Ngôi nhà cũ chưa bao giờ buồn thảm với bà Hepzibah đến thế khi bà đi thực hiện công việc khốn khổ đó. Có một vẻ kỳ lạ trong nó. Khi bà bước trên những lối đi đã mòn dấu chân, mở hết cánh cửa ọp ẹp này đến cánh cửa xập xệ khác, và leo lên cầu thang kẽo kẹt, bà khắc khoải và lo sợ nhìn xung quanh. Ắt sẽ chẳng bất thường, đối với tâm trí kích động của bà, nếu như, sau lưng và bên cạnh bà, có tiếng sột soạt của quần áo người chết, hoặc những bộ mặt nhợt nhạt đợi bà ở chiếu nghỉ phía trên. Thần kinh bà căng thẳng bởi vụ tranh cãi dữ dội và đáng sợ bà vừa trải qua. Cuộc nói chuyện của bà với thẩm phán Pyncheon, người giống hệt cả diện mạo lẫn phong thái với người tạo lập gia tộc này, đã gợi lại quá khứ thê lương. Nó đè nặng lên trái tim bà. Mọi điều bà đã nghe được, từ các bà và cô dì ngày xưa, về những người tốt và người xấu trong dòng họ Pyncheon, - những câu chuyện cho đến nay vẫn được giữ ấm trong trí nhớ của bà bởi ánh lửa lò sưởi đi cùng với chúng, - giờ trở lại với bà, u ám, rùng rợn, lạnh lẽo, như hầu hết những đoạn lịch sử của gia đình, khi bao trùm bởi tâm trạng trầm uất. Toàn bộ dường như là một chuỗi tai ương, lặp lại trong những thế hệ kế tiếp nhau, với một sắc thái chung, khác nhau chút ít, trừ cái cơ bản. Lúc này bà Hepzibah có cảm giác như ngài thẩm phán, Clifford, và bản thân bà, - cả ba người họ, - sắp bổ sung một sự kiện nữa vào biên niên sử của ngôi nhà, với sai trái và đau buồn đậm nét hơn, khiến nó nổi bật so với số còn lại. Như thế sự đau thương của giây phút đang trôi qua đóng vai trò một cá nhân, một điểm kịch tính, được định sẵn sẽ mất đi sau một thời gian, và biến thành miếng giấy xám đen thông thường đối với những sự kiện quan trọng hoặc vui mừng của nhiều năm trước. Chỉ trong giờ phút này, một cách tương đối, bất cứ cái gì trông cũng kỳ lạ hoặc đáng kinh ngạc, - một sự thật có cả ngọt ngào và cay đắng bên trong.
Nhưng bà Hepzibah không thể dứt bỏ cảm giác về một điều chưa từng có tiền lệ sắp xảy ra. Thần kinh bà run rẩy. Theo bản năng bà dừng lại trước cửa sổ vòm, và nhìn ra ngoài phố, muốn nắm bắt những vật thể quen thuộc của nó bằng tinh thần, từ đó làm bản thân vững vàng trước sự quay cuồng và chấn động tác động trực tiếp lên bà. Nó gây cho bà một cú sốc, khi bà thấy tất cả mọi thứ dưới hình dạng giống như ngày hôm trước, và vô số ngày trước đó, trừ sự khác biệt giữa ánh nắng và cơn bão ảm đạm. Mắt bà lướt dọc con phố, từ bậc cửa này sang bậc cửa khác, để ý những vỉa hè ướt, rải rác những vũng nước nhỏ trong những chỗ trũng không thể nhận thấy cho đến khi nó ngập nước. Bà nheo hết cả đôi mắt kèm nhèm, trong hy vọng phát hiện, một cách rõ rệt hơn, một ô cửa sổ, nơi bà lờ mờ thấy, và đoán chừng, một cô thợ may đang ngồi làm việc. Bà Hepzibah dồn hết hy vọng vào sự bầu bạn của người phụ nữ không quen biết ấy, dù ở rất xa. Rồi bà chú ý đến một cỗ xe ngựa đang chạy qua rất nhanh, quan sát nóc xe loang loáng ướt, những bánh xe bắn nước tung tóe của nó, cho đến khi nó rẽ ở khúc ngoặt, không chịu chở theo tâm trí đờ đẫn vì kinh hoàng và quá tải của bà. Khi cỗ xe đã biến mất, bà cho bản thân thêm một phút nấn ná nữa, vì bóng dáng trong bộ đồ vá víu của Bác Venner tốt bụng giờ đã hiện ra, chậm chạp từ đầu phố đi xuống, với cái chân khập khiễng vì bệnh thấp khớp gặp phải gió đông. Bà Hepzibah ao ước ông đi qua chậm hơn nữa, bầu bạn với sự cô độc run rẩy của bà lâu hơn chút nữa. Bất cứ thứ gì giúp bà thoát khỏi hiện tại đáng sợ, và cái chướng ngại bằng con người ngăn giữa bản thân bà và điều gần gũi nhất với bà, - bất kể thứ gì làm trì hoãn trong chốc lát công việc không thể tránh khỏi mà bà sắp làm, - mọi sự ngăn trở như thế đều được chào đón. Bên cạnh trái tim vô lo nhất, trái tim nặng nề nhất trông như một sự khôi hài.
