Nhà Có Bảy Đầu Hồi

Lượt đọc: 456 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương XVII
chuyến bay của đôi cú già

Dù đang mùa hè, nhưng cơn gió đông vẫn khiến những cái răng ít ỏi còn lại của bà Hepzibah va vào nhau lập cập, khi bà và Clifford đối đầu với nó trên đường từ phố Pyncheon đi vào trung tâm thị trấn. Cơn gió khắc nghiệt không chỉ làm thân hình bà run lẩy bẩy (dù bàn tay bàn chân bà chưa bao giờ lạnh cóng như lúc này), mà còn có một cảm giác dằn vặt, trộn lẫn với sự ớn lạnh thể xác, và khiến bà run rẩy trong tâm can hơn cơ thể. Không gian mênh mông trống trải của thế giới bên ngoài quá ư quạnh quẽ! Đó là ấn tượng nó tạo ra cho tất cả những ai mới đặt chân lên con đường phiêu lưu, kể cả khi người đó bắt đầu với niềm hăm hở sục sôi trong huyết quản. Hẳn đó là tình trạng của bà Hepzibah và ông Clifford, - tuổi tác già nua song độ từng trải chẳng khác gì trẻ thơ, - khi họ rời khỏi bậc cửa, và đi qua dưới tán lá rộng của cây du Pyncheon! Họ đang bước ra thế giới, trong một cuộc hành hương như một đứa trẻ thường trù tính, tới tận cùng trái đất, với khoảng sáu xu và một cái bánh quy trong túi. Trong tâm trí bà Hepzibah có một cảm giác khổ sở khi phải phiêu bạt. Bà đã mất khả năng tự chủ; và, nhìn những khó khăn trắc trở xung quanh, bà thấy chẳng đáng nỗ lực để lấy lại nó, hoặc có thể tái tạo nó.

Trong hành trình kỳ lạ ấy, thỉnh thoảng bà lại liếc sang Clifford, và không thể không nhận thấy ông bị ám ảnh và tác động bởi một sự phấn khích mạnh mẽ. Nó đã cho ông sự tự chủ để quyết đoán trong những hành động của mình. Nó không hề giống sự hưng phấn do rượu. Hoặc, có thể lạ lùng hơn khi so sánh với một bản nhạc vui, được chơi với sự hứng khởi cuồng nhiệt, nhưng bằng một nhạc cụ rối loạn. Vì nốt nhạc chói tai luôn có thể nghe thấy, và nó rít lên ghê gớm nhất giữa sự thăng hoa kiêu hãnh nhất của giai điệu, cơn chấn động liên tục chạy qua người Clifford cũng vậy, nó khiến ông run rẩy dữ dội trong lúc mang một nụ cười hân hoan, và gần như muốn nhảy chân sáo.

Họ gặp vài người trên đường, trong lúc di chuyển từ phạm vi hẻo lánh xung quanh ngôi nhà bảy đầu hồi sang khu vực bình thường đông đúc và nhộn nhịp hơn của thị trấn. Những vỉa hè loang loáng, rải rác những vũng nước mưa nhỏ trên bề mặt mấp mô của chúng; ô dù bày phô trương trên cửa sổ các cửa hàng, như thể đời sống thương mại chỉ tập trung vào mặt hàng đó; lá cây dẻ ngựa và cây du, bị gió giật khỏi cành nằm lác đác trên đường; bùn chất thành đống xấu xí giữa lòng đường, con đường bẩn thỉu vì lâu ngày không được quét dọn, - đó là những điểm dễ xác định của một bức tranh vô cùng ảm đạm. Còn về hoạt động của con người, có một cỗ xe ngựa lắc lư chạy vội vã, tài xế đội một chiếc mũ chống nước che đầu và vai; dáng cô độc của một ông già dường như vừa chui ra từ một cống ngầm nào đó, đang lom khom đi men theo rãnh nước, chọc vào đống rác ướt bằng một cái que, tìm những chiếc đinh han gỉ; một hai lái buôn đứng ở cửa bưu điện, cùng với một chủ bút và một chính trị gia, chờ một bức thư đến chậm; vài bộ mặt của những thuyền trưởng về hưu ở cửa sổ một văn phòng bảo hiểm, nhìn lơ đãng ra đường phố vắng, nguyền rủa thời tiết, cáu kỉnh với sự khan hiếm tin tức báo chí cũng như tin vỉa hè. Đám người ngồi lê đôi mách này hẳn sẽ vớ bẫm, nếu họ đoán được bí mật mà bà Hepzibah và ông Clifford đang mang theo mình! Nhưng bộ dạng của hai người họ khó lòng thu hút sự chú ý bằng một cô gái trẻ, cùng đi ngang qua lúc đó, và tình cờ nhấc váy lên hơi quá cao trên mắt cá. Nếu đó là một ngày nắng rực rõ, họ khó có thể đi trên đường mà không biến mình thành đối tượng bình phẩm. Còn bây giờ, có lẽ họ hòa lẫn vào tiết trời ảm đạm và khắc nghiệt, do vậy không nổi bật lên, như thể mặt trời đang chiếu vào họ, nhưng tan chảy thành màu xám xịt và bị lãng quên ngay sau đó.

