Nhiều ngày đi qua trên ngôi nhà bảy đầu hồi, nặng nề và ủ rũ. Thực ra (cả đất trời u ám không phải do một sự kiện không may là Phoebe ra đi), một cơn bão phía đông đã đổ vào, và không biết mệt mỏi thực hiện nhiệm vụ làm cho cái mái đen và những bức tường của ngôi nhà cũ nom ảm đạm hơn bao giờ hết. Bên ngoài còn ảm đạm không bằng một nửa so với bên trong. Ông Clifford bị cắt đứt mọi nguồn vui ít ỏi của mình. Phoebe không ở đây, ánh nắng cũng không rọi xuống sàn. Khu vườn, với những lối đi bùn lầy, và vòm lá lạnh lẽo nhỏ nước của chòi hóng mát, là một hình ảnh nhìn thấy đã rùng mình. Không thứ gì khởi sắc trong bầu không khí lạnh giá, ẩm ướt, khắc nghiệt, theo vào cùng với những cơn gió biển ào ào mặn hơi nước, trừ rêu dọc những khe rãnh của mái nhà bằng ván, và đám cỏ dại mọc tràn lan, vừa mới qua cơn hạn hán, trong góc giữa hai đầu hồi phía trước.
Về phần bà Hepzibah, bà không chỉ bị ám ảnh bởi gió đông, mà cá nhân bà còn là một đại diện cho tình trạng thời tiết xám xịt và sưng sỉa này. Bản thân Gió Đông, cũng khắc nghiệt và phiền muộn, trong chiếc váy lụa đen bạc màu, với một cái khăn xếp là những vòng mây trên đầu. Khách đến cửa hàng giảm hẳn, vì một câu chuyện lan truyền rằng bà làm chua bia và những mặt hàng dễ hỏng khác, qua việc cau có với chúng. Có lẽ đúng là mọi người có lý do để phàn nàn về thái độ của bà. Nhưng đối với Clifford bà không cáu kỉnh cũng không gay gắt, cũng không cảm thấy bớt nồng ấm hơn mọi khi, nếu như điều đó có thể chạm tới ông. Tuy nhiên những nỗ lực vô ích của bà làm cho quý ông lớn tuổi tội nghiệp đó tê liệt. Bà có thể chẳng làm gì hơn là ngồi lặng lẽ trong một góc phòng, khi những cành du ướt nhẹp, quét qua những ô cửa sổ nhỏ, tạo ra ánh chạng vạng giữa ban trưa, được bà Hepzibah làm tối thêm bằng vẻ sầu não của mình. Đó không phải lỗi của bà Hepzibah. Tất cả mọi thứ - kể cả những bàn ghế cũ, đã biết đến kiểu thời tiết như thế ba hoặc bốn lần trong cuộc đời chúng giống như bà nom ẩm ướt và lạnh giá như thể hiện tại là trải nghiệm tồi tệ nhất của chúng. Bức tranh viên đại tá người Thanh giáo run rẩy trên tường. Ngôi nhà cũng run rẩy, từ mọi gác mái của bảy đầu hồi xuống tới lò sưởi gian bếp lớn, thứ tượng trưng cho trái tim của ngôi nhà, bởi lẽ, dù được xây để tạo ra hơi ấm, nhưng giờ đây nó trơ trọi và trống rỗng.
Bà Hepzibah cố gắng làm phấn chấn không khí bằng một ngọn lửa trong gian sảnh. Nhưng con quỷ bão tố canh chừng bên trên, và, mỗi khi một ngọn lửa được nhóm lên, liền đẩy luồng khói ngược trở lại, lấy hơi thở của chính nó làm nghẹt cái cổ họng đầy bồ hóng của ống khói. Tuy thế, suốt bốn ngày mưa bão, ông Clifford quấn mình trong một chiếc áo choàng cũ, và ngồi trong chiếc ghế quen thuộc. Sang buổi sáng thứ năm, khi được gọi xuống ăn sáng, ông chỉ đáp lại bằng một tiếng lẩm bẩm đau khổ, thể hiện một quyết tâm không rời khỏi giường. Em gái ông không tìm cách thay đổi ý định của ông. Thực ra, vì rất yêu ông, bà Hepzibah khó có thể tiếp tục đảm đương cái nhiệm vụ khốn khổ - không thực hiện nổi bởi những năng lực cứng nhắc của bà – là tìm cách tiêu khiển cho một tâm hồn nhạy cảm, nhưng đã bị hủy hoại, khó tính và khó chiều, mà không ép buộc hoặc tự nguyện. Chí ít nó cũng là một dạng tuyệt vọng có ích, vì hôm nay bà có thể ngồi run rẩy một mình, không phải tiếp tục chịu đựng một nỗi đau mới, và sự day dứt ăn năn vô lý, trước hình ảnh chập chờn của người đồng cảnh ngộ với bà.
Nhưng ông Clifford, dù không xuống dưới nhà, rốt cuộc cũng tự nhúc nhắc đi tìm thú vui. Trong buổi sáng, bà Hepzibah nghe thấy một nốt nhạc, mà bà biết là phát ra từ cây đàn harpsichord của Alice Pyncheon (vì không có nhạc cụ du dương nào khác trong ngôi nhà bảy đầu hồi). Bà biết rằng Clifford thời trẻ có kiến thức âm nhạc, với một trình độ chơi nhạc đáng kể. Tuy nhiên thật khó hình dung ông vẫn giữ được một tài năng vốn nhất thiết cần tập luyện hàng ngày, qua một giai điệu ngọt ngào, bay bổng, và tao nhã, dù hết sức bị thương, bất ngờ lọt vào tai bà. Cũng không kém phần kỳ lạ khi nhạc cụ im lìm bấy lâu vẫn có thể ngân lên du dương như thế. Bà Hepzibah bất giác nghĩ đến những giai điệu ma quái, báo trước cái chết trong gia đình, được cho là của Alice trong truyền thuyết. Nhưng có lẽ nó là một lực tác động khác chứ không phải những ngón tay vô hình, vì sau vài nốt nhạc, những dây đàn dường như đứt phựt do độ rung của chính chúng, và tiếng nhạc tắt ngấm.
