Holgrave, chìm đắm trong câu chuyện của mình với vẻ sôi nổi và say sưa đối với một tác giả trẻ, đã khiến các tình tiết trở nên sinh động nhờ phong cách dẫn dắt và minh họa ấy. Giờ anh mới nhận thấy một sự mơ màng (khác với sự mơ màng mà người đọc cảm thấy mình mắc phải) đã trùm lên các giác quan của nữ thính giả. Chắc hẳn nó là tác động của những điệu bộ huyền bí anh dùng để diễn tả thuật thôi miên của người thợ mộc cho Phoebe hiểu. Với hai hàng mi rũ xuống, - lúc này lập tức ngước lên, rồi lại cụp xuống như chịu một sức nặng, - cô hơi ngả người về phía anh, và dường như thở theo nhịp thở của anh. Holgrave nhìn cô đăm đăm, khi anh cuộn bản thảo lại, và nhận ra giai đoạn đầu tiên của trạng thái tinh thần kỳ lạ mà, như chính anh đã nói với Phoebe, anh sở hữu năng lực gây ra nó. Một tấm màn bắt đầu phủ quanh cô, trong đó cô chỉ nhìn thấy một mình anh, và sống trong những ý nghĩ và cảm xúc của anh. Ánh mắt anh đặt vào cô gái bất giác trở nên chăm chú. Trong thái độ của anh có ý thức về quyền lực, mang lại cho dáng dấp trẻ trung của anh một vẻ cao ngạo thoát ly khỏi thân xác. Hiển nhiên rằng, chỉ cần một cái vẫy tay và vận dụng ý chí, anh có thể làm chủ linh hồn vẫn còn tự do và trong trắng của Phoebe: anh có thể xác lập một tầm ảnh hưởng lên đứa trẻ tốt bụng, thuần khiết, và đơn giản này, một cách nguy hiểm và tai hại như ảnh hưởng mà người thợ mộc trong câu chuyện đã thực hiện đối với Alice bất hạnh.
Với tính khí như của Holgrave, suy nghĩ đi liền hành động, không gì hấp dẫn bằng cơ hội có được quyền kiểm soát tinh thần con người; cũng không ý nghĩ nào quyến rũ một người đàn ông trẻ hơn việc trở thành người điều khiển số phận của một cô gái. Vì thế, chúng ta hãy - bất kể những thiếu sót về tư cách hay nền giáo dục là gì, và bỏ qua sự khinh thường của anh đối với tín ngưỡng và thể chế, dành cho người nghệ sĩ nhiếp ảnh lòng kính trọng cao và hiếm hoi với tư cách cá nhân. Chúng ta cũng công nhận sự chính trực của anh sau khi biết chuyện, vì anh đã ngăn mình không giữ chặt sợi dây liên kết có thể giúp anh chi phối Phoebe vĩnh viễn.
Anh đưa tay lên khoát nhẹ.
“Cô thực sự làm tôi mất mặt đấy, cô Phoebe thân mến ạ!” Anh thốt lên, mỉm cười trêu chọc. “Câu chuyện của tôi rõ ràng sẽ không đăng được trên Godey hay Graham! Nội nghĩ tới việc cô ngủ gật trước cái mà tôi hy vọng các nhà phê bình báo chí sẽ ca ngợi nào là kiệt xuất, mạnh mẽ, sáng tạo, lâm lý, hư cấu độc đáo! Bản thảo này đáng bị đem đi thắp đèn, mà nếu nó thấm đẫm sự nhàm chán của tôi thì cũng chẳng thể bắt lửa!”
“Tôi ngủ gật! Sao anh có thể nói thế?” Phoebe đáp lại, không hay biết về mối nguy hiểm cô đã trải qua như một đứa bé trước bờ vực thẳm. “Không không! Tôi thấy tôi rất tập trung, và cho dù tôi không nhớ rõ từng chi tiết, song tôi cảm nhận được rất nhiều phiền muộn và đau khổ, - như vậy, không nghi ngờ gì nữa, câu chuyện sẽ chứng tỏ là cực kỳ cuốn hút.”
