Chuyện Phiếm Sử Học

Lượt đọc: 112 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
TIỀN QUÝ VÀ TIỀN GIÁN

❊ ❊ ❊

Chứng cớ rành rẽ là của Lê Quý Đôn (Vân Đài loại ngữ, Phạm Vũ - Lê Hiền dịch, Sài Gòn 1973, tr. 444):

- Một mạch sử tiền (tiền gián) có 36 đồng tiền đồng;

- Một mạch cổ tiền (tiền quý) có 60 đồng tiền đồng;

- Mười mạch sử tiền bằng 6 mạch cổ tiền, bằng một quan sử tiền;

- Mười mạch cổ tiền bằng 1 quan 6 mạch 24 đồng sử tiền.

(Vì chép lại nguyên văn bản dịch, chúng tôi giữ lại tên gọi “sử tiền” để rồi sẽ bàn sau về “sử” hay là “sứ”).

Hai vế sau chỉ là suy diễn từ trên - một cách làm tính giùm cho độc giả của người xưa. Riêng hai vế đầu cũng đủ xác định tương quan đơn vị của hai loại tiền: tỉ lệ đơn vị tính đếm trên cấp bực mạch/tiền, quán/quan của quan-thiếu (tiền gián) và quan-đủ (tiền quý) là 3/5 (36/60 hay 360/600). Vấn đề đặt ra ngay ở đây là tại sao có con số 36, tại sao không là 30, 40? Có lẽ dân chúng căn cứ ngay trên con số 6 (đã trở thành quen thuộc) từ trên triều đình mà làm thêm một tầng cấp khác (6x6) cho hợp với tình hình thực tế thiếu thốn của mình.

A. Schroeder (Đại Nam hóa tệ đồ tục - Annam, Etude numismatique, Paris 1905, tr. 61) hẳn sử dụng một bản Vân Đài loại ngữ khác, cho biết quy định trên là từ tháng 10 âl, niên hiệu Quang Thuận thứ 8 (1467) của Lê Thánh Tông (Cương mục, bản dịch I 1998, tr. 1059, 1060). Tại sao có quy định như thế? Đương thời ở Đại Việt đã xảy ra chuyện như thời Hậu Tề trước kia chăng? Dân không theo lệnh năm 1439, đã dùng một thứ đoản tiền cho riêng mình và Lê Thánh Tông trong cố gắng thể chế hóa phép nước nên đành công nhận thói tục bằng một văn bản chăng? Sử sách của ta vốn hà tiện lời thì đành phải dừng lại ở chỗ phỏng đoán vậy.

Ta lại còn phải suy đoán thêm về các từ ngữ được sử dụng. Lê Quý Đôn là người của thế kỷ XVIII, các danh từ chỉ các loại tiền đó vẫn thường được thấy trong thế kỷ XVII, XVIII nhưng người của thế kỷ XV có dùng chữ tiền gián, tiền quý, tiền cổ, tiền sử giống như những nhóm từ định-loại đó vào thời gian sau không, bởi ta thấy trong đó có những nhóm từ mang nghĩa rất mơ hồ? Cho rằng chúng đã được sử dụng từ thế kỷ XV, nhưng nội dung của chúng có biến đổi theo năm tháng - hay có khi đã chuyển đổi cả hình thức tên gọi trong trường hợp này không? Lại thêm một chữ Hán có thể đọc thành hai, nhiều lối, trong một trường hợp trên nên đọc là sử tiền hay sứ tiền? Phần rất lớn các dịch giả đều đọc là “sử tiền”, chỉ gần đây mới thấy Hà Văn Tấn (chú thích Dư địa chí) dùng chữ “sứ tiền”.

Cổ tiền, tiền cổ, tiền xưa, tưởng là dễ nhận ra ý nghĩa nhất, nhưng như thế nào để được gọi là “tiền cổ”? Lê Thái Tông khi quy định 1 quan ăn 600 đơn vị hẳn là để chỉ trước tiên vào các đồng Thuận thiên của cha mình, các đồng Thiệu bình, Đại bảo của chính mình, nghĩa là các thứ chẳng có thể gọi là “cổ”. Nếu muốn chỉ chung tiền niên hiệu của các vua trước, vơ vào cả các niên hiệu của thiên tử phương Bắc (tiền chắc chắn là tốt) thì khá đúng với thực trạng rất nhiều tiền Trung Quốc trong các lô tiền còn tốt thấy được từ trong đất ngày nay. Nhưng sao trong mộ cổ Gò Mun, người ta sắp từng cọc 36 đơn vị của Thái bình thông bảo, tiền của Tống Thái Tông? (Ta suy đoán mà biết chắc chủ nhân của chúng tuy báo cáo khai quật không nói rõ). Con số trên là đủ cho một tiền gián tiền, cổ tiền đấy, sao không sắp từng cọc 60 đơn vị? Tiền chôn theo người chết là để ăn đường, để hối lộ khi qua Quỷ Môn Quan mà đưa tiền-thiếu thì hàng quán nào nhận, quỷ sứ nào bỏ túi rồi không quất thêm một roi?

