Bác Venner, đẩy một cái xe cút kít, là người hàng xóm ra đường sớm nhất sau khi bão tan.
Phố Pyncheon, nằm trước ngôi nhà bảy đầu hồi, nom đẹp mắt hơn nhiều so với một con ngõ nhỏ, xung quanh là những hàng rào xơ xác, và những ngôi nhà gỗ của tầng lớp dưới, điều đó cũng dễ hiểu. Sáng hôm ấy Tự Nhiên đã sửa chữa cho năm ngày tàn ác trước đó. Ắt hẳn sẽ đủ thấy đáng sống, khi nhìn lên bầu trời cao lồng lộng, hoặc những phần của nó hiện ra giữa các ngôi nhà, một lần nữa tràn đầy nắng ấm. Mọi vật đều dễ thương, dù là nhìn thoáng qua hay chăm chú. Chẳng hạn như những viên đá cuội và sỏi sạch bóng trên vỉa hè; kể cả những vũng nước phản chiếu bầu trời nằm giữa đường; và cỏ, giờ đây xanh mướt, dọc theo chân những hàng rào, ở bên trong những khu vườn, nếu ta ghé mắt nhìn vào, mọc lên tươi tốt. Các loại cây trái, dường như vui sướng một cách dè dặt, trong sự màu mỡ và ấm áp của sự sống. Cây du Pyncheon, tràn ngập ánh nắng sớm và làn gió nhẹ thổi vi vu trong bán kính tỏa rộng của nó, hàng ngàn chiếc lá cùng hòa ca rì rào. Cây cổ thụ này xem ra không bị ảnh hưởng bởi cơn bão. Nó đã giữ cho các cành nhánh không bị gãy, lá còn đủ; và toàn bộ đều xanh ngắt, trừ một cành duy nhất, do sự biến đổi sớm của giống cây du để báo trước mùa thu, đã chuyển sang màu vàng óng. Nó giống như cành cây vàng đã giúp Aeneas và nhà nữ tiên tri đi vào địa ngục.
Cành cây huyền bí này sà xuống trước cửa chính ngôi nhà bảy đầu hồi, gần mặt đất đến nỗi người nào đi qua cũng có thể đứng kiễng chân bẻ được nó. Án ngữ trước cửa, nó như tượng trưng cho một lính gác, và tỏ tường mọi bí mật của ngôi nhà. Căn cứ vào bề ngoài thì khó mà tin rằng tòa nhà cổ kính này thực sự có sức hấp dẫn, đem lại ý nghĩ rằng trong quá khứ nó hẳn là một ngôi nhà thanh lịch và hạnh phúc, và ắt sẽ là một câu chuyện kể thú vị bên lò sưởi. Những ô cửa sổ của nó lấp lánh vui tươi trong ánh nắng chênh chếch. Những mảng rêu xanh điểm xuyết dường như đảm bảo cho sự thân thiết và gần gũi với Thiên Nhiên, như thể nơi trú ngụ của con người này, với tuổi đời lão làng, đã tạo lập một danh phận riêng giữa những cây sồi nguyên thủy và bất cứ đối tượng nào khác, nhờ sự tồn tại lâu năm mà có được quyền chính đáng ấy. Người nào giàu trí tưởng tượng, khi đi ngang qua ngôi nhà, sẽ ngoái lại mấy lần để xem cho kỹ: những chóp nhọn của nó, cùng bằng lòng hợp vào một ống khói chung; phần nhô ra phía trên tầng hầm; ô cửa sổ vòm, tạo một dáng vẻ, nếu không vương giả thì cũng quý phái, cho cái cửa chính sứt sẹo mà nó trông xuống; sự sum sê của những cây ngưu bàng lớn mọc gần ngưỡng cửa; anh ta sẽ ghi nhớ tất cả những đặc điểm này, và ý thức được một điều gì đó sâu xa hơn những gì mình thấy. Anh ta sẽ biết ngôi nhà vốn là nơi ở của một ông già người Thanh giáo ngang ngạnh, trước sau như một, người đã đi vào lãng quên, đã để lại một phúc lành trong mọi phòng ốc của ngôi nhà, hiệu quả của nó được trông thấy trong tôn giáo, sự lương thiện, mức sống khiêm tốn, hay nghèo nàn trong sạch và hạnh phúc bền vững, của các đời con cháu của ông ta, cho tới ngày nay.
Một đối tượng, trên hết, sẽ khắc sâu vào trí nhớ của người quan sát giàu trí tưởng tượng. Đó là một cụm lớn những bông hoa, - nếu cách đây một tuần ta ắt sẽ gọi chúng là cỏ dại, - những bông hoa rải rác màu đỏ thẫm, ở góc giữa hai đầu hồi phía trước. Người xưa thường gọi chúng là Hoa của Alice, để tưởng nhớ cô gái Alice Pyncheon xinh đẹp, nghe nói là người đã đem hạt giống hoa về từ nước Ý. Chúng đang khoe trọn vẹn vẻ đẹp và độ rực rỡ hôm nay, và vì thế dường như là một biểu hiện bí ẩn rằng cũng có một thứ trong ngôi nhà được hoàn thành trọn vẹn.