Khổ thân bà Hepzibah! Nếu bà hiểu được điều này, bà ắt sẽ nhẹ nhõm phần nào; bởi vì, ngoài tất cả những nỗi phiền muộn khác, - nói ra thật kỳ lạ! - còn có một nỗi khổ sở rất phụ nữ trỗi dậy từ cảm giác về bề ngoài khó coi của bản thân. Nên bà cố co rút lại sâu hơn, như hy vọng người ta cho rằng ở đây chỉ có chiếc áo choàng và mũ trùm, mòn xơ và bạc phếch, phồng lên vì gió lớn, chứ không có người bên trong.

Khi họ tiếp tục đi, cảm giác mờ ảo và không thực cứ luẩn quẩn quanh bà, và ngấm vào người bà khiến bàn tay bà gần như không cảm thấy được bàn tay kia. Bất cứ sự chắc chắn nào ắt cũng được hoan nghênh hơn điều này. Bà thì thầm tự nhủ, lặp đi lặp lại, “Mình đã tỉnh chưa? - Mình đã tỉnh chưa?” Và thỉnh thoảng lại đưa mặt ra cho gió lạnh táp vào, để sự khắc nghiệt của nó đảm bảo cho sự tồn tại của bà. Liệu mục đích của Clifford là đưa họ tới đây, hay chỉ là tình cờ, khi bây giờ họ thấy mình đang đi qua dưới cửa vòm một tòa nhà lớn bằng đá xám. Bên trong là một không gian rộng rãi, thoáng đãng, có một chỗ đầy khói và hơi nước, bốc lên mù mịt và tạo thành một đám mây giả trên đầu họ. Một đoàn tàu chuẩn bị khởi hành, đầu máy đang rung lên và bốc khói, như một con chiến mã nôn nóng trước cuộc đua liều lĩnh; và chuông ngân lên một hồi giục giã, diễn đạt rất tốt mệnh lệnh ngắn gọn mà cuộc sống ban cho chúng ta trong đà lao hối hả của nó. Không hỏi han hay chần chừ, - với vẻ quả quyết không thể chống lại, nếu không muốn nói là hấp tấp, choán lấy ông một cách kỳ lạ, và lây sang bà Hepzibah, - Clifford kéo bà tới chỗ đoàn tàu, giúp bà bước lên. Còi rúc, động cơ phụt ra những luồng khói ngắn; con tàu bắt đầu chuyển động; và, cùng với hàng trăm hành khách khác, hai người lữ hành khác thường này lao về phía trước như cơn gió.

Thế là, sau một thời gian dài xa lánh tất cả hoạt động và thú vui của thế gian, họ đã bị kéo vào vòng quay lớn của đời sống, và bị nó cuốn đi, bằng lực hút của số phận.

Vẫn bị ám ảnh bởi ý nghĩ không cái nào trong những sự kiện đã qua, bao gồm chuyến viếng thăm của thẩm phán Pyncheon, có thể là thật, người ẩn dật của ngôi nhà bảy đầu hồi thì thầm vào tai anh trai mình:

“Clifford! Clifford! Đây không phải là một giấc mơ chứ?”

“Một giấc mơ, Hepzibah!” Ông lặp lại, gần như cười vào mặt bà. “Trái lại là khác, tôi chưa bao giờ tỉnh táo như thế!”

Trong lúc đó, từ cửa sổ nhìn ra, họ có thể thấy thế giới đang lướt qua. Có lúc họ đi qua một nơi vắng vẻ; tiếp đó một ngôi làng dần dần hiện ra; thêm một ít sức sống, và nó biến mất, như bị một cơn động đất nuốt chửng. Những chóp nhọn của các nhà thờ dường như trôi khỏi nền móng của chúng; những quả đồi lớn trượt đi. Mọi thứ bị tháo rời khỏi cái gốc lâu năm của mình, và di chuyển với tốc độ chóng mặt ngược về phía họ.