Lúc này mặt trời đã xuống thấp, và nhuộm những đám mây ở tít trên cao bằng những màu sáng mà sau hoàng hôn một lúc mới trông thấy, khi không gian đã bớt độ rực rỡ. Mặt trăng, đã lên trên đỉnh đầu, và kín đáo hòa mình vào sắc xanh da trời, - như một kẻ mị dân tham vọng che giấu mục đích của mình bằng cách khoác lên một sắc màu đa cảm phổ biến, - giờ cũng bắt đầu tỏa sáng, một hình bầu dục lớn, ở lưng chừng trời. Những luồng sáng bạc này đủ mạnh để thay đổi đặc tính của ánh ngày sót lại. Chúng làm dịu và tô điểm cho ngôi nhà cũ, dù bóng tối đã len sâu hơn vào các góc đầu hồi, nằm nép dưới tầng hai nhô ra, và trong cánh cửa mở hé. Mỗi lúc khu vườn lại trở nên sinh động hơn; những cây ăn trái, cây bụi, và khóm hoa đan xen với sắc tối. Những nét tầm thường - mà vào giữa trưa dường như tích tụ từ cuộc sống bẩn thỉu suốt một thế kỷ - lúc này được biến hóa bởi một phép thuật lãng mạn. Hàng trăm năm huyền bí đang thì thầm giữa những chiếc lá, bất cứ khi nào gió biển thổi vào làm chúng lao xao. Ánh trăng lung linh qua vòm lá bao phủ chòi hóng mát, đổ ánh trắng bạc xuống nền nhà tối, chiếc bàn, và băng ghế hình tròn, liên tục chuyển động và đùa giỡn, tùy theo những khe hở và kẽ nứt ương ngạnh giữa những cành lá chấp nhận hay chặn đứng ánh sáng.
Không khí mát rượi, sau cả một ngày oi bức, khiến chiều tối mùa hè có thể trở nên huyền ảo khi những hạt sương li ti và ánh trăng lỏng, với hơi lạnh bên trong, đổ xuống từ một chiếc bình bằng bạc. Lác đác vài giọt trong vắt ấy rơi xuống trái tim con người, và trả lại cho nó sự trẻ trung, cùng cảm xúc của tuổi trẻ vĩnh cửu. Người nghệ sĩ tình cờ nhận được sự hồi sinh đó. Nó làm anh cảm thấy - thứ đôi khi anh gần như đã quên, do dấn thân quá sớm vào cuộc vật lộn khắc nghiệt giữa con người với con người - mình vẫn còn trẻ trung làm sao.
“Hình như tôi chưa bao giờ được ngắm một buổi chiều tối đẹp như thế,” anh nhận xét, “và chưa bao giờ cảm nhận điều gì giống niềm hạnh phúc đến thế trong giây phút này. Xét cho cùng, thế giới chúng ta đang sống thật tốt lành! Tốt lành và tươi đẹp! Nó cũng thật trẻ trung, không có chỗ nào thực sự mục rữa và tàn úa! Ngôi nhà cũ này chẳng hạn, đôi khi nó làm tôi ngạt thở bởi mùi gỗ mục của nó! Và khu vườn này, nơi thứ đất đen luôn bám vào lưỡi cuốc của tôi, như thể tôi là một người trông coi nghĩa địa suốt ngày đào huyệt đắp mộ! Liệu tôi có thể giữ cái cảm xúc làng làng này, khu vườn ngày nào cũng có đất lành, với mùi đất mới thoảng trong những quả đậu và bí; và ngôi nhà! - Nó sẽ giống như ngôi nhà trong vườn Địa Đàng, nở đầy những bông hồng sớm nhất mà Chúa từng tạo ra. Ánh trăng, và sự đa cảm trong trái tim con người trước nó, là những nhà cải cách và đổi mới vĩ đại nhất. Và tôi nghĩ tất cả sự cải cách và đổi mới khác cuối cùng cũng chẳng bằng được ánh trăng.”