Mặt trời vừa mới mọc thì Bác Venner xuất hiện, như đã nói ở trên, đẩy một cái xe cút kít dọc phố. Ông đang đi mấy vòng buổi sáng để thu nhặt lá bắp cải, lá củ cải, vỏ khoai tây, và thức ăn thừa, mà những bà nội trợ tằn tiện trong khu phố hay để riêng ra, cho một con lợn ăn. Con lợn của Bác Venner được ăn uống đầy đủ, và chăm sóc chu đáo, bằng những khoản đóng góp từ thiện này; nên triết gia áo vá từng hứa rằng, trước khi về nghỉ hưu ở trang trại, ông sẽ làm một bữa tiệc từ con lợn béo tốt đó, và mời tất cả hàng xóm láng giềng đến lấy phần những tảng thịt và dẻ sườn họ đã góp phần vỗ béo. Khoản nấu nướng của bà Hepzibah đã cải thiện đáng kể, từ khi Clifford trở thành một thành viên trong gia đình, nên phần đồ ăn bà san sẻ ắt không nghèo nàn, và do đó Bác Venner vô cùng thất vọng khi không thấy cái nồi đất nung đựng đầy thức ăn thừa, thường nằm đợi ông ở cửa sau ngôi nhà bảy đầu hồi.
“Mình không ngờ cô Hepzibah lại đãng trí đến thế,” ông lão lẩm bẩm một mình. “Cô ấy chắc chắn đã nấu bữa tối hôm qua, - không có gì phải nghi ngờ! Dạo này cô ấy luôn ăn tối. Thế thì nồi nước luộc rau và vỏ khoai tây đâu nhỉ? Mình có nên gõ cửa, và xem cô ấy đã dậy chưa hay không? Không, không - mình sẽ không làm thế! Nếu con bé Phoebe ở nhà, mình sẽ không ngại gõ cửa; nhưng cô Hepzibah, rất có thể sẽ quắc mắt với mình từ cửa sổ, và trông cau có, ngay cả khi cô ấy cảm thấy vui vẻ. Trưa mình sẽ quay lại vậy.”
Với suy nghĩ này, ông lão đóng cánh cổng của khoảng sân sau nhỏ hẹp lại. Tuy nhiên, khi cót két trên bản lề, như mọi cánh cổng và cửa khác của ngôi nhà, âm thanh ấy đã tới tai của người cư ngụ ở đầu hồi phía bắc, một trong các cửa sổ của nó hướng về cánh cổng.
“Chào buổi sáng! Bác Venner!” Nhà nhiếp ảnh nghiêng mình ra ngoài cửa sổ. “Bác không nghe tiếng người nào sao?”
“Không một ai,” ông lão áo vá đáp. “Nhưng không có gì lạ. Mới sớm tinh mơ mà. Nhưng tôi rất mừng được gặp cậu, cậu Holgrave! Phía này của ngôi nhà mang một vẻ lạ lùng, hiu quạnh, khiến lòng tôi cứ nghi ngại thế nào đó, và tôi cảm tưởng như là chẳng có ai còn sống trong nhà. Mặt trước ngôi nhà nom vui tươi hơn nhiều; và hoa của Alice đang nở rộ ở đấy; nếu tôi còn là một chàng trai trẻ, cậu Holgrave a, người thương của tôi hẳn sẽ có một trong những bông hoa ấy cài trên ngực áo, dù tôi phải mạo hiểm bị ngã gãy cổ khi trèo lên hái đi nữa! Mà mưa gió đêm qua có làm cậu mất ngủ không?”
“Có, bác ạ!” Người nghệ sĩ mỉm cười trả lời. “Nếu tôi là người tin vào ma quỷ, và tôi không rõ mình có tin hay không, - chắc tôi sẽ kết luận rằng tất cả những người Pyncheon đã chết đang chạy loạn lên ở tầng dưới, nhất là đằng bà Hepzibah ở. Nhưng bây giờ lại rất yên tĩnh.”
“Phải, cô Hepzibah có khi sẽ ngủ quá giờ, sau khi chịu sự om sòm suốt đêm,” Bác Venner nói. “Nhưng chẳng phải lúc này nó bỏ trống sao, nếu ông thẩm phán đã đưa cả hai em họ của ông ấy về nông thôn cùng? Tôi thấy ông ta vào cửa hàng hôm qua.”
“Lúc mấy giờ ạ?” Holgrave hỏi.
“Ồ, trước buổi trưa,” ông lão nói. “Chà chà, tôi phải đi đây, cả cái xe cút kít của tôi nữa. Nhưng tôi sẽ quay lại đây vào giờ ăn trưa, con lợn nhà tôi thích bữa trưa ngang với bữa sáng. Không có giờ ăn nào, và không loại thức ăn nào không vừa ý con lợn nhà tôi hết. Chúc cậu buổi sáng tốt lành! Và, cậu Holgrave này, nếu tôi là một chàng trai trẻ như cậu, tôi sẽ hái một bó hoa Alice, và cắm vào nước cho tươi đến khi Phoebe trở về.”
