnh rỗi. Bỗng nhiên như có phép màu 1 cây thông hiện ra. Nó đã được trang trí và Herbert Colany cứ chặc lưỡi suốt trong khi thắp 1 cặp nến nhỏ.
“Mừng Giáng Sinh đi bây!” anh ta nói.
“Chúng ta sẽ ăn mừng khi quay về, Colany” viên thiếu úy đáp lời.
Đã tới giờ đi. Không ai nói gì và họ bắt tay những người ở lại.
“Chúc may mắn!” Bretschneider nhẹ nhàng nói, nhưng ai cũng có thể nghe thấy và anh nói thêm “Chúa sẽ phù hộ các cậu!”
Anh còn có thể nói không hề có sự hối tiếc vì những người kia ra đi không phải để giết người. Họ chỉ muốn phá hủy chiếc xe bị kẹt trong lãnh thổ đối phương mà thôi.
Trời tối đen như mực như họ đã dự liệu. Những người lính đội mũ lôngvà khoác áo choàng ngụy trang màu trắng thu được của quân Nga để tránh sự phát hiện của kẻ thù.
Họ gồm có 4 người. Thiếu úy dẫn đường, theo sát phía sau là Colany, trung sĩ nhất Hollmann, và trung sĩ nhất Boghut. Anh này là 1 học viên sĩ quan và không muốn nhìn người bạn thân thiết Hollmann phải đi làm nhiệm vụ nguy hiểm mà không có mình.
Người nào cũng đem theo mìn và súng tiểu liên. Boghut có 1 tiểu liên Nga với hộp tiếp đạn chứa 72 viên.
Lúc đầu mọi việc tiến triển tốt. Họ sớm gặp quân xung kích do trung úy Peltz chỉ huy.
“Tôi chỉ huy quân hộ tống đây, Ernst” người trung úy nói ” đây là 1 trò mạo hiểm, anh biết đó”
“Chúng tôi phải lo cho chim ưng, trung úy ạ” Ernst đáp.
“Chúc may mắn. Cẩn thận nhé! Bọn tôi sẽ bảo vệ hướng bên trái và chặn quân đuổi theo nếu có. Rõ chứ?”
“Rõ. Cảm ơn trước nhé”
Toán quân tiến lên. Chẳng mấy chốc họ đã để toán hộ tống lại phía sau. Họ tiến chậm, người cúi thấp, không gây ra 1 tiếng động nào. Ba người lính bám sát sau lưng viên thiếu úy đi trước.
Những phút trôi qua đối với mọi người dường như dài vô tận. Mọi người mồ hôi nhễ nhại vì không quen lội trong tuyết. Những quả mìn chống tăng đè nặng lên cái lưng đang cúi của họ. Nhưng nếu như người thiếu úy vác 1 quả mìn mà không hề ta thán gì thì Hollmann, người mang quả thứ nhì cũng sẽ làm được.
Thỉnh thoảng những người lính dừng lại để trao đổi cho nhau những thứ vác theo. Họ phải tìm chỗ nấp mỗi khi có 1 trái pháo sáng bắn lên trời rọi sáng mặt đất. Tuyết phủ đầy khắp nơi, tuyết lấp đầy những hầm hố và chiến hào rồi những tên lính hồng quân đầu tiên xuất hiện. Từ lúc này trở đi họ phải đi thật cẩn trọng.
Bây giờ thì mấy quả mìn chống tăng có vẻ như nặng tới hàng trăm cân, nhưng họ cần có chúng nên không thể bỏ lại được.
Họ đã nhìn thấy những căn nhà đầu tiên của ngôi làng. Bỗng thiếu úy Ernst nghe thấy có giọng nói. Đó là những lính Nga đang nói chuyện với nhau. Bọn lính gác!
Càng đi xa thì càng gặp nhiều lính gác hơn. Giờ thì xung quanh họ đều có lính Liên xô.
Họ dừng lại phía sau 1 hàng rào ken đặc và thở hổn hễn. Tứ chi run lẩy bẩy vì sự căng thẳng và quá sức. Nhưng vẫn chưa đến mục tiêu và họ phải đi tiếp 1 quãng nữa.
“Ta phải đi nhanh hơn nữa!” người thiếu úy lẩm bẩm. Họ đứng lên và chạy men theo hàng rào. Chạy được vài chục mét thì cả bọn mồ hôi ra như tắm.
Tiếng chân bước lạo xạo trên mặt tuyết của họ bị tiếng đại bác át đi. Hai bên đang đấu pháo. Rồi thì 16 trái hỏa tiễn của 1 loạt katyusha rú lên lao về phía chiến tuyến quân Đức và tạo ra những tiếng nổ kính hoàng.
“Nó kìa!” Colany nói khi họ nhận ra chiếc xe đang nằm bên vệ đường.
“Không thấy thằng Nga nào cả.” Boghut đáp.
Ernst có thể đọc rõ cái tên Chim ưng trên thành cỗ pháo tự hành chống tăng. Anh cứ nhẩm đi nhẩm lại cái tên như để từ biệt gã khổng lồ thép đã từng xông pha trận mạc với mình.
Toán lính ít ỏi chạy vượt qua những bụi cây phủ đầy tuyết ở bên phải còn đường. Trung sĩ nhất Hollmann leo vào khoang chiến đấu của cỗ pháo tự hành chống tăng. Người khác chuyền bộc phá cho anh ta. Boghut mở nắp khoang động cơ còn Colany thì mở nắp cửa lái xe. Bộc phá được đưa vào vị trí và lắp dây ngòi. Người còn lại lăm lăm thủ khẩu tiểu liên. Công việc mau chóng được hoàn thành. Thiếu úy Ernst kiểm tra mấy khối bộc phá 1 lần nữa.
“Tốt rồi!” Anh nói khi nhập lại với mấy người kia. “Giờ phải rời khỏi đây ngay không thì tan xác đó.”
Họ bò lùi lại rất nhanh và chui vào mấy bụi cây rồi đứng lên chạy về hướng 1 cái nhà. Men theo bóng của căn nhà họ tiến thêm 1 chút, nhìn quanh quất và chạy tới cổng làng. Ở đó họ lại bắt gặp những tiếng cười, nói và ra lệnh của lính Nga.
“Nấp đi! Nó nổ ngay bây giờ đó!” Ernst thì thầm.
Họ rúc xuống tuyết, nằm chen chúc trong 1 hố đạn pháo lớn và chờ đợi. Liếc nhìn kim dạ quang của đồng hồ Ernst biết rằng đã sắp đến giờ nổ.
Vài giây chờ tiếng nổ báo hiệu sự thành công của nhiệm vụ kéo dài dường như bất tận. Nhưng rồi 1 cột lửa sáng lóa phụt lên từ vị trí của cỗ pháo tự hành chống tăng chim ưng rồi có 4 tiếng nổ như sấm làm màn đêm rung chuyển. Cả ngôi làng bừng tỉnh giấc.
Những tiếng kêu gào, ra lệnh, la hét, tiếng chân đi ủng chạy rào rào rồi cả tiếng xe tăng nổ máy nữa.
“Chúng kìa!” Boghut thì thầm và chỉ tay về phía những lính gác Nga đang tụ thành 1 đám chạy về hướng vụ nổ.
Những lính Nga khác xuất hiện và cũng đổ xô về phía hiện trường. Bất ngờ pháo binh Nga gia tăng cường độ cùng với hỏa lực đáp trả của các pháo đội Đức.
Không xa lắm, chỉ chừng 200m về bên phải, 1 khẩu đại liên Maxim bắt đầu bắn tạch tạch. Trong hố đạn pháo, mọi con mắt đổ dồn về phía người thiếu úy. Anh đứng dậy.
“Đi thôi! Khẩn trương theo tôi!”
Những người khác đứng lên, nhảy ra khỏi hố, nằm xuống rồi chạy tiếp. Họ chạy không kịp thở về phía phòng tuyến quân mình. Một loạt súng máy bắn theo hướng họ khiến tất cả phải nằm rạp xuống. Áo ngụy trang dán chặt xuống tuyết. Khi khẩu súng tạm ngưng bắn, họ bò về trước, nhích từng cm một cho đến khi có thể nhảy lên và chạy.
Ernst cảm thấy lồng ngực đau rát vì luồng khí lạnh hít vào phổi. Tai bùng nhùng, anh nghe thấy những loạt đạn súng máy đuổi theo và phải rúc xuống tìm chỗ nấp. Rồi anh lại bật dậy và chạy tiếp.
Mệt đứt hơi, họ chạy đến toán quân hộ tống, lúc này đang dùng súng máy ghìm đầu quân đuổi theo. Vài phát đạn súng trường rít lên bay theo. Họ đã tới được hào giao thông của Đức. Nhiệm vụ đã thành công!
Chiếc chim ưng không còn tồn tại nữa. 4 vụ nổ đã khiến nó tan xác.
21 viên đạn diệt 14 xe tăng
Đêm Giáng Sinh đó, Albert Ernst không ngủ. Khi làm xong nhiệm vụ anh cùng những lính dưới quyền thắp nến trên cây thông mà Colany đã trang trí hồi sáng. Ngôi trường được trang hoàng để tổ chức buổi lễ Giáng Sinh cho toàn tiểu đoàn.
Ernst quay qua người lái xe mới của mình: “Heinrichs, đi làm nóng máy chiếc Bò tót (Büffel) đi, tôi có linh cảm sắp xảy ra cái gì đó.”
“Trước buổi lễ Giáng Sinh ư, thiếu úy?” Bernlöhr chen vào.
“Tôi không nghĩ bọn Nga sẽ có ưu ái nào cho ta đâu”
Thiếu úy Ernst hút vội điếu thuốc. Anh ném mẩu thuốc vào lò và châm tiếp ngay 1 điếu khác. Colany hích anh lính tiếp đạn mới, Gustav Götte, đang ngồi kế bên.
“Lão này đang lo lắng đó! Chắc lại đánh hơi thấy điều gì rồi.”
Ai cũng biết. Khi thiếu úy hút dữ như thế là có vấn đề. Albert Ernst chỉ hút thuốc khi đang bồn chồn lo lắng hoặc sắp chiến đấu. Vào trận thì anh không có thời gian để hút còn khi đã chiến đấu xong thì việc hút thuốc lại không còn cần thiết nữa.
Hạ sĩ Heinrichs với lấy áo khoác, và rời lán cùng với Bretschneider. Qua ô cửa sổ bị vỡ kính, âm thanh của trận chiến đã rõ dần.
Ernst đã khoác áo lính suốt 12 năm. Tháng 11 năm 1930, khi mới 18 tuổi anh gia nhập đại đội 2, trung đoàn cơ giới (Kraftfahrerregiment) số 4 ở Magdeburg. Chàng trai đến từ Wolfsburg là 1 vận động viên giỏi và nhiệt huyết đã đạt nhiều thành tích trong các hội thi. Anh là 1 trong số ít ứng viên được gia nhập vào lực lượng lục quân gồm 100.000 người của Đức.
Khởi đầu Ernst được gửi đến trung đoàn huấn luyện tại Halberstadt. Đó là trung đoàn bộ binh 12. Sau đó anh vào đại đội 2 súng trường Phổ (Prussian Rifle Company) ở Magdeburg.
Tại đây anh được huấn luyện nhiều khoa mục. Anh nhanh chóng sử dụng thuần thục mô tô, xe bọc thép bánh hơi và cuối cùng là xe tăng. Thời kỳ đó xe tăng còn được mô phỏng bằng bìa cứng. Ernst đã học qua trường hạ sĩ quan, trường thể thao và nhiều khóa học khác nhau. Albert Ernst mong muốn được phục vụ trong lực lượng phòng vệ đế chế (Reichswehr), nhưng đây là việc rất khó.
Cuối cùng anh đến tiểu đoàn xe tăng 24, sư đoàn xe tăng 24 đóng ở Borna gần Leipzig. Thời gian này anh học qua trường kỹ thuật quân đội và trường quản trị kinh doanh. Trong kỳ thi đặc biệt ở Leipzig, anh đã đứng đầu lớp. Sự trưởng thành của anh thật đáng khen ngợi. Anh được học bổng và được nhận làm trợ giảng của quân đội, 1 sự nghiệp mà cần nhiều thời gian mới có được.
Chiến tranh nổ ra đã làm gián đoạn tham vọng của chàng trai trẻ tuổi. Anh trở thành 1 học viên sĩ quan dự bị.
Tại Ba Lan, Ernst đã dùng pháo chống tăng tiêu diệt chiếc xe tăng đầu tiên. Anh đã chiến đấu dũng cảm trong trận đánh gần Kutno và được thưởng huân chương chữ thập sắt hạng nhì từ tay trung tướng Friedrich Ulbricht.
Ngày 27 tháng 10 năm 1939, tướng Ulbricht trở thành quân nhân Đức đầu tiên được thưởng huân chương chữ thập hiệp sĩ. Thượng sĩ Ernst coi Ulbricht là 1 con người siêu hạng. Ông là 1 quân nhân đặt sự công bằng lên trên tất cả, một người yêu nước và dám đứng lên chống lại chế độ độc tài. Thượng tướng Ulbricht cuối cùng đã kết thúc cuộc đời trên giá treo cổ ngày 20 tháng 7 năm 1944.
Albert Ernst tự làm gián đoạn sự hồi tưởng của mình, anh đến bên cửa sổ nhìn ra ngoài. Trời đã tối. Cỗ pháo tự hành chống tăng đậu ngay trước cửa ra vào nhìn cứ như như 1 cái bóng đen rộng lớn.
Tổ lái của cỗ xe đã sẵn sàng. Bất giác Ernst mỉm cười. Những người lính hiểu anh và họ biết rằng anh đang chờ đợi 1 điều gì đó. Trước đó anh đã từng mong được ở vị trí này sau khi khỏi những vết thương nhẹ. Anh được chuyển đến đây từ tiểu đoàn bổ sung của sư đoàn 294 bộ binh.
Đây là đơn vị mà Ernst đã cùng tham gia trong chiến dịch Pháp. Sau đó anh sang Bulgaria. Rồi có tin đồn về 1 chiến dịch chống Nam Tư và Hy lạp.
Từ Bulgaria những lính chống tăng tiến sang Nam Tư trong đội quân đi tiên phong. Một lần nữa, cũng như ở Pháp, họ chạy xe vượt xa đội hình sư đoàn. Rồi bất ngờ họ khám phá mình đã lọt vào giữa 1 vị trí quân Nam Tư. Trung đội Ernst chỉ có một mình.
Thượng sĩ Ernst yêu cầu viên đại tá Nam Tư đầu hàng. Anh nói cho ông ta biết rằng nếu từ chối thì trong vòng nửa giờ, máy bay Stuka sẽ đến và ném bom san bằng mọi thứ.
Quân Nam Tư hạ vũ khí. 400 lính đầu hàng trung đội Ernst. Albert Ernst được thưởng 1 huân chương cao cấp của Bulgaria cho hành động phi thường này.
Sau chiến dịch Nam Tư, sư đoàn 294 bộ binh được chuyển về miền trung nước Đức. Nó được dành riêng cho cuộc tiến công chống lại nước Nga, tại đó nó đi sau lực lượng xe tăng trong vai trò làm dự bị cho cụm tập đoàn quân Trung Tâm.
Sư đoàn bộ binh 294 hành quân cơ giới hướng đến Kiev. Lực lượng săn tăng bị tổn thất nặng gần Kharkov trong khi đi tiên phong. Với trung đội chống tăng được trang bị những loại xe cộ trong thời bình – loại xe tải Krupp 6 bánh – và khẩu pháo chống tăng 50 ly kiểu mới. Thượng sĩ Ernst đã tham gia cả 2 trận đánh ở Kharkov.
Sau đó đơn vị chống tăng được chuyển đến sư đoàn 3 xe tăng, vốn đã bị tổn thất nặng nề trong trận đánh mùa đông. Ernst được chuyển tới tiểu đoàn mô tô số 3, dưới sự chỉ huy của thiếu tá Günther Pape.
Đầu tháng 1 năm 1942. Thiếu tá Pape thành lập 1 trung đội trượt tuyết và chiến đấu ác liệt trong khu vực Werchne-Olchowatoje. 1 tiểu đoàn bộ binh SS cùng 1 số xe tăng đã được đặt dưới quyền chỉ huy của Pape.
Ernst với đơn vị đi đầu đã chiếm được Solojewka. Những lính chống tăng của anh đã diệt được nhiều ổ súng máy địch, tràn ngập 1 vị trí súng cối rồi tiến đến vị trí của sư đoàn kỵ binh Liên xô số 32 và tiêu diệt nó.
Sư đoàn trưởng quân Nga bị bắt làm tù binh. Với những giọt xăng cuối cùng những lính chống tăng của anh cùng 1 số xe tăng bám sát đám bại binh Nga và tiến đến Nikolskoye.
Sau đó Ernst cùng quân của mình tập hợp lại ở Solojewka và Rudino. Novo-Danilovka đã bị chiếm trong đợt tiến công đầu tiên. Nửa giờ sau Ernst và những lính chống tăng đã vào Moskwinka và đến 11 giờ, sau 5 tiếng đồng hồ cơ động cùng 4 tiếng chiến đấu, họ đã chiếm Stakanovo. Họ đã giành thắng lợi trong các trận tấn công đầu tiên kể từ sau cuộc triệt thoái mùa đông.
Ngày 10 tháng 2 năm 1942. Thiếu tá Pape được thưởng huân chương chữ thập hiệp sĩ vì những thành tích trong khi chỉ huy chiến đoàn. Sau đó, ngày 15 tháng 9 năm 1943 ông trở thành đại tá chỉ huy trung đoàn bộ binh cơ giới 394. Pape trở thành quân nhân Đức thứ 301 được thưởng chùm lá sồi cho huân chương chữ thập hiệp sĩ.
Albert Ernst được tặng huân chương chữ thập sắt hạng nhất. Đại úy Kirsch, chỉ huy đại đội chống tăng, đã đề bạt anh lên làm sĩ quan vì lòng dũng cảm khi đối mặt với quân thù. Ernst không hề biết việc này vì ít hôm sau đó trong 1 trận tấn công khác anh đã bị thương nặng và được chuyển về 1 bệnh ở Đức.
“Thiếu úy ơi, thiếu úy! Có thông báo từ sở chỉ huy tiểu đoàn. Báo động có xe tăng! 1 lữ đoàn xe tăng của Liên xô đang tiến về hướng ngôi làng Xanino.”
Ernst ngay lập tức trở lại với thực tại. Anh đội mũ sắt và với lấy khẩu tiểu liên. Ống nhòm đã được anh tròng vào cổ.
“Sẵn sàng chưa?” Anh hỏi.
“Đã sẵn sàng!” 2 tay trưởng xe đáp lại.
“Hollmann, cậu ở lại sau làm dự bị.” Ernst nói. “Tôi sẽ tấn công với 2 xe.”
“Cảm ơn anh, thiếu úy!” Störtz nói.
“Vì cái gì cơ, Störtz?”
“Vì đã không xử tôi vì lỗi làm hỏng điện đài”
“Tôi quên rồi. Störtz. Giờ đi thôi. Vị trí của cậu là đằng sau tôi. Phải bám sát, đừng để mất liên lạc đó.”
Từng người 1 rời khỏi căn nhà. Gió quất vào họ ở bên ngoài. Mùa đông trổ hết tài nghệ đánh gục họ. Những người lính leo lên cỗ pháo tự hành chống tăng của mình. Hạ sĩ Heinrichs nhìn xung quanh.
“Đi nào Heinrichs!” viên thiếu úy búng điếu thuốc cháy giở của mình sang bên và ra lệnh.
Tiếng máy nổ trầm trầm khi động cơ được chuyển từ số mo qua số 1. Cỗ pháo tự hành chống tăng mới tên là Bò tót bắt đầu chuyển động. Heinrichs sang số nhanh chóng để tăng tốc. Chiếc đại bàng theo sát phía sau. Hai cỗ pháo tự hành chống tăng chạy dọc theo con đường mòn đến khu vực chiến đấu.
“Heinrichs! Tiến lên ngọn đồi phía trước. Nghe này Störtz, tiến lên đồi. Trên đó ta sẽ có xạ trường tốt để chống lại tăng địch.”
“Rõ!” Người trung sĩ nhất đáp.
“Nếu tới đó kịp lúc, bọn ta có thể đánh thọc sườn bọn tấn công.”
Hai cỗ pháo tự hành chống tăng tăng tốc. Xích xe làm bung ra những đám bụi tuyết dày phía sau. Hai cỗ xe chạy nhanh hơn bao giờ hết. Họ vượt qua những vị trí của bộ binh nằm bên sườn trái. Lính xung kích Đức đã vào công sự và chờ đợi đoàn xe tăng địch đang xông đến.
“Nhanh hơn nữa, Heinrichs!” Ernst hô vì biết họ phải đến mục tiêu đúng lúc. Chỉ có thế họ mới có thể bảo vệ cho đồng đội trên đỉnh đồi và trong ngôi làng do quân Đức chiếm nằm phía trước quả đồi.
“Chết tiệt! Chúng ta lọt vào đầm lầy rồi. Thưa thiếu úy” Heinrichs gọi.
“Dừng lại!”
