Đột ngột từ ngoài sáng bước vào, mắt Phoebe mờ đi trong bóng tối dày đặc chiếm cứ hầu hết các hành lang của ngôi nhà cũ. Ban đầu cô không nhận biết được ai đã mở cửa cho mình. Trước khi mắt cô kịp thích nghi với bóng tối, một bàn tay nắm lấy tay cô với sự vững chắc nhưng nhẹ nhàng và ấm áp, thể hiện một lời chào khiến trái tim cô giật thót và run lên với một niềm vui sướng không thể cắt nghĩa. Cô cảm thấy mình được dẫn đi, không phải về phía gian sảnh, mà vào một căn phòng rộng và trống, trước kia là phòng tiếp khách lớn của ngôi nhà bảy đầu hồi. Ánh nắng tha hồ rọi qua tất cả các cửa sổ không treo rèm của căn phòng, chiếu xuống mặt sàn bụi bặm; để Phoebe lúc này nhìn rõ – thực ra không phải là điều bí mật, sau sự tiếp xúc của bàn tay ấm với tay cô - đó không phải là bà Hepzibah hay ông Clifford, mà là Holgrave, người đã đón cô. Trực giác mơ hồ, hay đúng hơn, cảm tưởng không rõ ràng về một điều gì đó cần được nghe, đã khiến cô ngoan ngoãn đi theo anh. Không rút tay ra, cô nóng lòng nhìn gương mặt anh, chưa đoán được chuyện xấu, nhưng biết chắc rằng tình hình trong nhà đã thay đổi từ khi cô đi, và vì thế khắc khoải chờ lời giải thích.
Người nghệ sĩ trong xanh xao hơn bình thường, một vẻ trầm tư và nghiêm trang làm trán anh cau lại, hình thành nếp nhăn giữa hai lông mày. Song nụ cười của anh ấm áp một cách chân thật, và mang một niềm vui, cho đến giờ là biểu cảm rạng rỡ nhất mà Phoebe từng chứng kiến, át đi sự dè dặt đặc trưng New England mà Holgrave thường dùng để che đậy những điều sâu kín trong lòng. Đó là sắc mặt của người đàn ông khi một mình nghiền ngẫm điều gì đó đáng sợ, trong một khu rừng âm u hay sa mạc mênh mông, bỗng trông thấy gương mặt quen thuộc của người bạn thân nhất, gợi lên mọi ý nghĩ bình yên của một mái nhà, và những sinh hoạt gần gũi hàng ngày. Tuy vậy, khi anh thấy cần phải đáp lại vẻ dò hỏi của cô, nụ cười liền biến mất.
“Tôi không nên vui mừng vì cô đã về,” anh nói. “Chúng ta gặp nhau vào một thời điểm trớ trêu!”
“Xảy ra chuyện gì vậy!” Cô thốt lên. “Sao trong nhà vắng lặng thể? Cô Hepzibah và chú Clifford đâu rồi?”
“Đi rồi! Tôi không biết họ đi đâu!” Holgrave đáp. “Chỉ có hai chúng ta trong ngôi nhà!”
“Cô Hepzibah và chú Clifford đi rồi?” Phoebe kêu lên. “Không thể nào! Và sao anh lại đưa tôi vào căn phòng này, mà không phải gian sảnh? Ôi, có chuyện gì đó kinh khủng đã xảy ra! Tôi phải đi xem!”
“Không, không, Phoebe!” Holgrave giữ cô lại. “Như tôi đã nói với cô đấy. Họ đi rồi, và tôi không biết là đi đâu. Một sự việc kinh khủng đúng là đã xảy ra, nhưng không phải với họ, cũng không gây thiệt hại gì cho họ, tôi tin chắc vậy. Nếu tôi hiểu đúng con người cô, Phoebe,” anh nói tiếp, nhìn vào mắt cô với vẻ lo âu nghiêm nghị, xen lẫn âu yếm, “dù cô hiền lành, và sống cuộc đời giản dị, song cô sở hữu một sức mạnh đáng nể. Cô có sự chín chắn tuyệt vời, và một năng lực mà, khi được thử thách, sẽ chứng tỏ nó có thể giải quyết những vấn đề vượt xa quy luật thông thường.”
“Ồ không, tôi rất yếu đuối!” Phoebe run rẩy trả lời. “Nhưng nói tôi biết đã xảy ra chuyện gì đi!”
“Cô mạnh mẽ!” Holgrave khăng khăng. “Cô phải vừa mạnh mẽ vừa sáng suốt, bởi tôi vô cùng hoang mang, và cần sự chỉ bảo của cô. Có lẽ cô có thể đưa ra hành động đúng đắn.”