“Tôi nghe đồn rằng,” nhà nhiếp ảnh vừa nói vừa rụt đầu vào, “nước ở giếng Maule hợp với những bông hoa đó nhất.” Đến đây cuộc đối thoại chấm dứt, và Bác Venner tiếp tục công việc của mình. Trong nửa giờ đồng hồ tiếp theo, không có thứ gì quấy rầy sự yên tĩnh của ngôi nhà bảy đầu hồi; cũng không có người khách nào, trừ một thằng bé giao báo tạt ngang cửa ném vào một tờ báo, vì bà Hepzibah thường lấy báo muộn. Sau đó một lúc, một phụ nữ đẫy đà xuất hiện, dáng vẻ hối hả, suýt ngã khi chạy lên bậc tam cấp của cửa hàng. Mặt bà ta đỏ bừng vì nóng, và buổi sáng hôm ấy khá ấm áp, bà ta thở phì phò và kêu rin rít, như thể sôi lên với hơi ấm của ống khói, hơi nóng của mùa hè, và cái nóng do sự vận động của thân hình sồ sề. Bà ta đẩy cánh cửa, nó không nhúc nhích. Bà ta đẩy lần nữa, với sự tức tối đến mức quả chuông kêu lanh canh đáp trả.
“Quỷ bắt mụ già Pyncheon đi!” Bà nội trợ nóng tính làu bàu. “Nghĩ xem, mụ ta giả bộ mở một hàng tạp hóa, rồi ngủ đẫy đến tận trưa. Chắc đây là cái mụ ta gọi là khí chất quý tộc! Nhưng mình sẽ lột bỏ vẻ mệnh phụ của mụ ta, hoặc phá sập cái cửa này!”
Bà ta lay mạnh nó, và quả chuông, sẵn tâm tính cáu kỉnh, liền kêu ầm ĩ, sự phản kháng của nó lọt vào tai - không phải tai những người định nghe, - mà là một phụ nữ tốt bụng nhà ở bên kia đường. Bà mở cửa sổ, và nói với người gõ cửa nôn nóng.
“Bà sẽ không tìm được ai ở nhà đó đâu, bà Gubbins ạ.”
“Nhưng tôi phải tìm được một người nào đó!” Bà Gubbins kêu lên, xả một cơn giận nữa vào quả chuông. “Tôi cần nửa pound mỡ lợn để rán mấy con cá bơn loại ngon cho bữa sáng của ông Gubbins; và, dù là công nương hay không, bà già Pyncheon cũng phải dậy và bán nó cho tôi!”
“Hãy nghe lí do đã, bà Gubbins!” Người phụ nữ ở bên kia đường nói. “Bà ấy và anh trai đều đến ngôi nhà nông thôn của anh họ hai người, thẩm phán Pyncheon, cả rồi. Không có ai ở nhà, trừ cậu nghệ sĩ nhiếp ảnh ngủ ở đầu hồi phía bắc. Tôi đã thấy bà Hepzibah và ông Clifford ra khỏi nhà hôm qua, họ như một đôi vịt kỳ quặc, lội qua những vũng bùn! Họ đi rồi, tôi đảm bảo với bà.”
“Thế sao bà biết họ đến nhà ông thẩm phán?” Bà Gubbins hỏi. “Ông ta là người giàu có, và giữa ông ta với bà Hepzibah vốn có mâu thuẫn xưa nay, vì ông ta không chu cấp cho bà ta. Thế nên bà ta mới phải mở hàng tạp hóa.”
“Tôi biết chứ,” bà hàng xóm nói. “Nhưng họ đi rồi, đó là điều chắc chắn. Nhưng còn ai ngoài một người bà con ruột thịt, không thể đành lòng, sẽ chấp nhận một phụ nữ già trái tính, và ông Clifford đáng sợ kia? Thế đấy, bà không phải băn khoăn.”
Bà Gubbins ra về, vẫn tràn đầy hậm hực với bà Hepzibah vắng mặt. Thêm nửa giờ đồng hồ nữa, hoặc có lẽ hơn, sự yên tĩnh tương đối bao trùm bên ngoài cũng như bên trong ngôi nhà. Nhưng cây du, tạo nên một hình ảnh dễ chịu, vui vẻ trong nắng sớm, lao xao trước cơn gió nhẹ; một bầy côn trùng vo ve dưới bóng râm của nó, và trở thành những đốm sáng mỗi khi chúng lao vào trong ánh nắng; một con châu chấu thỉnh thoảng cất tiếng kêu trong một hốc bí hiểm nào đó của cái cây; và một chú chim cô độc, với bộ lông vàng óng, bay đến vờn quanh những bông hoa của Alice.