Chữ tương đương với cổ tiền là quý tiền/tiền quý. Thấy tương đương với tiền cổ, đọc trên một bản văn quốc ngữ, người ta dễ dàng nghĩ quý là “quý giá” nhưng không phải. Trong hoàn cảnh riêng lúc này, chúng tôi chỉ thấy nó xuất hiện năm 1625 trong sử với bản chữ Hán kèm theo (Toàn thư, bản Chính Hòa, phần của Phạm Công Trứ, tập III, tr. 328, 329, tập IV, 8b, 9a. Phan Huy Chú cũng có nhắc trong Lịch triều hiến chương loại chí, Quốc dụng chí, tr 229. Tất cả đều căn cứ trên một lệnh, chi tiết hơn, may còn văn bản được dịch trong Lê triều chiếu lịnh thiện chinh, Sài Gòn 1961. tr. 68-71. Phần chữ Hán kèm theo giúp chúng ta điều chỉnh các lời dịch sai, sót). Nội dung lệnh đó nói về thuế thân nên các dịch giả có khi dùng chữ thuế thân thay vào. Và đó là chữ “quý” chỉ tam cá nguyệt, mùa. Vì đó chúng ta có thể nghĩ rằng tiền quý không phải chỉ riêng cho thuế thân mà còn là thuế ruộng, nói rộng ra, tất cả các thứ thuế nộp cho triều đình. Phỏng đoán không phải là vô căn cứ và nhân đó ta có thể suy ra lý do ghép đôi với cổ tiền còn mãi đến về sau.

Từ thời Lê trung hưng (thế kỷ XVII, XVIII), những quy định về thuế má, tặng thưởng có lúc nói sóng đôi tiền quý, tiền gián, hoặc chỉ nói riêng đến việc thu tiền quý cho nhà nước thôi. Lệnh năm Thiệu Bình thứ 1 (1434), Hồng Đức thứ 17 (1486) tuy chỉ là cấm người coi kho, người thu nhận không được chọn lựa tiền quá gắt, nhưng rõ ràng không có phân biệt loại tiền đồng nào, miễn bằng đồng là được. Và cũng cho ta ngầm hiểu là nhà nước thu theo quan-đủ (600 đơn vị). Từ 1226, Trần đã quy định tiền tính mạch (thiếu trong dân chúng là 69, còn tiền thường cúng, dâng lên trên, phải đủ 70, thì không lẽ ông Lê Thánh Tông chịu thiệt, cứ để dân chúng theo thói tục riêng mà nộp chỉ có 36 đồng một tiền? Căn bản lợi tức của nhà nước ngày xưa chỉ có ruộng đất và thân xác người dân, vậy thì cách thu đủ như vậy đã khiến cho chữ tiền quý đi vào trong cấp bực quan-đủ.

Chuyện thắc mắc về cách xếp đặt tiền cổ theo quan-thiếu trong “mộ cổ” Gò Mun ở trên, chứng tỏ vào lúc đó người ta - hay gia đình người chết, chỉ quan tâm đến cách tính đếm tiền mà không nghĩ đến sự phân biệt phẩm chất của loại tiền sử dụng. Điều này đã khác đi theo với thời gian. Chữ tiền gián với nghĩa rõ ràng là “tiền xấu” xuất hiện trong sử vào năm 1528, khi sử quan nói về việc Mạc Đăng Dung đúc tiền đồng pha kẽm, sắt sau khi đúc Minh đức thông bảo theo kiểu tiền xưa, không được thành công. Không thấy Từ hải ghi chữ “gián tiền”. Chữ “gián” ở đây có nghĩa là “xen lẫn”, “lẫn lộn”, “chỉ cách nhau một tí”. Vậy là những nhà nho Việt của thế kỷ XVI có thể sử dụng một từ Hán cũ cho mang ý nghĩa mới, tệ hơn, từ “cách nhau một tí” không đáng quan tâm, đã chuyển sang “lẫn lộn” để chỉ loại tiền xấu đó theo với sự đồng thuận của thời đại. Tiền gián đến đây có thể nói là thuộc về một thứ tiền hầm-bà-lằng, miễn có sắc đồng, vành tròn lỗ vuông, của chính thông cũng được, ngụy cũng xong, chính tà khó phân bởi vì người dân đúc lậu thì gọi là tiền giả, nhưng chính nhà nước cũng đúc tiền lấy danh xưng của các thứ đang lưu hành, nấp dưới uy tín có sẵn của chúng. (Trong lệnh 1743 cho thấy Lê Trịnh đúc tiền Tống mà, nói theo kiểu ngày nay, lại còn ép dân chúng phải chấp nhận sự sang đoạt “bản quyền” đó trói buộc người ta không được loại bỏ). Chắc cũng hiểu thứ tiền rắc rối đó được dân chúng chấp nhận, nên các dịch giả ngày nay thường giải thích, chuyển âm sử tiền/tiền sử ra nghĩa “tiền thường”, “tiền thông dụng” (tuy vẫn có sự lộn xộn là chính văn đôi khi vẫn dùng chữ “thông dụng tiền” để chỉ cả tiền cổ lẫn tiền sử). Vậy có lẽ từ khi Lê Thánh Tông chấp nhận (1467) lối tính quan-thiếu (360 đơn vị) của dân chúng chỉ ở sự khác biệt về số lượng đối với quan-đủ (600 đơn vị) thì đến thế kỷ XVI, XVII, XVIII, đã tính đến sự chênh lệch về giá trị tự thân (giá trị chất đồng) của đồng tiền lưu dụng, Sự chênh lệch đó là do kết quả lẫn lộn phối hợp của chất tiền và cỡ tiền sử dụng.