Nhưng một âm thanh thô ráp hơn tiếp nối tiếng nhạc bí ẩn; cái ngày mưa bão cũng không nhất thiết trôi qua mà không có một sự kiện thích đáng để đầu độc, với bà Hepzibah và ông Clifford, không khí êm dịu nhất từng mang những con chim ruồi theo về. Những vang ngân cuối cùng trong màn trình diễn của Alice Pyncheon (hoặc của ông Clifford, nếu chúng ta buộc phải coi nó là của ông) bị xua tan bởi một nghịch âm thô tục không kém tiếng chuông của cửa hàng. Một tiếng chân kéo lê trên ngưỡng cửa, rồi đến những bước nện thình thịch trên sàn nhà. Bà Hepzibah chậm trễ ít phút vì phải quấn mình trong chiếc khăn san bạc màu, tấm áo giáp bảo vệ của bà trong trận chiến bốn mươi năm chống lại gió đông. Tuy nhiên, một âm thanh đặc trưng, - không phải tiếng họ hay đằng hắng, mà là một dạng co thắt ùng ục và dội lại trong lồng ngực của ai đó - khiến bà phải hấp tấp chạy ra, với một vẻ vừa nhút nhát vừa dữ tợn quá phổ biến đối với những người phụ nữ rơi vào cảnh hiểm nghèo. Một vài người, trong những dịp như vậy, trông cũng kinh khủng như bà Hepzibah cau có tội nghiệp của chúng ta. Nhưng vị khách đã khẽ khàng đóng cánh cửa cửa hàng lại, dựng cây ô vào quầy, và xoay bộ mặt nhân từ được soạn sẵn ra, nghênh tiếp vẻ cảnh giác và giận dữ do sự xuất hiện của ông ta gây nên. Linh cảm không đánh lừa bà Hepzibah. Đó không là ai khác ngoài thẩm phán Pyncheon, người – sau những cố gắng không mang lại kết quả ở cửa chính - giờ đã đột nhập được vào cửa hàng.
“Cô khỏe không, em họ Hepzibah? - và thời tiết khắc nghiệt này ảnh hưởng thế nào đến Clifford tội nghiệp của chúng ta?” Thẩm phán mở đầu, và dường như thật kỳ lạ khi cơn bão chẳng dịu đi, dù chỉ một chút, bởi nụ cười tràn đầy tình thân ái của ông ta. “Tôi chẳng thể yên tâm khi không ghé qua để hỏi xem, một lần nữa, tôi có thể làm gì giúp cậu ta, hoặc cô, được thoải mái?”
“Anh không làm được gì hết,” bà Hepzibah nói, ráng sức kiểm soát cơn xúc động. “Tôi tận tâm chăm lo cho Clifford. Anh ấy có mọi sự thoải mái mà tình trạng của anh ấy cho phép.”
“Nhưng cho tôi có ý kiến, em họ thân mến,” thẩm phán phản bác, “cô đã phạm sai lầm, - bằng tất cả sự yêu quý và ân cần, không nghi ngờ gì, và với những ý định tốt đẹp nhất, - tuy nhiên cô phạm sai lầm trong việc cô lập cậu ấy. Sao lại cách ly cậu ấy khỏi mọi sự trìu mến và quan tâm như thể? Clifford, trời ơi! Đã quá ư cô độc. Bây giờ hãy cho cậu ấy tiếp xúc với xã hội, - tức là xã hội của họ hàng và bạn bè cũ. Chẳng hạn như để cho tôi gặp Clifford, tôi đảm bảo cuộc trò chuyện sẽ có tác dụng tốt.”
“Anh không thể gặp anh ấy,” bà Hepzibah trả lời. “Clifford đã ở trên giường từ hôm qua.”
“Cái gì! Làm sao! Cậu ấy ốm à?” Thẩm phán Pyncheon kêu lên, tưởng chừng sắp nổi giận, vì vẻ cau có của ông già Thanh giáo trên bức tường bên kia sa sầm khi ông ta lên tiếng. “Thế thì tôi phải vào gặp cậu ấy! Nhỏ cậu ấy chết thì sao?”
“Anh ấy không gặp nguy cơ sắp chết!” bà Hepzibah nói, – và bổ sung, với sự cay đắng mà bà không thể kìm nén thêm nữa, “không đâu, trừ phi anh ấy bị hành hạ đến chết, bởi cùng một kẻ xưa kia đã cố gắng làm điều đó!”