Sức chịu đựng đau đớn đối với bản thân của bà Hepzibah rất kém, và kém hơn nhiều so với nỗi đau bà phải gây ra cho Clifford. Với bản chất quá mong manh, và đã vỡ vụn bởi những tai ương trước đó, nó có thể bị hủy hoại hoàn toàn nếu bắt ông mặt đối mặt với người đàn ông cứng rắn, tàn nhẫn, là định mệnh ma quỷ của đời ông. Kể cả nếu không có những hồi ức cay đắng, cũng như bất cứ lợi ích thù nghịch nào hiện chắn giữa họ, thì sự xung khắc tự nhiên của một cơ thể nhạy cảm trước một cơ thể to lớn, chắc nịch, và trơ trơ, hẳn là rất thảm khốc. Nó sẽ giống như ném một chiếc bình bằng sứ, đã có vết nứt, vào một cột đá granite. Trước giờ bà Hepzibah chưa từng ước lượng một cách thích đáng tính cách mạnh mẽ của người anh họ Jaffrey, - mạnh mẽ bởi trí tuệ, sức mạnh ý chí, thói quen lâu năm khi hoạt động trong giới đàn ông, và, theo bà nghi, bởi sự theo đuổi vô nguyên tắc những mục tiêu ích kỷ thông qua những phương thức xấu xa. Nó càng gây thêm khó khăn khi thẩm phán Pyncheon bị ám ảnh bởi cái bí mật ông ta cho rằng Clifford nắm giữ. Những người cố chấp và khôn ngoan kiểu thông thường như ông ta, nếu họ tình cờ có ý niệm lầm lẫn về những vấn đề thiết thực, len vào giữa những điều được coi là thật, bám chắc đến độ vặn nó ra khỏi tâm trí họ khó không kém việc nhổ một cây sồi. Do đó, khi thẩm phán đòi hỏi một điều bất khả từ Clifford, thì người ở vế thứ hai, vì không thể đưa nó ra, nhất thiết phải bỏ mạng. Vì dưới quyền lực của một kẻ như vậy, chuyện gì sẽ xảy ra với một tính cách dịu dàng mơ mộng như Clifford, người chưa bao giờ gặp chuyện nào nan giải hơn việc sắp đặt một cuộc sống thi vị tươi đẹp của thơ ca nhạc họa! Thật vậy, nó đã thành thế nào? Suy sụp! Tàn lụi! Chỉ thiếu nước bị hủy diệt! Mà cũng sớm bị thôi!