“Tôi đã từng hạnh phúc hơn bây giờ, ít nhất là vui vẻ hơn nhiều,” Phoebe tư lự nói. “Song tôi cảm nhận được sự quyến rũ rất lớn trong ánh trăng này, và tôi thích ngắm nhìn ngày hôm nay, dẫu mệt nhọc, chần chừ muốn ở lại sau, và ghét bị gọi là ngày hôm trôi qua quá sớm. Trước giờ tôi chưa từng để ý nhiều đến ánh trăng. Tôi tự hỏi tối nay có gì đẹp trong đó?”
“Và cô chưa bao giờ cảm thấy nó?” Người nghệ sĩ hỏi, nhìn chăm chú cô gái qua ánh tranh tối tranh sáng.
“Phải,” Phoebe đáp, “và cuộc sống không giống vậy, giờ tôi đã cảm thấy điều đó. Cứ như tôi đã nhìn tất cả mọi thứ, cho đến nay, trong ánh sáng ban ngày, hoặc trong ánh sáng đỏ của một ngọn lửa vui vẻ, bập bùng và lan tỏa khắp căn phòng. A, tôi thật tội nghiệp!” Cô thêm vào, với một tiếng cười có phần sầu não. “Tôi sẽ không bao giờ được vui vẻ như trước khi tôi gặp cô Hepzibah và chú Clifford. Tôi đã già hơn nhiều, ở cái tuổi ít ỏi này. Già hơn, và tôi hy vọng là sáng suốt hơn, và - không hẳn là buồn bã hơn, - nhưng chắc chắn không còn nhiều sự linh lợi trong tinh thần tôi! Tôi đã cho họ ánh mặt trời của mình, và đã vui vẻ khi làm thế; nhưng, tôi không thể vừa cho đi vừa giữ lại. Họ được chào đón, không phải chịu đựng!”
“Cô không mất thứ gì đáng để giữ cả, Phoebe, cùng không thể nào giữ được nó,” Holgrave nói sau một khoảng lặng. “Tuổi trẻ đầu tiên của chúng ta không có giá trị, vì chúng ta không bao giờ hay biết về nó cho đến khi nó đã đi qua. Nhưng đôi khi - tôi ngờ là luôn luôn, trừ phi có người nào quá ư đen đủi – tuổi trẻ thứ hai sẽ đến, tuôn trào từ niềm vui của trái tim đang yêu; hoặc nó có thể đến vào một lễ hội lớn trong đời, nếu có lễ hội nào như thế. Sự than khóc (như cô đang làm) cho tuổi trẻ đầu tiên, vụng dại, hời hợt đã qua, và niềm hạnh phúc tột cùng khi tuổi trẻ trở lại, – sâu sắc hơn và phong phú hơn cái ta đã mất, - là cần thiết cho sự phát triển tâm hồn. Trong một số trường hợp, hai trạng thái đến gần như cùng lúc, và trộn lẫn nỗi buồn với niềm vui sướng thành một cảm xúc bí ẩn.”
“Tôi khó mà nghĩ tôi hiểu được anh,” Phoebe nói.
“Bình thường thôi,” Holgrave đáp, mỉm cười, “vì tôi vừa kể cho cô một bí mật mà tôi vừa mới biết trước khi thấy mình nói ra. Tuy nhiên hãy ghi nhớ nó, và khi nào sự thật trở nên sáng tỏ với cô, thì hãy nghĩ đến đêm trăng này.”
“Bây giờ chỉ toàn là ánh trăng thôi, trừ một dải mỏng màu đỏ sẫm ở phía tây, giữa những ngôi nhà,” Phoebe nhận xét. “Tôi phải vào trong đây. Cô Hepzibah tính toán không được nhanh, và sẽ làm mình đau đầu với mớ sổ sách trong ngày, trừ phi tôi giúp cô.”
Nhưng Holgrave giữ cô lại thêm chốc lát.
“Bà Hepzibah nói với tôi là mấy ngày nữa cô sẽ về quê.”
“Vâng, nhưng chỉ một thời gian ngắn thôi,” Phoebe trả lời, “vì tôi xem nơi này là ngôi nhà hiện tại của mình. Tôi về để thu xếp mấy việc, và chào tạm biệt mẹ tôi và bạn bè tôi. Thật vui khi sống ở một nơi ta được cần đến và có ích, và tôi nghĩ tôi có cảm giác mãn nguyện được là chính mình ở đây.”