Cả hai ý nghĩa quan đủ, quan thiếu, đồng thời lợi dụng văn từ vặn vẹo vừa theo lối tính đếm đơn vị vừa theo cách xác định giá trị, thấy trong câu chuyện “đùa bỡn văn chương” của hai nhân vật sống ở thế kỷ XVIII, XIX: Phạm Đình Hổ và Hồ Xuân Hương. Ta không cần minh định tính xác thực lịch sử của loại chuyện tiếu lâm này. Chúng chỉ là dấu vết ẩn ức tình dục, không phải chỉ riêng cho Hồ Xuân Hương như nhiều người nghĩ đến, và có khi mượn S. Freud đưa ra làm luận thuyết, mà là chung cho cả nhiều thế hệ nho sĩ, vốn chịu đựng một thứ Khổng giáo mang tính duy lý từ chương gay gắt, trong lúc bản thân vẫn sống trong một xã hội thôn dã tràn trề tính dục. Trong câu chuyện trên, “bà” hỏi mượn “ông” năm quan, ông chắc vừa tiếc tiền (“Bắc thang lên hỏi ông trời, Những tiền cho gái có đòi được không?”) vừa sợ mất “gái”, nên chỉ đưa có ba quan. Đến khi bị bà vặn hỏi:

Sao nói rằng năm lại có ba?

Trách người quân tử hẹn sai ra.

Bao giờ thong thả lên chơi nguyệt,

Nhớ hái cho xin nắm lá đa.

ông cũng núp bóng nhân dân, truyền thống, nhưng vặn vẹo truyện tích chú Cuội, trả lời khêu gợi, dẫn dụ khích động:

Rằng gián thì năm, quý có ba,

Bởi người thục nữ tính không ra.

Ừ, rồi thong thả lên chơi nguyệt,

Cho cả cành đa lẫn củ đa.

Nếu chọn theo lối tính đếm đơn vị thì đưa 3 quan-đủ cũng tức là đưa đủ 5 quan-thiếu, quan nào cũng là quan, có dối trá chút nào đâu! Nếu chọn theo lối tính giá trị thì 3 quan tiền quý (tốt) đã là 5 quan (tiền gián) rồi, nay tôi đưa “người thục nữ” 3 quan tiền tốt, giá trị cũng bằng số lượng hỏi mượn (quan nào cũng là quan), có thiệt thòi chút nào đâu! Còn muốn vơ hết về mình để được cả hai đằng (tiền tốt đồng thời với số lượng nhiều) thì hãy cứ có dating để bù phần thiệt thòi cho tôi!

Lối tính toán này không phải chỉ có trong truyện tiếu lâm mà đã được nhà nước Lê Trịnh thu xếp với nhân dân rất là cửa quyền, đầy tính năng động, sáng tạo. Nhưng trước hết hãy xét vì sao có sự kiện đậm thêm tính chất tiền xấu trong ý nghĩa về loại tiền gián. Muốn hiểu được điều này lại phải nhờ “người nước ngoài”.