Trong khoảnh khắc, một ý nghĩ lướt qua tâm trí bà Hepzibah, có đúng là Clifford thực sự không biết về khối tài sản mất tích của người bác quá cố của họ không? Bà nhớ lại một vài dấu hiệu mơ hồ, ở anh trai mình, những dấu hiệu - nếu giả thuyết không vô lý quá đáng - có thể giải nghĩa được. Có những kế hoạch chu du và sinh sống ở nước ngoài, những mơ mộng về cuộc sống rực rõ ở quê nhà, và những lâu đài lộng lẫy trên mây, những thứ sẽ ngốn cả núi tiền để xây dựng và thực hiện. Nếu số của cải đó là của bà, ắt bà sẽ hân hoan trao hết cho người anh họ lòng dạ sắt đá của mình, để mua cho Clifford sự tự do và ẩn dật trong ngôi nhà cũ nát! Nhưng bà tin rằng những kế hoạch của anh trai mình thiếu tính thực tế và mục đích như những tranh vẽ của một đứa trẻ về cuộc sống tương lai, trong lúc ngồi trong chiếc ghế nhỏ bên chân mẹ. Clifford chẳng có gì ngoài vàng bạc hư ảo, và nó không phải thứ làm thỏa mãn thẩm phán Pyncheon.
Cảnh ngộ của họ không có ai giúp đỡ ư? Kỳ lạ là không, với cả một thị trấn ở xung quanh bà. Sẽ rất dễ dàng khi lao ra cửa sổ, và thét lên một tiếng, trước sự thảm thiết ấy mọi người sẽ vội vã chạy đến giải cứu, hiểu rõ đấy là tiếng kêu của một linh hồn trong cơn tuyệt vọng! Nhưng thật điên rồ, gần như nực cười, - thế mà lại thường xuyên xảy ra, bà Hepzibah nghĩ, trong cái thế giới đảo lộn này, - khi có ai đó, và với bất kỳ mục đích tốt đẹp nào, chạy đến giúp, chắc chắn họ sẽ đứng về bên mạnh nhất! Sức mạnh và sai trái kết hợp với nhau, như thanh nam châm, tạo ra sức hút không thể cưỡng lại. Đó sẽ là thẩm phán Pyncheon, - một con người xuất sắc trong mắt công chúng, địa vị cao quý và giàu có, một nhà hảo tâm, một thành viên của nghị viện và nhà thờ, và kết giao mật thiết với bất cứ cái gì có danh tiếng tốt, – vô cùng nổi bật, dưới những luồng ánh sáng có lợi này, đến mức ngay bản thân bà Hepzibah cũng không khỏi chùn lại trước kết luận của mình về tính chính trực rỗng tuếch của ông ta. Bên này là ngài thẩm phán! Bên kia là ai? Kẻ mang tội Clifford! Từng là một hiện tượng! Giờ đây được láng máng nhớ đến như một tên xấu xa!
Tuy nhiên, bất kể ý thức được thẩm phán Pyncheon sẽ lôi kéo mọi sự giúp đỡ về mình, bà Hepzibah vẫn không quen hành động độc lập, một lời khuyên nhỏ nhất cũng sẽ khiến bà thay đổi phương thức. Phoebe bé nhỏ ắt sẽ làm sáng tỏ toàn bộ tình cảnh, nếu không phải bằng bất kỳ lời góp ý hữu ích nào, thì chỉ cần sự rực rỡ ấm áp trong tính cách cô bé là đủ. Bà Hepzibah chợt nghĩ đến người nghệ sĩ nhiếp ảnh. Trẻ tuổi và vô danh, một kẻ phiêu lưu lang bạt, bà đã cảm nhận được một nội lực trong Holgrave có thể biến anh thành người chiến thắng trong một cơn khủng hoảng. Với ý nghĩ này trong đầu, bà kéo then cài một cánh cửa, giăng kín mạng nhện mà lâu nay không dùng đến, nhưng nó đã là phương tiện kết nối trước kia giữa nơi ở của bà