“Chắc chắn là vậy, và còn hơn cô tưởng,” người nghệ sĩ nói. “Sức khỏe, sự ấm cúng, và cuộc sống trong ngôi nhà này hiện hữu trong con người cô. Những phúc lành ấy đã đến cùng với cô, và sẽ biến mất khi cô rời ngưỡng cửa. Bà Hepzibah, do cô lập mình khỏi xã hội, đánh mất mọi mối liên hệ với nó, và, trên thực tế, đã chết; dù rằng bà kích động bản thân cho giống như đang sống, và đứng sau quầy hàng, làm khổ thế giới với một vẻ cau có khó chịu hết sức. Ông chú Clifford đáng thương của cô cũng là một người chết và được chôn từ lâu, được ông thống đốc và hội đồng thực hiện một phép chiêu hồn kỳ diệu. Tôi sẽ không thấy lạ nếu ông có vỡ vụn vào một buổi sáng nào đó, sau khi cô đi, và không còn lại gì ngoài một đám bụi. Bà Hepzibah, dù thế nào đi nữa, cũng sẽ đánh mất sự linh hoạt ít ỏi bà có. Cả hai người tồn tại nhờ có cô.”
“Tôi nên thấy có lỗi khi nghĩ thế,” Phoebe nghiêm trang đáp. “Nhưng đúng là những khả năng nhỏ bé của tôi chính là cái họ cần, và tôi thực sự quan tâm đến hạnh phúc của họ, - một kiểu đa cảm kỳ cục của một bà mẹ, - mà tôi mong anh sẽ không cười nhạo! Và xin nói thật với anh, anh Holgrave, nhiều khi tôi bối rối không biết là anh đang mong họ khỏe mạnh hay ốm đau nữa.”
“Chắc chắn là tôi quan tâm đến quý bà lỗi thời bần cùng ấy, và quý ông tàn tạ tan nát ấy, - một người tình yểu mệnh của cái đẹp. Họ cũng là những đứa trẻ già nua đáng yêu và bất lực. Nhưng cô không nhận thức được rằng trái tim tôi hoàn toàn khác với trái tim cô. Đối với hai người họ, tôi không có thôi thúc giúp đỡ hay cản trở, mà chỉ muốn quan sát, phân tích, lý giải các các vấn đề cho chính mình, và tìm hiểu cái biến cố mà, gần hai trăm năm rồi, vẫn kéo dài lê thê trên mặt đất nơi tôi và cô đang đứng. Nếu được chứng kiến kết cục, e rằng tôi chẳng thấy mãn nguyện, dù chúng diễn biến ra sao. Tôi tin chắc rằng kết cục đang gần kề. Nhưng, cho dù Thượng đế cử cô đến đây để giúp đỡ, và chỉ cử tôi đến làm một người quan sát được ưu tiên và thích hợp, tôi cam đoan sẽ giúp những con người bất hạnh này trong khả năng của mình!”
“Tôi ước gì anh nói đơn giản hơn,” Phoebe kêu lên, bối rối và bất bình, “và trên hết, có cảm xúc giống một người Công giáo và một người bình thường hơn! Làm sao có thể trông thấy những con người đau khổ mà không mong muốn, hơn bất cứ điều gì khác, được giúp đỡ và an ủi họ? Anh nói cứ như thể ngôi nhà này là một rạp hát; còn anh dường như xem những bất hạnh của cô Hepzibah và chú Clifford, và của những thế hệ trước họ, như một vở bi kịch, giống như tôi đã xem người ta diễn trong sảnh một khách sạn vùng quê, có điều vở kịch hiện tại có vẻ chỉ diễn cho mình anh thưởng thức. Tôi không thích vậy. Vở kịch khiến những người trình diễn phải đánh đổi quá nhiều, và khán giả quá ư lạnh lùng.”
“Cô thật khắt khe,” Holgrave nói, miễn cưỡng nhận ra tâm trạng của mình được miêu tả có phần đúng.
“Và còn,” Phoebe tiếp tục, “anh bảo với tôi kết cục đang gần kề nghĩa là thế nào? Anh biết có rắc rối mới nào đang treo trên đầu những người họ hàng của tôi sao? Nếu vậy hãy cho tôi biết ngay đi, tôi sẽ không rời bỏ họ!”