Trong toa tàu là nội thất bình thường của ngành đường sắt, tẻ nhạt đối với những hành khách khác, nhưng đầy mới lạ với hai tù nhân vừa được giải phóng này. Đã đủ mới lạ rồi khi có năm mươi người ở cùng với họ, dưới một mái che dài và hẹp, và bị kéo về phía trước bằng một lực mạnh tương tự đã túm lấy hai người bọn họ. Mà tất cả những người này lại có thể ngồi im tại chỗ của mình, trong lúc một bộ máy ầm ĩ đang làm việc vì họ. Một số người, với vé tàu trong mũ (những người lữ hành viễn du này, trước mắt họ còn hàng trăm dặm đường sắt), đã đắm mình vào phong cảnh nước Anh và những cuộc phiêu lưu trong những cuốn tiểu thuyết mỏng, và đồng hành với những công tước và bá tước trong đấy. Những người khác, hành trình ngắn hơn không cho phép họ nghiên cứu thứ gì quá sâu sắc, thì giết thời giờ trên đường bằng những tờ báo một xu. Một nhóm các cô gái, và một phụ nữ trẻ, ở dãy bên kia của toa tàu, tìm thấy niềm vui lớn trong một trò chơi bóng. Họ chuyền qua chuyền lại, với những tiếng cười giòn giã có thể kéo dài hàng dặm; vì những người chơi còn bay nhanh hơn quả bóng, trải dọc niềm vui của họ lại mãi phía sau, và kết thúc trò chơi dưới một bầu trời khác với bầu trời nó đã bắt đầu. Những thằng bé, với táo, bánh ngọt, kẹo, và những viên ngậm ho dạng thanh nhiều màu, - những món hàng nhắc bà Hepzibah nhớ đến cửa hàng vắng vẻ của mình, - xuất hiện ở mỗi trạm dừng, hối hả mời chào, hoặc kết thúc công việc đột ngột, để còn kịp nhảy xuống khỏi tàu. Những hành khách mới liên tục tăng thêm. Những người cũ đã quen nhau – vì họ nhanh chóng bắt quen, trong những câu chuyện chớp nhoáng dọc đường - liên tục chia tay. Đây đó, giữa sự ồn ào náo động, một người ngồi ngủ. Ngủ, chơi, làm việc, trầm tư hoặc thong thả đọc sách, và con tàu vẫn tiến về phía trước! Đó chính là cuộc sống!

Những cảm xúc đắng cay của Clifford bị khơi dậy. Ông bắt lấy màu sắc của những thứ đang lướt qua mình, pha thêm một sắc tố nhợt nhạt và rùng rợn, rồi vung tay ném nó trở lại. Bà Hepzibah, ngược lại, cảm thấy mình xa cách nhân loại còn hơn cả nơi hẻo lánh bà vừa rời bỏ.

“Cô không vui, Hepzibah!” Ông Clifford ngồi bên cạnh nói bằng giọng trách móc. “Cô đang nghĩ đến ngôi nhà cũ ảm đạm ấy, và anh họ Jaffrey” - nói đến đây, người ông run lên, - “và anh họ Jaffrey đang ngồi một mình ở đó! Hãy nghe lời khuyên của tôi, - noi theo gương tôi, - gạt những chuyện đó đi. Chúng ta đang ở đây, trong thế giới, giữa cuộc đời, giữa đám đông đồng loại! Hãy để chúng ta được vui vẻ! Như những cô gái xinh xắn đang chơi bóng kia!”

“Vui…”, bà Hepzibah nghĩ, chua xót cảm thấy trái tim mình trì độn và nặng nề với nỗi đau đóng băng bên trong, trước thế giới, - “vui. Anh ấy điên rồi, và nếu có lúc nào mình cảm thấy bản thân hoàn toàn tỉnh táo, mình cũng hóa điên mất!”

Nếu đã bị ám ảnh bởi một ý nghĩ, có lẽ bà không dứt bỏ được nó. Khi họ lắc lư và xóc nảy trên con đường sắt, như thể họ cũng đang ngược xuôi trên phố Pyncheon, trong trí tưởng tượng của bà Hepzibah. Với hàng dặm hàng dặm phong cảnh đa dạng ở giữa, không có cảnh nào lọt vào mắt bà ngoài bảy chóp đầu hồi cũ, với rêu phong và những khóm cỏ dại ở một trong các góc, và cửa sổ cửa hàng, với một người khách đang lay cửa, và rung quả chuông nhỏ kêu leng keng dữ dội, nhưng không làm phiền đến thẩm phán Pyncheon! Ngôi nhà cũ này ở khắp mọi nơi! Nó chở theo hình thù đồ sộ của mình nhanh hơn tốc độ đường sắt, và lạnh lùng đặt mình xuống bất cứ chỗ nào mắt bà liếc tới. Đặc tính của trí óc bà Hepzibah quá cứng nhắc để sẵn sàng tiếp nhận những ấn tượng mới như ông Clifford. Ông có tính cách bay bổng, còn bà giống như một loại rau, khó có thể sống lâu nếu bị nhổ rễ. Vì thế mối quan hệ giữa anh trai và bà cho đến giờ đã thay đổi. Ở nhà, bà là người che chở cho ông; ở đây ông thành người che chở bà, và dường như nắm bắt được mọi cái liên quan đến vị trí mới của họ một cách mau lẹ. Ông đã đột ngột trở nên bản lĩnh và sáng suốt; hoặc, ít nhất, ở trong tình trạng giống như thế, dù nó có thể yếu ớt và nhất thời.