“Anh kể đi nào!” Phoebe run giọng. “Sự bí ẩn này làm tôi ngạt thở, làm tôi hoảng sợ! Bất cứ điều gì khác tôi cũng chịu đựng được!”
Người nghệ sĩ do dự. Bất kể những gì anh đã nói, và hết sức thành thật, về khả năng giữ bình tĩnh của Phoebe khiến anh ấn tượng, vẫn gần như là độc ác khi cho cô biết cái bí mật khủng khiếp của ngày hôm qua. Nó giống như lỗi một hình thù gớm guốc của cái chết vào không gian sạch sẽ và vui vẻ trước một lò sưởi của gia đình, nơi nó sẽ phô ra tất cả vẻ xấu xí, giữa sự tao nhã của mọi thứ xung quanh. Nhưng không thể giấu cô chuyện đó, cô cần được biết.
“Phoebe,” anh nói, “cô còn nhớ cái này không?”
Anh đặt vào tay cô một bức ảnh, chính là bức ảnh anh đã cho cô xem vào lần gặp gỡ đầu tiên của họ trong khu vườn, và nó làm nổi bật những nét khắc nghiệt và tàn nhẫn của nguyên mẫu.
“Nhưng đây cùng là một gương mặt, được chụp trong vòng nửa giờ qua,” người nghệ sĩ nói, đưa cho cô một bức ảnh khác. “Tôi vừa hoàn thành nó thì nghe cô gõ cửa.”
“Đây là người chết!” Phoebe run rẩy, mặt tái nhợt. “Thẩm phán Pyncheon đã chết!”
“Đúng là như vậy,” Holgrave nói, “ông ta ngồi ở căn phòng bên cạnh. Ngài thẩm phán đã chết, còn ông Clifford và bà Hepzibah đã biến mất! Tôi chỉ biết có thế. Ngoài ra tất cả đều là phỏng đoán. Trên đường trở về phòng mình lúc tối qua, tôi không trông thấy ánh đèn, trong gian sảnh, hay phòng bà Hepzibah, hay phòng ông Clifford; không một tiếng động hay bước chân trong ngôi nhà. Sáng nay vẫn là sự im lìm như chết ấy. Từ cửa sổ, tôi nghe lỏm được lời chứng thực của một người hàng xóm, rằng cô chú của cô được trông thấy ra khỏi nhà giữa lúc mưa gió hôm qua. Tôi cũng nghe được tin đồn về thẩm phán Pyncheon đang mất tích. Một cảm giác tôi không thể miêu tả - một linh tính về tai họa, hoặc nó đã xảy ra rồi – thúc giục tôi đi vào khu vực này của ngôi nhà, nơi tôi phát hiện ra thứ cô thấy. Để có bằng chứng biết đâu giúp ích cho ông Clifford, và cũng có giá trị ghi nhớ với tôi, - vì, Phoebe ạ, có những lí do di truyền lạ lùng kết nối tôi với số phận người đàn ông đó, - tôi đã sử dụng biện pháp có sẵn để lưu giữ tư liệu hình ảnh về cái chết của thẩm phán Pyncheon.”
Ngay cả trong lúc kích động, Phoebe không thể không chú ý đến thái độ bình tĩnh của Holgrave. Đúng là anh có vẻ hiểu rõ mức độ khủng khiếp trong cái chết của ông thẩm phán, song đón nhận sự thật không hề ngạc nhiên, mà như một việc đã định trước, tất yếu sẽ xảy ra, và phù hợp với những sự kiện trong quá khứ đến mức gần như có thể dự đoán được.
“Tại sao anh không mở hết cửa và gọi mọi người vào làm chứng?” Cô hỏi với một cái rùng mình đau đớn. “Thật khủng khiếp khi ở đây một mình!”
“Nhưng còn ông Clifford!” Anh lập luận. “Ông Clifford và bà Hepzibah! Chúng ta phải cân nhắc nên làm gì mới tốt nhất cho họ. Việc họ biến mất cực kỳ nguy hại! Nó sẽ pha màu đen tối nhất cho sự kiện đã rất nhạy cảm này. Nhưng lại dễ dàng giải thích đối với những ai quen biết họ! Hoang mang và sợ hãi bởi sự tương đồng giữa cái chết này và một cái chết hồi trước, đã kéo theo những hậu quả thảm khốc cho ông Clifford, họ không nghĩ được điều gì khác ngoài bỏ chạy khỏi hiện trường. Thật xui xẻo! Nếu bà Hepzibah hô hoán lên, - nếu ông Clifford mở toang cửa, và thông báo thẩm phán Pyncheon đã chết, - đó ắt sẽ là một sự kiện, tuy kinh khủng, nhưng mang lại nhiều lợi ích cho họ. Theo tôi thấy, nó sẽ xóa sạch vết đen trên nhân cách của ông Clifford.”