“Tha thứ cho tôi, Phoebe!” Người nghệ sĩ nhiếp ảnh nói, đưa tay ra, và cô gái bối rối đặt tay mình vào. “Phải thú nhận tôi là một kẻ có phần huyền bí. Khuynh hướng ấy có sẵn trong máu tôi, cùng với năng lực thôi miên, thứ có thể sẽ đưa tôi lên đồi Gallows, vào thời kỳ thịnh vượng của phù thủy. Tin tôi đi, nếu tôi thực sự biết được bất cứ bí mật nào mà tiết lộ sẽ có lợi cho những người bạn của cô, - cũng là những người bạn của tôi, - cô sẽ được biết trước khi chúng ta chia tay. Nhưng tôi không có bí mật nào như thế.”
“Anh đang giữ lại điều gì đó!” Phoebe nói.
“Không gì cả, - không có bí mật nào trừ bí mật của bản thân tôi,” Holgrave đáp. “Tôi có thể nhận thấy rằng thẩm phán Pyncheon vẫn để mắt đến ông Clifford, người mà lão ta đã góp phần lớn cho sự hủy hoại. Tuy nhiên động cơ và ý đồ của lão là một bí ẩn đối với tôi. Lão là con người quyết đoán và tàn nhẫn, với tính cách của một kẻ điều tra chính cống; và nếu lão có bất cứ mục đích nào cần đạt được bằng cách hành hạ Clifford, tôi tin chắc lão sẽ vặn rời từng khớp xương của ông ấy, để có được cái lão cần. Nhưng, giàu có và xuất chúng như lão, - bản thân đã đầy quyền lực, lại thêm sự hậu thuẫn của xã hội từ mọi phía, - thẩm phán Pyncheon có thể hy vọng hay lo sợ điều gì từ ông Clifford khờ dại, tai tiếng, lẫn cẫn nhỉ?”
“Nhưng mà,” Phoebe nôn nóng, “anh nói cứ như thể tai họa đang rình rập ấy!”
“À, đó là vì tôi là kẻ bệnh hoạn!” Người nghệ sĩ đáp. “Đầu óc tôi có một mặt méo mó, như hầu hết đầu óc mọi người, trừ đầu óc cổ. Hơn nữa, thật quá kỳ lạ khi thấy mình thân thiết với ngôi nhà Pyncheon cũ này, và ngồi trong khu vườn cũ này - (nghe kìa, giếng Maule đang rì rầm!) - đó, chỉ riêng với tình cảnh này thôi, tôi đã không khỏi cho rằng Vận Mệnh đang chuẩn bị màn thứ năm của nó cho một cái kết bi thảm.”
“Đấy!” Phoebe kêu lên với sự bực bội mới, vì cô không ưa sự bí ẩn như ánh nắng không ưa góc tối. “Anh làm tôi chẳng hiểu gì cả!”
“Vậy thì chúng ta hãy vui vẻ chia tay nhau!” Holgrave nói, siết chặt tay cô. “Hoặc, nếu không vui, hãy chia tay trước khi cô ghét tôi hoàn toàn. Cô, người yêu quý tất cả những người khác trên đời!”
“Vậy thì tạm biệt anh,” Phoebe nói thẳng thắn. “Tôi không định giận lâu đâu, và lấy làm tiếc nếu khiến anh nghĩ thế. Cô Hepzibah đứng trong chỗ tối ở khung cửa được mười lăm phút rồi! Cô nghĩ tôi đã ở quá lâu ngoài vườn ẩm ướt. Vậy, chúc anh ngủ ngon, và tạm biệt anh.”
Vào buổi sáng sau đó hai ngày, có thể trông thấy Phoebe, đội chiếc mũ bonnet bằng rơm, với một chiếc khăn choàng vắt trên cánh tay và một chiếc túi nhỏ bằng thảm khoác ở tay kia, từ biệt bà Hepzibah và ông Clifford. Cô sẽ bắt chuyến tàu tiếp theo đưa cô về làng quê của mình cách đây chừng vài dặm.