Nhân viên soát vé đến hỏi vé họ; và Clifford, đã tự đảm nhận việc cầm ví tiền, đặt một tờ giấy bạc vào tay anh ta, như ông đã quan sát những người khác làm điều đó.

“Cho ông và bà đây ư?” Người soát vé hỏi. “Ông bà đi bao xa?”

“Xa nhất mà con tàu đưa chúng tôi đi,” Clifford nói. “Không mấy quan trọng. Chúng tôi thuần túy là đi cho vui.”

“Ông chọn ngày cũng lạ đấy!” Một quý ông lớn tuổi có đôi mắt sắc sảo ngồi ở dãy bên kia nhận xét, nhìn Clifford và bạn đồng hành, như tò mò về họ. “Niềm vui lớn nhất, trong tiết trời mưa gió, theo tôi, là ở trong ngôi nhà của mình, với một ngọn lửa nhỏ trong lò sưởi.”

“Tôi không thể hoàn toàn đồng ý với ông,” Clifford nói, lịch sự nghiêng đầu với ông ta, và lập tức tiếp mạch câu chuyện mà người kia đã nêu ra. “Mà ngược lại, tôi đã sực nghĩ rằng cái phát minh đường sắt đáng nể này - với những cải tiến vượt trội và không thể tránh khỏi để trông chờ, cả về tốc độ và tiện ích – được định sẵn để chấm dứt những suy nghĩ cũ kỹ về mái nhà và lò sưởi, và thay thế bằng thứ tốt hơn.”

“Nhân danh lẽ thường,” quý ông lớn tuổi hỏi khá gay gắt, “còn thứ gì tốt cho một người đàn ông hơn phòng khách và lò sưởi của anh ta?”

“Mấy cái đó không có giá trị như nhiều người gán cho chúng,” Clifford đáp. “Có thể nói ngắn gọn là chúng phục vụ cho một mục đích tầm thường. Cảm tưởng của tôi là những phương tiện di chuyển phát triển một cách kỳ diệu và vẫn đang phát triển được định sẵn để đưa chúng ta vòng trở về cuộc sống du cư. Ông biết là, thưa ông - hẳn ông đã quan sát nó bằng kinh nghiệm của mình, sự phát triển của con người đi theo một vòng tròn; hoặc, dùng một hình ảnh đẹp và chính xác hơn, theo một đường xoắn ốc đi lên. Trong khi chúng ta tưởng mình đang tiến thẳng về phía trước, và mỗi bước lại đạt được một tiến bộ mới, thực ra chúng ta quay về với thứ đã được thử và loại bỏ cách đây rất lâu, nhưng giờ chúng ta cải tiến, gạn lọc, và hoàn thiện nó tới mức độ lý tưởng. Quá khứ chỉ là sự dự báo thô sơ và cảm tính của hiện tại và tương lai. Xin lấy ví dụ cho đề tài chúng ta đang thảo luận. Ở thuở sơ khai của chủng tộc chúng ta, con người sống trong lều tạm, hoặc những lùm cây, được dựng dễ dàng như một tổ chim, và họ xây, - nếu có thể gọi nó là nhà, khi những ngôi nhà xinh xắn ấy vào mùa hè mọc nhanh hơn là được làm bằng tay, - với Tự Nhiên giúp họ trồng trọt chăn nuôi ở những nơi đất đai màu mỡ, cá và thú săn dồi dào, hoặc, đặc biệt nhất, nơi cảm thụ cái đẹp được đáp ứng bằng một sắc thái đáng yêu hơn những nơi khác, và sự bố trí ao hồ, rừng cây, đồi núi đẹp đẽ hơn. Cuộc sống này có một vẻ quyến rũ đã biến mất không còn hiện diện, kể từ khi con người rũ bỏ nó. Và nó tiêu biểu cho thứ tốt đẹp hơn chính nó. Những mặt hạn chế của nó là sự thiếu thốn vật chất, thời tiết khắc nghiệt, nắng nóng, những cuộc di cư mệt lử và phồng rộp bàn chân qua những vùng đất khô cằn và xấu xí, nằm giữa những vùng đất màu mỡ và tươi đẹp của họ. Nhưng trong đường xoắn ốc của chúng ta, chúng ta thoát khỏi tất cả những điều này. Những tuyến đường sắt – nếu có thể thay tiếng còi bằng âm nhạc, và loại bỏ sự ồn ào xóc nảy - chắc chắn là phúc lành lớn nhất mà thời đại đã đem đến cho chúng ta. Chúng cho ta đôi cánh, tiêu diệt sự vất vả và bụi bặm của chuyến đi dài; chúng cổ vũ việc đi lại! Sự chuyển tiếp đang rất dễ dàng, điều gì có thể xui khiến người ta ở lì một chỗ? Tại sao anh ta phải xây một nơi trú ngụ cồng kềnh hơn thứ có thể dễ dàng mang theo mình? Tại sao anh ta phải biến bản thân thành tù nhân của cuộc sống trong gạch, đá, và những tấm gỗ cũ đầy mối mọt, khi anh ta có thể dễ dàng ở bất cứ đâu, - nói theo nghĩa khác, bất cứ nơi nào cho anh ta một mái nhà phù hợp và xinh đẹp?”