“Làm sao một việc kinh khủng như thế có thể đem lại điều gì tốt đẹp được?” Phoebe hỏi.
“Bởi vì,” Holgrave nói, “nếu vấn đề được xem xét thấu đáo và giải thích rõ ràng, hiển nhiên thấy được thẩm phán Pyncheon có kết cục như thế chẳng thể gọi là bất công. Phương thức chết này là một đặc trưng của gia tộc ông ta, trong những thế hệ trước; không hay xảy ra, nhưng khi xảy ra, nó luôn nhằm vào những người liên quan đến cuộc đời ông thẩm phán, và thường trong cơn căng thẳng của một cuộc khủng hoảng tinh thần nào đó, hoặc có thể trong một cơn phẫn nộ. Lời tiên tri của ông già Maule có lẽ dựa trên hiểu biết về khuynh hướng bệnh này trong dòng tộc Pyncheon. Có sự tương đồng rất lớn ở bề ngoài giữa cái chết xảy ra hôm qua và những ghi chép về cái chết của bác ông Clifford ba mươi năm trước. Quả thực có sự sắp đặt nhất định về hoàn cảnh, không cần phải kể chi tiết, khiến người ta trông vào có thể nghĩ rằng, hoặc thậm chí tin chắc - là ông già Jaffrey Pyncheon đã chết thảm, và dưới tay ông Clifford.”
“Hoàn cảnh đó từ đâu ra?” Phoebe thốt lên. “Chú ấy vô tội, chúng ta đều biết mà!”
“Họ đã bị gài bẫy,” Holgrave nói, - “chí ít tôi tin như vậy, - họ đã bị gài sau cái chết của ông bác, và trước khi nó được công bố ra ngoài, bởi người đàn ông ngồi trong gian sảnh kia. Cái chết của chính ông ta, rất giống cái chết của người trước đó, song không ở trong hoàn cảnh đáng ngờ như thế, dường như là ngón đòn của Chúa, trừng phạt tội lỗi của ông ta, và chứng minh ông Clifford vô tội. Nhưng vụ bỏ trốn này, - nó bóp méo tất cả. Có lẽ ông ấy đang trốn gần đây. Nếu chúng ta tìm được ông ấy về trước khi cái chết của thẩm phán vỡ lở, tai họa có thể khắc phục.”
“Chúng ta không được giấu chuyện này lâu hơn nữa!” Phoebe nói. “Thật kinh khủng nếu cứ ấp ủ nó trong lòng. Chú Clifford vô tội. Chúa sẽ làm sáng tỏ điều đó! Chúng ta hãy mở cửa và gọi tất cả hàng xóm láng giềng đến chứng kiến sự thật!”
“Cô nói đúng, Phoebe,” Holgrave trả lời. “Chắc chắn là cô đúng.”
Thế nhưng người nghệ sĩ không cảm thấy kinh hoàng, cảm giác chính đáng đối với tính cách lương thiện và quy củ của Phoebe, khi thấy mình thành đầu đề bàn tán, và thông báo một vụ việc vượt ra ngoài những khuôn khổ chung. Anh cũng không vội vã quay về cuộc sống bình thường. Trái lại, anh hái được một niềm vui sướng nguyên sơ, như một bông hoa mang vẻ đẹp lạ lùng, mọc ở một nơi hoang vắng, và nở ra trong gió, - giống như bông hoa của hạnh phúc ngắn ngủi anh hải từ vị trí hiện tại của mình. Nó tách Phoebe và anh khỏi thế gian, và ràng buộc họ vào nhau, bằng hiểu biết riêng giữa họ về cái chết bí ẩn của thẩm phán Pyncheon, và khiến họ cùng chung một chiến tuyến. Cái bí mật, chừng nào nó vẫn còn, giữ họ trong một vòng tròn phép thuật, một chốn tĩnh mịch giữa đám đông, hẻo lánh như một hòn đảo giữa đại dương, một khi tiết lộ, nước biển sẽ dâng lên đẩy họ về hai bờ. Trong thời gian đấy, hoàn cảnh dường như kéo họ vào gần nhau; họ giống như hai đứa trẻ tay nắm tay, dựa sát vào nhau, đi qua một hành lang tối om. Hình ảnh ghê rợn của Thần Chết, tràn ngập ngôi nhà, giữ chắc họ chung một chỗ bằng bàn tay sắt.