“Em họ Hepzibah,” thẩm phán nói, với một điệu bộ tha thiết ấn tượng, còn tăng lên thành cảm động muốn khóc khi ông ta tiếp tục, “lẽ nào cô không nhận thấy sự ác nghiệt kéo dài, bền bỉ nhằm vào tôi này, vì một phần việc mà nghĩa vụ và lương tâm, luật pháp và hiểm nguy đến tính mạng buộc tôi phải thực hiện, thật bất công, thật tàn nhẫn, thật trái giáo lý không? Tôi đã làm điều gì, để tổn hại đến Clifford, mà có thể bỏ qua không? Làm sao cô có thể, - nếu như, vì nỗi đau không bao giờ chấm dứt của cô, và của tôi, cô biết tôi đã làm gì, - biểu hiện sự xúc động lớn hơn thế? Và cô nghĩ chuyện đó không khiến tôi day dứt sao? - Và nó không để lại nỗi đau trong ngực tôi, từ ngày hôm đó đến bây giờ, giữa sự sung túc mà Chúa đã ban tặng tôi sao? - Hoặc giờ đây tôi không vui mừng, khi người ta cho rằng để hợp với sự công bằng và thịnh vượng của xã hội thì người họ hàng thân yêu của chúng ta, người bạn thuở nhỏ của chúng ta, con người tinh tế và đẹp đẽ này, - quá bất hạnh, chúng ta đều thấy, và tránh nói ra, đầy tội lỗi, - Clifford của chúng ta, cuối cùng nên được trả về với cuộc sống, và những niềm vui có thể có của nó? À, cô không mấy hiểu tôi, em họ Hepzibah! Cô không mấy hiểu trái tim này! Nó đang đập dồn trước ý nghĩ được gặp cậu ấy! Có những sinh vật không phải con người (trừ cô, - và cả tôi nữa) đã rơi rất nhiều nước mắt cho tai ương của Clifford. Cô đang nhìn thấy một trong số chúng đấy. Không ai mong muốn cậu ấy được hạnh phúc hơn thế đâu! Hãy tin tôi, Hepzibah! - Hãy tin tôi, em họ! - Hãy tin người mà cô đã đối xử như kẻ thù của cô và Clifford! – Hãy tin Jaffrey Pyncheon, và cô sẽ thấy anh ấy chân thành, từ đáy lòng!”
“Nhân danh Chúa,” bà Hepzibah kêu lên, chỉ càng thêm phẫn nộ bởi lòng nhân ái tràn bờ của một kẻ hà khắc, “lạy Chúa, anh đang sỉ nhục Người, và tôi gần như nghi ngờ quyền năng của Người, vì Người nghe anh tuôn ra bao lời giả dối mà không khóa lưỡi anh lại, ngừng lại đi, tôi xin anh đấy, cái sự giả đò yêu mến ghê tởm anh dành cho nạn nhân của mình! Anh ghét anh ấy! Hãy nói thẳng ra, như một người đàn ông! Ngay lúc này đây, anh đang ấp ủ trong tim một âm mưu đen tối chống lại anh ấy! Nói ra đi, ngay lập tức! Hoặc, nếu anh hy vọng xúc tiến nó hoàn hảo hơn, hãy che giấu nó đến khi anh có thể ăn mừng thành công của nó!
Nhưng đừng bao giờ nhắc lại tình yêu của anh dành cho anh trai tôi. Tôi không chịu nổi đâu! Nó sẽ khiến tôi vượt qua khuôn phép phụ nữ! Nó sẽ khiến tôi phát điên! Nhịn đi! Đừng nói lời nào nữa! Không tôi sẽ tống cổ anh đấy!”
Lần đầu tiên trong đời, cơn thịnh nộ đã cho bà Hepzibah sự can đảm. Bà đã lên tiếng. Nhưng, rốt cuộc, liệu mối nghi ngờ không thể lay chuyển đối với sự chính trực của thẩm phán Pyncheon, và lời từ chối quyết liệt yêu cầu được đứng trong nhóm yêu thương đồng cảm của ông ta, - chúng bắt nguồn từ sự hiểu biết về bản chất của ông ta, hay chỉ là kết quả của định kiến cực đoan của một phụ nữ, không có căn cứ?
Thẩm phán Pyncheon, chắc chắn là một nhân vật đáng kính kiệt xuất. Nhà thờ biết điều đó; nhà nước biết điều đó. Không một ai phủ nhận. Trong phạm vi rộng lớn những người biết ông ta, với tư cách cá nhân hay công chúng, ắt không người nào trừ bà Hepzibah, và một số người bí ẩn xem thường luật pháp, như nghệ sĩ nhiếp ảnh, và có thể là vài đối thủ chính trị có ý định phản đối yêu cầu một vị trí cao quý và danh giá trong xã hội của ông ta. Có lẽ thẩm phán Pyncheon (chúng ta phải đánh giá ông ta công bằng hơn) cũng không băn khoăn nghi ngờ nhiều về việc danh tiếng đáng ghen tị của ông ta xứng hợp với công trạng của ông ta. Vì thế lương tâm ông ta thường được xem là nhân chứng đáng tin nhất cho sự chính trực của một người đàn ông, - lương tâm của ông ta, trừ phi có thể chiếm khoảng năm phút trong hai tư giờ, hoặc thỉnh thoảng là một ngày đen đủi nào đó trong cả năm, - lương tâm ông ta sản sinh ra một lời chứng nhận phù hợp với giọng điệu tán dương của xã hội. Tuy nhiên, vì bằng chứng này có vẻ mạnh, chúng ta nên cân nhắc khi bắt lương tâm của mình khẳng định chắc chắn, rằng thẩm phán Pyncheon và xã hội đồng thuận đúng, còn bà Hepzibah với thành kiến cô độc của mình sai. Khuất mắt con người, - bị lãng quên bởi chính ông ta, hoặc bị chôn vùi quá sâu dưới một cây cột chạm trổ và trang trí bằng những thành tích hào nhoáng mà cuộc sống thường ngày của ông ta không thể ghi nhận, - có thể ẩn núp một thứ xấu xa và khó coi. Không, chúng ta gần như có thể mạo muội nói rằng một tội lỗi hằng ngày có khả năng được ông ta thực hiện, thường xuyên tái diễn, lúc nào cũng đỏ tươi, như vết máu thần kỳ của một tên sát nhân, mà hắn ít khi và cũng chẳng thiết để ý tới.