trong ngôi nhà với đầu hồi mà nhà nhiếp ảnh lang thang hiện dùng làm nơi ở tạm. Cậu ta không có ở đó. Một quyển sách, đặt úp mặt xuống bàn, một cuộn bản thảo, một trang giấy viết dở, một tờ báo, vài món đồ nghề, nhiều tấm ảnh bị loại bỏ, đem lại một ấn tượng như thể cậu ta vừa ở đây. Nhưng vào tầm này, bà Hepzibah có thể đoán được, nhà nhiếp ảnh đang ở những hội trường của cậu ta. Với một cơn tò mò đột xuất, lóe lên giữa những suy nghĩ nặng nề, bà nhìn vào một trong những tấm ảnh bỏ đi, và thấy thẩm phán Pyncheon đang cau có nhìn lại mình. Khắc tinh đang nhìn thẳng vào bà. Bà quay trở ra, từ bỏ cuộc tìm kiếm vô ích, với nỗi thất vọng. Suốt những năm ẩn dật, chưa bao giờ bà biết đến cảm giác cô đơn như hiện giờ. Cứ như ngôi nhà nằm giữa một hoang mạc, hoặc, bằng một câu thần chú nào đấy, bị biến thành vô hình với những người sống xung quanh, hoặc đi qua bên cạnh nó, khiến cho bất cứ rủi ro, tai nạn, hoặc tội ác nào có thể xảy ra bên trong nó đều không được cứu giúp. Trong sự kiêu hãnh đau khổ và đầy thương tích, bà đã dành cả đời tách mình khỏi bạn bè; bà đã ương bướng gạt bỏ sự hỗ trợ mà Chúa đã quy định cho các con chiên của mình phải cần đến từ nhau; và bây giờ bà bị trừng phạt, khi Clifford và bà sẽ dễ dàng trở thành những nạn nhân trong tay kẻ thù là họ hàng của mình.
Quay lại cửa sổ vòm, bà ngước mắt lên trời, - bà Hepzibah cau có, đáng thương, mắt kèm nhèm! và ráng sức gửi một lời cầu nguyện qua những tầng mây xám dày đặc. Những lớp mây đó đã tụ lại, như tượng trưng cho một khối to lớn, chán chường của phiền muộn, nghi ngờ, hoang mang, và sự dửng dưng lạnh lẽo của con người, ngăn giữa trái đất và những miền tốt đẹp hơn. Niềm tin của bà quá yếu ớt và lời cầu nguyện quá nặng nề để bay lên. Nó rơi trở lại trái tim bà, như một tảng chì. Nó khiến bà tin chắc rằng Chúa sẽ không can thiệp vào những sai phạm nhỏ nhặt này của một cá nhân đối với đồng loại, cũng không có bất cứ sự an ủi nào cho những đau đớn vụn vặt của một linh hồn cô độc; mà chỉ ban công lý, hạnh phúc, trong một trường rộng lớn như ánh mặt trời, bao phủ một nửa trái đất cùng lúc. Sự rộng lớn ấy vô nghĩa. Nhưng bà Hepzibah không nhận ra rằng, giống như một tia nắng ấm rọi vào mỗi ô cửa sổ của ngôi nhà tranh, sự quan tâm và thương xót của Chúa đối với mọi nhu cầu tuyệt vọng cũng vậy.
Cuối cùng, không tìm ra lý do nào khác để trì hoãn sự tra tấn mà bà sắp gây ra cho Clifford, - sự miễn cưỡng vốn là nguyên nhân thực sự khiến bà lảng vảng ở cửa sổ, việc đi tìm nhà nhiếp ảnh, kể cả lời cầu nguyện chết yểu của bà, - cũng sợ phải nghe thấy giọng nói lạnh lùng của thẩm phán Pyncheon dưới nhà, trách mắng bà lề mề, - bà nhấc từng bước rón rén, cái bóng phụ nữ hình dáng nhợt nhạt, tiều tụy, ủ rũ, với đôi chân gần như tê liệt, chậm chạp đi đến cửa phòng anh trai, và gõ nhẹ!
Không có lời đáp.