Những tác động này thúc đẩy sự phát triển của các cảm xúc đáng lẽ không thể đơm hoa. Có lẽ mục đích của Holgrave là để cho chúng chết yểu. “Tại sao ta còn chần chừ?” Phoebe hỏi. “Bí mật này làm tôi nghẹt thở! Ta hãy mở hết cửa ra!”
“Cuộc đời chúng ta có thể không bao giờ gặp được một khoảnh khắc như vậy nữa!” Holgrave nói. “Phoebe, tất cả đều là sợ hãi ư? - không gì ngoài sợ hãi? Cô không cảm nhận được niềm vui, giống như tôi, khiến cho khoảnh khắc này của cuộc đời thật đáng sống ư?”
“Nó như là tội lỗi,” Phoebe run rẩy trả lời, “khi nghĩ đến niềm vui vào lúc này!”
“Giá như cô biết giờ phút trước khi cô đến nó như thế nào đối với tôi!” Người nghệ sĩ giải thích. “Những giờ phút tối tăm, lạnh lẽo, khổ sở! Sự hiện hữu của người chết đằng kia phủ một bóng đen lên mọi thứ; ông ta biến cả thế giới, theo nhận thức của tôi, thành một quang cảnh của tội ác và của sự báo thù kinh khủng hơn tội ác. Cảm giác về nó đã cướp đi tuổi trẻ của tôi. Tôi không bao giờ hy vọng được trẻ lại nữa! Thế giới trống thật kỳ lạ, thô bạo, xấu xa, thù địch; cuộc sống trước kia của tôi, rất cô độc và ảm đạm; tương lai của tôi, một màu đen không hình dạng, mà tôi phải nhào nặn nó thành những hình khối âm u! Nhưng Phoebe, cô đã bước qua ngưỡng cửa; và hy vọng, hơi ấm, và niềm vui theo vào cùng cô! Thời khắc đen tối lập tức biến thành hạnh phúc. Nó không thể qua đi mà không nói ra. Tôi yêu cô!”
“Làm sao anh có thể yêu một cô gái đơn giản như tôi?” Phoebe hỏi, sự nghiêm chỉnh của anh buộc cô phải nói. “Anh có rất nhiều, rất nhiều suy nghĩ mà tôi cố gắng đến mấy cũng không đồng tình được. Và tôi, - tôi, cũng, - tôi có những khuynh hướng anh sẽ khó chấp nhận. Chuyện đó không đáng kể. Nhưng tôi không có đủ khả năng để làm anh hạnh phúc.”
“Cô là khả năng hạnh phúc duy nhất của tôi!” Holgrave đáp. “Tôi không tin vào nó, trừ phi cô ban nó cho tôi!”
“Và còn tôi lo sợ!” Phoebe nói tiếp, co người lại trước Holgrave, ngay cả khi cô đang thành thật nói ra những nghi ngờ anh gây ra cho cô. “Anh sẽ dắt tôi ra khỏi con đường lặng lẽ của tôi. Anh sẽ khiến tôi cố gắng để theo anh đi đến những nơi không có đường. Tôi không làm được. Đó không phải bản tính của tôi. Tôi sẽ suy sụp và tàn lụi!”
“À, Phoebe!” Holgrave thốt lên, gần như thở dài, và mỉm cười với vẻ suy tư.
“Nó sẽ khác xa những gì cô tiên đoán. Thế giới tiến lên nhờ những con người không an phận. Người hạnh phúc chắc chắn sẽ bó mình trong những khuôn khổ cũ. Tôi có một linh cảm rằng, sau này, số phận của tôi sẽ là trồng cây, đóng hàng rào, - có lẽ còn xây nhà cho một thế hệ khác, vào thời điểm thích hợp, - nói tóm lại, thích nghi với luật lệ và hoạt động yên ổn của xã hội. Sự chín chắn của cô sẽ mạnh hơn bất cứ khuynh hướng dao động nào của tôi.”
“Tôi không được như thế đâu!” Phoebe phản bác.
“Cô có yêu tôi không?” Holgrave hỏi. “Nếu chúng ta yêu nhau, không còn chỗ cho điều gì khác nữa. Hãy dừng lại ở khoảnh khắc này, và tận hưởng. Cô có yêu tôi không, Phoebe?”