Những người có ý chí mạnh, tính cách quyết liệt, độ nhạy cảm thấp, rất dễ mắc phải những sai lầm kiểu này. Họ là những người cực kỳ coi trọng hình thức. Phạm vi hoạt động của họ nằm giữa những sự kiện có bề ngoài phi thường của cuộc sống. Họ rất giỏi nắm bắt, sắp xếp, và chiếm đoạt cho riêng mình, những thứ phù phiếm hoành tráng, nặng trịch, chắc chắn như vàng, bất động sản sinh lợi, văn phòng tín thác, uy danh trong xã hội. Với những chất liệu này, và với những nghĩa cử tốt đẹp, thực hiện dưới con mắt công chúng, một cá nhân của tầng lớp ấy xây nên một tòa nhà nguy nga, mà theo quan điểm của những người khác, chủ yếu là quan điểm của chính chủ, là đại diện cho tính cách ông ta, hoặc chính là ông ta. Hãy nhìn xem, một tòa cung điện! Với những gian sảnh lộng lẫy và những dãy phòng rộng rãi lát đá cẩm thạch đắt tiền; những cửa sổ cao từ sàn đến trần, đón ánh nắng qua những tấm kính trong suốt nhất; những mái đua mạ vàng, những trần nhà sơn vẽ tráng lệ; và một mái vòm cao vút từ mặt sàn trung tâm có thể nhìn qua nó lên bầu trời, như thể không có vật cản che khuất - bao trùm tất cả. Còn biểu tượng nào đẹp đẽ và cao quý hơn khiến bất kỳ ai cũng khao khát dùng nó để đánh bóng bản thân? Nhưng trong một góc thấp và tối nào đó, - một gian buồng hẹp ở tầng hầm, đóng kín khóa chặt, và chìa khóa bị quẳng đi, hoặc bên dưới sàn đá cẩm thạch, trong một vũng nước đọng, với hoa văn khảm đá tinh xảo bên trên, - một xác chết có thể nằm đó, đang thối rữa, và tỏa âm khí khắp tòa cung điện! Người ở đó sẽ không nhận thấy, vì nó là hơi thở hàng ngày của ông ta bấy lâu nay! Khách khứa đến chơi cũng không, vì họ chỉ ngửi thấy mùi giàu sang được chủ nhà cần mẫn rải khắp cung điện, và sự tâng bốc bọn họ mang đến, hoan hỉ đốt lên trước mặt ông ta! Thỉnh thoảng may ra có một nhà tiên tri xuất hiện, trước con mắt thông tuệ của người đó, khiến cả tòa nhà tan biến vào hư không, chỉ còn lại cái góc khuất, với gian buồng khóa, với mạng nhện giăng kín cánh cửa bị bỏ quên, hoặc cái hố chết chóc bên dưới sàn, và cái xác thối rữa bên trong. Ở đây, chúng ta sẽ tìm kiếm biểu tượng thực sự của con người ông ta, và thành tích để đời mang mấy phần sự thật ông ta lập được. Và, bên dưới sự hào nhoáng của một tòa cung điện bằng đá cẩm thạch, vũng nước đọng ấy, hôi tanh bẩn thỉu, và có lẽ loang vết máu, - phía trên sự kinh tởm đó, có thể ông ta đang cầu nguyện, mà không nhớ đến nó, - là linh hồn của người đàn ông khốn khổ này!
Để ghép nhận xét này vào thẩm phán Pyncheon chặt chẽ hơn. Chúng ta có thể nói rằng (không hề chụp mũ cho một người khả kính như ông ta) lượng rác rưởi mỹ miều trong đời ông ta đủ nhiều để che đậy và làm tê liệt một lương tâm linh động và xảo quyệt hơn mức ngài thẩm phán từng đương đầu. Sự công tâm trên ghế phán xử của ông ta; tinh thần phục vụ chí công vô tư của ông ta trong những quyền hạn sau đó; sự tận tâm với đảng phái, và sự kiên định cứng rắn giúp ông ta triệt để tuân theo các nguyên tắc của nó, hoặc, trong bất kỳ trường hợp nào, theo kịp những cuộc vận động quy củ của nó; sự nhiệt thành của ông ta ở cương vị chủ tịch một hội Thánh Kinh; sự liêm khiết không thể nghi ngờ của ông ta khi giữ một quỹ dành cho quả phụ và trẻ mồ côi; phúc lợi ông ta dành cho nghề làm vườn, bằng việc sản xuất hai loại lê rất được ưa chuộng và cho nông nghiệp, nhờ vào giống bò đực nổi tiếng của nhà Pyncheon; đạo đức trong sạch của ông ta, trong nhiều năm qua; sự nghiêm khắc mà với nó ông ta đã phản đối, và cuối cùng là từ mặt đứa con trai ăn chơi phóng đãng, không chịu tha thứ cho đến tận giờ phút cuối cùng của cuộc đời cậu ta; những bài kinh cầu của ông ta vào sáng sớm và chiều hôm, và lời cầu nguyện trước bữa ăn; những nỗ lực của ông ta trong việc thúc đẩy bài trừ rượu; ông ta hạn chế bản thân, từ sau cuộc tấn công gần đây nhất của bệnh gút, với năm ly rượu sherry lâu năm vào ban ngày; sắc trắng như tuyết của chiếc áo vải linen của ông ta, độ bóng lộn của đôi giày, vẻ đẹp đẽ của cây ba toong bịt vàng, kiểu dáng vuông vức và rộng rãi của chiếc áo khoác, và độ mịn của chất vải, và, nói tóm lại, sự chỉn chu trong trang phục và phụ kiện của ông ta; sự để ý chu đáo của ông ta đối với công chúng, trên đường phố, bằng một cái cúi chào, một động tác nhấc mũ, một cái gật đầu, và một cái vẫy tay, dành cho tất cả người quen, dù giàu hay nghèo; nụ cười tươi tắn bao dung ông ta luôn mang để thắp sáng nhân gian, - chẳng tìm nổi chỗ nào để phết những vệt tối trong một bức chân dung dựng lên từ những chi tiết như vậy. Đó là gương mặt ông ta quan sát trong gương. Cuộc sống được sắp xếp một cách đáng ngưỡng mộ ấy là cái ông ta để ý hàng ngày. Rồi có thể nào ông ta không tự nhận thành quả của nó, và nói với bản thân và dân chúng, “Nhìn kìa, thẩm phán Pyncheon đấy”?