Ernst mở bản đồ ra. Chắc phải có đường đi vòng qua đầm lầy để lên đồi ở đâu đó. Ở đâu đó! Nhưng là ở chỗ nào? Cách đơn giản nhất là cứ thẳng tiến. Nhưng nếu như họ bị sa lầy thì họ sẽ trở thành những mục tiêu ngon ăn và chắc chắn sẽ bị xe tăng Nga đang tiến lên ngọn đồi phía trước mặt tiêu diệt.
Thời gian trôi qua, Ernst cẩn thận đánh giá tình hình. Anh phải làm gì đó. Bỗng anh quyết định. Anh cảm thấy sự không tự tin từ trong giọng nói của mình.
“Tiến ra! Đến chỗ quả đồi có 4 cây thông. Các xe giữ cự ly cách nhau 500m. Nếu thấy lún, phải chuyển hướng ngay và tìm đường khác vòng qua.”
Hai cỗ pháo tự hành chống tăng lại di chuyển. Rồi có 1 viên đại úy đeo huân chương chữ thập hiệp sĩ trên cổ nhảy ra trước mặt họ, vẫy tay rối rít. Họ dừng xe. Viên sĩ quan đứng tại chỗ và lấy lại hơi.
“Có 1 chiếc tăng địch ở bìa làng. Loại T-34. Anh phải diệt nó trước khi nó xông vào trong làng.”
“Nó ở đâu, thưa đại úy?” Ernst hỏi.
“Nếu lái xe đến chỗ cái nhà kia, anh sẽ nhìn thấy nó. Cách khoảng 2000m.”
Họ rồ máy tiến lên trước khoảng 10m và dừng lại cạnh căn nhà gỗ. Ernst đã nhìn thấy hình dáng đen đen của chiếc T-34.
“Hướng 12g! cự ly 2000m!”
“Đã bắt mục tiêu! Thưa thiếu úy!” Colany kêu lên và tinh chỉnh.
“Bắn!”
Cỗ pháo tự hành chống tăng rung chuyển vì sức giật của khẩu “88”. Nhìn rõ đường đạn bay như kẻ chỉ. Rồi 1 bựng lửa vàng tươi bùng lên tại chỗ chiếc T-34. Tiếng nổ khi đạn trúng đích vang tới chỗ họ. Cỗ pháo tự hành chống tăng tiến lên.
“Cám ơn!” viên đại úy hét lên xen lẫn giữa tiếng bắn liên tục của súng máy.
“Lái xe tiến lên! Đạp ga!”
Albert Ernst đã biết xe tăng cháy thì nhìn sẽ như thế nào, tổ lái của anh cũng vậy. Họ không có thì giờ để tới xem nạn nhân vì còn phải đối diện với việc khắc phục đầm lầy để tiến lên đồi. Có thể đầm lầy đóng băng đủ cứng cho họ đi qua. Nhưng không ai dám chắc!
Hai cỗ pháo tự hành chống tăng chạy hết tốc lực về phía quả đồi có 4 cây thông. Chiếc đại bàng hơi bị tụt lại 1 chút và phải đợi 1 lúc mới theo kịp chiếc bò tót. Rồi nó từ từ chạy lên.
Trung sĩ nhất Störtz nhìn xem cỗ xe của trung đội trưởng có bị sa lầy không? Không. Anh ấy vẫn tiến lên.
Chết tiệt! Anh nghĩ. Sao cái lão kia lại làm như vậy được chứ? Lão cứ cho xe tiến tới. Cứ chạy mặc cho nguy cơ bị lún giữa đầm lầy và trở thành mục tiêu ngon xơi. Vậy là mình sẽ phải làm theo. Phải cất gánh nặng cho anh ấy. Störtz thôi không ngẫm nghĩ nữa.
Một số lính xung kích xuất hiện và chạy theo chiếc bò tót tiến lên đồi. Họ được lệnh phải đối phó với bộ binh hộ tống Nga. Quân xung kích rất nhiệt tình làm việc này vì 2 cỗ pháo tự hành chống tăng đó sẽ đánh chặn đám tăng T-34 của Nga.
Giờ thì họ đã ở trong đầm lầy. Khi cảm thấy chiếc xe đang lún sâu Heinrichs vội dừng lại.
“Có cần dò đường phía trước không, thiếu úy?” anh ta hỏi.
Albert Ernst nghĩ 1 lát, nhưng anh đã nghe thấy tiếng tiếng động cơ rầm rì và tiếng xích nghiến trên vùng đất phía bên kia đồi. Thì giờ là vàng bạc! Thời gian sẽ trở thành cuộc sống hay cái chết cho những người lính xung kích ngoài kia. Phải ra quyết định thôi.
“Thẳng tiến! Heinrichs! Đi thôi! Tiến thẳng lên đồi. Đừng chạy chậm quá kẻo chìm đó.”
Cỗ pháo tự hành chống tăng tiến tới. Mọi người đứng tại vị trí chiến đấu lắng nghe tiếng động cơ gào rú, tiếng xích nghiến xuống đất nhão. Cỗ xe cứ lún sâu hơn 10 rồi 20cm, xuống bề mặt đầm lầy đã bị 1 lớp băng đóng cứng.
Đầm lầy vẫn chịu đựng sức nặng của họ. Xích trượt trên mặt băng, họ hy vọng xe vẫn đi tiếp được.
Bỗng nhiên, đuôi xe chìm xuống 1 cách nguy hiểm.
Tất cả đều đồng thanh hét lên: “Tăng ga! Ga!”
Xe xóc mạnh, xích sắt nghiến ken két. Cỗ pháo tự hành chống tăng lại bám được vào chỗ đất rắn và leo lên dần dần.
Họ đã vượt được đầm lầy và giờ đang leo lên đồi. Động cơ vẫn nổ giòn và mọi người trên xe có thể thở phào nhẹ nhõm.
“Chiếm lĩnh vị trí, Heinrichs!”
Người thiếu úy không cần nói nhiều lời. Tất cả đều biết phải làm gì. Họ tiến lên trước đến chỗ sao cho chỉ có tháp pháo nhô ra trên đỉnh đồi. Ở vị trí này, họ là 1 mục tiêu nhỏ và rất khó phát hiện nếu chuyển đổi vị trí sau khi bắn.
Cuối cùng thì họ đã chiếm lĩnh xong vị trí. Trời rất lạnh. Tuy nhiên thiếu úy Ernst vẫn phải lau mồ hôi.
Anh quay lại xem chiếc đại bàng đi cùng đã tới đâu.
Cỗ pháo tự hành chống tăng to lớn dường như băng qua đầm lầy mà không gặp trở ngại nào. Nó cũng đang phóng rất nhanh để không bị lún xuống đất nhão.
Đại bàng đã vượt qua được và đang leo lên dốc. Viên thiếu úy nhảy xuống và chỉ 1 chỗ cách 200m về bên trái cho cỗ pháo tự hành chống tăng vào chiếm lĩnh.
“Trong khi bọn tôi chuyển vị trí thì cậu sẽ bắn, và rồi khi tôi bắn thì cậu sẽ chuyển chỗ sang trái nhé. Störtz!”
“Rõ! Thưa thiếu úy!”
Sau đó 2 cỗ pháo tự hành chống tăng bò tới trước, cái nòng pháo dài 88 ly từ từ nhô ra khỏi đỉnh đồi. Giờ thì họ đang ở địa thế cao nhất. Phía dưới rất tối nhưng họ vẫn dễ dàng nhận ra xe tăng Liên xô khi chúng đang tiến gần đến các vị trí Đức.
“Kìa, thưa thiếu úy, ở phía trước. Cự ly 1200m!” Heinrichs la lớn.
Albert Ernst. Lúc này đang nhìn bao quát phía xa, hạ ống nhòm xuống 1 chút. Anh cũng đã nhìn thấy 2 chiếc T-34, trong đội hình mũi nhọn của lữ đoàn xe tăng Liên xô đang tiến đánh thọc sườn các vị trí của Đức.
“Nhằm được nó chưa. Colany?”
“Nhắm được rồi!”
“Bắn!”
Colany khai hỏa. Vài giây sau nghe thấy tiếng viên đạn đập vào tên địch.
Chiếc T-34 thứ nhất bùng cháy. Heinrichs quay cỗ pháo tự hành chống tăng sang chừng 30-40 độ. Colany nhắm bắn. Gustav Götte, tiếp đạn viên mới, đã nhét viên đạn kế tiếp vào trong buồng đạn rồi đóng khóa nòng lại.
“Bắn!”
Cỗ pháo tự hành chống tăng rung lên và giật lùi lại. Tổ lái đang rất phấn khích. Họ đã bắn trúng. Cú bắn thứ 2 là 1 cú trực xạ, chiếc T-34 bốc cháy. Như, nó vẫn còn quay qua và hướng pháo về phía những kẻ đã tấn công nó. Nhưng trước khi Colany bắn tiếp, chiếc xe tăng kia đã nổ tan tành.
Giao tranh chỉ mới bắt đầu. Cỗ xe kia cũng đã vào vị trí bắn, và cả 2 cỗ pháo tự hành chống tăng cùng nã đạn vào những xe tăng địch khi chúng hiện ra từ màn đêm.
Các tổ lái đều có kinh nghiệm trong việc duy trì nhịp độ xạ kích, họ nhắm vào sườn xe địch. Bị một viên đạn 88ly bắn trúng vào đó thì chiếc tăng địch nào cũng tiêu đời.
Hai cỗ pháo tự hành tăng tốc độ bắn. Xe tăng Nga cũng đáp trả, nhưng tất cả đạn bắn ra đều bay vọt qua xe Đức và rơi xuống phía sau.
Cánh đồng trống mà xe tăng địch đang vượt qua giờ đã thấy rải rác những đống sắt cháy rực. 8 xe tăng Nga bị bắn cháy, những chiếc khác – với số lượng vẫn vượt xa địch thủ – đang tập trung hỏa lực vào cỗ pháo tự hành chống tăng thứ nhì. Phía dưới chiếc Bò tót, đạn pháo nã tới tấp vào mặt đất đóng băng trên sườn đồi. Đất đá rơi xuống những người lính trong xe như mưa.
Götte bị dập ngón tay cái và dù rất đau đớn anh vẫn tiếp tục công việc. Anh phải tiếp thêm những viên đạn mới trong khi người thiếu úy chỉ định các mục tiêu mới với sự nhanh nhạy và chuẩn xác. Những chỉ dẫn này phải được mau chóng làm theo bởi vì sự sống và cái chết chỉ cách nhau trong tíc tắc.
Đột ngột bên trái có tiếng nổ trong vị trí của cỗ pháo tự hành chống tăng thứ 2. Ernst quay qua nhìn thấy lửa cháy và những người lính bên đó đang cố dập tắt đám lửa.
“Bị bắn trúng. Tất cả đều bị thương.” Giọng nói run rẩy của trung sĩ nhất Störtz vọng lại.
“Störtz! Lùi lại đi. Chăm sóc cho những người bị thương!”
Đại bàng lùi trở lại. Ernst cứ nhìn theo cho tới khi cỗ xe mất dạng sau sườn đồi.
“Chúng nó đang cố tiếp cận từ phía mà ta không nhìn thấy, thưa thiếu úy!” Colany gọi.
Ernst đứng lên và nhìn kỹ trên đồi. Không còn nghi ngờ gì nữa! Quân địch đang cố vượt qua và tấn công thọc sườn. Chỉ có 1 câu trả lời: Vòng ra sau chúng!
“Chạy hết tốc độ lên đỉnh rồi rẽ phải, chúng sẽ lọt vào tầm ngắm của ta. Chuẩn bị xạ kích. Colany!”
Mọi người đều căng thẳng. Họ biết như vậy là sẽ phải lái xe lên đỉnh đồi và trở thành mục tiêu của 12 chiếc tăng địch.
Heinrichs đẩy cần số về phía trước. Tiếng máy rồ lên và cỗ pháo tự hành chống tăng bắt đầu di chuyển. Nó đã lên đến đỉnh đồi, càng lúc càng chạy nhanh hơn. Đạn bắn tới từ khắp mọi phía. Đạn pháo nện xuống mặt đất đóng băng rồi bật ra, rít lên và bay vào không trung.
Những chiếc T-34 trong thung lũng cố tìm phạm vi bắn thuận lợi. May mắn cho tổ lái của cỗ pháo tự hành chống tăng là đối phương bị những chiếc xe tăng cháy cản mất tầm nhìn. Tất cả những viên đạn nhằm vào họ đều trượt.
Bất ngờ họ nhìn thấy 1 chiếc xe tăng địch đang leo lên sườn đồi.
“Dừng bắn!” Viên thiếu úy gào lên. Mất 3 giây thì Colany mới có thể bấm nút bắn.
“Trúng. Nó cháy rồi!” Bretschneider reo lên.
Họ tiếp tục bắn. Chiếc xe tăng thứ 4 của Nga trong thung lũng bị tiêu diệt. Bò tót lại chuyển sự chú ý sang làn sóng xe tăng địch đang tới gần. Tổ lái tiếp tục bằn trong khi đạn pháo cứ rơi xuống sát bên cạnh. Ernst lệnh phải bắn nhanh hơn. Mọi người cuống cuồng làm việc. Chỉ một tích tắc cũng đủ quyết định việc sống hay chết cho cỗ pháo tự hành chống tăng trên đỉnh đồi cũng như những lính xung kích Đức đang cố chống cự tuyệt vọng trước bộ binh Nga chạy sau xe tăng đang tràn vào thung lũng. Tiếng súng máy nổ lốp bốp xen lẫn tiếng nổ đanh của pháo tăng và tiếng lửa gầm thét.
Chỉ có 1 cách là làm cho quân địch mất tinh thần trước khi chúng sử dụng sức mạnh vượt trội gấp 10 lần thọc qua được. Lực lượng của Ernst đóng vai trò quyết định. Anh phải buộc địch quân giao chiến theo cách mình muốn và ngăn không cho chúng tận dụng được ưu thế về số lượng.
Ernst thấy rằng Götte không thể cứ làm việc 1 mình được nữa. “Bretschneider, giúp cậu ấy một tay!”
Bretschneider truồi xuống và lấy những viên đạn cách xa tầm với của Götte.
Ernst đã đếm được 13 xe tăng địch bị hạ. Bất ngờ anh thấy có chớp lửa đầu nòng từ trong 1 đám khói dầy đặc. Một chiếc xe tăng địch đang chạy trong cái rãnh cắt ngang bãi chiến trường.
“Chạy qua phải 10m rồi xoay lại” Anh ra lệnh.
Bò tót chuyển hướng và cơ động tới vị trí mới.
“Hướng 12 giờ. Trong cái rãnh, cự ly 1000!”
“Tôi không nhìn thấy! Thưa thiếu úy! Tôi…”
Chớp lửa đầu nòng thứ hai chỉ cho Colany thấy vị trí chiếc xe tăng cuối cùng vẫn còn nguyên vẹn của đối phương. Anh ngắm bắn. Viên đạn của chiếc tăng Nga bắn trúng mặt đất chỉ cách hông xe 10m, khiến nó lắc lư. Tiếng nổ làm tổ lái bị điếc mất 1 lúc. Sau đó họ cảm thấy bò tót giật lùi lại và biết rằng Colany đã khai hỏa.
5 người lính reo lên nhẹ nhõm. Nhưng họ đã mừng quá sớm. Chiếc T-34 chưa bị bắn trúng. Phát đạn chỉ bắn trúng khoảng đất phía trước xe.
Bất ngờ cỗ xe tăng Nga phóng tới trước. Tháp pháo của nó nhô cao khỏi cái rãnh. Qua ống nhòm, Ernst thấy nòng pháo của nó quay ngoắt về phía họ.
“Bắn tiếp!”
Người pháo thủ ngắm chính xác vào tên địch. Viên đạn kế tiếp đã vào buồng đạn. Anh ta nhấn nút bắn.
Đạn lép!
“Chó chết!” Ernst hét lên. Tên Nga có thể bắn vào bất cứ lúc nào và đến khi đó thì không còn kịp bắn phát thứ 3 nữa.
“Cơ cấu bắn chính bị lỗi, thưa thiếu úy!” Colany báo.
“Dùng cơ chế bắn khẩn cấp!”
Phát đạn do chiếc T-34 bắn ra lao về phía họ. Nó bay sượt qua đầu và ghim xuống mặt đất đóng băng ở đâu đó đằng sau.
Mấy người lính làm việc khẩn trương. Họ chỉ việc tháo sợi cáp của cơ chế bắn chính và ghim nó sang cơ chế bắn khẩn cấp. Colany đã ngắm được mục tiêu.
Ernst thấy nòng pháo của chiếc T-34 lại khạc ra 1 tia lửa nữa. “Coi chừng!” Anh hét to.
Viên đạn pháo đáp xuống phía trước bò tót. Sức nổ xô mấy người lính ngã giúi. Một cột gồm băng, bùn và sắt rơi xuống đầu họ.
Thiếu úy Ernst đứng dậy ngắm bắn chiếc T-34. Anh phải nhanh hơn nữa vì có thể phát đạn tiếp theo của chiếc T-34 sẽ là phát chí mạng.
“Không được hoảng. Anh tự nhủ. Phải ngắm cho tốt. Cao hơn 1 chút. Bắn!”
Viên đạn vượt qua khoảng cách 1000m chỉ trong mấy giây. Qua kính ngắm Ernst nhìn theo đường đạn và chờ đợi điểm nổ.
“Trúng rồi!” tất cả đồng thanh reo lên, và lần này họ đã đúng. Lửa tóe ra từ chiếc xe tăng địch. Viên đạn đã bắn trúng vành tháp pháo của chiếc T-34 thổi bay nó ra khỏi thân xe.
“Nó là chiếc cuối cùng đó, thiếu úy!” người lái xe hét lên rồi mở cửa nắp. Một cách khó nhọc, anh ta mới đưa được nửa người chui qua cửa.
Thiếu úy Ernst cũng đứng thẳng dậy, duỗi tứ chi tê cứng của mình ra. Mọi thứ bỗng trở nên yên tĩnh. Chỉ có nghe xa xa về phía đông nam những âm thanh của trận đánh, tiếng pháo tăng và tiếng khẩu đại bác nòng dài “88” của pháo tự hành chống tăng Đức. Kết quả trận đánh ở đó có xu hướng nghiêng về phía những lính Đức dưới quyền thiếu tá Hoppe. Trung sĩ nhất Ludwig Neigl đã diệt được 4 T-34 trong cuộc giao tranh.
Thiếu úy Ernst đếm các xác xe tăng mà anh nhìn thấy. Tổng cộng là 14 chiếc! Họ đã tiêu diệt 14 xe tăng địch trong 1 trận đánh ngắn ngủi đầy kịch tính kéo dài 30 phút. Khi kiểm lại những viên đạn xuyên giáp họ mới nhận ra mình đã diệt 14 xe tăng địch chỉ với 21 viên đạn. Trong khoang chiến đấu còn sót lại mỗi 1 viên đạn xuyên giáp.
Chuẩn hạ sĩ Bretschneider rút từ rong túi ra 1 bao thuốc lá nhàu nát và đưa 1 điếu cho người thiếu úy. Ernst gật đầu cảm ơn. Trận đánh đã kết thúc. Anh không còn cảm giác bồn chồn nữa mà lại có 1 chút phấn khích.
Các thành viên tổ lái khó nhọc hút hết điếu thuốc của mình. Rồi họ nhận được lệnh từ điện đài phải quay về nơi trú quân. Địch quân đã chấm dứt tấn công.
“Đây là món quà Giáng Sinh của chúng mình, thiếu úy ạ” Colany nhận định.
“Tất nhiên rồi, cha nội. Cậu nghĩ thế à?” Ernst hỏi. “Nãy giờ tôi cũng luôn nghĩ thế.”
Anh nói ra điều này với 1 chút duy tâm, dù đã trải qua mọi thứ nhưng lần này tất cả đều đã nghĩ rằng sẽ chết chắc, nhất là khi chiếc T-34 cuối cùng đưa họ vào kính ngắm.
Đứng bên ngoài xe, họ nghe tiếng viên trung sĩ nhất Schaarschmitt ở phòng cần vụ báo tin thiếu tá Erich Loewe bị mất tích. Ông ta là tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn xe tăng hạng nặng 501 vốn đã tham gia chiến đấu ở bên phải sư đoàn 14 bộ binh. Không còn nghe tin tức gi về thiếu tá Loew nữa. Ngày 8 tháng 2 năm 1944, ông trở thành quân nhân Đức thứ 385 được thưởng chùm lá sồi cho huân chương chữ thập hiệp sĩ.
Sau đó thì cây cầu lớn trên sông Düna gần Beshenkovichi đã được đặt tên “cầu thiếu tá Loewe” để vinh danh ông.
“Sẵn sàng ăn mừng lễ Giáng Sinh thôi!”
Những người lính tắm rửa và mặc quân phục sạch sẽ rồi đi qua làng đến chỗ trường học.
Thiếu úy Ernst là người đầu tiên bước vào căn phòng lớn. Tin về trận phòng ngự thắng lợi mĩ mãn của anh đã tới trước. Anh thấy hai người trong đại đội, bên bộ phận hậu cần, đang cố che đi cái huân chương chữ thập hiệp sĩ.