“Anh đã nhìn rõ trái tim tôi,” cô nói, cụp mắt xuống. “Anh biết tôi yêu anh mà!”
Và trong giờ phút đầy nghi ngờ và lo sợ ấy, điều kỳ diệu đã xuất hiện, không có nó sự tồn tại của con người là vô nghĩa. Niềm hạnh phúc biến tất cả mọi thứ trở nên chân thực, đẹp đẽ, và thiêng liêng quanh chàng trai và cô gái. Họ không còn biết đến buồn bã hay ưu tư. Họ biến trái đất thành vườn Địa Đàng trở lại, và họ là hai con người đầu tiên ở đó. Cái xác chết ở ngay cạnh họ bị cho vào quên lãng.
Trong lúc này không có chết chóc, vì sự bất tử đã hồi sinh, bao bọc mọi thứ trong bầu không khí thiêng liêng của mình. Nhưng hiện thực nhanh chóng quay lại!
“Nghe kìa!” Phoebe thì thầm. “Có ai đó ngoài cửa!”
“Giờ chúng ta ra gặp thế giới thôi!” Holgrave nói. “Chắc chắn lời đồn về chuyến viếng thăm của thẩm phán Pyncheon tới ngôi nhà, và việc bà Hepzibah và ông Clifford bỏ đi, sẽ dẫn đến một cuộc điều tra. Chúng ta buộc phải nghênh tiếp nó. Ta ra mở cửa nào.”
Nhưng, trước sự ngạc nhiên của họ, trước khi họ ra đến cửa chính, - thậm chí trước khi họ rời khỏi căn phòng vừa diễn ra cuộc trò chuyện, - họ nghe thấy tiếng bước chân trong hành lang phía xa. Vì thế cánh cửa, mà họ cho rằng khóa chặt, - Holgrave đã thấy, và Phoebe đã cố mở nhưng không được, - hẳn là được mở từ bên ngoài. Tiếng bước chân không gằn, mạnh, quả quyết, và xâm phạm, như dáng đi của những người lạ sẽ thế, ngang nhiên xông vào một nơi họ biết mình không được chào đón. Nó mỏng mảnh như bước chân những người yếu ớt hoặc mệt mỏi, xen lẫn tiếng lẩm bẩm của hai giọng nói thân quen với cả hai người nghe. “Có lẽ nào?” Holgrave thì thầm.
“Là họ!” Phoebe đáp. “Tạ ơn Chúa! – tạ ơn Chúa!”
Và rồi, như hòa theo lời thốt của Phoebe, họ nghe thấy giọng bà Hepzibah rõ rệt hơn.
“Tạ ơn Chúa, anh ơi, chúng ta về nhà rồi!”
“Ồ! - Phải! – tạ ơn Chúa!” Ông Clifford đáp lại. “Một ngôi nhà ảm đạm, Hepzibah! Nhưng cô thật giỏi khi đưa tôi về tới đây! Khoan! Cửa gian sảnh đang mở. Tôi không thể đi qua nó! Cho tôi ra nghỉ ngoài căn chòi, nơi tôi từng, - ôi, dường như tôi thấy lâu lắm rồi, sau những gì xảy ra với chúng ta, - nơi tôi từng rất hạnh phúc bên cạnh cô bé Phoebe!”
Nhưng ngôi nhà không quá ảm đạm như ông Clifford hình dung. Họ mới đi được vài bước, - đúng ra họ đang nấn ná ở lối vào, với sự lơ đãng của một mục đích đã hoàn thành, phân vân không biết làm gì tiếp theo, thì Phoebe chạy ra gặp họ. Trông thấy cô, bà Hepzibah òa khóc. Bằng tất cả nghị lực, bà đã gắng gượng mang gánh nặng đau khổ và trách nhiệm, cho đến giờ đã an toàn để đặt nó xuống. Thực ra bà không còn sức để đặt nó xuống, mà thôi chống đỏ, để cho nó ấn bà xuống đất. Ông Clifford tỏ ra là người khỏe mạnh hơn.
“Đó là cô bé Phoebe nhà chúng ta! – A! và Holgrave đi cùng cô bé,” ông thốt lên, với một ánh mắt thấu tỏ và tinh tế, và một nụ cười, đẹp đẽ, nhân hậu, nhưng u buồn. “Ta đã nghĩ đến cả hai đứa, khi đi dọc con phố, và trông thấy những bông hoa của Alice nở rộ. Thế là hoa ở vườn Địa Đàng cũng đã nở trong ngôi nhà cũ kỹ, tối tăm này.”