Và bỏ qua việc, rất nhiều năm trước đây, thời tuổi trẻ liều lĩnh, ông ta đã có một hành động sai trái, - hoặc, ngay cả bây giờ, hoàn cảnh bắt buộc khiến ông ta thỉnh thoảng làm một việc đáng ngờ giữa hàng ngàn việc đáng khen, hoặc chí ít là không thể chê trách, - người ta có đánh giá ngài thẩm phán qua một việc làm cần thiết, và đã bị lãng quên phần nào, và để nó che mờ mặt tốt đẹp của cả một cuộc đời? Việc xấu xa ấy ăn thua gì, trọng lượng bằng móng tay của nó làm sao đấu lại bao nhiêu việc không xấu xa chất lên đĩa cân bên kia! Hệ thống cân bằng này là thứ ưa thích đối với hội anh em của thẩm phán Pyncheon. Một con người cứng rắn lạnh lùng, rơi vào tình thế không may, ít khi hoặc không bao giờ nhìn vào nội tâm, và kiên quyết không nghĩ đến hình ảnh mình có ý nghĩa thế nào trong mắt công chúng, khó có thể biết được bản chất của chính họ, trừ phi mất hết của cải và danh tiếng. Ốm đau không phải lúc nào cũng giúp họ làm được điều đó, cái chết cũng vậy!
Nhưng chúng ta hãy quay lại với thẩm phán Pyncheon hiện đang đứng trước cơn thịnh nộ dữ dội của bà Hepzibah. Không dự tính trước, trong sự kinh ngạc và hoảng sợ, lần đầu tiên bà đã trút ra nỗi căm giận tích tụ ba mươi năm đối với người họ hàng này.
Cho đến lúc bấy giờ ngài thẩm phán vẫn mang vẻ mặt nhẫn nhịn hòa nhã, - sự phản đối nghiêm nghị và gần như lịch thiệp đối với sự hung dữ không thích hợp của em họ ông ta, – sẵn sàng tha thứ và bỏ qua những lời thù nghịch của bà. Nhưng khi những lời ấy đã thốt ra không thể thay đổi, sắc mặt ông ta đanh lại, hiện lên một vẻ uy quyền và quyết liệt; và đi cùng một sự thay đổi hết sức tự nhiên và không thể nhận thấy, thật cứ như thể con người sắt đá vẫn đứng đó từ đầu, còn con người nhã nhặn không hề xuất hiện. Hiệu ứng ấy giống như những đám mây nhạt, bồng bềnh, đột nhiên biến mất khỏi đỉnh núi đá dốc đứng, làm lộ ra vách đá trơ trơ mà người ta lập tức cảm thấy nó mới là vĩnh cửu. Bà Hepzibah gần như có một suy nghĩ điên rồ rằng đó là vị tổ tiên người Thanh giáo của bà, không phải ngài thẩm phán mà bà vừa trút hết những cay đắng trong lòng. Chưa từng có người nào bộc lộ khí chất di truyền của ông ta mạnh hơn thẩm phán Pyncheon, trong cơn kích động, bởi sự tương đồng không thể nhầm lẫn với bức tranh ở phòng trong.
“Em họ Hepzibah,” ông ta nói rất điềm tĩnh, “đến lúc kết thúc chuyện này rồi.”
“Tôi hết sức mong mỏi điều đó!” Bà trả lời. “Vậy tại sao anh còn hành hạ chúng tôi nữa làm gì? Hãy để cho Clifford và tôi được yên. Chúng tôi chỉ mong có thể!”
“Mục đích của tôi là gặp Clifford trước khi rời khỏi ngôi nhà này,” thẩm phán nói tiếp. “Đừng hành xử như một mụ điên nữa, Hepzibah! Tôi là người bạn duy nhất của cậu ta, và là một người bạn đầy quyền lực. Có bao giờ cô nghĩ rằng, - hay cô quá mù quáng nên không thấy, - nếu không có sự đồng ý của tôi, mà cả những nỗ lực, những tiếng nói, toàn bộ sức ảnh hưởng của tôi, trong chính trị, công quyền, cá nhân, thì Clifford ắt sẽ không bao giờ có được cái mà cô gọi là tự do? Cô nghĩ cậu ta được thả là một chiến thắng trước tôi à? Không phải đâu, em họ của tôi ạ, hoàn toàn không phải! Còn lâu mới có chuyện đó! Nó là sự hoàn thành một mục đích tôi đã ấp ủ từ lâu. Chính tôi đã thả tự do cho cậu ta!”