Sắc mặt Clifford ửng hồng, khi ông bày tỏ học thuyết này, một tính cách trẻ trung tỏa sáng từ bên trong, biến đổi những nếp nhăn và sạm màu của tuổi tác thành lớp mặt nạ gần như trong suốt. Những cô gái vui nhộn thả rơi quả bóng xuống sàn, và nhìn ông chằm chằm. Có lẽ họ tự nhủ rằng trước khi tóc ông bạc và những vết chân chim xuất hiện ở đuôi mắt, thì người đàn ông hiện tàn tạ này hẳn đã làm thổn thức bao trái tim phụ nữ bằng diện mạo của mình. Nhưng than ôi! Không có đôi mắt phụ nữ nào nhìn thấy gương mặt ông khi nó còn đẹp.

“Tôi khó mà gọi việc sống nay đây mai đó là sự tiến bộ được,” người mới quen ông Clifford nói.

“Vậy ư?” Clifford sôi nổi hỏi lại. “Với tôi nó rõ rành rành như ánh nắng, - có chút nắng nào trên bầu trời không, – rằng những chướng ngại vật lớn nhất trên con đường hạnh phúc và phát triển của loài người là những đống gạch và đá, gia cố bằng vữa, hoặc gỗ xẻ, gắn vào nhau bằng đinh dài, thứ con người sáng chế ra để làm đau chính mình, và gọi chúng là nhà và mái ấm! Tâm hồn cần không khí, thứ trong lành và thường xuyên thay đổi. Đủ thứ bệnh tật muôn hình muôn vẻ tập trung quanh lò sưởi, làm ô nhiễm cuộc sống trong nhà. Không có không khí nào độc hại cho bằng không khí của một ngôi nhà cũ, bị đầu độc bởi tổ tiên và họ hàng quá cố của chủ nhà. Tôi nói điều tôi biết. Có một ngôi nhà trong trí nhớ của tôi, - một trong những tòa nhà lớn phình ra ở tầng trên và có đầu hồi nhọn (bảy đầu hồi tất cả), như ông thỉnh thoảng nhìn thấy trong những thị trấn xưa cũ hơn của chúng ta, một nhà ngục cũ kỹ, ọp ẹp, kẽo kẹt, khô mục, bẩn thỉu, u ám, và tồi tàn, với một cửa sổ vòm bên trên cổng chính, và một cửa hàng nhỏ bên hông, và một cây du lớn là lù phía trước! Bây giờ, thưa ông, mỗi khi ý nghĩ của tôi trở lại ngôi nhà bảy đầu hồi này (thật lạ khi tôi cứ phải nhắc đến nó), lập tức trong tôi hiện ra hình ảnh một người đàn ông già, mặt mũi khắc nghiệt, ngồi trong cái ghế bành bằng gỗ sồi, đã chết, cứng đờ, với một dòng máu xấu xí trên ngực áo! Chết nhưng mắt vẫn mở! Ông ta làm ô uế cả ngôi nhà, theo tôi nhớ. Tôi không bao giờ có thể phát triển ở đó, cũng không hạnh phúc, hay thích những cái Chúa muốn tôi phải làm và thích.”