Viên thiếu úy phải phì cười khi thấy họ cứ cố giấu diếm vật đó. Họ cũng nghĩ rằng anh luôn mong mỏi bị “viêm họng” hay sao? (muốn có huân chương chữ thập hiệp sĩ đeo trên cổ). Hay điều đó ám chỉ việc anh đã chơi xả láng hôm nay. Rõ ràng là lương tâm đang cắn rứt họ, vì họ biết rõ rằng với cương vị trung đội trưởng anh phải luôn đi đầu và phải quyết đoán không do dự nhận lãnh nhiệm vụ nếu nhiệm vụ đó chỉ cần 1 xe. Chiếc chim ưng đã nhiều lần giải cứu đồng đội từ những tình huống hiểm nghèo. Anh chưa bao giờ bỏ rơi đồng đội nào dù việc đó sẽ khiến anh phải lao vào dầu sôi lửa bỏng.
Giờ thì Ernst đã được lính bu xung quanh. Đại úy Strehler dang tay ra tiến về phía anh.
“Chúc mừng nhé, Ernst. Vậy là sẽ có huân chương chữ thập hiệp sĩ cho cậu!” Anh ta nói.
“Tôi cũng chẳng biết nữa! thưa đại úy!” Ernst đáp.
Họ tán phét và hát những bài hát Giáng Sinh xưa cũ, cuộc chiến mau chóng như đã lùi xa cả ngàn dặm. Không có gì có thể khiến họ trở nên gần gũi hơn với những người ở quê nhà đang ngồi bên cây Giáng Sinh cách xa hàng ngàn km hồi tưởng, suy tư và nghĩ tới những người đang ở ngoài mặt trận.
Được 1 lúc thì thiếu tá đến. Ông cũng chúc mừng người thiếu úy cùng trung đội của anh về chiến công của họ.
“Đại đội 1 trong vòng 24 giờ đồng hồ đã diệt 30 chiếc tăng địch. Cậu lập công lớn khi đóng góp 14 chiếc trong số đó. Tôi tự hào về cậu cùng lính dưới quyền đó Ernst ạ.”
“Về tổng quan thì mọi thứ như thế nào thưa thiếu tá? Chúng ta có giành được thời cơ tốt không ạ?”
“Tôi nghĩ vậy đó, Ernst! Vào lúc này sư đoàn bộ binh cơ giới Feldherrnhalle (Panzer Grenadier) đang tiến vào khu vực của sư đoàn bộ binh 246. Nó sẽ tiến công về phía đông bắc Krynki lúc 5 giờ sáng để chiếm lại tuyến phòng thủ chủ yếu lúc trước.
“Còn kế hoạch triệt thoái của mặt trận đông bắc thì sao? Nó sẽ ảnh hưởng đến chúng ta như thế nào, thưa thiếu tá?”
“Quyết định của Hitler sẽ sớm đến trong chiều nay. Ngài đã chấp nhận yêu cầu của đại tướng Reinhardt. Vào lúc này sư đoàn 14 bộ binh, sư đoàn không quân dã chiến số 3 và 4 (Luftwaffe Field Divisions) cùng sư đoàn bộ binh 129 sẽ lùi về Losvida để thiết lập vị trí phòng ngự.”
Thiếu úy Ernst thở phào nhẹ nhõm.
“Việc này thì làm được, thưa thiếu tá! Việc này có lẽ sẽ giúp giải tỏa căng thẳng cho lính bộ binh cơ giới và cả chúng ta nữa.”
“Tới nhậu thôi nào. Hy vọng rằng trong lễ Giáng Sinh này ta sẽ không phải mò ra ngoài kia nữa, tuyết nặng hạt lắm.”
Một giờ sau họ quay về chỗ trú quân với tâm hồn thư thái. Tuyết rơi dầy đặc khiến chẳng ai nhìn thấy gì.
“Chắc chắn bọn Nga sẽ lại đánh, thiếu úy!” Bretschneider nêu ý kiến. Albert Ernst gật đầu.
“Đây là kiểu thời tiết của quân Nga! Chúng len lỏi qua tuyết không hề có dấu hiệu gì cho đến khi bất ngờ xuất hiện. Đến lúc đó thì đã quá muộn!”
“Bọn lợn đói rách!” tay chuẩn hạ sĩ đáp lời, và mọi người lại nghĩ đến những lính bộ binh giờ đang phải chường mặt ra giữa bão tuyết trong khi họ được về nơi trú quân ấm áp.
Được thưởng huân chương chữ thập hiệp sĩ
Trong những ngày cuối năm 1943, quân Nga đã tập trung 37 sư đoàn bộ binh, 3 sư đoàn kỵ binh trong khu vực Vitebsk cùng với 15 đơn vị thiết giáp và 4 lữ đoàn cơ giới.
Tuy nhiên dù rất cố gắng quân Nga cũng không chiếm thêm được 1 vùng đất nào. Từ ngày 19 tháng 12, tức là ngày tiểu đoàn pháo tự hành chống tăng hạng nặng 519 tham chiến, quân Nga đã mất 355 xe tăng. Những trận đánh phòng ngự dọc theo tiền duyên ngày càng ác liệt. Với quân Nga thì thời tiết sương giá cộng với tuyết rơi dày rất lý tưởng cho 1 cuộc tiến công mới.
Khu vực Vitebsk chở thành điểm nóng trên mặt trận phía đông. Thống chế Busch, tư lệnh cụm tập đoàn quân Trung tâm, đã yêu cầu 3 tập đoàn quân dưới quyền chuyển bất cứ lực lượng nào có thể đến chi viện cho tập đoàn quân xe tăng 3 đang gặp nguy. Chỉ có làm thế mới có thể ngăn chặn thảm họa.
Tập đoàn quân 4, lúc đó cũng đang đụng nặng, là đơn vị đầu tiên hưởng ứng lời kêu gọi và gởi tới 1 lực lượng đánh chặn hùng hậu tới khu vực phòng thủ của quân đoàn bộ binh 4.
Trong 3 ngày cuối cùng của năm 1943, quân Liên xô nỗ lực đột phá về phía đông nam Vitebsk và đã thọc sâu về phía tây tới tận tuyến đường Vitebsk-Orsha.
Tuyến đường quan trọng này đã được giải tỏa ngay lập tức bằng 1 trận phản kích của quân Đức. Một số xe Hornisse đã tham gia trận đánh này. 15 xe tăng địch bị tiêu diệt.
Trong khu vực của sư đoàn bộ binh 14, giao tranh đã lắng xuống. Những tổ lái của các cỗ pháo tự hành chống tăng có vài ngày để nghỉ ngơi. Trong mấy ngày đó đại đội “ứng cứu” do thiếu úy Albert Ernst chỉ huy bất ngờ được đại tướng Hans Georg Reinhardt tới thăm.
Reinhardt đã bắt tay toàn bộ các thành viên tổ lái Hornisse. Vị tư lệnh xuất thân từ binh chủng xe tăng này đã được thưởng huân chương chữ thập hiệp sĩ ở Ba Lan khi còn là trung tướng chỉ huy sư đoàn 4 xe tăng. Ông là người biết rõ người lính tăng phải chiến đấu như thế nào. Ông hiểu những phẩm chất đạo đức và kỷ luật phải có. Ông chính là 1 người trong bọn họ.
Hai người đã trò chuyện 1 lúc lâu và thiếu úy Ernst đã nói cho vị tư lệnh nghe về những điều anh muốn xin cho lính của mình. Ngài đại tướng hứa sẽ cung cấp đồ giải khuây, sách và đĩa nhạc cho họ.
“Tôi sẽ còn quay lại, Ernst. Hy vọng lúc đó cậu vẫn mạnh giỏi.”
Vị đại tướng, người bận trăm công nghìn việc, đã quay lại mặt trận thăm lại những lính pháo tự hành chống tăng thật.
Năm 1944 bắt đầu với 1 thời kỳ lạnh kinh khủng. Đây sẽ là 1 năm mang có nhiều thảm họa tính quyết định trên mặt trận phía đông. Không ai có thể ngờ số phận cụm tập đoàn quân Trung tâm lại giống như tập đoàn quân xe tăng 3 chỉ mới 7 tháng trước đó.
Sau này trên các sách báo thường nói rằng tới đầu năm 1944, binh lính Đức đã mất tinh thần chiến đấu và chỉ còn các ông tướng là còn nỗ lực kéo dài chiến tranh. Điều này là vô lý vì những nỗ lực hy sinh của tập đoàn quân xe tăng 3 đã chứng minh ngược lại. Vào tháng 1 năm 1944, tất cả binh sĩ trên mặt trận phía đông vẫn còn tin tưởng vào 1 chiến thắng quyết định có lợi cho nước Đức.
Đầu tháng 1 năm 1944, phía Liên xô đã tăng thêm quân tới Vitebsk. Quân Nga đã tung tất cả mọi thứ có trong tay vào trận: năm tập đoàn quân với 52 sư đoàn, 5 lữ đoàn bộ binh, 3 sư đoàn kỵ binh, 22 đơn vị thiết giáp. Những tiểu đoàn trừng giới và tù nhân trong các trại cải tạo cũng bị đưa ra mặt trận.
Bão tuyết dữ dội cùng nhiệt độ xuống thấp đánh dấu những ngày đầu tiên của năm mới. Những đợt tấn công xen lẫn với các trận phản kích. Có vẻ như quân Liên xô đã kiệt sức bởi vì đòn đột kích của các tập đoàn quân kia đã yếu đi.
Nhưng đến ngày 5 tháng 1 năm 1944, quân Liên xô lại tiếp tục – khá là bất ngờ – họ tấn công trên toàn tuyến mặt trận. Ngày hôm sau thì trận đánh trở nên dữ dội với mức độ chưa từng thấy trước đó. Hàng đàn máy bay yểm trợ bay kèm các cuộc tấn công của quân Liên xô trong khi pháo binh của họ duy trì những đợt bắn yểm hộ kéo dài hàng giờ. Trên khắp các khu vực nhỏ của Vitebsk đều diễn ra các trận đánh cấp trung đoàn. Quân Liên xô triển khai rất nhiều dàn pháo phản lực. Tiếng rú của hàng trăm trái đạn rocket đã khiến cho lính bộ binh Đức phải rúc sâu hơn vào công sự.
Hồng quân đã tung ra ở phía đông nam Vitebsk 1 đơn vị mới, đó là tập đoàn quân 5.
Ngày 7 tháng 1 năm 1944, tại bộ chỉ huy quân đoàn 9 bộ binh, thống chế Busch phổ biến những chỉ thị từ Tổng hành dinh của quốc trưởng. Đại tướng Reinhardt đưa ra những đề xuất sau đó như sau:
Mục tiêu của quân Liên xô, những kẻ đang dùng 2 tập đoàn quân từ phía đông và đông nam tấn công Vitebsk chắc chắn – cả về chiến lược cũng như tiếng vang – là đánh chiếm thành phố. Không thấy dấu hiệu của 1 ý đồ chiến lược nào khác. Địch quân đang hoàn toàn tập trung vào Vitebsk.
Một tập đoàn quân mới của địch đang từ phía đông đến gần. Cũng đã thấy xuất hiện 1 tập đoàn quân nữa đang từ phía bắc tiến vào khu vực này.
Rõ ràng nhiệm vụ của tập đoàn quân xe tăng 3 là phải giữ được Vitebsk trên toàn tuyến mặt trận. Nhiệm vụ này không những phải chịu áp lực nặng nề của kẻ thù mà còn trước sự suy yếu trong khả năng tác chiến của quân ta. Những lực lượng quân Liên xô mới vẫn đang được đều đặn gởi đến để đối mặt với những quân nhân Đức đã phải chiến đấu ròng rã nhiều tháng trời không nghỉ.
Gần đây, binh sĩ còn không được nghỉ đêm vì ban đêm là lúc quân thù tấn công chủ yếu.
Vị đại tướng đề nghị thu ngắn tuyến mặt trận. Ông kết luận bằng những lời sau: ” Tôi xét thấy rất cần thiết rằng tập đoàn quân sẽ phải bằng mọi giá cố gắng giữ Vitebsk. Muốn làm được điều này ta phải thu ngắn tuyến phòng ngự ở những nơi tình hình bắt đầu trở nên nguy ngập.”
Trận Vitebsk mùa đông lại tiếp tục. Trận đánh diễn ra không ngưng nghỉ và không khoan nhượng. Ngày 8 tháng 1, tất cả các xe Hornisse đều được đặt trong tình trạng báo động. Họ phái 1 trung đội ra tiền duyên để hỗ trợ những lính bộ binh đã phải chiến đấu quá nhiều.
“Cuộc tấn công của quân Nga đã bị đánh lui. Phát hiện 1 khu vực tập trung quân dùng để tấn công đêm vào nơi phòng ngự của sư đoàn Feldherrnhalle và cánh trái của sư đoàn bộ binh 14. Tất cả các xe Hornissen sẽ đi cùng để hỗ trợ bộ binh đập tan nơi tập trung quân này.”
Thiếu tá Hoppe đã triệu tập các trung đội trưởng về chỉ huy sở, và ban ra những mệnh lệnh ngắn gọn, chuẩn xác. Cuối cùng sau khi chào, các sĩ quan cùng hạ sĩ quan đi xe máy trở về trung đội của mình.
Năm phút sau các cỗ pháo tự hành chống tăng lên đường đến chỗ các vị trí của bộ binh và đỗ lại đó và được nghe thông báo tình hình.
Thiếu úy Ernst nói lời tạm biệt với 2 chiếc xe trong trung đội, khi chúng được chuyển giao cho 2 đại đội bộ binh lân cận. “May mắn nhé! Các cậu.”
“Cám ơn thiếu úy, chúc anh cũng gặp may!”
Hai cỗ pháo tự hành chống tăng đi khuất dạng trong bóng tối của 1 đêm nhiều mây.
“Đừng chạy xe nhanh quá nhé, Ernst” thiếu tá Kleffmann nói khi họ sắp sửa tiến lên. “Với tuyết mới rơi thế này bộ binh sẽ khó theo kịp xe.”
“Rõ, thưa thiếu tá!”
Mấy cỗ pháo tự hành chống tăng đã xuất phát. Lính bộ binh cũng bắt đầu di chuyển. Họ không đi quá gần phía sau xe vì biết rằng đạn pháo sẽ rơi xuống đó.
Ernst nhìn thấy chiếc đại bàng đi phía bên phải. Anh gọi và trung sĩ nhất Störtz lập tức trả lời.
Rồi anh cố tìm chiếc diều hâu, lúc này đã khuất khỏi tầm nhìn. Hollmann cũng nhanh chóng đáp lại.
“Nếu ai gặp rắc rối thì gọi ngay nhé.” Ernst nói.
Họ tiến lên, biết chắc luôn có thể dựa vào nhau và sẽ phải chiến đấu cho đến khi hoàn thành nhiệm vụ.
Lúc này cỗ xe nặng nề đã lọt xuống 1 hố đạn pháo bị tuyết che lấp, nó rồ máy và dùng số 1 để leo qua. Lực lượng tiến công ngày 1 tới gần hơn khu vực tập trung quân của địch.
“Ngôi làng kia rồi!” Ernst nói. Họ dừng lại để viên trung úy chỉ huy đại đội bộ binh bắt kịp.
“Chỉ thấy loáng thoáng, nhìn không rõ. Có vẻ không có gì trong đó.”
Song, thiếu úy Ernst lắc đầu.
“Chúng ở trong đó đó…Cái gì thế nhỉ? Nghe như tiếng xích xe tăng và cả 1 đoàn xe lớn.”
“Chúng nó đó, thiếu úy. Trên con đường trước mặt ngôi làng.”
Ernst quan sát con đường và nhìn thấy 4 cái bóng đen không biết là cái gì.
“Có thể đó là xe tăng hoặc xe ngựa.” Anh thận trọng nói.
“Hãy gọi mấy cỗ pháo tự hành chống tăng tiến lên trước hội quân với chúng ta”
Đại đội bộ binh đã triển khai quân.
Sau khi gọi 2 cỗ pháo tự hành chống tăng của mình lên và chỉ định vị trí cho họ, Ernst nói: “Tôi sẽ tiến lên trước để trinh sát mục tiêu.”
“Nếu cần thì cậu sẽ nắm quyền trưởng xe, Colany.”
“Rõ, thưa thiếu úy”
Đi cùng với viên trung úy và lính trong sở chỉ huy đại đội, Ernst mon men tới gần con đường.
Với đội hình tản rộng, lính bộ binh đã tiến được 1 nửa khoảng cách tới chỗ con đường, họ dừng lại đợi lệnh.
“Chết tiệt! Chúng là tăng. Đang nổ máy.”
Viên trung úy xúc động nói. Ernst gật đầu. Anh nhìn thấy những lính tăng Nga đang hút thuốc. Ở khoảng cách 250m, tiếng nói chuyện của chúng nghe khá rõ.
“Làm gì đây, Ernst?” viên trung úy hỏi. “Ta tiến vào chứ?”
“Đây là cơ hội ngàn năm có một đó. Ta phải nhanh lên: Phải bắn trước khi chúng nghỉ ngơi xong và vào lại trong xe. Nếu để chúng nó đánh trước thì với những chiếc T-34 và KV-1 kia thì mọi việc sẽ rất tệ.”
“Tốt. Khi anh khai hỏa, tôi sẽ bắn 2 phát pháo hiệu màu xanh và tấn công đồng thời.”
Thiếu úy Ernst chạy về chỗ người của mình. Anh phải nhanh lên, nhanh hơn bao giờ hết.
Anh về đến vị trí và leo lên cỗ pháo tự hành chống tăng của mình. Ernst gọi cho 2 xe kia, lúc này đã tiến đến gần hơn.
“Chúng ta sẽ tấn công bọn xe tăng trên đường. Diều hâu đi bên sườn phải. Đại bàng bên trái. Bắn từ cuối đến giữa đoàn xe đẽ khóa đường rút của chúng. Tôi sẽ đi giữa.”
Cả 2 trưởng xe kia đã hiểu lệnh. Rồi người thiếu úy ngắm bắn. Anh ngồi sau kính ngắm rà soát toàn bộ đoàn xe. Rồi tập trung vào chiếc xe tăng ở giữa. Nó đã nằm gọn trong kính ngắm.
“Chú ý! Bắn!”
Khẩu “88” nổ vang khi bắn, ngay khi đạn chưa chạm vào mục tiêu, 2 phát pháo hiệu màu xanh đã bay vút lên trời.
Viên đạn đã trúng đích. Lửa phụt ra từ khoang động cơ của chiếc xe tăng Nga bị bắn.
Ngay khi đó, có lẽ chỉ chậm hơn chừng nửa giây đồng hồ. Hai cỗ pháo tự hành chống tăng kia đã khai hỏa, báo hiệu 1 cảnh tượng kinh hoàng chưa bao giờ thấy.
Qua ống nhòm, Ernst thấy lính tăng Nga chạy tóe sang 2 bên đường. Một số cố leo vào trong xe tăng của mình nhưng bị súng máy của bộ binh Đức đốn ngã lập tức.
Tiếng la hét của lính tăng Nga xen lẫn tiếng ồn của trận đánh.
Một vài tổ lái đã vào được xe tăng. Ernst thấy 1 số xe tăng Liên xô bắt đầu di chuyển quay qua đối diện với quân tấn công để thu hẹp mục tiêu và chiếm lĩnh vị trí bắn.
Trong khi đó các cỗ pháo tự hành chống tăng vẫn tiếp tục xạ kích. Đạn xuyên giáp rít lên khi bắn trúng vỏ giáp xe địch.
Từ các chiếc xe tăng địch bị loại khỏi vòng chiến lửa cháy sáng rực cùng những cột khói bốc cao. 5 xe T-34 và 1 chiếc KV đã lủi vào màn đêm trốn thoát. Một số tổ lái cố chui được vào trong xe để rồi bị cháy thui trong cỗ quan tài thép của mình.
Bộ binh Đức hò reo xung phong lên phía trước đến chỗ xe tăng địch. Một số lính hồng quân bị thương ra đầu hàng. Lính tăng địch chui ra khỏi chỗ nấp, tay giơ cao lên trời và hoàn toàn bị choáng váng trước trận bão lửa.
Một tuyến phòng thủ được lập ra dọc theo con đường. Lính bộ binh giờ đã có thể phòng ngự 1 cách linh hoạt khi trận tấn công tiếp theo ùa đến. Khi cần họ có thể rút khỏi tuyến phòng ngự cũng như đương đầu với quân tấn công tại đó.
Tuyết bắt đầu rơi nặng hạt xuống khi Ernst và lính dưới quyền cho xe quay về nơi đóng quân trong ánh sáng nhợt nạht của sáng sớm ngày 9 tháng 1. Họ rất hạnh phúc khi lại được chui vào nhà mình sau khi đã bổ sung đạn và nạp nhiên liệu cho mấy cái xe.
Các thợ máy bắt tay vào sửa chữa ngay những hỏng hóc của các cỗ pháo tự hành chống tăng nên chúng sẽ lại có thể sẵn sàng chiến đấu khi có lệnh gọi.
Ngày 9 tháng 1 năm 1944, trong nhật lệnh của tập đoàn quân có thông báo tới việc có 60 xe tăng địch bị tiêu diệt cùng với 27 chiếc khác bị bắn hỏng và những xe này đã được quân Đức tịch thu để sử dụng.