Cuối cùng người quen nhỏ tuổi của chúng ta, Ned Higgins, lê bước trên đường tới trường; và ngẫu nhiên, lần đầu tiên trong nửa tháng qua, lại có một xu trong túi, nó không thể cứ thế đi qua cửa hàng của ngôi nhà bảy đầu hồi. Nhưng cửa không mở. Thử lại và thử lại, và nửa tá lần thử nữa, với sự cố chấp không lay chuyển của một đứa trẻ chú tâm vào món đồ quan trọng với nó, nó không ngừng nỗ lực để được vào. Chắc hẳn nó đã đặt cả trái tim mình vào một con voi; hoặc, có thể, giống như Hamlet, nó định ăn một con cá sấu[15]. Đáp lại những đợt tấn công mỗi lúc một dữ dội của nó, quả chuông thỉnh thoảng lại lanh canh một tiếng khiêm nhường, không thể nào khua ầm ĩ bởi sức mạnh của một đứa bé đang cố kiễng chân. Giữ tay nắm cửa, nó ghé mắt nhìn qua kẽ rèm, và thấy cánh cửa bên trong, dẫn từ hành lang vào sảnh, đóng kín.
“Bà Pyncheon!” Thằng bé gào lên, gõ vào kính cửa sổ, “cháu muốn một con voi!”
Không có lời đáp trước một tràng tiếng gọi lặp đi lặp lại, Ned bắt đầu mất kiên nhẫn; cái bình nhỏ chứa sự nóng nảy của nó nhanh chóng sôi lên, nó nhặt một viên đá, với một mục đích xấu là ném qua cửa sổ, trong lúc ấy khóc bù lu bù loa và lắp bắp vì phẫn nộ. Một người đàn ông - một trong hai người tình cờ đi ngang qua túm lấy tay thằng nhóc.
“Có chuyện gì thế, quý ngài?” Anh ta hỏi.
“Cháu muốn bà Hepzibah, hoặc chị Phoebe, hoặc bất cứ ai trong số họ!” Ned thổn thức. “Họ không chịu mở cửa, và cháu không thể lấy con voi của cháu!”
“Đến trường đi, chó con!” Người đàn ông nói. “Còn một hàng tạp hóa nữa ở góc phố mà. Lạ thật đấy, Dixey,” anh ta nói thêm với người đi cùng, “Tất cả những người Pyncheon này đi đâu ấy nhỉ! Smith, người giữ tàu ngựa, bảo với tôi là hôm qua thẩm phán Pyncheon đã gửi con ngựa của ông ta ở đấy đến tận sau bữa tối, và vẫn chưa lấy về. Và một người làm trong nhà ông thẩm phán sáng nay đã hỏi thăm về ông ta. Nghe bảo ông ta là kiểu người hiếm khi phá bỏ thói quen, hay ngoài qua đêm.”
“Ồ, ông ta sẽ xuất hiện an toàn thôi!” Dixey nói. “Còn về bà già Pyncheon, tin tôi đi, bà ta ngập trong nợ nần, và chạy trốn các chủ nợ rồi. Tôi đã đoán trước, anh nhớ không, vào buổi sáng đầu tiên bà ta mở cửa hàng, rằng vẻ cau có độc địa của bà ta sẽ dọa khách hàng chạy hết. Họ không chịu nổi nó!”
“Tôi chưa bao giờ nghĩ bà ấy sẽ thành công,” bạn anh ta nhận xét. “Việc kinh doanh cửa hàng tạp hóa này là quá sức phụ nữ. Vợ tôi đã thử, và mất năm dollar tiền vốn!”
“Làm ăn khó lắm!” Dixey lắc đầu cảm thán. “Làm ăn khó lắm!”
Trong cả buổi sáng, có nhiều nỗ lực khác nhằm giao tiếp với những người được cho là cư ngụ trong ngôi nhà im làm và bí ẩn. Người giao bia đến, trên chiếc xe chở hàng được sơn gọn ghẽ, với hai tá chai bia đầy, để đổi lấy các chai rỗng; người giao bánh, với số lượng lớn bánh quy giòn bà Hepzibah đã đặt cho khách bán lẻ; người bán thịt, với một miếng thịt ngon mà ông ta nghĩ bà sẽ sốt sắng lấy ngay cho Clifford. Nếu có ai trong số họ biết về bí mật đáng sợ giấu trong ngôi nhà, nó sẽ tác động đến người đó với một nỗi kinh hoàng có hình thù và biến thể đặc biệt, khi thấy những xoáy nước nhỏ do dòng đời tạo nên ở đây, - những cành khô, củi mục và các thứ rác rưởi khác xoay tít trên miệng cái hố đen nơi một xác chết nằm sâu dưới đáy.
Người bán thịt rất hào hứng với miếng ức cừu của mình, hay bất cứ miếng thịt ngon lành nào có thể có, nên ông ta gõ mọi cánh cửa của ngôi nhà bảy đầu hồi, và cuối cùng lại vòng ra cửa hàng, lối ông ta thường vào.