Mặt ông tối sầm, và dường như co rút, quắt queo lại, và trở về đúng tuổi của mình.

“Không bao giờ, thưa ông!” Ông nhắc lại. “Tôi không bao giờ có thể hít thở không khí vui vẻ ở đó!”

“Tôi nghĩ là không,” quý ông lớn tuổi nói, nhìn Clifford chăm chú, và e sợ. “Tôi thấy là không, thưa ông, với ý niệm đó trong đầu ông!”

“Chắc chắn rồi,” Clifford tiếp tục, “và tôi sẽ thấy nhẹ nhõm nếu ngôi nhà đó có thể bị kéo sập, hoặc thiêu rụi, để mặt đất thoát khỏi nó, và cỏ được gieo trên nền cũ của nó.

Không phải tôi muốn thăm lại nơi đó đâu! Vì tôi càng đi xa khỏi nó, thì niềm vui, sự sảng khoái, náo nức, trí tuệ, tuổi trẻ, - vâng, tuổi trẻ của tôi, tuổi trẻ của tôi! – chúng càng trở lại với tôi. Không lâu trước sáng nay, tôi già nua. Tôi nhớ mình đã nhìn vào gương, và ngạc nhiên trước mái tóc xám, những nếp nhăn, nhiều nếp hằn sâu ngang trán, và những chỗ trũng sâu trên má, những vết chân chim ở khóe mắt! Nó đến quá sớm! Tôi không chịu nổi điều đó! Tuổi già không có quyền đến! Tôi còn chưa được sống cơ mà! Nhưng bây giờ trông tôi có già không? Nếu có, thì diện mạo tôi trái ngược với tôi đến kỳ lạ, vì tâm trí tôi đã cất được gánh nặng lớn. Tôi cảm thấy mình đang giữa tuổi thanh xuân, với thế giới và những ngày tươi đẹp nhất ở phía trước!”

“Tôi tin ông có thể cảm thấy thế,” quý ông lớn tuổi nói, tỏ ra khá ngượng ngùng, và cố tránh né việc nhận xét nội dung bài diễn văn cuồng nhiệt của Clifford.

“Vì Chúa, anh Clifford, yên lặng đi!” Em gái ông thì thầm. “Họ nghĩ anh bị điên đấy.”

“Cô mới nên yên lặng, Hepzibah!” Anh trai bà đáp lại. “Mặc kệ họ nghĩ gì! Tôi không điên. Vì lần đầu tiên trong ba mươi năm những ý nghĩ của tôi tuôn trào và tìm được từ cho chúng. Tôi phải nói, và tôi sẽ nói!”

Ông lại quay sang quý ông lớn tuổi, và tiếp tục cuộc đối thoại.

“Đúng vậy, thưa ông. Tôi tin chắc và hy vọng rằng những chữ mái nhà và lò sưởi đá, lâu nay được dùng làm biểu tượng cho một thứ thiêng liêng, sẽ sớm biến mất khỏi nhu cầu sử dụng hàng ngày, và bị quên lãng. Thử tưởng tượng một giây thôi, bao nhiêu cái xấu xa của con người sẽ vỡ vụn với sự thay đổi này! Thứ chúng ta gọi là cơ ngơi thực sự – cái nền đất rắn để xây một ngôi nhà – là nền móng mà gần như mọi tội lỗi của thế gian dựa trên đó. Một con người sẽ phạm gần như tất cả tội lỗi, - ông ta sẽ dựng một cây cột lớn bằng sự độc ác, rắn như đá granite, và nó sẽ đè nặng lên linh hồn ông ta vĩnh viễn, - chỉ để xây một dinh thự lớn, âm u, phòng ốc tăm tối, để bản thân được chết trong đó, và con cháu ông ta khốn khổ trong đó. Ông ta đặt xác của mình dưới móng nhà, có thể nói vậy, và treo bức chân dung cau có của mình lên tường, và, sau khi tự biến mình thành một lời nguyền ma quỷ, lại muốn những cháu chắt của ông ta sống vui vẻ ở đó. Tôi không ăn nói hàm hồ đâu. Tôi có một ngôi nhà như thế trong nhãn quan của mình.”

“Vậy thì, thưa ông,” quý ông lớn tuổi nói, nóng lòng muốn chấm dứt chủ đề, “ông không đáng trách khi rời bỏ nó.”