Sao thế nhỉ? Bàn tay bà, run run với mục đích co quắp điều khiển nó, đã gõ quá yếu vào cánh cửa khiến âm thanh khó có thể lọt vào bên trong. Bà gõ lần nữa. Vẫn không có tiếng trả lời! Cũng không lạ. Bà đã gõ bằng toàn lực của sự chấn động trong tim, mà bằng một từ tính vô hình nào đó, đã kết nối nỗi sợ hãi của bà với tiếng gọi. Clifford sẽ trở mình trên gối, và kéo chăn trùm kín đầu, như một đứa trẻ giật mình giữa đêm khuya. Bà gõ lần thứ ba, ba tiếng đều đặn, nhẹ nhàng, nhưng rõ rệt, mang ý nghĩa bên trong; vì, nếu điều chỉnh nó bằng nghệ thuật cảnh báo, bàn tay không thể không chơi giai điệu của tiếng lòng chúng ta lên mặt gỗ vô tri.
Clifford không trả lời.
“Clifford! Anh à!” Bà Hepzibah nói. “Em vào được không?”
Im lặng.
Bà Hepzibah gọi tên ông thêm hai ba lần nữa, không có kết quả; cho đến khi, nghĩ giấc ngủ của anh trai sâu đến bất thường, bà mở cửa bước vào, và thấy căn phòng trống. Làm sao ông có thể ra ngoài, và khi nào, mà bà không hay biết? Lẽ nào bất chấp ngày mưa bão, và mệt mỏi với cảnh tù túng trong nhà mà ông đã tự mình ra vườn theo thông lệ, và giờ đang run rẩy dưới cái mái ảm đạm của chòi hóng mát? Bà vội vã mở một cửa sổ, thò cái đầu quấn khăn và nửa thân mình gầy gò ra ngoài, tìm kiếm khắp khu vườn bằng hết khả năng của đôi mắt kèm nhèm. Bà có thể thấy bên trong chòi hóng mát, và băng ghế tròn của nó, ẩm ướt vì nước nhỏ xuống từ trên mái. Nó không có người. Clifford không ở đó, trừ phi ông đã náu mình (trong giây lát bà Hepzibah nghĩ đến khả năng ấy) trong cái vòm lớn rậm rạp ướt nước, nơi những dây bí bò lộn xộn lên cái khung gỗ cũ, dựa nghiêng vào hàng rào. Song điều này là không thể, ông không ở đó, vì trong lúc bà Hepzibah đang nhìn, một con mèo già lạ hoắc lẻn từ trong ấy ra, và đi ngang qua vườn. Hai lần nó dừng lại hít hít không khí, rồi đổi hướng tới cửa sổ phòng khách. Liệu chỉ là do bộ dạng lén lút rình mò đặc trưng của giống loài, hay con mèo này đang có trò quỷ nào trong đầu, người phụ nữ già, dù đang đầy lo âu, vẫn cảm nhận được sự thôi thúc muốn đuổi con vật đi, liền ném xuống một thanh chống cửa sổ. Con mèo ngẩng lên nhìn bà, như một tên trộm hoặc tên sát nhân bị phát giác, và giây tiếp theo bỏ chạy. Không còn sinh vật sống nào khác ở trong vườn. Con gà trống và gia đình nó hoặc là không hề rời chuồng, chán nản bởi cơn mưa không dứt, hoặc đã làm điều khôn ngoan nhất tiếp theo, là trở về chuồng đúng lúc. Bà Hepzibah đóng cửa sổ lại.