Báo cáo kết thúc rằng: “một lần nữa những chiếc xe Hornisse của tiểu đoàn pháo tự hành chống tăng hạng nặng 519 lại góp công lớn trong chiến thắng.”
Ngày 7 tháng 2 năm 1944, thiếu úy Ernst được gọi về tiểu đoàn bộ. Khi về đến nơi, anh nhận ra chiếc xe tham mưu của đại tướng do nhìn thấy cờ hiệu và người lái xe.
Tiểu đoàn đang đứng xếp hàng phía sau tòa nhà.
“Ernst, mũ sắt của cậu đâu rồi?” đại úy Strehler hỏi khi nhìn thấy người thiếu úy trẻ.
“Sao lại phải cần mũ sắt ạ?” Ernst hỏi lại.
“Cậu phải xuất hiện trước đại đội và toàn thể tiểu đoàn với quân phục chỉnh tề nhất chứ? Có phải thế không, Ernst?”
Bỗng nhiên, viên thiếu úy nảy ra sáng kiến. Anh vừa định kiếm người để mượn thì vừa hay Schaarschmitt chạy tới chỗ anh.
“Lấy mũ sắt của tôi này, Albert.”
Ernst đội mũ lên đầu rồi bước về chỗ của mình ở đằng trước đại đội.
Tư lệnh trưởng tập đoàn quân bước ra sân. Đại úy Strehler tới báo cáo cho tiểu đoàn trưởng. Rồi anh quay qua báo cáo đại tướng Reinhardt.
“Tiểu đoàn pháo tự hành chống tăng hạng nặng số 519 đã tập hợp. Thưa ngài đại tướng!”
“Cám ơn anh. Hoppe.”
Vị đại tướng nói lớn 1 câu chúc mừng. 200 tiếng hô đáp lại.
Thiếu úy Albert Ernst bước lên trước. Đại tướng Reinhardt đưa tay ra.
“Thiếu úy Albert Ernst, anh đã trở thành người đạt được nhiều thành tích tiêu diệt xe tăng địch nhất trong trận đánh mùa đông ở Vitebsk. Với việc phá hủy 25 chiếc xe tăng cùng nhiều pháo chống tăng địch, Quốc trưởng đã tặng thưởng huân chương chữ thập hiệp sĩ cho anh. Tôi được vinh dự trao nó cho anh bây giờ. “
Ông nhặt miếng kim loại 2 màu đen, trắng với dải băng màu đỏ đang nằm trong chiếc hộp mở nắp do người phụ tá cầm lên. Thiếu tá Hoppe bước ra phía sau Ernst và bắt đầu buộc giải băng của chiếc huân chương cho anh.
Sau đó viên thiếu tá, người thiếu úy cùng ngài đại tướng đi đều bước dọc theo hàng quân.
Khi tới chỗ đại đội mình, Ernst dừng lại, quay qua và đứng nghiêm chào.
“Kötter!” Anh thì thầm. Nhắc đến người đồng đội đã bỏ mình đó cũng là để tưởng nhớ tới tất cả những người đã chết.
Sau đó 1 lúc lâu, đại tướng Reinhardt nói về “đội ứng cứu Vitebsk” và “những con hổ Vitebsk”. Ông nói với toàn thể bọn họ – cho tới những thợ máy cuối cùng – những lời khen ngợi của những người lính bộ binh đã được pháo tự hành chống tăng nỗ lực giải nguy nhiều lần. Albert Ernst nói về khoảnh khắc đó sau này: “Đó là ngày trọng đại nhất đời, tôi vẫn thấy tự hào khi nhớ tới nó. Nhưng tôi biết tôi được như vậy là do sự nỗ lực của cả những người khác trong tổ lái cùng với 2 tổ lái của 2 chiếc xe khác trong trung đội.”
Tiêu diệt 1 lữ đoàn thiết giáp Nga
Vào cuối trận đánh mùa đông ở Vitebsk, quân Nga bị mất 40.000 lính, với 1203 xác xe tăng nằm lại trên bãi chiến trường rộng lớn. Nỗ lực của các đơn vị chống tăng đã được tuyên dương trong 1 thông cáo của Wehrmacht (lục quân Đức).
“Ngoài sự chiến đấu dũng cảm và kiên quyết của những người lính bộ binh và bộ binh cơ giới, pháo binh, xe tăng các đơn vị chống tăng. Các đơn vị pháo tự hành cùng lính không quân cũng đã đóng vai trò đặc biệt quyết định.”
2 tuần yên tĩnh tiếp theo đó là lúc Albert Ernst được trao tặng huân chương chữ thập hiệp sĩ.
Hoppe đã đề cử người thiếu úy trẻ và đưa ra những tài liệu cần thiết. Ông muốn thấy người được vinh thưởng phải chiến đấu nhiều hơn những người khác trong đơn vị và phải là người có thể chi phối tới diễn biến trận đánh.
Thời gian mà thời tiết trở nên ấm áp giữa tháng giêng đã làm cho đường xá trở thành bãi lầy. Trận Vitebsk mùa đông lần 2 bắt đầu ngày 3 tháng 2 năm 1944. Lực lượng hùng hậu của Liên xô lại tiến công nhất là ở hướng tây bắc Vitebsk vùng giữa hồ Loswida và hồ Saronovskoye.
Không lâu sau, quân Liên xô cũng tiến đánh phía đông nam mặt trận Vitebsk. Vào đúng cái ngày thiếu úy Albert Ernst được nhận huân chương chữ thập hiệp sĩ, các trung đoàn quân Liên xô đã tấn công đầu cầu Noviki. Thiếu tá Ludwig Schütte, chỉ huy tiểu đoàn bộ binh của sư đoàn 131, cùng binh sĩ dưới quyền đã đánh bật tổng cộng 21 đợt tấn công. Schütte đã được thưởng huân chương chữ thập hiệp sĩ vì những nỗ lực đó.
Giờ đến lượt các cỗ pháo tự hành chống tăng. Đã có lệnh tấn công. Albert Ernst đã bắn cháy hai chiếc T-34 trong 1 cuộc giao tranh đầu tiên ngắn ngủi.
Tối đó, Ernst báo cáo vối thiếu ta Hoppe: “Có vẻ như đối phương đã trở nên e ngại chúng ta. Chúng không còn sử dụng xe tăng 1 cách ồ ạt như trước nữa, mà chỉ là 1 hoặc 2 chiếc.”
“Việc này sẽ khiến ta khó khăn hơn khi tiêu diệt chúng. Nhưng sức tấn công của địch sẽ không còn vượt trội như trước. Lính bộ binh sẽ cảm ơn vì điều đó.” Ngày hôm sau tất cả pháo tự hành chống tăng đều được gọi tiến ra phía trước. Đã phát hiện được 1 khu vực tập trung của thiết giáp Nga nằm đối diện với vị trí bộ binh và nó phải được trừ khử.
Trong khi đang tiến ra phía trước, các tổ lái nghe rõ tiếng pháo tăng Nga đang bắn đạn trái phá vào các vị trí súng máy Đức.
“Tốc độ tối đa! Tiến lên! Heinrichs tăng ga đi!”
Cỗ pháo tự hành chống tăng bò tót vọt lên. Hai chiếc xe đi cùng chạy ở 2 bên để phòng trường hợp địch từ khu rừng bị bắn phá trơ trụi xuất hiện và đánh thọc sườn mấy cỗ pháo tự hành chống tăng.
Bỗng trên bầu trời phía sau lưng họ có tiếng gầm rú. Chiếc bò tót dừng lại. Tổ lái nhìn lên trời.
“Máy bay Stuka!” Colany reo lên “Stuka đang tấn công!”
Quân dưới mặt đất của Đức đặt tên cho những chiếc Stuka trang bị đại bác là “pháo binh trên trời”
Những chiếc máy bay ném bom bổ nhào lao về phía khu rừng có thiết giáp đang Nga tập trung. Mọi người đều dõi theo những chiếc Stuka đang gào rú tiến tới. Lửa sáng rực khạc ra từ những khẩu đại bác đeo dưới cánh chúng. Tưởng như những cỗ máy bay sẽ va vào ngọn cây, nhưng chúng đã kéo ngược lên và bay ra xa. Một lát sau chúng quay lại và bay ngang qua đầu những cỗ pháo tự hành chống tăng đang chờ đợi.
Máy bay Stuka lại lao về phía khu rừng.Lần này những tổ lái pháo tự hành chống tăng nhìn rõ hơn cuộc không kích. Họ có thể thấy chớp lửa từ họng đại bác và khói để lại từ những viên đạn xuyên giáp của chúng. Trung sĩ nhất Hollmann đột ngột hét lên: “Chú ý! Bắn!”.
Có 8 xe tăng địch đang tới gần. Cả 3 cỗ pháo tự hành chống tăng đều khai hỏa. Hollmann là người đầu tiên ghi điểm từ 1 cú bắn trúng đích. Rồi thì bò tót cũng thành công trong phát đạn thứ 2. Chiếc xe tăng Nga nổ tung.
Trận đánh bắt đầu. Giống như lũ chó săn, mấy chiếc Stuke đã lùa 8 chiếc xe tăng Nga ra khỏi khu rừng và lao đầu vào họng đại bác của mấy cỗ pháo tự hành chống tăng. Cự ly lý tưởng để xạ kích. Xe tăng Liên xô cũng bắn trả. Một viên đạn đã bắn trúng 1 bên xích của chiếc đại bàng, Störtz, người vừa mới báo là đã diệt được 1 xe tăng đối phương, giờ phải cùng tổ lái lo thay xích dưới làn đạn.
“Hollmann! Bắn yểm hộ cho đại bàng!”
Trung sĩ nhất Hollmann đã hạ gục chiếc xe tăng địch vừa bắn hỏng chiếc đại bàng.
Quân Nga hoàn toàn bị bất ngờ. Kế hoạch của chúng đã bị phá sản.
Nạn nhân thứ 2 và 3 của Ernst đã bị ngọn lửa sáng rực bao phủ. Chiếc cuối cùng trong 8 xe tăng Nga và biến vào trong 1 cái rãnh dẫn vào rừng.
“Đuổi theo nó! Chạy vào cái rãnh cạnh mấy bụi cây đó!”
Cỗ pháo tự hành chống tăng chạy hết tốc lực ầm ầm lao qua những hố đạn pháo, những mô đất. Có 1 lần nó suýt nữa thì bị lật nghiêng nhưng rồi thì cũng vượt qua được. Động cơ gầm lên, nó đã tới chỗ được chỉ định trên bờ cái rãnh và tí nữa thì lọt xuống. Cỗ pháo tự hành chống tăng lui lại vài mét. Chiếc T-34 hiện ra ở khúc quanh của cái rãnh, nó đã rơi vào trong tầm ngắm.
Họ chờ đợi. Chiếc T-34 chìa đuôi ra từ khoảng cách 500m.
“Bắn!”
Khẩu “88” nổ vang. Mặt đất dưới xích cỗ pháo tự hành chống tăng bắt đầu lở xuống. Heinrichs nhanh chóng chuyển sang số lùi và cho xe lui lại vài mét.
Một cột lửa phụt ra từ khoang động cơ của chiếc T-34 và vài giây sau thì ngọn lửa đã bao trùm nó. 4 thành viên tổ lái chiếc xe tăng địch không thoát ra được.
Lần này Ernst đã nâng tổng số xe tăng địch bị tiêu diệt lên 32 chiếc. Chiến công mới nhất của anh đánh dấu chiếc xe tăng địch thứ 300 bị tiểu đoàn phá hùy.
Trận đánh vẫn tiếp diễn, song nỗ lực của quân Nga đã suy giảm. Những trận tiến công lớn trở nên hiếm hơn. Nhưng quân địch có rất nhiều xe tăng và thiếu úy Ernst và mấy cỗ pháo tự hành chống tăng dưới quyền phải chiến đấu liên tục.
Tăng địch theo nhau vào bảng thành tích của Ernst. Bảng danh sách thành tích của anh ngày càng dài ra. Cái nòng dài của cỗ pháo tự hành chống tăng anh chỉ huy gần như bị những vạch điểm thắng bao kín.
Khi quân Nga chấm dứt trận Vitebsk mùa đông thứ nhì, những người lính của thiếu úy Ernst thở phào nhẹ nhõm. Họ đã phải chiến đấu liên tục từ ngày 8 đến ngày 17 tháng 2 mà vẫn sống sót sau bao hiểm nguy. Họ không còn có thể chịu đựng thêm được nữa.
Sự căng thẳng của trận đánh hằn rõ trên mặt bọn họ. Cùng với lính bộ binh, họ cũng phải chịu đựng tất cả những gian khổ, lo lắng. Hai trận đánh lớn đã lùi vào dĩ vãng sau lưng họ. Giờ tới phần thưởng: Được ngủ thẳng giấc. Những lá thư gửi về nhà sau bao chậm trễ giờ đã được viết xong và gửi đi.
Mối bận tâm chủ yếu của họ trong thời kỳ bình yên này là tân trang bảo dưỡng khí tài. Những cỗ pháo tự hành chống tăng Hornisse đã được đại tu đến mức hoàn hảo để chiến đấu, vì dù ngày hay đêm, quân thù cũng có thể tấn công vào bất kỳ lúc nào.
Nói chuyện với 1 vị thống chế
Cuối tháng 2 năm 1944, các sư đoàn quân Nga lại đánh. Tuy nhiên lần này họ không tấn công ồ ạt như trước mà hầu hết chỉ ở cấp trung đoàn và các đơn vị tiến công chỉ được phối thuộc từ 6 đến 8 xe tăng.
Cỗ pháo tự hành chống tăng bò tót thường xuyên lên tuyến lửa. Thiếu úy Ernst thực hiện hết nhiệm vụ này tới nhiệm vụ khác. Cuối tháng 2, Jolassen từ bệnh viện dã chiến trở về. Anh đã được cho về Đức nhưng lại bỏ trốn và quay ra mặt trận.
Sau khi tới báo cáo thiếu úy Ernst về việc quay về của mình, anh ta cười nói “Anh sẽ không thể bắt tôi đi được đâu! Thiếu úy”. Tất cả cùng cười ồ vì Jolassen làm bộ như đang rất đau vậy.
“Tốt rồi. cậu có thể quay lại xe đại bàng làm lính tiếp đạn.”
Trong những tuần kế tiếp, mấy cỗ pháo tự hành chống tăng được điều đi khắp nơi. Thiếu tá Hoppe đã thành lập 1 “đơn vị chữa cháy” do Ernst chỉ huy.
Đại đội đã tiến đến đầu cầu Noviki để giải tỏa hai sư đoàn bộ binh 197 và 299. Sau đó nó được lệnh đến bờ tây sông Luchesa để tăng cường cho vị trí chốt chặn Wolosso.
Trận đánh diễn ra khốc liệt. Khu vực này đã đổi chủ 6 lần trong 1 đêm. Quân Liên xô phải chọc thủng chỗ này để tiến sang phía tây. “Đơn vị chữa cháy” lại được gởi đến khu vực này 1 lần nữa vào ngày 4 tháng 3 năm 1944.
“Hãy cẩn thận. Tôi đang tiến ra đây. Mọi người cứ đợi mà xem! Đạp ga đi. Heinrichs!” Ernst gọi lái xe của chiếc Hornisse.
Lính trên xe đang ở trạng thái báo động chiến đấu. Xe tăng Nga có thể xuất hiện bất kỳ lúc nào từ phía sau cái đỉnh dốc có súng cối của chúng đang bắn.
Mấy chiếc Hornisse tiến lên đồi, xích xe nghiến nát những bụi cây. Tất cả cùng bò tót đều đột ngột dừng lại.
Không cần ống nhòm Ernst vẫn có thể thấy khu vực xe tăng Nga tập trung. Xe nổ máy, chúng đang chuẩn bị cho trận tấn công tiếp theo. Trong ánh sáng mờ mờ Ernst có thể nhìn thấy sau xe tăng đông đặc lính và lính.
“Tất cả theo tôi! Lên đỉnh đồi! Có xe tăng địch! Cự ly 600m.”
Colany đợi lệnh khai hỏa. Anh nhằm vào chiếc xe tăng bên cánh phải và biết ở khoảng cách này mà bị trúng đạn của khẩu “88” thì chết chắc.
Đối phương vẫn không để ý tới mối nguy hiểm đang tới gần. Tiếng ổn của động cơ xe chúng đã át đi tiếng máy của mấy chiếc Hornissen đang leo dốc.
Vào những giây cuối cùng, khi 7 chiếc xe trong toán chiến đấu Đức đã lên gần đến nơi, quân Nga mới sực tỉnh. Albert Ernst nhìn thấy chiếc xe tăng đầu tiên của Nga bắt đầu di chuyển.
“Bắn!” Anh hạ lệnh.
Tiếng pháo bắn cùng với tiếng đạn va chạm gần như cùng 1 lúc. Viên đạn xuyên giáp từ khẩu pháo 88 ly đã đục thủng giáp 1 chiếc T-34 và làm nó bốc cháy.
Nạp đạn – bắn! Nạp đạn – Bắn!
Những pháo tự hành chống tăng còn lại đã lên tới đỉnh đồi và tham chiến. Có ngay 3, 4 rồi 10 chiếc T-34 xông tới chỗ họ. Dưới chân đồi là góc chết đối với mấy cỗ pháo tự hành chống tăng vì họ không thể chúc nòng xuống tới mức có thể giao chiến được với xe tăng Nga.
Một trung sĩ nhất xuất hiện cùng 1 tiểu đội xung kích.
“Thiếu úy! Bọn tôi lo chúng cho!” anh ta la lớn và chỉ tay về phía mấy cái xe tăng đang bắt đầu leo lên đồi.
Ernst gật đầu khi thấy những túi bộc phá cùng mìn chống tăng họ mang theo.
Những cỗ pháo tự hành chống tăng của Ernst cứ bắn cho đến khi các xe tăng địch quay lại và lủi vào trong 1 đám rừng. Từ phía dưới có 1 tiếng nổ ở khoảng cách 200m. Rồi mìn chống tăng và bộc phá thi nhau nổ. Khiến sóng xung kích bạt lên sườn đồi, nhổ tung cả mấy bụi cây.
Từ đỉnh đồi Ernst cùng lính dưới quyền có thể thấy ở bên dưới 3 xe tăng địch bị đánh hỏng. Song một chiếc đã thoát chết và giờ chỉ còn cách ở dưới chừng 60m.
“Đi, Heinrichs! Chạy xuống!”
Chiếc Hornisse bắt đầu di chuyển. Nó phóng xuống đồi 50m rồi quay qua. Ernst nhìn thấy chiếc T-34 đang ở cùng độ cao với họ. Nó đang đứng lại và vừa mới khai hỏa pháo chính.
Chiếc T-34 phơi sườn phải ra. Colany không cần đợi lệnh bắn. Ngay khi chiếc T-34 vừa lọt vào kính ngắm, anh liền bấm nút xạ kích.
Tiếng va chạm lớn kinh khủng. Đạn của khẩu “88” đã xuyên thủng chiếc T-34 và kết liễu đời nó.
Mũi tấn công của quân Liên xô đã bị bẻ gãy. Đội hình phalanx bằng thép đã bị đánh tan. Bộ binh địch theo sau bị quân Đức đánh lui một cách dễ dàng.
Thiếu úy Ernst lúc này đã tiêu diệt được 49 xe tăng địch. Anh đang đứng đầu danh sách, nhưng đây chưa phải là con số cuối cùng trong bối cảnh những đợt tấn công của quân Nga vẫn không hề suy giảm.
Trong 1 đợt tấn công của kẻ thù, những cỗ pháo tự hành chống tăng đã không đến kịp. Nhưng không quân Đức trong trường hợp này đã tới can thiệp. 90 máy bay Bf-110 và Ju-87 đã càn quét tiền duyên. Họ tiêu diệt xe tăng và oanh tạc bộ binh Nga.
Ban ngày tuyết rơi dầy đặc, nhiệt độ ở mức trên 0 độ. Nhưng đêm của tháng 3 thì trời vẫn lạnh và nhiệt độ có khi xuống tới -10 độ C. Những cơn bão đầu năm kéo tới khiến cho đường xá lại lầy lội. Những cỗ Hornissen nặng nề dùng xích cố vượt qua những chỗ bùn sâu tới hàng mét.
Trong cuộc phòng ngự trên mặt trận Luchesa, 9 tiểu đoàn quân Đức phải chống trả 9 sư đoàn cùng 1 lữ đoàn bộ binh và 2 lữ đoàn xe tăng địch. Họ trụ được là nhờ sự nỗ lực của nhưng chiếc Hornisse, tiểu đoàn xe tăng Tiger cùng 6 lữ đoàn pháo tự hành được tập trung trên mặt trận Vitebsk.
Ngày 28 tháng 3, Ernst dẫn những cỗ pháo tự hành chống tăng của mình vào 1 khu vực bắn phá của pháo binh địch. Tin tình báo Đức xác định chính xác có 110 pháo đội Liên xô với 440 khẩu pháo. Chúng đang tiến hành oanh kích dữ dội xuống các vị trí quân Đức.
Bò tót cố vượt qua hỏa lực pháo địch, tiến đến 1 đài quan sát của quân Nga và đã phá hủy nó bằng 4 viên đạn trái phá.