“Với thời gian bằng một quãng đời của trẻ thơ” Clifford tiếp tục, “tất cả những chuyện này sẽ bị xóa bỏ. Thế giới đang trở nên quá thiêng liêng và trong sáng để chịu đựng những sự tàn ác này lâu hơn nữa. Dù rằng đối với tôi, suốt một thời gian dài tôi sống ẩn dật, và kém hiểu biết hơn hầu hết mọi người, - thế mà tôi vẫn thấy rõ những tín hiệu của một kỷ nguyên tốt đẹp hơn. Còn phép thôi miền! Ông có nghĩ nó không tác động gì đến việc thanh lọc sự thô tục khỏi cuộc sống con người không?”

“Tào lao!” Quý ông lớn tuổi càu nhàu.

“Những tiếng gõ của tâm linh ấy, hôm nọ cô bé Phoebe đã nhắc đến với chúng tôi,” Clifford nói, “những sứ giả của thế giới tâm linh là gì khi gõ vào cánh cửa của vật chất? Và nó sẽ mở toang.”

“Lại tào lao!” Quý ông lớn tuổi cao giọng, càng lúc càng bực bội trước những ý niệm trừu tượng của Clifford. “Tôi chỉ muốn gõ một cái gậy vào xương bánh chè của những tên đần độn nào truyền bá thứ vớ vẩn ấy!”

“Và còn điện năng, - ác quỷ, thiên thần, sức mạnh của vật lý, sự lên ngôi của khoa học!” Clifford thốt lên. “Nó cũng tào lao à? Là sự thật - hay tôi mơ – rằng nhờ có dòng điện, thế giới vật chất đã trở thành một dây thần kinh lớn, di chuyển hàng ngàn dặm trong nháy mắt? Trái đất là một cái đầu khổng lồ, một bộ não thông minh! Hoặc có thể nói nó chính là tư duy, là suy nghĩ, không còn là vật chất như chúng ta tưởng!”

“Nếu ông muốn nói tới điện báo,” quý ông lớn tuổi nói, đưa mắt nhìn đường dây của nó, chạy dọc đường sắt, “nó là một thứ tuyệt vời, - tất nhiên, nếu như những kẻ đầu cơ bông và các chính trị gia không sở hữu nó. Một phát minh vĩ đại, thưa ông, đặc biệt là trong việc phát hiện ra lũ cướp ngân hàng và những tên sát nhân.”

“Dưới góc nhìn ấy thì tôi không thích lắm,” Clifford nói. “Một tên cướp ngân hàng, và người mà ông gọi là sát nhân, cũng có những quyền của họ, mà những người hiểu biết và có lương tri nên quan tâm đến bằng một tinh thần tiến bộ hơn, bởi vì phần lớn xã hội có thiên hướng phủ nhận sự tồn tại của họ. Một phương tiện tinh thần, như điện báo, nên được sử dụng cho những nhiệm vụ cao cả, hạnh phúc, và thiêng liêng. Những người yêu nhau, hàng ngày và hàng giờ, nếu như quá thôi thúc, có thể gửi những nhịp đập con tim mình từ Maine tới Florida, với những lời như ’Anh yêu em mãi mãi! – ’Trái tim anh quá tải vì tình yêu! - ’Anh yêu em hơn cả đời anh! và lát sau lại gửi tiếp ’Anh đã sống thêm một giờ đồng hồ, và yêu em nhiều gấp đôi! Hoặc, khi một người tốt ra đi, một người bạn ở nơi xa nên cảm thấy một luồng điện, như từ thế giới vĩnh hằng, nhắn nhủ ’Bạn của anh đang ở nơi hạnh phúc! Hoặc, tới một người chồng xa nhà, nên gửi những tin này ’Người con bất tử của anh đã được Chúa ban cho khoảnh khắc này! và liền sau đó giọng nói bé bỏng của đứa trẻ dường như vươn rất xa, vang vọng trong trái tim anh ta. Nhưng đối với những kẻ lừa đảo, những tên cướp, - những kẻ, xét cho cùng, độ trung thực bằng chín người trong mười người, trừ phi bọn họ xem thường lề thói, và ưa thích làm việc vào nửa đêm hơn những giờ giấc thay đổi, - còn về những kẻ sát nhân, như ông gọi, những người mà động cơ thường có thể biện minh cho hành vi của họ, những người xứng đáng được xếp vào hàng ngũ giúp ích cho xã hội, nếu chỉ xét riêng kết quả nó đem lại, đối với những cá nhân kém may mắn ấy, tôi thực sự không thể hoan nghênh việc huy động một quyền lực vô hình và kỳ lạ ở cấp vĩ mô để săn đuổi họ.”

“Ông không thể ư?” Quý ông lớn tuổi thốt lên, với ánh mắt gay gắt.