Nhưng Clifford ở đâu? Có thể nào, biết được sự hiện diện của khắc tinh của mình, ông đã lén đi xuống cầu thang, trong lúc thẩm phán và bà Hepzibah đứng nói chuyện trong cửa hàng, khẽ khàng mở những cái chốt của cánh cửa bên ngoài, và trốn ra đường? Với ý nghĩ ấy, bà dường như trông thấy gương mặt xanh xám, nhăn nheo, song vẫn như trẻ thơ của ông, trong bộ trang phục lỗi thời ông mặc ở nhà - một hình dáng mà người ta đôi khi vẫn tưởng tượng bản thân như thế, với ánh mắt của cả thế gian đổ vào mình, trong một giấc mơ khó chịu. Hình ảnh này của người anh trai bất hạnh của bà sẽ lang thang khắp thị trấn, thu hút mọi ánh mắt, sự ngạc nhiên và ghê tởm của thiên hạ, như một hồn ma, càng thêm rùng mình vì hiện hình giữa trưa. Bị chế nhạo bởi đám đồng trẻ hơn không biết ông, - chịu sự khinh miệt và phẫn nộ của mấy ông già, những người có thể nhận ra những nét quen thuộc của ông! Trở thành trò chơi của những thằng bé, những đứa, khi đủ lớn để chạy khắp đường phố, không còn lòng kính trọng đối với những gì đẹp đẽ và thiêng liêng, cũng không thương xót cho những cái đáng buồn, - không cảm nhận được nỗi khổ của thần thánh trong hình hài con người, - như thể quỷ Satan là cha của bọn chúng! Bị trêu chọc bởi những lời giễu nhại của bọn chúng, những tiếng la hét của bọn chúng, và tiếng cười tàn nhẫn, - bị lăng nhục bởi rác rưởi đám đông ném vào, - hoặc, rất có thể, quá ngạc nhiên trước tình trạng lạ lùng của ông, sẽ không ai làm ông đau đớn vượt quá một câu nói vô tâm, - chuyện gì sẽ xảy ra nếu Clifford bộc phát hành động bất thường mà chắc chắn sẽ được hiểu là bệnh điên? Như thế âm mưu tàn ác của thẩm phán Pyncheon sẽ dễ dàng thực hiện!
Rồi bà Hepzibah sực nhớ thị trấn gần như đã bị nước bao vây. Những cầu tàu vươn ra giữa bến cảng, và, trong thời tiết khắc nghiệt này, không còn đám đông thường ngày gồm nhà buôn, dân lao động, hành khách đi tàu; mỗi cầu tàu là một nơi vắng vẻ, với những con tàu bỏ neo ở mũi và đuôi, nằm suốt dọc chiều dài mù sương của nó. Những bước chân vô định của anh trai bà liệu có lạc đến đó, và trong một khoảnh khắc, ông củi nhìn con nước sâu đen ngòm, không biết ông có tự nhủ rằng đây là nơi trú ẩn chắc chắn trong tầm tay mình, và chỉ cần một bước chân, hoặc chao người, ông có thể vĩnh viễn thoát khỏi tay người anh họ? Ôi, sự cám dỗ! Biến nỗi đau khổ nặng nề thành sự che chở! Để chìm xuống, mang theo sức nặng của nó, và không bao giờ nổi lên nữa!
Sự khủng khiếp của suy nghĩ cuối cùng này quá sức chịu đựng của bà Hepzibah. Lúc này kể cả Jaffrey Pyncheon cũng phải giúp bà! Bà hấp tấp xuống cầu thang, miệng hét.
“Clifford biến mất rồi!” Bà kêu lên. “Tôi không tìm thấy anh trai mình. Giúp tôi với, Jaffrey Pyncheon! Anh ấy sẽ gặp chuyện chẳng lành!”
Bà mở toang cánh cửa phòng khách. Nhưng, với bóng những cành cây che ngang cửa sổ, và trần nhà ám khói đen, và những bức tường ốp gỗ sồi tối màu, không có quá nhiều ánh sáng ban ngày để đôi mắt kém của bà Hepzibah có thể phân biệt chính xác hình dáng của thẩm phán. Song bà chắc chắn đã nhìn thấy ông ta ngồi trên chiếc ghế bành cổ xưa, gần giữa phòng, mặt ngoảnh nhìn ra cửa sổ. Rất im lìm là trạng thái của những người như thẩm phán Pyncheon, có lẽ ông ta đã không nhúc nhích lấy một lần từ lúc bà đi, nhưng, trong vẻ điềm tĩnh cứng nhắc của ông ta vẫn giữ nguyên tư thế lúc ngồi xuống.
“Tôi nói với anh đấy, Jaffrey,” bà Hepzibah nóng nảy nói, quay khỏi cánh cửa phòng khách để tìm những căn phòng khác, “anh trai tôi không có trong phòng! Anh phải giúp tôi tìm anh ấy!”