Nước mắt rưng rưng trong mắt Phoebe, nụ cười xen lẫn nuối tiếc trìu mến lấp lánh trên khóe miệng. Cô tự hỏi nó đã xảy ra như thế nào, cuộc sống trong vài tuần lễ của cô, trong ngôi nhà cũ đượm vẻ âm u này, lại khiến cô gắn bó đến thế, và dường như đã trở thành một trung tâm ký ức quan trọng hơn mọi ký ức đã qua trước đó. Làm thế nào mà bà Hepzibah - khắc khổ, lặng lẽ, và không phản ứng trước sự nhiệt thành của cô - lại giành được nhiều tình cảm của cô đến thế? Và ông Clifford, - sớm tàn lụi với bí ẩn về tội ác đáng sợ bao trùm lên ông, và không khí ngục tù vẫn lẩn quất trong hơi thở của ông, - làm sao ông lại biến thành một đứa trẻ thuần phác nhất, người khiến Phoebe cảm thấy mình phải trông nom, và, như hiện tại, là vị thần bảo hộ những lúc ông khinh suất! Tất cả mọi thứ, vào khoảnh khắc từ biệt, hiện rõ trước mắt cô. Nhìn đi đâu, đặt tay lên đâu, chỗ đó cũng đáp lại tâm thức của cô, như thể có một trái tim ẩm ướt ở trong nó.
Cô nhìn qua cửa sổ ra khu vườn, và thấy luyến tiếc khi phải rời bỏ khoảnh đất đen, hư hại vì đám cỏ dại mọc lâu năm, hơn là vui sướng trước ý nghĩ lại được ngửi thấy mùi của rừng thông và những đồng cỏ ba lá của cô. Cô gọi con gà trống, hai bà vợ của nó, cùng con gà con lẩy bẩy, và ném cho chúng những vụn bánh mì từ bàn ăn sáng. Chúng mổ lấy mổ để, con gà con xòe cánh nhảy lên bệ cửa sổ gần Phoebe, nghiêm nghị nhìn vào mặt cô và thể hiện tình cảm trong một tiếng kêu chiếp chiếp. Phoebe dặn nó phải ngoan ngoãn khi cô đi vắng, và hứa mang về cho nó một túi kiều mạch.
“Chà, Phoebe!” Bà Hepzibah nhận xét, “cháu không cười hồn nhiên như thế dạo cháu mới đến chỗ chúng ta! Giờ cháu đã cho nụ cười tỏa sáng! Thật tốt vì cháu sắp được quay về với không khí quê nhà, trong một thời gian ngắn. Tinh thần cháu đã bị đè dưới quá nhiều gánh nặng. Ngôi nhà quá âm u và hiu quạnh; cửa hàng toàn chuyện phiền toái; còn ta, ta không có khả năng làm cho mọi thứ tươi sáng hơn vốn có. Clifford là niềm an ủi duy nhất của cháu!”
“Lại đây, Phoebe,” ông Clifford đột nhiên nói, ông vốn nói rất ít vào buổi sáng. “Gần vào! Gần hơn nữa! - và hãy nhìn tôi!”
Phoebe đặt hai bàn tay nhỏ nhắn lên hai bên tay ghế, ghé mặt lại gần ông, để ông có thể xem thật kỹ. Có thể những cảm xúc âm thầm của giờ phút chia tay đã làm sống lại, ở mức độ nào đó, những khả năng đã bị vùi dập và suy yếu của ông. Dù thế nào đi nữa, Phoebe nhanh chóng cảm nhận được một sự đánh giá tinh tế, nếu không muốn nói là sự thấu tỏ của một nhà tiên tri, đang lấy trái tim cô làm đối tượng nghiên cứu. Một phút trước, cô chẳng có điều gì phải tìm cách che giấu. Còn lúc này đây, như thể có một bí mật nào đó gợn lên trong ý thức cô thông qua cảm nhận của một người khác, cô bối rối cụp mắt xuống trước ánh nhìn của ông Clifford. Một sắc hồng, - đỏ dần lên, vì cô chật vật dằn xuống, - dâng lên và lan rộng không ngừng, cho đến khi cả vầng trán cô cũng ửng đỏ.