“Tuyệt đối không!” Clifford đáp. “Nó đẩy họ vào tình cảnh khổ sở đủ đường. Chẳng hạn như, thưa ông, trong một căn phòng tối, thấp, có dầm ngang và ốp gỗ của một ngôi nhà cũ, ta hãy cho rằng có một người đàn ông đã chết, ngồi trong ghế bành, với một vệt máu trên ngực áo, – và ta hãy thêm vào giả thuyết một người đàn ông khác, xuất thân từ ngôi nhà, nơi ông ta cảm thấy nó tràn ngập hình ảnh của người chết nọ, - cuối cùng ta hãy tưởng tượng ông ta chạy trốn, có trời biết tới đâu, với tốc độ của một cơn lốc, bằng đường sắt! Bây giờ, thưa ông, nếu kẻ chạy trốn đặt chân tới một thị trấn xa xôi, và thấy tất cả dân chúng ở đó xì xào về chính người chết ấy, người ông ta đã phải chạy thật xa để tránh nhìn thấy và nghĩ tới, ông có cho rằng những quyền tự nhiên của ông ta không bị xâm phạm không? Ông ta không còn nơi ẩn náu, và theo thiển ý của tôi, phải chịu sự bất công vĩnh viễn!”

“Ông là một người kỳ lạ, thưa ông!” Quý ông lớn tuổi nói, nhìn xoáy vào một điểm trên người Clifford, như muốn khoan thủng ông. “Tôi không thể nhìn thấu ông!”

“Không, tôi dám chắc là ông không thể!” Clifford cười lớn. “Thế nhưng tôi trong suốt như nước giếng Maule vậy, thưa ông! Hepzibah, đi thôi nào! Mới thế mà chúng ta đã bay khá xa rồi. Ta hãy đậu xuống cành cây gần nhất, như lũ chim, và bàn xem tiếp theo sẽ bay đi đâu!”

Vừa lúc ấy, đoàn tàu đến một nhà ga vắng vẻ. Tranh thủ khoảng dừng ngắn ngủi, Clifford xuống tàu, dắt theo bà Hepzibah. Ít phút sau, đoàn tàu với toàn bộ đời sống bên trong nó, mà ở giữa số ấy Clifford đã biến mình thành một nhân tố nổi bật - lướt đi xa dần, và nhanh chóng thu nhỏ lại thành một chấm đen rồi biến mất. Thế giới đã bay xa khỏi hai con người lang thang. Họ buồn bã ngó xung quanh. Gần đấy có một nhà thờ bằng gỗ, sạm đen vì thời gian, và trong tình trạng đổ nát tiêu điều, với những cửa sổ vỡ, một vết nứt lớn chạy suốt phần chính của tòa nhà, và một thanh rui lủng lẳng từ nóc cái tháp vuông. Xa hơn nữa là một trang trại kiểu cũ, cũng đen sạm dãi dầu như nhà thờ, với một cái mái dốc xuống từ chóp cao ba tầng, tới tầm chiều cao một người đàn ông so với mặt đất. Dường như nó bỏ hoang. Có những vết tích của một đống gỗ ở gần cửa, nhưng cỏ đã mọc xen giữa những mảnh vụn và những khúc gỗ rải rác. Mưa nhỏ bay xiên xiên, gió không thổi mạnh, mà hiu hắt, và đầy hơi ẩm lạnh lẽo.

Clifford run rẩy từ đầu đến chân. Sự sôi nổi bừng bừng của ông - thứ đã cung cấp cho ông những ý nghĩ, hình ảnh, và một vốn từ đặc biệt, và khiến ông nói liên tu bất tận với nhu cầu trút với những tư tưởng sôi sục - đã dịu lại. Một cơn phấn khích mạnh mẽ đã cho ông năng lượng và sự linh hoạt. Chu trình của nó kết thúc, lập tức ông lại rũ xuống.

“Bây giờ cô phải dẫn đường rồi, Hepzibah!” Ông thều thào, giọng bơ phờ và miễn cưỡng. “Cô muốn làm gì tùy ý!” Bà liền quỳ xuống sân ga nơi họ đang đứng và giơ hai bàn tay chắp lại lên trời. Những đám mây xám sà thấp đã che lấp nền trời, nhưng giờ không phải lúc cho sự nghi ngờ, - không phải thời điểm để thắc mắc về cao xanh trên kia, và về Người Cha Toàn Năng đang từ đấy nhìn xuống!

“Ôi lạy Chúa!” – bà Hepzibah gầy gò rền rĩ, - rồi dừng lại một lúc, để nghĩ lời cầu nguyện, - “Ôi lạy Chúa, Cha của chúng con, chúng con chẳng phải là con của người ư? Hãy thương lấy chúng con!”

« Lùi
Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của nathaniel hawthorne