Bộ binh Nga tiến công cỗ pháo tự hành chống tăng. Tổ lái của xe bò tót dùng tiểu liên và lựu đạn đánh trả. Mọi người cùng thở phào nhẹ nhõm khi thấy chiếc diều hâu tới giải cứu.
Quân Nga cố gắng đột phá suốt 5 ngày. Rồi sau khi đã tấn công 50 đợt, bỗng dưng họ dừng lại. Những đợt tấn công này đều có sức mạnh cấp trung đoàn hay sư đoàn. Hơn 80 trận đánh do quân Nga tiến hành diễn ra ở cấp tiểu đoàn và đại đội. 4000 người chết cùng 49 xác xe tăng nằm rải rác phía trước tuyến phòng thủ chủ yếu của Đức.
Chiến trường đã yên tĩnh. Ngày 20 tháng 4 có thông báo tới các đơn vị ở tiền tuyến rằng, thượng tướng Hans Jordan, tư lệnh quân đoàn 6 bộ binh, đã trở thành quân nhân thứ 464 của lực lượng vũ trang Đức được thưởng huân chương chữ thập hiệp sĩ với chùm lá sồi.
Đại tướng Reinhardt đã tới thăm Albert Ernst mấy lần. Binh sĩ trên tiền tuyến nhanh chóng truyền tai nhau: “Người phòng thủ Vitebsk là Reinhardt”
Ngày 26 tháng 5 năm 1944, vị đại tướng trở thành quân nhân Đức thứ 68 được thưởng thanh kiếm và chùm lá sồi. Nhân dịp này ông đã nói: “Tôi cảm thấy hạnh phúc và tự hào khi giành phần thưởng cao quí này cho tập đoàn quân xe tăng 3 của tôi vì những thắng lợi nó giành được trong các trận đánh mùa đông gian khổ ở Vitebsk bị vây hãm.”
Ngày hôm sau, thiếu úy Albert Ernst được mời tới bộ tư lệnh cụm tập đoàn quân Trung tâm. Thống chế Ernst Busch đã mời những người được những quân nhân có phần thưởng cao quí nhất trong cụm tập đoàn quân tới Minsk.
Thiếu úy Ernst đi xe tới sân bay. Những người đi tiễn đều biết cái gì đang chờ anh. Trung sĩ nhất Schaarschmitt nói ra những suy đoán của mình là viên thiếu úy của họ sắp được thưởng chùm lá sồi.
Trung sĩ nhất Hollmann, người vừa được thưởng huân chương chữ thập nước Đức vàng thì đánh cá với tất cả rằng “lão già” sẽ bỏ túi chùm lá sồi khi từ Minsk quay về.
Một số người bạn chấp nhận cá cược, và Hollmann đã thua cuộc vì những diễn biến sau:
Các vị sĩ quan đang ngồi chỗ cái bàn lớn trong phòng ăn ở bộ tư lệnh tập đoàn quân. Họ đang kháo chuyện với nhau. Nhìn xung quanh, Ernst thấy có rất nhiều sĩ quan đeo những huân chương cao quý. Anh cảm thấy lo lắng và bước lên ngồi đối diện với ngài tư lệnh trưởng. Vị thống chế hỏi anh, trong khi mọi người đang hút thuốc sau bữa ăn tối, “Sao mà anh lại chưa được thăng chức nhỉ, Ernst? Anh đã làm đại đội trưởng được 1 thời gian rồi…”
Thiếu úy Ernst nuốt nước bọt và trả lời. “Thưa thống chế. Những lính Hornisse chúng tôi không ai nghĩ tới việc thăng cấp đâu ạ. Công việc hàng ngày của chúng tôi là tiêu diệt xe tăng địch hay cũng có thể là chính mình bị diệt.”
“Đó không phải là đáp án cho câu hỏi của tôi. Ý tôi là, tại sao anh lại chưa trở thành trung úy nhỉ?”
“Tôi đã nói, thưa thống chế, rằng tôi còn phải phục vụ nhiều năm nữa với hàm thiếu úy rồi mới được lên trung úy ạ.”
Thống chế Busch quay sang sĩ quan quân lực cụm tập đoàn quân.
“Groeben! Anh thấy sao? Ernst nói có đúng không?”
“Thiếu úy Ernst đã đúng. Anh ta không thể vì được thưởng huân chương chữ thập hiệp sĩ mà được đưa ngay lên trung úy. Phải có thời gian ạ.”
Albert Ernst là 1 sĩ quan dũng cảm khi chiến đấu với kẻ thù. Nên dù việc thăng chức của anh có bị chậm chễ vài tháng thì không chóng thì chầy Ernst rồi cũng sẽ được lên trung úy.
Nhưng rồi thống chế Busch quay qua người thiếu úy.
“Vậy thì thế này, Ernst thân mến, anh sẽ chọn chùm lá sồi hay chức trung úy cho việc tiêu diệt được 55 xe tăng địch đây?”
Mọi người nhìn chằm chằm vào người thiếu úy. Ernst đoán phần lớn bọn họ đều ngĩ rằng: chùm lá sồi sẽ khiến anh nổi tiếng hơn và vì thói háo danh của con người, anh sẽ chọn phần thưởng này.
Tuy nhiên, viên thiếu úy lại nghĩ khác. Anh đã cưới vợ và có 2 con nhỏ. Lương của thiếu úy thì ít hơn so với lương trung úy dù cùng thâm niên 12 năm.
“Nếu thống chế cho tôi chọn, thì tôi muốn được thăng lên trung úy ạ.”
Cả phòng ăn lặng đi. Nhiều người chất vấn anh, và Ernst đã trả rằng anh cần nhiều tiền hơn cho bản thân và gia đình, và sẽ cần nó hơn là huân chương.
Rốt cục, Albert Ernst được thăng lên trung úy vì đã dũng cảm đối mặt với quân thù. Với 1 người lính bình thường trong lực lượng Reichswehr, thì đây là 1 bước tiến dài.
Vài tuần sau Ernst được lệnh rời tiểu đoàn pháo tự hành chống tăng hạng nặng 519. Anh cuối cùng cũng được tham gia 1 khóa chỉ huy dù chưa học qua khóa đào tạo sĩ quan và được chọn làm chỉ huy 1 tiểu đoàn pháo tự hành chống tăng mới. Trung úy Ernst buộc phải chia tay với các đồng đội.
“Nếu sau này có đủ thẩm quyền thì hãy cho chúng tôi theo nhé, Albert.” Boghut nói. Mấy người khác cũng nêu yêu cầu tương tự.
Người trung úy vô cùng xúc động, vì anh đã từng chỉ huy những con người này xông vào bao gian lao nguy hiểm.
Ở trường thiết giáp Mielau, Ernst đã hoàn tất khóa học với kết quả nổi trội. Cuối khóa học người ta nói anh sẽ về phục vụ dưới quyền thiếu tá Noack, người từng được thưởng huân chương chữ thập hiệp sĩ cùng tiểu đoàn pháo tự hành chống tăng 46 ở Pháp. Chính Noack, vào ngày 17 tháng 1 năm 1942, ở ngoại vi Maxcơva, đã trở thành quân nhân Đức thứ 63 được thưởng chùm lá sồi.
Tiểu đoàn của ông ta được trang bị loại pháo tự hành chống tăng mới rất uy lực là loại Jagdpanther.
Tuy nhiên việc điều động này đã không thành hiện thực. Ernst đã mất dịp học hỏi rất nhiều từ thiếu tá Noack, người đã chỉ huy tiểu đoàn pháo tự hành chống tăng hạng nặng 654 với những xe Ferdinand trong trận Kursk.
Thay vì vậy, Ernst lại được chọn tham gia vào việc thành lập tiểu đoàn pháo tự hành chống tăng 1299.
Giờ thì anh đã có cơ hộ để mang các đồng đội cũ từ Nga trở về nhà. Là thủ trưởng của tiểu đoàn tân lập, anh được quyền lựa chọn nhân sự theo ý muốn.
Vậy là các chiến hữu của Ernst đã từ Nga trở về nhà. Tuy nhiên không phải là tất cả bọn họ. Trong chiến dịch lớn hè năm của quân Liên xô nhằm vào cụm tập đoàn quân Trung tâm, tiểu đoàn được triển khai cùng sư đoàn bộ binh 299 và đã phải chịu thương vong nặng nề.
Chỉ thiếu úy Boghut, thượng sĩ Tarlach và thiếu úy Rondorf cùng với Colany và Bretschneider trong kíp xe cũ của Ernst là về được. Những người còn lại đều đã bỏ mạng.
Trong thời kỳ này Ernst có nhiều dịp để về thăm gia đình ở Leipzig. Đây là những tuần xả hơi hạnh phúc. Lần đầu tiên anh mới lại được hưởng những tiện nghi của cuộc sống đời thường.
Năm đó mùa hè thật đẹp. Tuy nhiên, cuối cùng thì cũng đến lúc phải đưa tiểu đoàn pháo tự hành chống tăng mới (ban đầu chỉ mới có 1 đại đội) tham gia chiến đấu. Đơn vị được đưa tới khu vực tây nam Leningrad, là nơi hồng quân đang tung ra 1 chiến dịch tấn công mới. Một lần nữa Albert Ernst lại nằm dưới sự điều động của tập đoàn quân xe tăng 3.
Quân Liên xô đã tới được Njemen gần Olita. Sư đoàn xe tăng số 4 và số 7 đã phóng ra 1 cuộc tiến công từ vùng Babriskis cách 10km phía bắc Orany để tiêu diệt lực lượng này. Trung úy Ernst cùng những cỗ pháo tự hành chống tăng Jagdpanther của mình cũng tham gia vào cuộc tấn công gọng kìm ấy. Một chiến đoàn được thành lập từ các thành phần của trung đoàn 25 xe tăng và trung đoàn 6 bộ binh cơ giới phối hợp. Nó được phân công tấn công bên sườn trái dọc theo tuyến đường đi Olita.
Đại đội có 14 cỗ pháo tự hành chống tăng mới tinh của Ernst và 1 tiểu đoàn bộ binh phối hợp đi bên sườn phải.
Sáng sớm ngày 11 tháng 7, Albert Ernst, lúc này chỉ huy cả 1 tiểu đoàn, khoát tay và những cỗ pháo tự hành chống tăng bắt đầu xuất phát.
“Tiến lên! Các cậu. Chúng ta nếu không vượt qua được thì sẽ bị bọn Nga nện đó.”
Những cỗ pháo tự hành chống tăng Jagdpanther rồ máy tiến lên.
Loại vũ khí chống tăng mới này, chỉ được chế tạo khoảng 200 chiếc, được trang bị pháo chống tăng Pak L/71 88 ly, là một trong những khẩu pháo uy lực và bắn chính xác nhất thời kỳ đó.
Những chiếc Jagdpanther được đưa ra để thử lửa tại vùng Olita này.
Tiếng của thiếu úy Rondorf, trung đội trưởng, người đang dẫn đầu, vang lên trong tai nghe của Ernst: “Có pháo chống tăng địch, thưa trung úy!”
“Mọi người theo tôi! Tấn công!”
Những cỗ pháo tự hành chống tăng to lớn tăng tốc, bỏ xa bộ binh và bộ binh cơ giới lại phía sau.
Lửa khạc ra từ những bụi cây. Đạn pháo bắn trúng giáp trước những cỗ pháo tự hành chống tăng của Ernst và bật văng ra. Trong tiếng ồn dữ dội đó anh nghĩ rằng sẽ bị điếc mất.
Colany khai hỏa. Khẩu pháo chống tăng mà anh ta chọn bắn tung lên trời.
“Tiến!”
Trung sĩ nhất Zellmann, lái xe của Ernst, chuyển sang số 6. Những cỗ pháo tự hành chống tăng xông đến 1 vị trí pháo phản lực của Liên xô, khi mà 4 xe của bọn chúng đang bắn vào bộ binh Đức.
Những cỗ xe hạng nặng càn thẳng qua vị trí này rồi tiến tới chỗ pháo chống tăng. Khi chúng tới nơi thì lính pháo thủ Nga nhảy ra và bỏ chạy. Nhưng chẳng cách gì thoát được. Những âm thanh khủng khiết phát ra khi các cỗ pháo tự hành chống tăng đè bẹp những khẩu pháo và vùi chúng xuống đất. Chạy thêm 1 quãng ngắn nữa thì họ tới vị trí phòng thủ chủ yếu của quân Nga và đã nhìn thấy con đường đi tới Olita ở phía trước.
Những loạt đạn súng máy cùng pháo phản lực đã biến bãi chiến trường thành 1 hỏa ngục kinh hoàng. Lính bộ binh cơ giới Đức ngoài bãi trống bị tàn sát. Người bị thương kêu khóc đau đớn, còn những ai sống sót thì dùng cả tay và xẻng đào bới đất mềm mùa hè để chui xuống ẩn nấp.
“Cuộc tấn công đã bị chặn lại, thưa trung úy.” Trung sĩ nhất Unterschmitt báo.
Tiếng của Rondorf lại vang lên trên điện đài. “Có đoàn quân địch trên đường, thưa trung úy!”
“Dàn xe theo hình bán nguyệt và bắn yểm trợ. Tiêu diệt ngay lập tức mọi vị trí địch nhìn thấy. Boghut và Rondorf đi với tôi.”
Trung úy Ernst định dùng chiến thuật thường giành thắng lợi như hồi còn là “Con hổ Vitebsk”. Bất ngờ đột phá, tiêu diệt xe địch làm kẻ thù hoảng loạn. Nếu đối phương chịu thua, anh sẽ dùng toàn đơn vị truy kích và mở đường tới mục tiêu cho bộ binh cơ giới.
Xe của Boghut tiến lên. Rondorf tiến ra từ nơi ẩn nấp ở bên phải phía trước. Ernst theo dõi 2 chiếc xe Jagdpanther đang tiếp cận. Phía trước con dốc, các cỗ pháo tự hành chống tăng có nòng pháo dài cùng với thân trên nhỏ, giáp nghiêng làm cho chúng trở thành 1 khối chắc nịch.
“Ta sẽ bố trí tấn công cách nhau 50m. Mọi người chọn mục tiêu trên đường cho mình. Đánh từ trái qua phải tới giữa đội hình địch.”
Máy xe gầm lên, những cỗ pháo tự hành chống tăng xông lên trước cho đến khi tới 1 vị trí xạ kích thuận lợi có tầm nhìn trống trải.
“Bắn tùy ý!”
Lửa phụt ra từ 3 họng pháo. Đạn pháo lao vào các xe tăng, xe tải, xe bọc thép trong đoàn xe Nga. Xe cộ nổ tung bốc cháy trong khi những cái khác thì bị bắn văng ra khỏi con đường.
Rondorf báo thành tích về, rồi sau đó tiếng Boghut cũng vang lên trên điện đài. “Diệt được 3 thằng rồi, Ernst.”
Ba cỗ xe xông tới rồi dừng lại bắn. Đạn pháo rít lên bay ngang qua. Chỉ có phần mũi xe có giáp dầy và vát nghiêng là xoay thẳng tới phía quân địch. Dường như không có gì có thể cản nổi bước tiến của chúng.
“Boghut ở lại đây. Tôi và Rondorf sẽ lên trước. Giữ liên lạc với những người khác!”
Trung sĩ nhất Zellmann lái chiếc Jagdpanther xông về phía địch với tốc độ 40km/g. Khẩu súng máy trước mũi xe, do Bretschneider điều khiển bắn vào những lính hồng quân lọt vào tầm nhìn.
“Chúng bắt đầu chạy rồi, Albert!” Rondorf gọi tới.
Quân Nga đã mất 30 xe cộ và 1 số xe tăng. Cuộc tấn công mau lẹ bất ngờ và mạnh mẽ của 3 cỗ pháo tự hành chống tăng đã khiến đối phương hoảng loạn. Lính địch cực kỳ hoảng hốt và bỏ chạy tán loạn.
Những chiếc xe tải đang bốc cháy nằm la liệt trên đường. Một số pháo chống tăng lăn bánh xuống vệ đường định bắn trả liền bị cán bẹp.
“Tiếp tục bắn!” Ernst hô.
Hai khẩu 88 ly tiếp tục cái công việc hủy diệt của chúng, trong khi 2 khẩu súng máy trên xe cũng bắn không ngừng. Quân địch đang rất hoảng loạn.
Đột ngột,cách khoảng 300m phía trước có 1 chớp lửa. Rồi 1 cú chấn động và chiếc Jagdpanther đứng khựng lại.
“Không thể tiến tiếp nữa, bị bắn văng mất bánh xe rồi, thưa trung úy!” lái xe báo cáo.
“Cẩn thận, Rondorf! Chúng tôi vừa bị bắn trúng.”
“Tôi thấy rồi. Đã sẵn sàng để đón anh ra. Boghut cũng vừa báo qua báo điện đài là sẽ xông vào.”
“Bảo cậu ta ở yên đó!”. Ernst ra lệnh. Nếu chiếc xe khác tiến đến, khẩu pháo chống tăng, vẫn chưa biết đang nấp chỗ nào,sẽ hạ nó dễ dàng.
“Chú ý! Bọn Nga tấn công!”
Những lính Nga, giờ đã lấy lại bình tĩnh và tập hợp lại thành các toán tấn công, đang xông tới cỗ pháo tự hành chống tăng của Ernst.
“Phòng thủ vòng tròn! Lấy lựu đạn ra!”
Họ mang theo trong xe 2 thùng lựu đạn, và đây chứng tỏ là 1 hành động khôn ngoan. Lính Nga đã tiếp cận chiếc Jagdpanther. Từ các nắp cửa, lựu đạn được ném ra. Qua khe nhìn tổ lái thấy quân Nga gục ngã. Những tên bị thương cố lê ra khỏi khu vực, nhưng những lính Nga khác vẫn đeo bám. Chúng ném chai cháy Molotov, những chai này rơi quá gần và lửa xăng đã thiêu cháy luôn những thương binh kia.
Ernst ném lựu đạn ra từ nắp cửa chỉ huy đang mở. Súng máy trước mũi xe bắn hết cả băng đạn, cố gắng chặn lực lượng chính của quân Nga lúc này đang tiếp cận phía trước xe lại. 5 người lính trong cỗ pháo tự hành chống tăng nghe thấy những tiếng thét, tiếng những loạt súng máy nổ vang và nhìn thấy lửa cháy sáng xung quanh.
Ernst, người chỉ huy đang lãnh trách nhiệm bảo vệ tháp pháo. Một số tên Nga leo lên trên vè chắn bùn. Ernst dùng súng lục bắn chúng rồi hụp xuống để thay 1 băng đạn mới.
Đây là 1 trận đánh sinh tử. Thiếu úy Rondorf nã đạn trái phá vào những toán quân tấn công lớn đang cố gắng tràn ngập chiếc xe tăng bất động.
Trung úy Ernst đã thay băng đạn cuối cùng. Anh đứng lên chỗ nắp cửa bắn ra 4 phát đạn rồi hụp xuống khi 1 loạt máy bay rít qua đầu.
Một lần nữa Ernst lại đứng dậy và chạm mặt với 1 sĩ quan Nga ở khoảng cách không đến 1m. Anh giơ khẩu súng lục lên, dù đã nhanh hơn tên Nga vài phần trăm của giây nhưng khẩu 08 lại tịt. Thay vào đó là tiếng nổ khi tên sĩ quan Nga bắn khẩu súng lục Nagan của hắn. Albert Ernst thấy như bị đánh 1 cú trời giáng vào trán. Viên đạn chui vào đầu ngay dưới tổ hợp nghe nói và xuyên ra đằng sau.
Khi anh ngã vào trong xe, nắp cửa đóng sập lại. Có lẽ viên trung úy đã đóng được nắp cửa tháp pháo do bản năng. Bretschneider chốt cửa lại.
“Chúng nó ở khắp xung quanh ta! Phải tìm đường về với đồng đội. Thưa thiếu úy!” Trung sĩ Feige, pháo thủ trên xe của Rondorf kêu lên.
“Bắn đi! Đạn trái phá!” Người thiếu úy ra lệnh. Đạn pháo dập xuống xung quanh cỗ xe của đại đội trưởng. Những người lính trong xe phải chịu đựng 1 cảm giác kinh khủng. Chỉ có viên chỉ huy đã bất tỉnh là không biết những gì đang diễn ra.
Bretschneider gỡ tai nghe đẫm máu của Ernst ra.
“Chú ý! Đại đội trưởng bị thương nặng rồi. Anh phải đưa tụi tôi ra nếu không anh ấy chết mất.”
Họ băng bó cho trung úy, dùng băng quấn quanh đầu, lấy 1 miếng gạc dầy đặt trên lỗ thủng phía trước và sau đầu rồi buộc chặt lại.
“Tiến lên! Bắn thêm 4 phát nữa rồi xông vào! Nössgen chuẩn bị sẵn móc rồi đưa cho tôi.”
“Để tôi móc nó cho, thiếu úy!” lái xe Herbert Nössgen trả lời.
“Vậy thì tốt!”
Đã bắn xong phát cuối cùng và cỗ pháo tự hành chống tăng bắt đầu tiến lên trước. Nó xông qua 1 toán lính Nga khi chúng đang mải mê ùa tới phía sau chiếc xe của người đại đội trưởng. Nössgen chui ra khỏi cửa lái và ném cái móc thép qua bên kia. Anh ta nhắm giỏi và cái móc đã móc trúng ngay.