“Nó là miếng thịt ngon, mình biết bà lão sẽ hoan hỉ khi thấy nó,” ông ta tự nhủ. “Bà ấy không thể đi xa được! Trong mười lăm năm đánh xe qua phố Pyncheon, mình chưa bao giờ thấy bà ấy vắng nhà, mặc dù cũng có nhiều lúc có người gõ cửa cả ngày nhưng bà ấy không ra mở. Nhưng đó là hồi bà ấy chỉ sống một mình.”
Nhòm qua kẽ rèm mà không lâu trước đó, thằng bé thích ăn voi đã nhòm, người bán thịt quan sát thấy cánh cửa bên trong, không đóng, như đứa trẻ đã thấy, mà mở rộng. Bất kể có thể xảy ra chuyện gì, đó cũng là sự thật. Lối đi tối om dẫn vào một khoảng sáng hơn nhưng vẫn lờ mờ của gian sảnh. Có vẻ như người bán thịt nhìn ra được một đôi chân lực lưỡng, trong chiếc quần đen, của một người đàn ông ngồi trong chiếc ghế gỗ sồi lớn, lưng ghế che khuất phần còn lại của người đó. Sự bình thản khinh thường này của một người ở trong nhà, đáp lại những nỗ lực không mỏi mệt của người bán thịt để thu hút sự chú ý, đáng giận đến nỗi ông ta quyết định rút lui.
“Thế đấy,” ông ta nghĩ bụng, “anh trai của bà Pyncheon ngồi đó, trong lúc mình tự chuốc lấy tất cả những mệt nhọc này! Nếu một kẻ thô lỗ đã không biết phép lịch sự, mình sẽ cho hắn biết tay! Đó gọi là ăn miếng trả miếng. Từ giờ trở đi, nếu bọn họ muốn một khúc xúc xích hay một ounce gan, bọn họ sẽ phải chạy sau xe mà gọi đến khản cổ.”
Ông ta quăng miếng thịt vào xe, rồi hầm hầm lái đi.
Không lâu sau có tiếng nhạc vòng qua góc phố và tiến lại gần, lúc nhặt lúc khoan, rồi bùng lên một giai điệu sôi động mới mẻ và ở gần hơn. Một đám trẻ con tiến lên, hoặc dừng lại, theo nhịp âm thanh, hình như phát ra từ giữa đám đông; chúng bị buộc lỏng lẻo vào nhau bằng những sợi mỏng manh của bản hòa âm, và bị kéo đi; thỉnh thoảng lại bổ sung thêm một thằng nhóc mặc quần yếm và đội mũ rơm, nhảy ra từ cánh cửa hoặc cổng. Tới dưới bóng cây du Pyncheon, hóa ra là thằng bé người Ý, với con khỉ và màn diễn rối, đã từng chơi đàn quay bên dưới cửa sổ vòm. Gương mặt tươi tắn của Phoebe - và chắc chắn rồi, cả khoản tiền thưởng hào phóng cô ném cho nó nữa vẫn in trong trí nhớ của nó. Nét mặt đầy biểu cảm của nó sáng lên, khi nhận ra nơi có kỷ niệm nhỏ trong cuộc đời lang thang của mình. Nó bước vào khoảng sân không được chăm sóc (giờ đây càng nhếch nhác hơn, với cỏ dại và ngưu bàng mọc tràn lan), ngồi xuống bậc cửa, và, mở hộp đàn ra, bắt đầu chơi. Các nhân vật trong bộ máy lập tức làm việc, theo nghề chính của mình: con khỉ, ngả cái mũ Cao Nguyên Scotland của nó xuống, nhún chân cúi chào những người đứng xung quanh một cách quỵ lụy nhất, với con mắt tinh anh để nhặt một đồng xu ném trượt; và thằng bé người nước ngoài, vừa quay cây đàn vừa ngước lên cửa sổ vòm, mong chờ một sự hiện diện sẽ làm tiếng nhạc của nó sinh động và du dương hơn. Đám trẻ con đứng xúm vào. Trên vỉa hè, trong sân, hai ba đứa leo lên cả bậc cửa, và một đứa ngồi xổm trên ngưỡng cửa. Trong khi ấy, con châu chấu vẫn hát trên cây du Pyncheon cổ thụ.
“Tao không nghe thấy tiếng ai trong nhà,” một đứa nói với đứa khác. “Con khỉ sẽ chẳng nhặt được xu nào ở đây đâu.” “Có người trong nhà,” thằng nhóc trên ngưỡng cửa khẳng định. “Tao nghe thấy tiếng chân!”