Nhưng thẩm phán Pyncheon không phải là người để bản thân bật dậy khỏi một chiếc ghế êm ái với vẻ vội vã không phù hợp với phẩm giá hay vai vế của ông ta, bởi tiếng hét của một phụ nữ kích động. Song, xét đến mối quan tâm của ông ta trong chuyện này, lẽ ra ông ta đã động đậy hoạt bát hơn một chút.
“Anh có nghe thấy không, Jaffrey Pyncheon?” Bà Hepzibah la lớn, khi bà lại đến cửa phòng khách, sau cuộc tìm kiếm vô hiệu ở những chỗ khác. “Clifford biến mất rồi.”
Đúng lúc này, trên ngưỡng cửa phòng khách, từ bên trong hiện ra, chính là Clifford! Mặt ông nhợt nhạt kinh khủng, trắng bệch như người chết, đến nỗi, qua ánh nhập nhoạng của hành lang, bà Hepzibah có thể nhìn rõ những đường nét của mặt ông, như thể có một ngọn đèn rọi vào chúng. Vẻ sống động và bừng bừng của chúng dường như cũng đủ để soi sáng chúng, đó là vẻ mặt khinh bỉ và chế nhạo, trùng khớp với cảm xúc biểu lộ qua cử chỉ của ông. Khi Clifford đứng ở ngưỡng cửa, lưng xoay nghiêng lại, ông chỉ tay vào trong phòng khách, và xua chầm chậm như thể ông ắt sẽ gọi, không chỉ mỗi bà Hepzibah, mà cả thế giới, đến xem một cảnh lố bịch không tưởng tượng nổi. Hành động này, rất trái thời điểm và vô lý, - và đi cùng với một ánh mắt vui sướng điên cuồng, - khiến bà Hepzibah sợ rằng chuyến viếng thăm nguy hại của ông anh họ đã làm cho anh trai bà hóa điên hoàn toàn. Mặt khác bà cũng không thể giải thích sự im lặng của thẩm phán ngoài cho rằng ông ta đang quan sát một cách quỷ quyệt, trong lúc Clifford càng lúc càng lơi lỏng tâm trí.
“Im lặng đi, Clifford!” Em gái ông thì thào, giơ tay lên để cảnh báo. “Ôi, vì Chúa, im lặng đi!”
“Cứ để ông ta im lặng! Ông ta còn làm gì tốt hơn thế!” Clifford đáp, hân hoan chỉ vào căn phòng ông vừa rời khỏi. “Còn chúng ta, Hepzibah, giờ chúng ta có thể nhảy múa rồi! Chúng ta có thể ca hát, cười đùa, làm mọi thứ mình muốn! Áp lực không còn nữa, Hepzibah ạ! Nó đã biến mất khỏi thế giới mệt mỏi già nua này, và chúng ta có thể vui vẻ như cô bé Phoebe.”
Và, hòa theo lời nói, ông bắt đầu cười lớn, vẫn chỉ tay vào đối tượng vô hình trong phòng khách. Bà Hepzibah chợt có linh cảm về một điều khủng khiếp. Bà chen qua Clifford, và biến mất vào trong phòng, nhưng gần như ngay lập tức đã tro ra, với một tiếng kêu nghẹn trong cổ họng. Nhìn vào anh trai với ánh mắt dò hỏi hoảng sợ, bà thấy ông run lẩy bẩy từ đầu đến chân, song, giữa cơn kích động hoặc sợ hãi này, vẫn lấp lánh niềm vui cuồng nhiệt.
“Lạy Chúa! Chúng ta rồi sẽ ra sao?” Bà Hepzibah thở dốc.
“Đi thôi!” Clifford nói bằng giọng quả quyết, không giống ông thường ngày. “Chúng ta đây quá lâu rồi! Hãy nhường lại ngôi nhà cũ cho anh họ Jaffrey! Ông ta sẽ chăm sóc nó chu đáo!”