Thiếu úy Rondorf dùng súng tiểu liên bắn vào số địch đang nhắm bắn người lái xe của mình. Rồi thì cỗ pháo tự hành chống tăng giật lùi kéo theo cả chiếc Jagdpanther hỏng.
Boghut cùng chiếc xe thứ 3 đã tiến lên và bắn liên hồi. Rondorf lúc này cũng bắn mỗi khi nhìn thấy có xe tăng đuổi theo.
Những chiếc Jagdpanther lùi lại từng mét một. Cuối cùng họ cũng để khu vực tập trung quân địch lại phía sau và dừng lại. Họ bây giờ đã nằm trong phạm vi bảo vệ của những cỗ pháo tự hành chống tăng còn lại.
“Phải đưa chỉ huy trưởng về phía sau càng nhanh càng tốt. Phải di chuyển anh ấy thôi.” Một người trong bọn nói.
Người trung úy vẫn đang bất tỉnh được đặt vào trong 1 cỗ pháo tự hành chống tăng khác và cẩn thận chạy về trạm sơ cứu. Trên đường đi Ernst tỉnh lại và nhận thấy bọn họ đang đi về phía tây. Dù bị thương nhưng anh vẫn cảm thấy nhẹ nhõm. Họ đang đưa anh về tuyến sau và anh sẽ được cứu chữa. Anh nghe tiếng xích xe kêu lách cách, nhìn thấy mặt của những người đang ngồi phía trên. Anh cố mỉm cười nhưng không nổi.
Máu vẫn chảy thấm qua lớp băng. Cái áo jacket màu xanh ô liu dày cộm lên vì máu khô. Máu che khuất cả tấm huân chương chữ thập hiệp sĩ của anh.
Vì mất nhiều máu nên Ernst lại ngất đi. Khi tỉnh lại anh thấy mình đang được 2 người đồng đội khiêng qua cánh đồng khoai tây tới 1 cái lều.
Họ tới sở chỉ huy 1 trung đoàn bộ binh. Người sĩ quan thiết giáp rất bối rối: Tiểu đoàn pháo tự hành chống tăng đã rời khỏi đây. Họ đã tranh cãi với vị trung đoàn trưởng, chỉ huy của đơn vị này. Ernst nghe thấy hết mọi việc cho đến khi lại ngất đi.
Bỗng thiếu úy Boghut, 1 tay khổng lồ người xứ Silesia, xông vào trong sở chỉ huy. Anh cũng đã chạy theo sau khi đánh tan trận địa chống tăng của Liên xô. Boghut đi đến chỗ người bạn của mình và cúi xuống. Rối anh nổi đóa đứng dậy quay sang các sĩ quan kia. “Từ giờ tôi sẽ phải chỉ huy đơn vị. Đó là 1 mất mát lớn. Đừng ai nói gì nữa. Đừng ai trong số các người.”
“Anh làm sao vậy hả?” Vị đại tá kinh ngạc thốt lên.
Sau đó thì Ernst ngồi dậy.
“Không ai ngoài Boghut có thể làm được.” Anh lẩm bẩm 1 mình rồi lại ngã xuống ngất lịm.
Thiếu úy Boghut nắm quyền chỉ huy đơn vị. Ernst được thượng sĩ nhất Wippermann chở tới trạm sơ cứu. Quân Liên xô vẫn gây sức ép và việc chúng chọc thủng được chỉ còn là vấn đề thời gian. Một giờ sau Ernst đã nằm trong 1 căn lều nhỏ được 1 sĩ quan quân y chăm sóc.
Ernst nói 1 cách khó khăn “Bác sĩ, chỉ cần băng lại là sẽ ổn thôi mà.”
“Băng lại à?” viên bác sĩ đáp lời “Ca này phải về Đức mới chữa được.”
Đâu là những lời cuối cùng Ernst nghe trước khi mê đi. Anh được mổ ngay. Sáng hôm sau khi tỉnh dậy, anh thấy mình đang nằm trong 1 ngôi nhà gỗ cùng với khoảng 2 tá thương binh nặng. Anh nghe họ rên rỉ, kêu la vì đau đớn cùng mùi hôi thối của những vết thương bị nhiễm trùng. Bỗng trước mặt anh hiện ra 1 khuôn mặt thân quen. Đó là Wippermann.
“Anh làm gì ở đây?” Ernst ngập ngừng hỏi.
“Tôi ở đây chăm anh, trung úy. Tôi sẽ ở đây cho tới lúc anh yên vị trên đoàn tàu quân y để về nhà.”
Wippermann làm đúng những lời đã nói với viên sĩ quan chỉ huy của mình, vì không an tâm giao Ernst cho những hộ lý người Nga tình nguyện (Hiwis). Nếu cứ thấy 1 thương binh không còn động đậy, hơi thở yếu thì họ sẽ coi là anh ta chết rồi đem ra xe bò và để vào chỗ những xác chết.
Wippermann cứ ở đó trông coi và đến khi Ernst đã yên ổn trên toa tàu bệnh viện – 1 kiểu bệnh viện dã chiến có giường rơm và gối cho thương binh – thì mới trở về đơn vị. Có lần,Ernst không biết, Wippermann đã chĩa súng lục dọa 1 số tay Hiwi khi họ định khiêng người trung úy đi.
Khi Ernst nghe được chuyện này, lần đầu tiên anh đã khóc sau bao nhiêu năm. Dù đã được ngọn lửa chiến trận tôi luyện nhưng khi thấy tình đồng đội và lòng trung thành đó, trong giây lát anh đã yếu lòng.
Trung úy Ernst đã được ghi tên vào bảng danh dự (Honor Roll) của quân đội Đức và được tặng dải băng danh dự. Tại 1 bệnh viện ở Karlsdorf, gần Dresden anh đã được thưởng huy hiệu chiến thương vàng.
Ở đó, vợ và con anh được phép vào thăm. Người bác sĩ nói rằng cuộc chiến đối với anh coi như đã xong. Ernst không muốn tin điều ấy, mọi thứ sẽ không thể kết thúc vậy được.
Sau vài tuần dưỡng thương, anh đã cảm thấy khỏe hẳn lại dù vết thương nơi đầu vẫn còn đau.
Đến khi hồi phục, Ernst được đến Berlin. Vợ anh nói: “Albert, đứng cố cưỡng lại số mệnh. Việc anh còn sống và ở đây cùng vợ con là 1 món quà tuyệt diệu. Không nên đòi hỏi Chúa nhiều hơn nữa!”
Anh hứa với vợ, vì rất yêu cô và các con, rằng sẽ quay lại cuộc sống đời thường khi hoàn thành tất công việc.
Khi vừa đến Berlin, Ernst được triệu tập đến trình diện tướng Bolbrinker. Tại bộ tư lệnh, ông tướng nói anh được chọn cho 1 sứ mạng đặc biệt. Vì biết cả tiếng Anh và tiếng Pháp, anh được gia nhập chiến đoàn đặc nhiệm (Sonderverband) Skorzeny.
Ernst có biết đại úy SS Skorzeny. Hình ảnh của anh ta đã tràn khắp các mặt báo sau khi anh cùng những lính dù dưới quyền giải cứu được Mussolini. Skorzeny là 1 người cao lớn có 1 vết sẹo trên mặt.
Vậy là Albert Ernst đã trở thành 1 trong số ít sĩ quan lục quân gia nhập chiến đoàn đặc nhiệm Skorzeny. Nhiệm vụ của đơn vị này rất quan trọng và nguy hiểm. Họ sử dụng quân phục lính Mỹ cùng xe cộ chiến lợi phẩm, vượt qua phòng tuyến đối phương để gây rối và gieo giắc hoảng loạn ở hậu phương của chúng. Đây là 1 phần kế hoạch trong chiến dịch tấn công Ardennes.
Albert Ernst trở thành 1 ‘đại úy’ quân Mỹ chỉ huy tiểu đoàn thiết giáp 405 với toàn lính Đức.
Trong thời gian huấn luyện Ernst có nhiều dịp nói chuyện với Otto Skorzeny. Anh ta nói rằng các tên lửa V-3, mà anh đòi, sẽ sớm được sử dụng. Song điều này đã không xảy ra.
Có lần 1 thành viên trong đơn vị xúc phạm Ernst. Anh ta giật lấy huân chương chữ thập hiệp sĩ của Ernst và hỏi: “Anh làm quái gì mà có mảnh sắt này hở?”
Ernst đã phản ứng. Đây là 1 sự xúc phạm đối với anh cùng lính dưới quyền, nhiều người trong số đó đã tử trận. Bản thân anh cũng đã 6 lần bị thương.
Anh bật dậy và đánh gục gã kia. Anh quá đơn độc và Ernst nhanh chóng bị nhốt lại, nhưng rồi được Skorzeny thả ra ngay.
Skorzeny sử xự công tâm và đã trừng phạt cái gã đã xúc phạm danh dự Ernst. Ernst muốn được rời khỏi đơn vị vì đang ở trong 1 vị thế khó xử nhưng không được.
Dù không thành công 100% nhưng chiến dịch Greif đã gieo giắc mối nghi ngờ trong hệ thống chỉ huy quân Mỹ. Lính gác Mỹ đã bắt giữ cả các sĩ quan của mình vì cho rằng họ là biệt kích Đức(Sonderkommando).
Sau chiến dịch, Ernst đi máy bay về Cologne-Wahn. Ở đây anh đã khôn khéo thu xếp được thuyên chuyển về tiểu đoàn bổ sung đóng ở Borna cùng với những người bạn nối khố là trung úy Boghut và thiếu úy Rondorf, những người cũng gia nhập đơn vị biệt kích cùng với anh.
Ernst lại có thể dành nhiều thời gian cho gia đình. 14 ngày sau anh đến tiểu đoàn bổ sung thay thế số 500 (xe tăng Tiger) tại Paderborn. Tại đây anh được huấn luyện trên xe tăng Tiger rồi được gửi đi tham gia vào việc thành lập tiểu đoàn xe tăng Tiger số 512 dưới quyền đại úy Scherf.
Tiểu đoàn này được trang bị loại pháo tự hành chống tăng kiểu mới Jagdtiger, được chế tạo tại nhà máy Hindenburg ở St. Valentin gần Linz, Áo. Ernst rất ấn tượng trước cỗ xe khổng lồ và khẩu pháo 128 ly, cùng cái nòng dài hơn 8m của nó.
Sau khi bắn thử nghiệm trong khu vực Döllersheim, ngày 10 tháng 3 năm 1945, những cỗ pháo tự hành chống tăng mới này đã được tung vào chiến đấu chống lại bàn đạp vượt sông Rhine của quân Mỹ ở Remagen. Đối với những tổ lái đã có kinh nghiệm việc chiến đấu trong các loại xe tăng truyền thống, thì việc chiến đấu trong xe Jagdtiger có một số điểm mới. Trước khi tham chiến thì khóa hãm pháo khi di chuyển phải được tháo ra. Nhắm bắn đòi hỏi phải xoay hướng toàn bộ xe trong do khẩu pháo 128 ly được gắn trên 1 tháp pháo cố định. Nhưng với Ernst và những người đã có kinh nghiệm về pháo tự hành chống tăng khác thì việc chuyển loại sang Jagdtiger không gặp rắc rối gì lớn.
Cuộc tấn công của quân Đức vào bàn đạp Remagen gặp thất bại phần lớn là do quân tấn công không đủ lực. Trung tướng Bayerlein, tư lệnh quân đoàn bộ binh 53 đã đề xuất hoãn cuộc tấn công cho đến khi 3 sư đoàn được chọn cùng vũ khí hạng nặng của họ tới nơi. Đề nghị này bị bác bỏ nên ông ta buộc phải tấn công vào ngày 10 tháng 3. Mệnh lệnh của Hitler là: “Phải dùng các đơn vị có sẵn tiến công ngay lập tức!”
Cuộc tấn công mà đại đội của Ernst có tham gia đã không thành công. Câu châm ngôn của Guderian là đột kích mạnh với lực lượng tập trung đã bị bỏ qua.
Sau khi tấn công thất bại, Ernst cùng những chiếc Jagdtiger của mình được giao nhiệm vụ chặn hậu cho quân rút lui Đức. Những xe Jagdtiger đã chiếm lĩnh vị trí và hạ gục các xe tăng Mỹ đuổi theo từ cự ly 2km, điều này đã chứng tỏ sự chính xác vượt trội của khẩu pháo 128 ly trên Jagdtiger. Ernst cùng đơn vị mình sau đó đã rút về qua Niedernepfen và Obernepfen về Siegen. Một cuộc tấn công đang được lên kế hoạch để giải vây cho ‘cái túi’ vùng Ruhr.
Đầu hàng trong ‘cái túi’ Ruhr
Tại Siegen đã có 1 cuộc họp thông báo tình hình do đại tướng Harpe chủ trì. Albert Ernst, lúc này đã lên đại úy và chỉ huy 1 chiến đoàn thiết giáp cũng tham dự.
“Thưa các quý ông!, chúng ta được giao nhiệm vụ bảo vệ phía sau đạo quân đang rút lui. Ernst, chiến đoàn của anh sẽ đi hậu vệ.”
“Bộ binh hộ tống thì sao ạ?” Ernst hỏi.
“Cậu sẽ được lính của quân đoàn độc lập (Freikorps) Sauerland hộ tống!” (đây là quân đoàn của lực lượng dân quân bán quân sự Volkssturm. ND)
“Thưa đại tướng, trước giờ tôi chưa từng nghe nói về đơn vị này.” Viên đại úy mặc quân phục đen của lực lượng thiết giáp đáp.
Ngay sau đó 1 người to lớn đứng dậy và hắng giọng.
“Tôi là Echterkamp, chỉ huy quân đoàn đó.” Ông ta nói nhanh “Quân đoàn độc lập Sauerland do tôi chỉ huy và nó sẽ chiến đấu ở nơi nó đứng chân!”
Đại úy cảm thấy hối hận vì cái giọng hoài nghi của mình. Vị quân đoàn trưởng kia đã khẳng định chắc chắn đơn vị ông chỉ huy là 1 đơn vị hạng nhất.
Khi những chiếc Jagdtiger tiến ra lần đầu tiên trọng trận đánh. Những binh lính của Freikorps theo sát đằng sau xe. Chỉ cần 1 viên đạn pháo của quân thù cũng đủ để thổi bay hàng chục người trong số họ.
Đại úy Ernst nhô người ra khỏi cửa chỉ huy.
“Mọi người!” Anh la lớn. “Tản rộng ra nữa. Đừng túm tụm lại thế. Trúng một trái pháo là chết hết đó.”
Lời của Ernst bị bỏ ngoài tai. Tất cả đều bất ngờ khi trung sĩ nhất Zellmann phát hiện chiếc xe tăng Sherman đầu tiên.
“Dừng bắn!” Ernst ra lệnh.
Chiếc Jagdtiger đứng lại. Tổ lái tháo khóa hãm pháo để chuẩn bị khai hỏa. Trung sĩ nhất Colany bắn phát đầu tiên. Khẩu “128” nổ rền vang. Viên đạn bắn trúng chiếc Sherman và nó nổ tan tành.
Loại đạn mới để lại rất nhiều khói và khói từ cú bắn đã bao phủ hết 1 chiếc tăng Tiger. Thế rồi 1 lính Freikorps đột ngột hét lớn: “Xe tăng Tiger bị bắn trúng rồi!”
Như có 1 hiệu lệnh vậy, những lính dân quân Volkssturm mà Freikorps tuyển mộ, liền tháo chạy. Họ trốn vào rừng rồi tìm đường về nhà ở Iserlohn và các thành phố quanh đó.
Thiếu tá Scherf được tách ra đặt dưới quyền điều động riêng của bộ tham mưu quân đoàn 53. Mỗi đại đội Jagdtiger được đưa tới hoạt động ở 1 khu vực. Đại đội của Carius được giao phòng thủ Unna, là 1 ví dụ. Đại đội của Ernst được tăng cường 1 trung đội pháo tự hành, vài xe tăng Panzer IV và 1 trung đội phòng không có 4 khẩu pháo cao xạ 37 ly. Kết quả là chiến đoàn giờ có 1 hỏa lực đáng kể và nó càng hiệu quả hơn với kinh nghiệm của các sĩ quan và được sự chỉ huy chặt chẽ. Một số thành viên trong đơn vị cũ của Ernst cũng về phục vụ dưới quyền anh trong đơn vị mới. Sepp Tarlach, 1 thượng sĩ và là học viên sĩ quan cũng tham gia cùng Rondorf và Boghut. Boghut lúc này đã được thăng lên trung úy nắm vị trí sĩ quan hành quân, trong khi Rondorf giờ cũng đã là trung úy về chỉ huy đại đội Jagdtiger.
Đơn vị đã cơ động qua Siegen, Meinerzhagen, Kalte Eiche, Brüggen, và Lüdenscheid. Ngày 8 tháng 4 thì tới Altena, Ernst được lệnh cho đơn vị lên xe lửa đi tới Iserlohn. Ở Deilighofen có 1 số sân bay còn nguyên vẹn và đơn vị của Ernst sẽ bảo vệ chúng.
Một số pháo tự hành và xe tăng hành quân bằng xích tới Iserlohn, trong khi các thành phần khác thì lên tàu hỏa ở Menden. Ernst chỉ huy những xe Jagdtiger đi qua Hagen. Thành phố này bị ném bom nặng nề và xe tăng phải cố gắng lắm mới đi qua được những phố xá đổ nát. Ernst đi đầu trong chiếc xe chỉ huy bọc thép hạng nhẹ. Tới cầu Hohenlimburger thì bị quân cảnh chặn lại. Viên thiếu tá chỉ huy đã từ chối không cho họ đi xa hơn nữa.
“Tôi đã nói với anh chúng tôi đang đi đâu rồi đó” Ernst nói với viên thiếu tá. “Anh có thể cứ giữ chúng tôi lại vì anh có quyền. Đoạn Ernst quay qua lính của mình “Này các cậu, đây là cơ hội tốt để đánh 1 giấc đó.”
Ernst cùng quân lính rảo bước vào 1 quán cà phê và đi ngủ. 5 tiếng sau viên thiếu tá quân cảnh tới đánh thức họ dậy.
“Xin lỗi vì đã ngăn không cho đi, đại úy. Những điều anh nói đã được kiểm tra, và giờ thì tất nhiên anh có thể đi ngay lập tức.”
Đoàn xe tiếp tục hành trình và đến 1 cánh rừng gần Bührenbruch-Ergste thì dừng lại. Ernst được lệnh tái chiếm Unna, vốn đã rơi vào tay quân đồng minh từ ngày 9 tháng 4. Tại Unna này, quân Mỹ đã khép chặt ‘cái túi’ Ruhr lại. Ernst cùng chiến đoàn của mình giờ phải chọc thủng nó.
Sáng hôm sau, khi trời vẫn còn tối, các xe tăng và pháo tự hành tiến về hướng bắc men theo tuyến đường Bundesstrasse 233. Họ vượt qua Ruhr gần Langschede. Theo sau chiến đoàn thiết giáp của Ernst là 1 số tiểu đoàn bộ binh và bộ binh cơ giới.
Thiếu úy Rondorf là người đầu tiên nghe 1 trưởng xe bọc thép bánh lốp ở trên ngọn đồi ‘tháp canh Bismarck’ báo cáo.
“Xe tăng Mỹ đang tới!”
“Không thể thế được.” Viên đại úy thốt lên khi được báo về. “Để tôi lên nhìn tận mắt.”
Chiếc xe chỉ huy của Ernst leo lên đồi. Khi đến chỗ chiếc xe trinh sát, anh nhìn xuống và thấy phía xa 1 đoàn cơ giới có xe tăng, xe tải, pháo đang theo đường B1 tới Dortmund. Khi anh đang quan sát thì 1 toán xe địch rẽ sang đường B 233 và tiến thẳng tới chỗ họ.
“Mọi người lên chiếm lĩnh vị trí trên đồi!” Đại úy Ernst ra lệnh qua điện đài. Những chiếc Jagdtiger, xe tăng, pháo tự hành chiếm lĩnh vị trí chiến đấu trên đỉnh đồi, chỉ nhô mỗi tháp pháo ra. 4 chiếc Jagdtiger, 4 pháo tự hành vả 3 xe tăng Panzer IV dàn hàng ngang hướng mặt về phía bắc. Những pháo cao xạ 37 ly vào chiếm lĩnh các vị trí xa hơn ở 2 bên sườn.
Có người báo cáo: “Thưa đại úy, chúng đang tiến thẳng tới chỗ ta.”
“Thế thì tốt. Tất cả vũ khí của chúng ta đều có xạ trường tốt như nhau”. Ernst đáp và sau đó nói: “Chờ lệnh tôi mới được bắn. Sẽ không cho chúng nó cơ hội đánh trả. Tất cả sẽ bắn đồng loạt.”
Toán chiến đấu Mỹ lăn bánh về phía ngọn đồi với chính diện rộng. Rõ ràng là quân Mỹ đang định xông thẳng vào trái tim của ‘cái túi’ Ruhr từ phía bắc.