“Anh!” Bà Hepzibah nói. “Tôi không bao giờ tin! Anh ấy bị tống vào ngục là do anh; anh ấy được tự do là ý Chúa!”
“Tôi đã cho cậu ta tự do!” Thẩm phán Pyncheon khẳng định lại, vẻ hết sức bình thản. “Và giờ tôi tới đây để quyết định xem cậu ta có giữ được sự tự do của mình không. Điều đó phụ thuộc vào cậu ta. Vì mục đích này, tôi phải gặp cậu ta.”
“Không bao giờ! Nó sẽ làm anh ấy phát điên mất!” Bà Hepzibah kêu lên, nhưng với vẻ do dự rõ rệt trước ánh mắt sắc bén của thẩm phán; vì, dù chẳng mảy may tin vào những ý định tốt đẹp của ông ta, nhưng bà không biết giữa nhân nhượng và cự tuyệt cái nào đáng sợ hơn. “Và sao anh lại muốn gặp một con người khốn khổ, suy sụp, gần như chẳng còn một chút minh mẫn, và sẽ che giấu điều đó trước một con mắt không có tình yêu thương?”
“Cậu ta sẽ thấy đủ tình yêu thương trong mắt tôi, nếu điều đó là cần thiết!” Thẩm phán nói, với vẻ tự tin chắc nịch vào lòng nhân từ thế mạnh của mình. “Nhưng em họ Hepzibah ạ, lời thú nhận của cô cực kỳ hữu ích. Giờ hãy nghe đây, tôi sẽ nói thẳng lý do tôi muốn có cuộc gặp này. Khi bác Jaffrey của chúng ta qua đời, cách đây ba mươi năm, mới lộ ra rằng, - tôi không biết hoàn cảnh lúc bấy giờ có khiến cô quan tâm nhiều không, giữa những mối quan tâm đáng buồn hơn bủa vây quanh sự kiện đó, - nhưng mới lộ ra rằng tài sản hữu hình của ông kém xa mọi ước đoán. Ông được cho là giàu nứt đố đổ vách. Không ai nghi ngờ việc ông nằm trong số những người quyền lực nhất thời đó. Tuy nhiên một trong những thói lập dị của ông, - và cũng không hoàn toàn là điên rồ, - là che giấu tổng tài sản của mình bằng những khoản đầu tư từ xa và ở nước ngoài, có lẽ dưới những cái tên khác, và dưới mọi hình thức, khá giống các nhà tư bản, nhưng không cần thiết chỉ rõ ra ở đây. Theo chúc thư cuối cùng của bác Jaffrey, như cô đã biết, toàn bộ tài sản của ông để lại cho tôi, với một ngoại lệ duy nhất là quyền lợi trọn đời của cô trong ngôi nhà cũ này của gia đình, và một dải đất vẫn gắn liền với nó.”
“Và anh đang tìm cách cướp nó khỏi chúng tôi?” Bà Hepzibah hỏi, không nén nổi sự khinh miệt chua chát. “Đây là cái giá để anh ngưng hành hạ Clifford tội nghiệp?”
“Tất nhiên không phải, em họ thân mến ạ!” Ngài thẩm phán đáp, mỉm cười độ lượng. “Mà ngược lại, cô phải công bằng với tôi chứ, tôi luôn bày tỏ sẵn sàng trợ cấp gấp đôi hoặc gấp ba cho cô, bất cứ khi nào cô quyết định chấp nhận lòng tốt chân thật của người anh họ này. Không, không Nhưng ý chính của vấn đề nằm ở đây. Trong khối tài sàn kếch xù không thể nghi ngờ của bác tôi, như tôi vừa nói, chưa đến một nửa - không, chưa đến một phần ba, tôi dám chắc - được phát hiện sau khi ông chết. Giờ đây tôi có những lý do rất xác đáng để tin rằng anh trai Clifford của cô có thể cho tôi manh mối để tìm ra số còn lại.”
“Clifford! Clifford biết về một nguồn của cải bí mật? Clifford có khả năng làm cho anh giàu có?” Người phụ nữ già kêu lên, cảm thấy chuyện này như một trò đùa. “Không thể nào! Anh tự đánh lừa bản thân rồi! Việc này thật tức cười!”
“Nó chắc chắn như tôi đang đứng đây vậy!” Thẩm phán Pyncheon nói, gõ cây ba toong đầu bịt vàng xuống sàn, đồng thời giậm chân, như thể hiện sức thuyết phục mạnh mẽ hơn bằng việc nhấn mạnh sự hiện hữu của mình. “Chính Clifford đã nói với tôi!”
“Không, không!” Bà Hepzibah thốt lên ngờ vực. “Anh đang mơ đấy, anh họ Jaffrey.”