Bây giờ bà Hepzibah mới để ý thấy ông Clifford mặc một chiếc áo choàng, - một trang phục từ ngày xưa, — ông thường khoác nó sù sụ trong mấy ngày mưa bão này. Ông dùng tay ra hiệu, đến giờ bà mới hiểu, rằng họ nên cùng nhau rời khỏi ngôi nhà. Có những giây phút hỗn loạn, mờ mịt, hoặc say xỉn, trong cuộc đời những con người thiếu bản lĩnh, những giây phút thử thách, trong đó dũng khí quyết định tất cả, - những người này, nếu để mặc họ một mình, sẽ loạng choạng mò mẫm, hoặc đi theo bất cứ chỉ dẫn nào xuất hiện trước mắt, kể cả chỉ dẫn của một đứa trẻ. Bất kể phi lý hay điên rồ, đó là một mục tiêu trời cho. Bà Hepzibah đã đạt đến tình trạng này. Không quen với hành động hay chịu trách nhiệm, - kinh hãi trước điều mình đã thấy, và không dám hỏi, hoặc gần như tưởng tượng, nó đã xảy ra như thế nào, - sợ cái tai ương dường như mãi đeo bám anh trai mình, - mụ mẫm bởi không khí tăm tối, ngột ngạt đầy đe dọa tràn ngập ngôi nhà với mùi người chết, và bị xóa sạch mọi suy nghĩ mạch lạc, bà chấp nhận không một lời thắc mắc, và ngay tắp lự, ý định mà Clifford diễn tả. Về phần mình, bà giống như người trong mơ, trong khi ý chí luôn ngủ. Ông Clifford, bình thường thiếu tố chất này, đã tìm thấy nó trong sự căng thẳng của cơn khủng hoảng.
“Sao cô chần chừ thể?” Ông sẵng giọng. “Mặc áo choàng và đội mũ trùm vào, hoặc bất cứ thứ gì cô muốn mặc! Không thành vấn đề; cô không thể trông xinh đẹp hay rực rõ, Hepzibah ạ! Lấy ví tiền và đi thôi!”
Bà Hepzibah răm rắp nghe lệnh, như thể không có việc gì khác để làm hay nghĩ đến. Thật ra bà bắt đầu tự hỏi tại sao mình không tỉnh giấc, và tinh thần bà cứ quay cuồng vật lộn đến không thể chịu nổi mà vẫn không thoát ra, và khiến bà có cảm giác toàn bộ những chuyện này đều không thật. Tất nhiên là nó không thật; không có cái ngày mưa gió ảm đạm này; thẩm phán Pyncheon không hề nói chuyện với bà. Clifford không cười, chỉ tay, ra hiệu cho bà đi cùng ông, nhưng bà cứ vật vã - những người ngủ một mình thường thế – với một nỗi khổ sở vô lý, trong một giấc mơ buổi sáng.
“Bây giờ - bây giờ - chắc chắn mình sẽ thức dậy!” Bà Hepzibah nghĩ, trong lúc lăng xăng sửa soạn những thứ lặt vặt. “Mình không chịu nổi nữa, mình phải thức dậy ngay!”
Nhưng khoảnh khắc tỉnh giấc ấy không đến! Nó không đến kể cả khi họ sắp rời khỏi nhà, Clifford nhón chân đi tới cửa phòng khách, và cúi chào từ biệt người trong phòng.
“Trông bộ dạng ông ta lúc này thật lố bịch!” Ông thì thầm với bà Hepzibah. “Đúng vào lúc ông ta tưởng mình đã khống chế tôi hoàn toàn! Đi thôi, nhanh lên! Kẻo ông ta sẽ tỉnh dậy, như Gian Despair đuổi theo Christian và Hopeful[13], và tóm được chúng ta mất!”
Họ bước ra đường, Clifford chỉ cho bà Hepzibah một thứ trên một cây cột ở cửa trước. Nó là những chữ viết tắt của tên ông, nét chữ phóng khoáng, ông đã khắc lên đó khi còn nhỏ. Hai anh em ra đi, bỏ lại thẩm phán Pyncheon ngồi một mình trong ngôi nhà cũ của tổ tiên; nặng nề và trì độn khiến chúng ta chỉ có thể so sánh với một cơn ác mộng đã chết, tàn lụi trong chất độc của chính nó, để lại cái xác mềm oặt trên ngực kẻ đau khổ, chờ bị vứt bỏ!