Qua kính chỉ huy nhìn về hướng đường cao tốc, Ernst thấy 1 toán lính Đức đã bị tước vũ khí đang bước ngược con đường để về trại giam.
Ernst nuốt nước bọt trước khi ra lệnh. Họng anh khô khốc.
“Tất cả bắn!”
Thiết giáp Đức đồng loạt khai hỏa. Đạn pháo rít lên kéo theo những vệt khói dài khi chúng bay về phía xe tăng và các loại cơ giới khác của quân Mỹ.
“Trúng! Trúng rồi!…” Binh lính reo hò. Xe cộ dưới cánh đồng bị lửa đỏ bao trùm. 2 chiếc xe tăng Sherman dẫn đầu đoàn quân Mỹ đã bị bắn gục.
Hai chiếc Jagdtiger bắn chậm hơn các xe tăng và pháo tự hành khác. Mục tiêu của chúng là những xe tăng địch ở xa nhất và chúng đã ghi điểm từ cự ly 4km.
Quang cảnh trên bình nguyên phía dưới nhìn như 1 bầy ong bị vỡ tổ. Trong cơn hoảng loạn, xe Mỹ lao ra khỏi đường rồi bị kẹt trong các khe rãnh, đồng ruộng và trở thành mồi ngon của những khẩu cao xạ 4 nòng.
Đến lúc này vẫn chưa thấy có 1 phát đạn pháo nào của quân Mỹ bắn lên đồi. Pháo 128mm trên mấy chiếc Jagdtiger đã chứng tỏ uy lực kinh khủng của nó. Xe tăng Sherman nào dính 1 phát đạn của nó là tan xác ngay.
Ernst chỉ định các mục tiêu qua ống nhòm. Các xe tăng tiếp tục bắn, nhắm vào những khu vực không có nhà cửa. Chiếc xe nào của Mỹ cũng cố chạy tới nấp sau các ngôi nhà cho an toàn.
Chiến đoàn vẫn kiểm soát trận đánh, 1 trận đánh vô vọng, nhưng không ai bận tâm vì điều đó. Quân Mỹ đã bị chặn đứng.
Rốt cục thì quân Mỹ cũng bắt đầu đáp trả, nhưng quân Đức đã chọn được những vị trí rất tốt nên không có viên đạn pháo nào trúng đích. Xe tăng Mỹ rút lui. Nhưng xe tăng và pháo tự hành Đức vẫn tiếp tục bắn và diệt thêm 1 số lớn xe tải và xe bọc thép bánh lốp.
Cuối cùng thì tất cả xe Mỹ đều đã thoát khỏi tầm xạ kích của quân Đức.
“Thế là xong! Thưa đại úy” 1 trưởng xe pháo tự hành gọi khi anh ta nhô ra khỏi nắp cửa và nhìn bao quát phía dưới.
“Phải, hôm nay chúng nó không quay lại đâu.” Ernst đáp lời. Anh hiểu kiểu tác chiến của lính Mỹ và biết sau đây chúng sẽ điều không quân tới.
Thiếu úy Kubelka, chỉ huy 1 trung đội Jagdtiger, đang chạy đến. Cậu ta cười ngoác đến tận mang tai.
“Đại úy ơi! chúng tôi hạ được 4 thằng Sherman.” Cậu ta vừa thở vừa báo.
“Tôi thấy rồi. Nhưng cẩn thận đấy. Mẹ nó, phải cẩn thận. Khi máy bay địch tới, hãy chui xuống dưới xe nằm.”
“Chúng tôi sẽ cẩn thận, thưa đại úy.”
Viên thiếu úy quay về xe mình. Anh ta vừa leo vào chiếc Jagdtiger thì bầu trời đã tràn ngập tiếng động cơ máy bay.
“Báo động! Máy bay địch!” 2 phát pháo hiệu được bắn lên, đây là những tín hiệu được quy ước từ trước khi có không kích. 4 khẩu cao xạ 4 nòng hướng nòng về phía bắc và đông bắc. Rồi máy bay tiêm kích mang bom của địch xuất hiện. Chúng bay ở cao độ chưa tới 500m và đang xác định vị trí của quân Đức.
“Để chúng tới gần! Nào! Bắn!”
4 khẩu pháo phòng không đã khai hỏa. 16 luồng đạn lao tới những cỗ máy đang tấn công của địch. Chiếc máy bay dẫn đầu bị dính đạn và nổ tan tành trong 1 quả cầu lửa. Mảnh vỡ của nó bắn tung tóe trong không trung. Một cánh máy bay bị đứt bay vù qua đầu những pháo thủ cao xạ và cắt lìa 1 ngọn cây.
Chiếc tiêm kích – bom thứ hai cũng bị bắn trúng. Nó rú lên và cắm đầu xuống đất và rơi xuống chỗ mấy lùm cây ở phía sau vị trí Đức 100m. Những chiếc Thunderbolt (sấm sét) còn lại bay về phía tây nam và biến mất khỏi tầm nhìn, nhưng 10 giây sau chúng lại hiện ra từ phía tây bắc. Lần này chúng bay rất thấp và tiếp cận ở góc mà pháo phòng không bị bất lợi. 4 chiếc máy bay bắn xuống những trái rocket 50kg và chúng phát nổ ngay trên dốc.
Nhưng chiếc thứ 5 lại bổ nhào xuống khẩu pháo phòng không bên sườn trái, đạn súng máy của nó nổ giòn và 1 quả bom rơi xuống. Tên phi công Mỹ ngắm tốt, và quả bom rơi đúng vào giữa vị trí của khẩu cao xạ, giết chết toàn bộ pháo thủ. Đạn dự trữ của khẩu pháo nổ tung và khu vực xung quanh lập tức chìm vào trong khói lửa.
3 khẩu pháo còn lại vẫn tiếp tục chiến đấu. Nửa giờ sau Ernst nhận được 1 báo cáo gây sốc như sau: “Khẩu đội pháo số 2,3 và 4 đã hết đạn.”
Vài giây sau, thêm 1 đoàn máy bay tiêm kích-bom nữa xuất hiện. Súng máy trên các xe tăng bắt đầu khai hỏa và đã bắn bị thương 1 máy bay địch. Những chiếc còn lại xông tới và bổ nhào xuống các mục tiêu. Bom xé gió lao xuống. Một chiếc Jagdtiger bị đánh trúng. Quả bom xuyên thẳng qua nắp cửa trên tháp pháo rồi phát nổ, giết chết thiếu úy Kubelka cùng kíp xe. Chiếc Jagdtiger thứ 2 cũng bị đánh trúng, nhưng tổ lái đã thoát ra được dù bị thương. Thiếu úy Kubelka và những thành viên trong tổ lái đã được chôn cất ở Schwerte.
Đại úy Ernst thấy rõ là sẽ phải rút bỏ vị trí của họ trên đồi vì không có đạn cho pháo cao xạ thì xe tăng và các loại cơ giới khác khó có thể chống lại được những cuộc không kích.
Lệnh được truyền khắp đồi: “Chúng ta sẽ từ từ rút ra. Rondorf, Boghut và tôi đi đoạn hậu.”
Chiến đoàn bắt đầu rút. Từ vị trí của mình trên đỉnh đồi, đại úy Ernst quan sát con đường, nhưng có vẻ lực lượng mặt đất đối phương đã bị thiệt hại nặng nên không muốn đuổi theo. Mũi nhọn tiến quân của Mỹ đã bị tổn thất 50 xe, trong đó có 11 xe tăng Sherman.
Tuy thế nỗ lực đột phá của quân Đức đã bị đình chỉ vì lực lượng địch đã được chứng tỏ là quá mạnh.
Sáng hôm sau, Ernst nhận được lệnh của quân đoàn không quân 53 (Fliegerkorps) tới giữ sân bay Deilinghofen trong vòng 24 giờ. Cũng trong hôm đó, 12 tháng 4 năm 1945, anh chỉ huy 1 toán quân tiến vào Hemer và chứng kiến những vị tai to mặt lớn, thành viên cáo cấp của đảng quốc xã đang trên đường tới sân bay Deilinghofen. Chuột đang rời khỏi con tàu đắm để lại những người lính phải đối mặt với cuộc chiến vô vọng.
Đại úy Ernst đặt sở chỉ huy trong 1 ngôi nhà tại Hemer. Xe tăng, pháo tự hành chống tăng cùng các khẩu cao xạ – nhờ cố gắng của sĩ quan phụ trách giờ đã có 1 ít đạn – thiết lập vị trí phòng thủ xung quanh sân bay Deilinghofen.
Trên ngọn đồi 300, gần lâm trường Stockschlade có 1 pháo tự hành và 1 chiếc Panzer IV. Một chiếc Jagdtiger được bố trí ở 1 xưởng sản xuất dây thừng gần Bilveringsen. Số khác đứng chân phía trên Hemerberge 400m. Một số toán bộ binh mà Ernst được giao chỉ huy đã triển khai để bảo vệ sân bay. Những khẩu pháo phòng không của sân bay giờ cũng là 1 thành phần trong chiến đoàn Ernst.
Ernst đặc biệt lưu tâm đến các tù binh ở 1 trại tù kế cận, đây là nơi nhốt 30.000 lính Nga. Anh có thể tưởng tượng điều gì sẽ xảy ra nếu quân Mỹ thả những tay Nga đó ra.
Tối 12 tháng 4, quân Mỹ bắt đầu tiến lên. Những xe Jagdtiger đã tiêu diệt 2 chiếc Sherman từ cự ly 4000m. Ernst được thị trưởng Pelzing gọi đến gặp. Cuộc gặp bị gián đoạn bởi tiếng gầm rú của máy bay hạng nặng bay qua, Pelzing thông báo cho Ernst là Hemer đã trở thành 1 thành phố bệnh viện và có rất nhiều thương binh Đức đang ở đó.
Cuối cùng ông thị trưởng hỏi: “Các anh đang làm những gì? Có kế hoạch chiến đấu gì không?”
“Nếu được ra lệnh chấm dứt ở đây, thì tôi sẽ chấm dứt, thưa ngài thị trưởng, tôi sẽ làm những gì cần phải làm. Nhưng tôi không thể quyết định điều đó được. Việc đó giành cho các vị có chức vụ cao hơn.”
Ngày 13 tháng 4 lặng lẽ bắt đầu. Nhưng các báo cáo đến chỗ đại úy Ernst đều cho thấy dấu hiệu chiến tranh sắp kết thúc. Menden, nằm trên đường 7 cách Hemer vài km về phía bắc, đã thất thủ. Nhanh chóng đã có những đụng độ. Những xe Jagdtiger ở Stockschlade đã khai hỏa vào quân địch đang tiến đến. Chúng vội rút lui sau khi bị mất 2 xe tăng.
Đạn pháo bắt đầu rót xuống gần Hemer. Nó xuất hiện khi quân Mỹ đang bố trí lực lượng cho 1 trận tổng tiến công. 1 đại úy quân y từ bệnh viện Hemer đến gặp Ernst.
“Đại úy. Anh đã sẵn sàng cho việc ngừng bắn chưa?”
Ernst kinh ngạc nhìn viên sĩ quan.
“Anh phải biết việc đó là của 1 vị tướng chứ không phải của 1 đại úy quèn như tôi.” Anh trả lời. “Tôi chưa được lệnh làm như vậy.”
“Nhưng còn ai ở lại đâu, đại úy. Tôi có ấn tượng rằng các anh là đơn vị duy nhất còn nguyên vẹn trong vùng. Các đơn vị khác đã bỏ đi cả rồi. Anh là người duy nhất có thể khiến nơi đây tránh được thảm họa. Nếu pháo binh địch bắn gần hơn nữa thì các thương binh, đang bị kẹt trong 1 khu vực nhỏ, sẽ chết hết. Bệnh viện, rồi thương binh…”
Giọng người sĩ quan quân y nhỏ dần.
“Được rồi” Ernst nói, biết không thể bướng bỉnh mãi được nữa “Xét theo tình hình này, tôi phải quyết định thôi. Nhưng anh, với tư cách là sĩ quan quân y, phải đi xe tới chỗ bọn Mẽo và đưa về 1 người để tôi thương lượng.”
“Tôi sẽ đi ngay lập tức.”
“Tốt. Tôi sẽ cố tìm ra 1 bộ chỉ huy có 1 vị tướng có thể thực hiện đàm phán đầu hàng.”
Viên đại úy quân y vừa lái xe đi. Đại úy Ernst gửi ngay 1 thông điệp qua điện đài đến chỗ quân Mỹ báo rằng có 1 sứ giả đang cầm cờ trắng đến chỗ họ. Anh muốn đảm bảo không có gì xảy đến cho con người dũng cảm này.
Ernst cùng với những bạn nối khố là Tarlach và Boghut, đi ô tô rà soát khắp khu vực. Nhiều sở chỉ huy đã biến đâu mất. Những chỗ còn ở lại thì lại rất do dự. Nhiều tranh cãi nổ ra về thời gian và địa điểm của cuộc đàm phán. Cuối cùng Ernst đã hỏi:
“Ít nhất các anh có tham gia vào khi tôi đàm phán không?”
Hầu như tất cả các vị sĩ quan đều đồng ý. Phía Mỹ đã chấp nhận ngừng bắn. Tất cả các đơn vị trong chiến đoàn của Ernst đều đóng nguyên tại vị trí.
Cuối cùng thì 1 thiếu tá Mỹ cùng 1 số sĩ quan tham mưu đã đến. Viên thiếu tá tên là Boyd H. McCune, thuộc sư đoàn bộ binh 99, cấp phó của trung tá Kriz, chỉ huy trung đoàn bộ binh 394 của sư đoàn.
Cuộc đàm phán diễn ra trong 1 ngôi nhà gần Hemer. Trong khi đang hội đàm, 1 đơn vị trong chiến đoàn Ernst báo cáo tình hình tại Hemer đang xấu đi. Nhiều ngoại nhân đang đổ về thành phố, tù binh Nga đã được thả ra. Chúng đã tấn công nhiều phụ nữ. Có báo cáo về những vụ nổ súng.
Albert Ernst quay sang McCune.
“Thưa ngài thiếu tá. Tôi đã giao thành phố có trật tự tốt cho anh. Vậy anh sẽ làm gì với tình hình này?”
Thiếu tá McCune đứng dậy.
“Hãy truyền lệnh này cho người của anh: Tất cả những ai không phải là lính mà mang vũ khí phải bị bắn bỏ. Tôi cũng ra lệnh như thế với quân của mình. Đây là cách duy nhất để đem lại an ninh trật tự và bình yên ở nơi đây.”
Thiếu tá McCune đã cho xe tăng Mỹ bao vây trại tù binh khi mà lực lượng dân quân Đức không thể kiểm soát được những tù binh Nga. Tuy thế những toán tù Nga vẫn tìm cách thoát ra. Họ không muốn ở lại đó nữa, họ muốn được tự do vào lúc cuối cùng này và 1 số còn muốn nhiều hơn thế nữa.
Xe tăng Mỹ khai hỏa và đuổi tù binh quay về trại giam.
Đại úy Ernst cùng thiếu tá McCune đi xe vào Hemer. Cả 2 đều muốn xem tận mắt tình trạng của thành phố. Khi đến trung tâm Hemer, họ bị 1 nhóm ngoại nhân áp sát. Khi bọn người này thấy 1 sĩ quan Đức mặc quân phục màu đen của thiết giáp liền hét to “Có 1 thằng lợn Đức kìa! Giết nó đi!”
Họ như sắp xông vào chiếc xe command car. Viên thiếu tá Mỹ lấy khẩu tiểu liên ra và bắn 1 loạt đạn trên đầu đám đông đang đến gần. Bị hoảng hồn, đám người này tan rã vả bỏ chạy vào 1 con phố bên cạnh.
Viên thiếu tá Mỹ đã có những phát biểu không mấy thân thiện về những đồng minh đó của mình.
Ernst sau này đã nói: “Nếu người Mỹ không hành động nhanh chóng và kiên quyết, thì 3000 tên xổng chuồng sẽ tàn phá tất cả mọi thứ. Sẽ có những vụ giết người, bạo lực và hãm hiếp.” Một số người dân địa phương cũng có chung quan điểm này.
Các đơn vị quân Đức vẫn đóng tại vị trí của mình. Quân Mỹ tiến vào và dần dần tiếp quản những vị trí này. Tất cả các đơn vị lính Đức đã bị bắt giữ, ngoại trừ chiến đoàn Ernst. Nó đang triệt thoái và mang theo đầy đủ các khí tài.
Trong khi đó, Ernst yêu cầu 1 sĩ quan tham mưu của Mỹ theo xe đến trại của lực lượng phòng không ở Iserlohn, nơi có bộ chỉ huy và tư lệnh pháo đài là tướng Buchs. Những vùng xung quanh Iserlohn đều đã thất thủ chỉ trừ khu pháo đài này của Buchs.
Trung úy Boghut bịt mắt tay phái viên và chở anh ta vào Iserlohn. Nhiệm vụ của tay này là đàm phán về việc đầu hàng của ‘cái túi Ruhr’. Nhưng những vị sĩ quan cố thủ doanh trại đã khước từ và tay người Mỹ phải trở về trắng tay.
Chiến đoàn Ernst rời khỏi Hemer và rút theo đường 7 về Iserlohn. Phía trên Hardt chiến tuyến nơi nó sẽ được tái bố trí. Ernst đi cuối đoàn xe trên chiếc jeep của viên thiếu tá Mỹ. Đi sau họ là chiếc Kübelwagen chở 2 người trong ban tham mưu chiến đoàn. Chiếc xe jeep đột ngột dừng lại. Thiếu tá McCune quay sang nói với Ernst: “Đại úy, thời gian ngưng bắn đã hết. Giờ quân của tôi có thể bắn bất cứ ai trong các anh, nhưng tôi sẽ cho thêm 20 phút nữa. Hãy chắc chắn về tới đơn vị trong thời gian đó và chờ thời điểm khác.”
Tay người Mỹ đến bên điện đài và lệnh cho quân dưới quyền không bắn trong vòng 20 phút nữa. Rồi anh ta quay sang viên đại úy có chiếc huân chương chữ thập hiệp sĩ.
“Này Ernst.” Anh ta nói “Tôi muốn anh ở lại với chúng tôi.”
“Tôi không thể làm vậy được. Tôi phải về nhận lệnh. Cũng giống như anh vậy. Tôi đã giao nộp thành phố cho các anh khi chưa được phép. Chúng tôi có luật mới để nghiêm trị việc này. Trong đó nêu rõ: bất cứ ai đầu hàng 1 thành phố hay 1 cứ điểm phòng ngự kiên cố sẽ phải trả giá bằng mạng sống của anh ta và gia đình. Tôi xin anh 1 lần nữa. Đừng có nêu tên tôi ra. Xin đừng nói là tôi đã cho Hemer đầu hàng. Gia đình tôi sống ở Leipzig. Tới giờ thì ở đó vẫn chưa bị gì. Nếu có điều khủng khiếp xảy ra, thì tôi sẽ mất vợ và các con chỉ vì muốn cứu sống dân thường và tù binh Nga tại chỗ này.”
“Này Ernst, tôi yêu cầu anh xem xét lại. Anh muốn bị giết khi sắp hết chiến tranh ư?”
“Thưa thiếu tá.” Người sĩ quan Đức trả lời: “Trước tôi đã có hàng triệu người chết, trong đó có những đồng đội, bạn bè của tôi. Tôi không sợ sẽ là người cuối cùng đâu.”
Không có gì để nói, viên thiếu tá chìa tay ra cho người sĩ quan Đức. Trong thời khắc đó họ không còn là kẻ thù của nhau nữa.
Ernst chạy xe về chỗ chiếc Jagdtiger của mình. Đạn pháo đã rơi và Iserlohn bị cháy nhiều chỗ. Anh tới trình diện tướng Bayerlein tại 1 ngôi nhà ở Iserlohner Heide.
“Thưa tướng quân, tôi đã giao nộp Hemer cho địch!” Anh báo cáo. Ông tướng trầm ngâm gật đầu.
“Tôi hiểu những gì cậu làm Ernst ạ. Có lẽ sau này cậu sẽ phải chịu trách nhiệm về việc này. Tới lúc đó thì cậu phải tự bào chữa cho hành động của mình thôi.”
Ông lấy ly ra, đặt 1 cái trước mặt người đại úy và đổ đầy rượu champagne vào. Sau đó ông nâng cốc chúc mừng viên đại úy. Ernst biết là ông tướng đã ngấm ngầm đồng tình. Bayerlein không thể nói rõ hơn nữa.
Cuối cùng tướng Bayerlein lệnh cho Ernst tới trình diện tướng Büchs ở Iserlohn. Trong khi đó các khí tài hạng nặng của chiến đoàn Ernst về các vị trí ở Hardt, Iserlohn, và gần Hohenlimburg.
Ernst nhận 1 thông điệp gởi đến cho biết đại đội của Carius đã đến Ergste. Khi đại úy Ernst đến trình diện tướng Büchs, anh được lệnh tổ chức 1 cuộc tuần thám để trinh sát xem mặt trận đã tới đâu và đơn vị nào còn khả năng tác chiến được.
Khi anh báo cáo về việc giao nộp Hemer cho địch, các vị tướng cùng các sĩ quan tham mưu và các quan chức cao cấp trong đảng quốc xã có mặt ở đó rất giận dữ.