“Tôi không thuộc hạng người mơ mộng,” ngài thẩm phán ôn tồn nói. “Vài tháng trước khi bác tôi mất, Clifford đã khoe khoang với tôi về một khoản tài sản bí mật cực kỳ lớn. Mục đích của cậu ta là châm chọc tôi, kích thích sự tò mò của tôi. Tôi thừa biết. Nhưng, khi nhớ lại từng chi tiết của cuộc trò chuyện ấy, tôi tin chắc rằng có vài phần sự thật trong lời cậu ta. Clifford, vào lúc này, nếu cậu ta chọn, - và cậu ta phải chọn! - có thể cho tôi biết chỗ tìm bảng kê khai, những tài liệu, bằng chứng, bất kể hình thức nào chúng tồn tại, về tổng số tài sản mất tích của bác Jaffrey. Cậu ta có bí mật. Lời khoe khoang của cậu ta không phải nói suông. Nó có sự thẳng thắn, nhấn mạnh, rõ ràng, cho thấy một ý nghĩa chắc chắn trong thái độ bí ẩn của cậu ta.”
“Nhưng Clifford che giấu nó lâu như thế nhằm mục đích gì?” Bà Hepzibah hỏi.
“Đó là một trong những thôi thúc xấu xa từ bản chất sa ngã của chúng ta,” ngài thẩm phán nói, ngước mắt lên. “Cậu ta xem tôi như kẻ thù. Cậu ta coi tôi là nguyên nhân khiến cậu ta chịu nỗi ô nhục tột cùng, cận kề cái chết, bị hủy hoại hoàn toàn. Bởi vậy, khó có khả năng cậu ta tình nguyện cung cấp thông tin, từ trong ngục, giúp tôi leo cao hơn trên nấc thang phát đạt. Nhưng giờ là lúc cậu ta phải tiết lộ bí mật của mình.”
“Nếu anh ấy từ chối thì sao?” Bà Hepzibah hỏi. “Hoặc, - như tôi tin chắc, - nếu anh ấy không biết gì về số tài sản ấy?” “Em họ thân mến của tôi,” thẩm phán Pyncheon nói, với một sự bình thản đáng sợ hơn bất cứ hành động bạo lực nào, “kể từ lúc anh trai cô trở về, tôi đã đề phòng (ở cương vị chính đáng của người họ hàng gần và người bảo vệ tự nhiên đối với một cá nhân ở vào hoàn cảnh ấy) cho theo dõi cách cư xử và những thói quen của cậu ta một cách thường xuyên và sát sao. Hàng xóm láng giềng của cô là những nhân chứng cho bất cứ chuyện gì diễn ra trong khu vườn. Tên hàng thịt, hàng bánh, hàng cá, một vài khách hàng của cô, và những bà già tọc mạch, đã kể cho tôi nhiều bí mật trong nhà cô. Một quy mô còn lớn hơn - trong đó có tôi - có thể xác nhận những hành vi ngông cuồng của cậu ta ở cửa sổ vòm. Hàng nghìn người đã chứng kiến cậu ta, cách đây một hoặc hai tuần, suýt gieo mình xuống dưới đường. Từ tất cả những chứng cứ này, tôi nhận thấy - một cách miễn cưỡng, và đau lòng - những rủi ro của Clifford đã tác động lớn đến trí tuệ vốn chưa bao giờ mạnh mẽ của cậu ta, khiến cậu ta không thể giữ được sự an toàn tuyệt đối. Giải pháp, cô nên biết, - và việc thực hiện nó phụ thuộc vào quyết định tôi sắp đưa ra, - giải pháp là giam cậu ta lại, có lẽ là đến hết đời, trong một nhà thương điên dành cho những người gặp vấn đề về trí óc như cậu ta.”
“Anh không thể có ý định đó!” Bà Hepzibah hét lên.
“Liệu cậu em họ Clifford của tôi,” thẩm phán Pyncheon ung dung tiếp tục, “với ác ý đơn thuần, và lòng căm ghét đối với một người có lợi ích vốn gắn liền với cậu ta, một cảm xúc mãnh liệt như thế, thường trực như bất cứ cảm xúc nào khác, chỉ dấu của bệnh tâm thần, - liệu cậu ta có từ chối cung cấp thông tin vô cùng quan trọng với tôi, và là thông tin cậu ta chắc chắn nắm giữ, tôi sẽ coi nó là chút bằng chứng cần thiết giải đáp suy nghĩ của tôi về bệnh điên của cậu ta. Và, một khi chắc chắn về đường hướng được lương tâm mách bảo, cô biết tôi quá mà, Hepzibah, tôi sẽ theo đuổi mối nghi ngờ cho đến cùng.”
“Ôi Jaffrey, anh họ Jaffrey,” bà Hepzibah buồn bã nói, “chính anh mới có bệnh trong đầu, không phải Clifford! Anh đã quên rằng có một người phụ nữ là mẹ anh! - rằng anh có anh chị em, có những đứa con của anh! - hoặc giữa người với người có tình cảm yêu mến, có sự thương xót, trong thế giới khốn khổ này! Nếu không, làm sao anh có thể nghĩ ra chuyện này? Anh không còn trẻ nữa, anh Jaffrey! – trung niên cũng không, mà là một ông già! Tóc trên đầu anh bạc trắng! Anh đã sống trên đời bao nhiêu năm rồi? Anh chưa đủ giàu cho quãng thời gian ít ỏi đó hay sao? Anh vẫn còn đói khát, - anh vẫn thiếu áo quần, hay một mái nhà trên đầu, - vào thời điểm gần đất xa trời này sao? Không! Nhưng với một nửa những gì anh hiện có, anh có thể tha hồ ăn ngon mặc đẹp, và xây một ngôi nhà lộng lẫy gấp đôi ngôi nhà anh đang ở, và phô trương với cả thế giới, mà vẫn để lại vô vàn của cải cho con trai độc nhất của anh, để khiến thằng bé cầu phúc vào ngày anh chết! Đã thế tại sao anh còn muốn làm điều tàn nhẫn này? - Một việc điên rồ, mà tôi không biết có nên gọi là độc ác không! Trời ơi, anh Jaffrey, cái tính keo kiệt và tham lam này đã chảy trong máu chúng ta suốt hai trăm năm nay. Anh đang làm gấp đôi, dưới một hình thức khác, những gì cụ tổ của anh đã làm, và truyền cho con cháu anh lời nguyền kế thừa từ ông cụ!”