Ánh mắt của thằng bé người Ý vẫn hướng lên; và thật cứ như cảm xúc chân thành, dù mỏng manh và gần như vui đùa, đã truyền sự ngọt ngào tươi mát cho khúc nhạc máy móc, khô khan của thằng bé. Những người lang bạt này sẵn sàng đáp lại mọi điều tử tế - chỉ là một nụ cười, một lời nói không hiểu nghĩa nhưng chứa đựng sự ấm áp – họ nhận được trên đường. Họ nhớ những điều này, vì chúng là những niềm vui nhỏ, trong chốc lát, - như không gian phản chiếu cảnh vật trong một bong bóng xà phòng, - xây nên một ngôi nhà quanh họ. Vì lẽ đó, thằng bé người Ý sẽ không nhụt chí bởi sự im lặng nặng nề mà ngôi nhà dường như kiên quyết chặn đứng tiếng đàn của nó. Nó kiên nhẫn khẩn cầu bằng giai điệu; nó vẫn nhìn lên, tin rằng gương mặt ngăm ngăm của mình sẽ sớm bừng lên bởi vẻ mặt tươi cười của Phoebe. Nó cũng không thể rời đi mà không trông thấy Clifford, sự nhạy cảm của ông, giống như nụ cười của Phoebe, đã nói một thứ ngôn ngữ của trái tim với thằng bé nước ngoài. Nó chơi đi chơi lại bản nhạc, cho đến khi các thính giả bắt đầu thấy chán. Đám người gỗ tí hon trong hộp đàn của nó cũng vậy, và con khỉ chán nản nhất. Không có sự hồi đáp, trừ tiếng hát của con châu chấu.
“Không có trẻ con sống trong nhà này đâu,” cuối cùng một thằng bé học sinh bảo. “Chẳng có ai ngoài một ông già với một bà già. Anh sẽ không kiếm được gì ở đây cả! Sao anh không đi đi?”
“Đồ ngốc, sao mày lại bảo anh ấy thể?” Một thằng nhóc Yankee sắc sảo thì thào, không quan tâm đến âm nhạc mà là sự ưu đãi miễn phí của nó. “Cứ để anh ấy chơi cho thỏa thích! Nếu không có ai thưởng tiền cho anh ấy thì đấy là chuyện của anh ấy!”
Tuy nhiên thằng bé người Ý lại đàn thêm một vòng. Với người quan sát bình thường - không hiểu nội tình, ngoài tiếng nhạc và ánh nắng ở bên này cánh cửa – có thể thấy thú vị khi chứng kiến sự cố chấp của người nghệ sĩ đường phố. Cuối cùng cậu ta có thành công không? Cánh cửa bướng binh kia có đột nhiên mở ra? Đám trẻ con hớn hở, những người trẻ trong nhà, có đến nhảy múa, la hét, cười đùa, xúm quanh hộp đàn, háo hức nhìn những con rối, và mỗi người có ném một xu cho con khỉ Mammon đuôi dài nhặt lên không?
Nhưng với chúng ta, những người biết rõ trái tim bên trong ngôi nhà bảy đầu hồi cũng như gương mặt bên ngoài của nó, có một hậu quả kinh khủng trong sự lặp đi lặp lại giai điệu vui tươi ấy ở bậc cửa. Sẽ thật tệ hại nếu thẩm phán Pyncheon (người ắt sẽ chẳng màng đến ngón đàn của Paganini[16] ngay cả khi tâm trạng lâng lâng nhất) xuất hiện ở cửa, với ngực áo sơ mi đẫm máu, gương mặt trắng nhợt dữ tợn, và xua tay đuổi cậu bé lang thang đi! Có sự tẩy chay những điệu jig và điệu waltz nào như thế, nơi không một ai thích nhảy múa không? Có chứ, rất thường xuyên. Sự đối lập, hoặc hòa trộn bi kịch với niềm vui này, xảy ra hàng ngày, hàng giờ, hàng phút. Ngôi nhà cũ tiêu điều ảm đạm, thiếu vắng sự sống, với Thần Chết ngồi im lìm trong cô độc, là tượng trưng cho nhiều trái tim con người, nhưng nó lại phải nghe tiếng rộn rã và âm vang của thế giới vui vẻ xung quanh.
Trước khi màn trình diễn của thằng bé người Ý kết thúc, có hai người đàn ông đi ngang qua, trên đường đi ăn. “Tôi bảo này, cậu người Pháp!” một người trong đó nói to, “rời khỏi bậc cửa đó đi chỗ khác mà diễn trò! Nhà Pyncheon sống ở đấy, và hiện họ đang gặp rắc rối lớn. Họ không có hứng nghe nhạc hôm nay đâu. Cả thị trấn đang đồn rằng thẩm phán Pyncheon, người sở hữu ngôi nhà, vừa bị giết; cảnh sát trưởng sắp đến điều tra. Cậu đi ngay đi còn kịp!”
Khi thằng bé người Ý vác cây đàn lên vai, nó trông thấy một tấm thiếp trên bậc cửa, bị phủ lên, từ sáng đến giờ, bởi tờ báo mà thằng nhóc giao báo ném vào, nhưng giờ đã lộ ra. Nó nhặt lên, thấy dòng chữ viết bằng bút chì, liền đưa cho người đàn ông xem. Đó là danh thiếp của thẩm phán Pyncheon với ghi chú bằng bút chì ở mặt sau, về những công việc ông ta định làm ngày hôm trước. Đó là bản tóm tắt lịch trình trong ngày. Tấm thiếp chắc đã rơi ra từ túi áo vest của thẩm phán trong nỗ lực ban đầu của ông ta định vào nhà qua cửa chính. Dù ướt sũng nước mưa, nó vẫn đọc được.