“Hãy trinh sát theo hướng Hemer, Altena, và Letmathe rồi về báo ngay cho tôi. Ernst!”
Đại úy tiến ra ngay trên 1 chiếc xe bọc thép bánh lốp. Anh vượt qua những chiếc Jagdtiger và pháo tự hành đang bảo vệ các trục đường chính và tới được tuyến đường sắt đi Hagen, là nơi đặt sở chỉ huy chiến đoàn và trạm thông tin chính.
Trong chuyến tuần thám, Ernst thấy nơi đâu cũng diễn ra những hình ảnh giống nhau. Một số toán quân vẫn ngoan cố phòng thủ trong khi những kẻ khác thì ùa vào những chỗ trống và chuồn mất. Những loại quân này đã đào ngũ và biến thành tội phạm khi gặp dịp có thể trộm, cướp.
Tối ngày 14 tháng 4 yên bình trôi qua. Đến ngày 15 thì xe tăng Mỹ bắt đầu tiến đến Iserlohn từ nhiều hướng khác nhau. Một số chúng bị những chiếc Jagdtiger tiêu diệt. Hôm đó trung úy Rondorf đã ghi điểm bằng 3 chiếc Sherman.
Việc phòng ngự kiên quyết và có hiệu quả của chiến đoàn đã tạo thời gian cho những cuộc đàm phán lẽ ra đã phải bắt đầu từ lâu để giúp Iserlohn, với 200.000 người đang tị nạn, tránh khỏi bị hủy diệt.
Đại úy Ernst quyết tâm cứu Iserlohn khỏi số phận khủng khiếp của chính sách “tiêu thổ kháng chiến”. Chiến đoàn nhận 1 loạt lệnh mới. 2 lần trong đêm và sáng ngày 15 tháng 4, Ernst đã thoát chết trong gang tấc khi xe của anh bị bắn hạ. Pháo binh Mỹ bắn cầm canh vào Iserlohn cả ngày. Thời gian còn lại rất ít.
Tức giận khi không thấy có gì tiến triển. Ernst lái xe về bộ chỉ huy của tướng Büch trong doanh trại lực lượng phòng không.
“Thưa tướng quân!” Anh nói với ông tướng già, tóc hoa râm, người không thể đánh giá đúng tình hình. “Tôi phải về đây báo cáo vì những báo cáo trước của tôi không được ai quan tâm. Ngài ở đây như là đang nằm trong trống nên không thể biết được những gì đang diễn ra. Chính ngài, thưa tướng quân, chỉ biết đến các đơn vị trên bản đồ. Hãy đích thân đi xem họ đang ở trong tình trạng ra sao. Trong hoàn cảnh này, tôi chỉ khuyên ngài 1 điều: hãy tới thành phố! Và ngăn chặn những thương vong không cần thiết cho cộng đồng dân cư ở đó.”
Đại úy Ernst đang rất liều lĩnh, vì đề cập đến việc đầu hàng, dù trong tình thế vô vọng này là mang sinh mạng ra đánh cược.
Căn phòng họp lớn bắt đầu nổi lên tiếng xì xào. Tướng Büchs quay qua người đại úy và nói: “Tôi sẽ tổ chức thảo luận ngay bây giờ.”
“Hy vọng tôi sẽ được tham gia ạ.” Ernst xen vào. “Vì chỉ có tôi mới biết tình hình chung và có thể cung cấp cho ngài những thông tin quan trọng…”
“Đừng có nhiều lời!” Tướng Büchs bất ngờ gào lên. Rồi quay qua 1 viên thiếu tá và 1 đại úy trong bộ tham mưu của mình. “Nhốt đại úy Ernst lại!. Mang hắn qua phòng bên. Không cho hắn ra khỏi phòng! Các anh phải lấy mạng mình ra đảm bảo cho việc đó!”
Giờ thì mình đã bị bắt. Ernst nghĩ. Có thể mình sẽ bị xử bắn ngay sau khi họp hoặc bị nhốt vào nhà giam. Phải tìm cách thoát khỏi tình trạng này.
Chiếc xe bọc thép bánh lốp đang đậu phía trước cái nơi lộn xộn này. Sẽ an toàn nếu ra được đó vì lính dưới quyền sẽ không để cho anh bị bắt giam.
Tiếng tranh cãi ồn ào phát ra từ phòng họp. Dần dần âm thanh đã trở nên yên tĩnh hơn và Ernst nhận thấy rằng thời gian không còn nhiều nữa. Viên thiếu tá đang ngồi trước mặt anh nhìn rất rầu rĩ, trong khi tay đại úy đang đứng cạnh cũng không thấy mạnh mẽ gì hơn. Phải có mánh lừa giỏi và mau chóng mới cứu anh được.
Ernst, vẫn khoác bộ quân phục ngụy trang trên người, đứng dậy. Anh đứng nghiêm, giơ tay chào kiểu Đức quốc xã và nói: “Thưa thiếu tá, hãy nói với tướng quân là 2 giờ nữa tôi sẽ quay lại.”
“Anh không được rời chỗ này! Ở lại đây nếu không…”
“Hãy nói thế với tướng quân!” Ernst nói to và kiên quyết tiến ra cửa. Anh có cảm giác sẽ có tiếng súng và 1 viên đạn cắm vào lưng bất cứ lúc nào. Nhưng đã đến cửa, Ernst mở tung nó ra và đóng sầm lại sau lưng.
Anh sải bước qua đại sảnh, đi tới sân thượng và chạy xuống cầu thang nơi chiếc xe bọc thép đang đỗ. Ernst chui ngay vào xe.
“Về trạm thông tin!” Anh hét to. Trung sĩ nhất Zellmann nhả bàn đạp ly hợp và chiếc xe chuyển động. Ở đó Ernst kể cho đồng đội nghe về những gì đã xảy ra. Mọi người năn nỉ anh đừng quay lại doanh trại lính phòng không nữa. Nhưng Ernst vẫn muốn quay lại báo cáo kết quả của chuyến tuần thám đã bị địch tiêu diệt hết. Để bảo vệ mình anh lấy theo 1 trung đội có 2 xe Jagdtiger và 1 pháo tự hành làm dự bị.
Khi tới trại lính phòng không. Ernst bảo những lái xe tắt động cơ.
“Hãy cảnh giác” Tôi sẽ vào chỗ đám sĩ quan lúc nhúc ấy. Nếu nghe thấy tiếng súng thì khai hỏa khẩu “128” và xông vào.
Đại úy Ernst tin rằng việc anh bất ngờ quay lại sẽ khiến họ không bắn. Anh bước lên thang, vào đại sảnh và tới chỗ họp. Khi nhìn thấy chỉ còn 2 người ở đó. Anh biết ngay là ở đây những con chuột cống cũng đã chạy trốn khỏi con tàu đang chìm.
“Tướng Büchs đâu?” Anh hỏi.
“Tướng quân đã vào thành phố. Ông ta đang tìm anh đó, đại úy.” 1 thiếu úy trẻ trả lời.
“Sao tôi chẳng thấy vị tướng nào hết. Cậu có nghĩ là lão ta đã trốn và bỏ các cậu lại trong đống phân này không hả?”
“Tôi không tin vậy đâu.” Anh chàng thiếu úy suýt phát khóc nói.
“Tôi sẽ nắm quyền chỉ huy!” Một đại tá lớn tuổi, cựu binh của chiến tranh Thế giới thứ nhất nói. Ernst quay qua đối mặt với vị sĩ quan tóc hoa râm.
“Thưa đại tá! Tôi có đơn vị đi phía sau ủng hộ, do đó tôi sẽ nắm quyền chỉ huy ở đây!”
“Hãy làm những gì anh thấy đúng. Ernst!”
“Được rồi, cứ ở đây, tôi sẽ quay lại.”
Nói sau câu này, đại úy Ernst rời khỏi bộ chỉ huy. Lính của anh thở phào nhẹ nhõm khi thấy người chỉ huy không bị sứt mẻ gì.
“Chúng ta phải tìm tướng Büchs!” Ernst nói với các đồng đội trong chiếc xe bọc thép “Chắc lão đang ở trong thành phố.”
Ernst cùng lính dưới quyền lùng sục khắp thành phố nhưng không thấy ông tướng đâu và cũng không thấy có bộ chỉ huy nào khác.
“Tướng Büchs chuồn rồi, đại úy ơi.” Bretschneider vừa từ trong nhà đi ra nói.
Mọi người nói với Ernst ở sở chỉ huy. “Ernst, anh biết tiếng Anh và có 1 đội quân mạnh và có thể trông cậy, anh nắm được tình hình. Hãy chấm dứt sự vô nghĩa này!”
Sau đó Ernst lại quay về doanh trại lính phòng không và thông báo cho các sĩ quan ở đó rằng: “Thưa các quý ngài, tôi nắm quyền chỉ huy Iserlohn, chỉ huy sở của tôi nằm dưới hầm đường sắt. Nếu có gì xảy ra, các ngài phải tới báo cho tôi trước. Tất cả đã rõ chưa?”
Đã quá nửa đêm sau khi Ernst về lại “mặt trận”. Anh đưa cho một lính thông tin 1 tờ giấy để đánh đi 1 bức điện. Điện viết rằng:
“Tình thế của Iserlohn đang rất tuyệt vọng – đang đợi lệnh mới – sẽ cố gắng cầm cự cho tới sáng.”
Bức điện đi vào hư vô và không có trạm thông tin nào trả lời. Các điện đài viên cố truyền nó đi suốt 20 phút nhưng không thấy có phản hồi nào. Câu trả lời duy nhất lại đến từ 1 bộ tư lệnh đáng ngại nhất. Tổng hành dinh của quốc trưởng.
“Cố thủ Iserlohn đến viên đạn cuối cùng!”
Ernst xé bức điện. Giờ thì quân Mỹ đã bắn phá Iserlohn thường xuyên hơn. Rõ ràng là sắp đến lúc kết thúc. Sáng sớm Ernst cho tập hợp chiến đoàn lại. Anh nói với binh lính dưới quyền: “Các anh em, tôi là chỉ huy mới của Iserlohn. Tình hình đang rất xấu. Gần 300.000 người đang bị nhồi nhét vào trong cái khu vực nhỏ bé này. Ta không thể và không nên chiến đấu thêm nữa vì việc đó sẽ đặt mạng sống của những người dân này vào vòng nguy hiểm.”
“Các anh em, chúng ta đã chiến đấu suốt nhiều năm để bảo vệ nhân dân. Nhưng chiến đấu ở đây sẽ chỉ dẫn đến sự hủy diệt của họ.”
“Tôi sẽ tiếp xúc với người Mỹ và giao nộp Iserlohn. Tôi sẽ đích thân đi bằng chiếc xe bọc thép. Xe này được choàng vải ra giường trắng và cắm 1 lá cờ trắng để hưu chiến. Tôi sẽ thực hiện kế hoạch ngay sau khi mặt trời mọc.”
“Các anh em! Từ lúc tôi nói đến việc đầu hàng, theo quy tắc chiến tranh, các bạn có thể bắt giữ tôi và lên nắm quyền chỉ huy. Các bạn không bị bắt buộc phải tuân theo lệnh tôi nữa.”
Mọi người nhiệt liệt hoan hô viên chiến đoàn trưởng.
Các sĩ quan bàn bạc với nhau và 1 lát sau trung úy Rondorf, 1 chỉ huy pháo tự hành chống tăng giàu kinh nghiệm và thành công nhất, đi tới chỗ đại úy Ernst.
“Albert, anh đã dẫn dắt chúng tôi và giờ chúng tôi muốn anh cũng làm vậy để kết thúc. Chúng tôi tin chắc rằng anh đang làm điều đúng đắn.”
“Cám ơn, Rondorf!” Ernst nói và ra đi.
Vào sáng sớm ngày 16 tháng 4 năm 1945 ấy, có 2 lính trong chiến đoàn đã thiệt mạng vì 1 trái đạn pháo. Họ là những người lính cuối cùng của Ernst tử trận trong chiến tranh thế giới thứ 2.
Khi mặt trời lên, Ernst cho xe lên đường trực chỉ Seilersee. Anh gặp những lính Mỹ đầu tiên ở cuối đường Hindenburg và yêu cầu họ đưa đến gặp sĩ quan chỉ huy. Tay trung đoàn trưởng Mỹ không quan tâm đến việc đàm phán và định bắt đại úy Ernst làm tù binh.
Ernst đáp lại 1 viên đại úy Mỹ:
“Anh có dám chịu trách nhiệm việc bắt 1 sứ giả đàm phán đầu hàng trong danh dự làm tù binh và việc máu sẽ đổ thêm khi chiến đoàn của tôi lại chiến đấu vì không thấy tôi trở về hay không?”
Sự yên lặng ngự trị trong 1 lúc lâu. Rồi viên đại úy Mỹ hỏi: “Không biết có phải anh là đại úy Ernst không?”
“Phải tôi là đại úy Ernst đây.” Người chỉ huy thiết giáp Đức trả lời.
“Vậy tốt rồi, ngài đại tá sẽ cho lệnh ngừng bắn.”
Ít phút sau ông đại tá đến và 2 người nói chuyện. Sau đó lệnh ngưng bắn được thông báo trên điện đài và loa. Ernst liên lạc về trạm thông tin của mình rồi truyền lệnh ngừng bắn cho quân Đức.
Đã 1 giờ trưa. Viên đại úy yêu cầu cung cấp thuốc men và lính cứu thương và được đáp ứng ngay. Ernst đưa họ tới chăm sóc cho lính của mình và cả thương binh địch.
Ông đại tá kết thúc cuộc hội đàm. “Chúng tôi muốn việc đầu hàng xong vào lúc 14 giờ.”
Ernst hứa sẽ tìm 1 viên tướng Đức để thực hiện việc đầu hàng. Tất cả đều đã ngưng bắn khi anh đi xe bọc thép tới bộ tư lệnh của tướng Bayerlein ở Rothehausstrasse. Ông tướng vẫn còn ở đó.
“Thưa tướng quân!” Ernst nói. “Xin ngài hãy lên xe về với tôi để giao nộp thành phố Iserlohn.”
“Ernst, tôi đã là 1 viên tướng bị bắt nên không thể làm thế được.”
Nhờ vậy mà anh biết rằng ngày 15 tháng 4, đại tá von Häuser đã đưa 2.600 quân của sư đoàn Panzer-Lehr ra hàng và các quân nhân trong bộ chỉ huy quân đoàn 53 bộ binh đóng tại Rafflingen cũng vậy.
“Tôi nên làm gì đây, thưa tướng quân?” Ernst hỏi.
“Giờ tôi đâu còn có thể ra lệnh cho cậu nữa.” Bayerlein trả lời.
“Vậy thì tự tôi sẽ nộp Iserlohn cho quân Mỹ, thưa tướng quân.”
“Đúng, cứ làm thế đi. Vậy là tốt nhất rồi.” Ông tướng đáp.
Ernst lên xe đi. Anh liên lạc với người của mình ở Hohenlimburg, cùng các tổ lái Jagdtiger ở Letmathe trước khi về Iserlohn. Anh liên lạc điện đài với Rondorf, lúc này vẫn ở trong thành phố và thông báo cho tình hình cho anh ta.
Khi Ernst tới, Rondorf đã chuẩn bị xong và liên lạc với tất cả các đơn vị anh nắm được.
Ernst đi xe tới hội trường thành phố cùng với 3 chiếc Jagdtiger hộ tống.
Bên trong có 3 cảnh sát không có vũ trang, Cha Dietze của giáo xứ công giáo Iserlohn, cùng tiến sĩ bác sĩ Möcke và 1 người là cựu thị trưởng của thành phố.
Ernst nhìn thấy 1 thiếu tá cảnh sát đang đứng nghiêm. Khi anh giơ tay chào thì thấy ông ta đang lột bỏ huân chương và quân hàm. Ernst quay vội đi và để ông ta lại sau lưng.
Rồi anh tới bàn đàm phán. Bên phía Mỹ có trung tá Kriz, sĩ quan của sư đoàn 99 bộ binh. Những vấn đề quan trọng đã được giải quyết. Việc đầu hàng được diễn ra tại Schillerplatz với sự hiện diện của chiến đoàn Ernst.
Ernst rời hội trường thành phố, anh cảm thấy mãn nguyện vì đã cứu được hàng trăm ngàn người thoát khỏi số phận khủng khiếp. Bỗng có 1 thường dân bước đến và nói “Chưa bao giờ có 1 tên nào hèn nhát như mày!” và nhổ nước bọt.
Trung úy Rondorf định đánh gã đó nhưng Erns giữ anh ta lại. Ernst quay đi chỗ khác để mọi người không nhìn thấy mình đang rơi nước mắt.
Rồi mọi thứ kết thúc. Những chiếc Jagdtiger chạy vào phố Schiller. Nhân dân đổ tới quảng trường và nó mau chóng trở nên đông nghịt.
Các tổ lái leo ra và xuống đứng trước đầu xe. Albert Ernst tập hợp quân của mình lại và quay sang viên chỉ huy quân Mỹ.
“Những chiến sĩ bị bao vây cuối cùng, những chiến sĩ của Iserlohn, đã ra đầu hàng trước 1 tình thế vô vọng và yêu cầu được đối xử trong danh dự.”
Ernst rút khẩu súng lục ra đưa cho trung tá Kriz. Viên trung tá Mỹ nghiêm chào và nhận lấy khẩu súng.
Albert Ernst quay về phía binh lính của mình, nói họ hạ vũ khí rồi giải tán họ. Viên trung tá Mỹ bảo đại úy Ernst.
“Chúng tôi đã dàn xếp 1 cuộc bàn giao danh dự. Tất cả lính dưới quyền anh có thể giữ lại vũ khí cá nhân.” Rồi ông quay sang nói riêng với Ernst.
“Đừng đến trại giam, đại úy. Hãy tới sở chỉ huy của tôi, có rất nhiêu việc cho anh làm ở đó.”
“Tôi không đi đâu, mà sẽ ở cùng lính của tôi. Chúng tôi đã chiến đấu với nhau nhiều năm, và bây giờ, trong thời khắc đen tối này, tôi không thể bỏ rơi họ.”
“Như vậy anh sẽ mất tự do đó đại úy”. Viên trung tá nói thêm.
“Thật không may là tôi phải từ chối đề nghị tốt ấy, trừ khi anh có thể trả tự do cho tất cả.”
Vừa lúc đó người trợ lý sư đoàn đi trên chiếc xe jeep của tư lệnh sư đoàn là tướng Lauer, đến chỗ Ernst.
“Tướng Lauer yêu cầu anh phải được tự do bất kỳ trường hợp nào.”
“Chỉ khi nào các anh cấp giấy thông hành cho tất cả chúng tôi.” Ernst nói những lời cuối cùng. Tướng Lauer cho 1 xe tham mưu tới chở Ernst tới trại giam nhưng anh từ chối đặc ân này. Anh đi bộ tới trại giam cùng với binh lính của mình.
Chiến tranh kết thúc. Những nghiên cứu sau này cho biết Iserlohn là thành phố duy nhất trong ‘cái túi Ruhr’ được giao nộp cho phía đối phương.
Vị đại tá, sau này lãnh đạo công ty buôn bán thiết bị điện Kriz-Davis ở Grand Island, Hoa Kỳ đã viết:
“Giờ đây thật là khó khi tả lại những ấn tượng tôn trọng không phai mờ của tôi dành cho đại úy Ernst. Anh đã mở ra cuộc đàm phán và việc chính thức bàn giao. Ấn tượng của tôi trong suốt quá trình chiến đấu ở Iserlohn là dựa trên ký ức về đơn vị quân Đức can đảm này.”
Và đại tá Kriz đã viết cho Ernst:
Albert thân mến! Thành phố Iserlohn nợ anh rất nhiều. trong giai đoạn cuối của cuộc chiến ở ‘cái túi’ Ruhr, anh không có cơ hội giành chiến thắng. Khi đi xe qua chiến tuyến Đức để thảo luận việc đầu hàng với anh tôi đã bố trí sẵn không quân và nhiều pháo đội pháo binh. Tôi đã dự phòng rất nhiều quân trước khi đi. Nếu có gì xảy ra, ví như lính của anh hay lính của tôi khai hỏa, hoặc nếu anh cùng với những người lính can trường không chịu đầu hàng thì thành phố Iserlohn sẽ phải gánh chịu hậu quả đó.
Tôi vẫn còn giữ khẩu súng lục của anh. Hôm qua tôi đã coi kỹ nó. Nó mang số sê ri 5921. Anh, Albert, lúc nào cũng sẽ được chúng tôi chào đón ở ngôi nhà tại vùng trung tây này.
Khởi đầu từ những trận đánh trên sa mạc của Rommel cho tới chiến dịch châu Âu, anh là sĩ quan Đức có ảnh hưởng nhất với tôi.
Chúa phù hộ cho anh!
Bob
Albert Ernst đến cư trú ở Iserlohn, thành phố mà anh đã cứu khỏi sự hủy diệt. Anh vẫn là 1 con người khiêm tốn như mọi khi. Bạn bè luôn được chào đón khi tới nhà anh. Và anh vẫn là hiện thân của những truyền thống tốt đẹp của người lính Đức, được những đối thủ chính thức công nhận.