“Nói năng cho cẩn thận, Hepzibah, vì Chúa!” Ngài thẩm phán lớn tiếng, với sự nóng nảy tự nhiên đối với một người bình thường, khi nghe thấy bất cứ điều gì quá ư lố bịch như ở trên, trong một cuộc tranh luận về chuyện làm ăn. “Tôi đã cho cô biết quyết tâm của tôi. Tôi không định thay đổi. Clifford phải nôn ra bí mật của cậu ta, hoặc nhận lấy hậu quả. Và làm cho cậu ta quyết định nhanh lên, vì tôi có nhiều sự kiện phải tham dự sáng nay, và một cuộc hẹn ăn tối quan trọng với mấy người bạn chính trị.”
“Clifford không có bí mật nào cả!” Bà Hepzibah nói. “Và Chúa sẽ không để cho anh làm điều anh trù tính!” “Chúng ta hãy chờ xem,” thẩm phán thản nhiên nói.
“Trong thời gian đó, hãy chọn hoặc cô sẽ gọi Clifford, và để cho chuyện này được giải quyết một cách thân tình bằng một cuộc nói chuyện giữa hai người họ hàng, hoặc khiến tôi phải dùng tới những biện pháp cứng rắn hơn, mà tôi sẽ rất vui nếu tránh được. Trách nhiệm hoàn toàn thuộc về cô.”
“Anh mạnh hơn tôi,” bà Hepzibah nói, sau một phút cân nhắc, “và trong sức mạnh của anh không có lòng trắc ẩn! Clifford hiện giờ không bị điên, nhưng cuộc nói chuyện mà anh đòi bằng được rất có thể khiến anh ấy phát điên. Tuy nhiên, do biết rõ anh, tôi tin cách tốt nhất là để anh tự xem xét tính mơ hồ của việc anh ấy có một bí mật đáng giá. Tôi sẽ gọi Clifford. Hãy nương tay với anh ấy! Hãy nhân từ hơn mức trái tim anh ra lệnh cho anh! Vì Chúa đang nhìn anh day, Jaffrey Pyncheon!”
Ngài thẩm phán theo người em họ rời cửa hàng, nơi diễn ra cuộc trò chuyện ở trên, vào trong phòng khách, và gieo mình xuống một chiếc ghế bành lớn của tổ tiên. Nhiều vị Pyncheon đời trước đã tìm đến nghỉ ngơi trong vòng tay rộng rãi của nó; những đứa trẻ hồng hào, sau những trận chơi đùa; những chàng thanh niên, mơ mộng chuyện yêu đương; những người đàn ông trưởng thành, mệt mỏi với các mối bận tâm; những ông già, ốm yếu vì mùa đông, họ đã mơ màng, và lim dim mắt, và chìm vào một giấc ngủ sâu hơn. Đó là một truyền thống lâu đời, mặc dù là một truyền thống đáng ngờ, khi đây chính là chiếc ghế vị tổ tiên đầu tiên trong số những cha ông ở New England của ngài thẩm phán đã ngồi – chân dung ông ta vẫn treo trên tường - để đón tiếp đám đông khách khứa ưu tú bằng sự câm lặng của một người chết. Từ giờ phút định mệnh ấy cho đến hiện tại, có lẽ, - dù chúng ta không biết bí mật trong lòng ông ta, nhưng có lẽ không có người đàn ông nào mệt mỏi hơn và đáng buồn hơn vị thẩm phán Pyncheon này từng ngồi vào chiếc ghế. Người mà chúng ta vừa mới thấy rất lạnh lùng và cương quyết. Chắc hẳn vì lẽ đó ông ta đã trả cái giá không hề nhỏ để củng cố linh hồn mình bằng sắt thép. Sự điềm tĩnh như vậy là một nỗ lực lớn hơn vẻ hung dữ của những người đàn ông yếu đuối hơn. Và ông ta vẫn còn một nhiệm vụ nặng nề phải làm. Có chút gì khó khăn không - một chút tinh thần cần chuẩn bị cho một thời khắc, và nghỉ ngơi sau một thời khắc khác - khi bây giờ, sau ba mươi năm, ông ta phải đối mặt với một người họ hàng bước ra từ một ngôi mộ sống, và moi một bí mật từ người đó, bằng không lại đưa người đó vào ngôi mộ sống một lần nữa?
“Anh vừa nói gì à?” Bà Hepzibah hỏi, nhìn vào từ ngưỡng cửa phòng khách, vì bà ngõ rằng ngài thẩm phán đã thốt ra một âm thanh mà bà dịch thành sự mềm lòng bất chợt. “Tôi nghĩ anh đã gọi tôi lại.”
“Không, không,” thẩm phán Pyncheon cộc cằn đáp với một cái cau mặt, trong khi trán ông ta gần như chuyển màu tím đen, trong bóng tối của căn phòng. “Tôi gọi cô lại làm gì? Thời gian rất quý giá! Đem Clifford đến đây cho tôi!” Ngài thẩm phán đã lấy đồng hồ ra khỏi túi áo khoác và cầm trên tay, đo thời gian phát sinh trước khi Clifford xuất hiện.