“Được rồi, Phoebe,” ông Clifford nói, với một nụ cười u sầu. “Khi tôi nhìn thấy cháu lần đầu tiên, cháu là cô bé xinh xắn nhất trên đời; còn giờ cháu đã trở thành một giai nhân. Từ thời con gái bước sang thời phụ nữ, nụ đã nở thành hoa! Thôi cháu đi đi – tôi cảm thấy cô đơn hơn trước.”
Phoebe từ giã hai con người sầu não, đi qua cửa hàng, chớp chớp mắt gạt đi mấy giọt lệ; vì – xét đến việc cô đi vắng có vài ngày, thì rơi nước mắt bởi chuyện đó đúng là lố bịch cô không biết mình sẽ khóc để mà chuẩn bị khăn tay. Tới ngưỡng cửa, cô gặp đúng thằng bé phàm ăn đã được kể trong những trang đầu tiên của câu chuyện. Cô lấy từ cửa sổ xuống một mẫu vật nào đấy của lịch sử tự nhiên, - mắt cô nhòa đi vì hơi nước để biết được chính xác nó là con thỏ hay con hà mã, - đặt vào tay thằng bé như một món quà chia tay, và đi tiếp. Ông lão Venner vừa ra khỏi cửa nhà, với một cái giá của cùng cây cưa vác trên vai; và, bước tập tễnh trên đường, ông không đắn đo đi cùng Phoebe, vì họ chung đường; Phoebe cũng không vì cái áo vá và cái mũ bạc màu, cái quần vải gai theo mốt kỳ cục của ông mà muốn đi nhanh hơn ông.
“Chúng tôi sẽ nhớ cô, vào lễ Sabbath buổi chiều sắp tới,” nhà triết học đường phố nói. “Chẳng hiểu làm sao mà trong một thời gian ngắn có những người đã trở nên thân quen với một người như hơi thở của họ; và mạn phép cô, cô Phoebe (dù không có sự xúc phạm trong lời nói của ông lão), cô đã trở nên như vậy đối với tôi! Tôi thì đã sống lâu năm trên cõi đời, còn cuộc sống của cô chỉ mới bắt đầu; ấy vậy mà với tôi cô lại quen thuộc cứ như tôi đã thấy cô trước cửa nhà mẹ tôi, và cô đã nở hoa, như một nhánh dây leo dọc đường tôi đi kể từ đó. Hãy sớm trở lại, không tôi sẽ đi tới trang trại của tôi mất, vì tôi bắt đầu cảm thấy công việc xẻ gỗ này có phần nặng nhọc đối với chứng đau lưng của tôi.”
“Sẽ sớm thôi, Bác Venner a,” Phoebe đáp.
“Và càng sớm càng tốt, Phoebe, vì tất cả những con người tội nghiệp đằng kia,” người đồng hành của cô nói tiếp.
“Bây giờ họ chẳng thể nào sống thiếu cô được, không bao giờ - khác gì một trong những thiên thần của Chúa đang sống với họ, và làm cho ngôi nhà buồn thảm của họ dễ chịu và thoải mái! Cô không thấy họ sẽ rơi vào thảm cảnh, nếu vào một buổi sáng mùa hè đẹp trời như thế này, thiên thần tung cánh bay về nơi mình từ đó đến sao? Họ cũng cảm thấy như vậy, khi cô sắp lên tàu trở về nhà! Họ không chịu đựng nổi đâu, cô Phoebe, nên hãy chắc chắn là cô sẽ trở lại!”
“Cháu đâu phải là thiên thần, Bác Venner,” Phoebe mỉm cười nói, khi cô đưa tay cho ông ở góc phố. “Nhưng cháu cho rằng người ta cảm thấy mình giống thiên thần nhất là khi đang làm những điều tốt. Thế nên chắc chắn cháu sẽ trở lại!”
Ông lão và cô gái chia tay nhau, và Phoebe mang đôi cánh của sớm mai vào, chẳng mấy chốc đã bay đi nhanh như một thiên thần mà Bác Venner đã đem cô ra so sánh một cách quá ư lịch thiệp.