“Nhìn này, Dixey!” Người đàn ông kêu lên. “Cái này liên quan đến thẩm phán Pyncheon. Thấy không! - tên ông ta in trên đó; và đây, tôi nghĩ là chữ của ông ta.”
“Đem cái này đến chỗ cảnh sát trưởng thị trấn đi!” Dixey bảo. “Nó có thể cho đúng manh mối ông ấy cần. Xét cho cùng,” anh ta thì thầm vào tai bạn mình, “chẳng có gì lạ nếu ông thẩm phán đi vào cánh cửa đó và không bao giờ trở ra! Một người em họ của ông ta có lẽ đã giở trò cũ với ông ta. Còn bà già Pyncheon nợ nần chồng chất vì cửa hàng tạp hóa, - và túi tiền ông thẩm phán thì đầy ắp, và mối căm ghét sẵn có giữa bọn họ! Ghép tất cả những chuyện này vào nhau và xem chúng tạo nên cái gì!”
“Suỵt, suỵt!” Người kia thì thào. “Có vẻ như một tội ác là điều đầu tiên khi nói về chuyện đó. Nhưng tôi nghĩ tốt hơn ta cứ đi gặp cảnh sát trưởng đã.”
“Đúng, đúng!” Dixey nói. “Tôi vẫn bảo có cái gì đó đáng sợ trong vẻ cau có của người phụ nữ đó mà.”
Hai người đàn ông liền quay đầu, đi ngược trở lại con phố. Thằng bé người Ý cũng rút nhanh, gửi ánh nhìn từ biệt lên cửa sổ vòm. Còn lũ trẻ con nhất loạt bỏ chạy, nhốn nháo như thể có một tên khổng lồ hay yêu tinh ăn thịt người đuổi theo, được một quãng xa ngôi nhà, chúng dừng lại đột ngột và đồng loạt như lúc bỏ chạy. Thần kinh nhạy cảm của chúng rung lên một cảnh báo mơ hồ từ những gì chúng nghe lỏm được. Nhìn lại những chóp nhọn kỳ cục và những góc tối của tòa nhà cũ, chúng như thấy một sự u ám bủa vây quanh nó mà không ánh nắng rực rỡ nào có thể xua tan. Một bà Hepzibah tưởng tượng quắc mắt và chỉ ngón tay vào chúng, từ mấy cửa sổ cùng lúc. Một ông Clifford tưởng tượng - vì (ông sẽ tổn thương sâu sắc nếu biết) ông luôn là nỗi kinh hoàng đối với những đứa nhỏ này - đứng đằng sau bà Hepzibah, làm những cử chỉ đáng sợ, trong chiếc áo choàng ngủ bạc màu. Trẻ con dễ bị lây sự hoảng loạn hơn người lớn. Bởi vậy phần còn lại trong ngày, những đứa nhút nhát dạt sang các phố bên cạnh, để tránh xa ngôi nhà bảy đầu hồi, trong khi những đứa can đảm hơn đề cao lòng dũng cảm bằng việc thách đám bạn của mình chạy đua qua ngôi nhà cũ.
Không được quá nửa giờ sau khi thằng bé người Ý biến mất, cùng với bản nhạc không đúng lúc của mình, một chiếc xe khách chạy vào phố. Nó dừng lại dưới cây du Pyncheon; người đánh xe xách một chiếc va li, một cái túi vải bạt, và một cái hộp bìa cứng, từ trên xe mang xuống đặt ở bậc thềm ngôi nhà cũ; một chiếc mũ rơm, rồi hình dáng xinh xắn của một cô gái xuất hiện từ trong xe. Đó là Phoebe. Dù không được rực rõ như lần đầu tiên cô bước vào câu chuyện của chúng ta, bởi, trong vài tuần từ đó đến nay, những trải nghiệm đã khiến cô nghiêm nghị hơn, chín chắn hơn, mắt cô sâu hơn, biểu hiện của một trái tim bắt đầu nghi ngờ sự sâu sắc của nó, - song vẫn có một thứ ánh sáng âm thầm bao quanh. Cô cũng không đánh mất khả năng làm cho mọi thứ trông chân thật, hơn là tưởng tượng, trong thế giới của mình. Tuy nhiên chúng ta cảm thấy đó sẽ là một việc mạo hiểm, ngay cả với Phoebe, khi bước qua ngưỡng cửa ngôi nhà bảy đầu hồi. Sự hiện diện lành mạnh của cô có đủ để xua đuổi những bóng ma nhợt nhạt, lẩn khuất, tội lỗi đã chiếm cứ nơi đây từ khi cô đi vắng? Hay cô, cũng sẽ tàn héo, ốm yếu, ủ rũ, trở nên dị dạng, và trở thành một bóng ma xanh xao khác, lướt đi không tiếng động trên cầu thang, và dọa phát khiếp lũ trẻ khi cô dừng lại ở cửa sổ?
Chí ít, chúng ta sẽ vui vẻ báo trước với cô rằng không có thứ gì mang hình hài con người đón tiếp cô cả, trừ hình hài thẩm phán Pyncheon, người vẫn ngồi nguyên trong cái ghế gỗ sồi – ông ta tạo nên một cảnh tượng thảm hại, và đáng sợ trong trí nhớ chúng ta, từ cái đêm dài thức trắng cùng ông ta.
Đầu tiên Phoebe đẩy cánh cửa cửa hàng. Nó không xê dịch trước tay cô, và tấm rèm trắng, giăng ngang cửa sổ tạo thành nửa trên cánh cửa, đánh vào nhận thức của cô về một điều gì đó bất thường. Không tìm cách vào qua lối này nữa, cô chạy sang cửa chính, dưới cửa sổ vòm. Thấy nó cài chốt, cô gõ cửa. Âm thanh dội lại từ khoảng trống bên trong. Cô lại gõ, tới lần thứ ba; và, lắng tai nghe, cảm tưởng sàn nhà cót két, như thể bà Hepzibah đang đi ra, bằng bước chân rón rén thường ngày, để đón cô. Nhưng sự im lặng chết chóc theo sau tiếng động tưởng tượng này khiến cô bắt đầu tự hỏi phải chăng mình đã vào nhầm nhà, có bề ngoài quen thuộc với trí nhớ của cô.
Rồi giọng nói từ xa của một đứa trẻ làm Phoebe chú ý. Dường như nó gọi tên cô. Nhìn về hướng nó phát ra, Phoebe trông thấy thằng bé Ned Higgins, ở dưới phố một quãng khá xa, giậm chân, lắc đầu quầy quậy, làm những cử chỉ can ngăn bằng cả hai tay, và gào hết cỡ giọng với cô.
“Không, không, chị Phoebe!” Nó hét. “Đừng vào! Có thứ đáng sợ ở đó! Đừng - đừng - đừng vào!”
Nhưng do thằng bé không dám đến đủ gần để giải thích, Phoebe liền cho rằng nó đã bị một phen hoảng sợ, trong một lần nào đó ghé vào cửa hàng, bởi cô Hepzibah của cô, vì những biểu hiện của bà quả thực chênh vênh giữa khả năng dọa chết khiếp lũ trẻ, hoặc khiến chúng cười phá lên. Song lần này cô cảm thấy ngôi nhà đã trở nên yên lặng và bí ẩn một cách khó hiểu. Phoebe chọn lối vào thứ ba, qua khu vườn, trong một ngày nắng ráo ấm áp như hôm nay, cô nghĩ sẽ tìm thấy ông Clifford, và có lẽ cả bà Hepzibah, đang ngồi rỗi qua buổi trưa dưới mái chòi hóng mát. Vừa bước qua cổng vườn, gia đình gà trống đã nửa chạy nửa bay tới đón cô; trong lúc đó một con mèo già, đang lảng vảng bên dưới cửa sổ gian sảnh, liền lao vút đi, vội vã trèo qua hàng rào, và biến mất. Căn chòi vắng tanh, mặt sàn, chiếc bàn và băng ghế tròn vẫn ẩm ướt, vương vãi cành cây và dấu vết của cơn bão vừa tan. Khu vườn dường như phát triển tràn lan, cỏ dại tranh thủ lúc Phoebe đi vắng, và trận mưa kéo dài, để mọc um tùm giữa đám hoa và rau trồng. Giếng Maule nước tràn qua thành bằng đá, tạo thành một cái ao trong góc vườn.
Ấn tượng về toàn bộ khung cảnh là một nơi không có dấu chân người đặt tới trong nhiều ngày, có lẽ kể từ lúc Phoebe ra đi, - vì cô thấy chiếc xược cài tóc của mình dưới gầm bàn của căn chòi, hẳn nó đã rơi xuống đấy vào buổi chiều cuối cùng cô và ông Clifford ngồi ở đó.
Cô gái biết hai người họ hàng của mình có thể là những người rất kỳ quặc để nhốt mình trong ngôi nhà cũ, như họ có thể đã làm thế lúc này. Tuy vậy, với nỗi lo sợ phảng phất về một điều chẳng lành, và nhận thức về một điều không thể gọi tên, cô tiến đến cánh cửa là cầu nối quen thuộc giữa ngôi nhà và khu vườn. Nó bị chốt từ bên trong, giống hai cánh cửa cô đã cố mở. Song cô vẫn gõ lên đó; và tức thì, như thể chờ sẵn, cánh cửa được mở ra, bằng sức mạnh đáng kể của một người giấu mặt nào đó, không rộng, mà chỉ đủ để cô lách người vào. Vì bà Hepzibah, để không phơi mình trước ánh mắt săm soi từ bên ngoài, luôn mở cửa theo kiểu này, Phoebe mặc nhiên cho rằng chính là bà đã đón cô.
Do đó, không lưỡng lự, cô bước qua ngưỡng cửa, và ngay sau đó cánh cửa đóng lại sau lưng cô.