Giáo sĩ A. de Rhodes (A. Schroeder, sđd, tr. 323, 324) thuật lại:

“Những đồng tiền lưu hành ở Tunquin [Đàng Ngoài] gồm có hai loại lớn và nhỏ. Loại lớn được tiêu dùng đồng loạt khắp nơi trong xứ và phần lớn được mang vào do thương buôn Trung Hoa cùng thương buôn Nhật Bản hồi trước. Nhưng loại tiền nhỏ chỉ lưu hành trong kinh đô và bốn tỉnh chung quanh, và không dùng ở các tỉnh khác trong xứ; xứ Cochinchine [Đàng Trong] cũng không dùng. Tiền này chắc là đem vào khi bốn tỉnh chính này cách biệt với các tỉnh khác bởi cuộc loạn mà tôi đã nói ở trên [phân tranh Lê-Mạc]...”

“... Ba đồng tiền lớn giá bằng 5 đồng loại nhỏ... (Tiền lớn) xỏ trong dây... theo đó mỗi xâu có 600 đồng hay 10x60, được đánh dấu rõ ràng sau 60 đồng như vậy”.

May mắn làm sao, khi phối hợp thêm với bằng chứng của Lê Quý Đôn lấy từ sự kiện ở Đàng Trong, ta biết được cỡ tương đối của ba loại tiền, ông tham quân vào lo liệu việc hành chính ở Phú Xuân vừa chiếm được, có nhận xét (1777) về tiền Hà Tiên, đã gọi chúng là “tiểu gián tiền”. Tiền An pháp, Thái bình của Mạc Thiên Tứ nay còn lại có đường kính khoảng 20, 21 mm, tiền niên hiệu Trung Quốc mà A. de Rhodes ghép vào “loại lớn” (cổ tiền) có cỡ xê xích 24 mm, vậy thì tiền gián ở Đàng Ngoài của các thế kỷ XVI, XVII, XVIII là ở giữa hai giới hạn kia.

Có thể nhìn kỹ hơn về giới hạn đó. Tiền niên hiệu Việt, có lẽ vì xuất thân ở nước nghèo nên thường không lớn như tiền đồng loại của Trung Quốc. Giới hạn 23 mm là thường thấy nhất. Vậy có lẽ phải đẩy giới hạn kích thước của tiền gián Đàng Ngoài về phía 21 mm của An pháp. Tuy Lê Quý Đôn gọi An pháp là “tiểu gián tiền” nhưng có thể thấy hai loại không xê xích nhau bao nhiêu. Hoặc Lê Quý Đôn nghĩ tới loại An pháp nhỏ (20 mm), hoặc tiềm thức của ông quan chiếm đóng khiến ông hạ giá chúng, nhìn thấy chúng nhỏ hơn tiền Đàng Ngoài chăng? (Ông đã từng chê bai quan quyền, dân chúng Đàng Trong xa hoa, phung phí rất mực). Dù sao thì đối chiếu với những bằng chứng phát hiện ngày nay, ta thấy tiền nhỏ Đàng Trong cũng đồng cỡ với tiền gián Đàng Ngoài. Nếu không như vậy thì làm sao ta lại thấy có đồng An pháp trong mộ ở Mường Thanh xa xôi, heo hút, cùng với những đồng tiền ngày nay xuất hiện trên miền Bắc mà tuy không thấy dạng hình tả vẽ nhưng chỉ nghe đến tên, ta đã biết là tiền cỡ nhỏ: Chính nguyên pháp bảo. Trị bình thánh bảo, nguyên bảo, Thánh nguyên thông bảo... (“Tiền đúc ở Đàng Trong...” Những bài dã sử Việt, sđd, tr. 284). Chúng tôi cũng từng thấy đồng Vĩnh định thông bảo mà chúng tôi cho là của Đàng Ngoài, cùng dạng hình với một số có danh hiệu khác, các tiền đó cũng không lớn hơn An pháp, tuy là kiểu thức đúc đẹp hơn. Dạng hình của tiền gián đến lúc này có vẻ đã rõ rệt đối với chúng ta hơn rồi vậy.

Vì thấy có sự chuyển dịch ý nghĩa của tiền gián qua nhiều thế kỷ, nên ta cũng táo bạo xem thử có sự chuyển đổi nào ở cách nhìn sử tiền, một tên khác của gián tiền, của dân chúng các thế kỷ XVII, XVIII không. Nếu phỏng đoán của chúng ta là đúng thì trong trường hợp này sự chuyển đổi có vẻ phức tạp hơn, cho thấy có sự thay thế từ ngữ chuyển đổi nội dung ý nghĩa đi theo với xuất xứ hiện vật.

Ta biết những “tỉnh” (province) mà A. de Rhodes nói tới là những vùng chung quanh thủ đô Thăng Long: Hải Dương, Sơn Tây, Sơn Nam, Kinh Bắc, - (“bốn tỉnh chính”) và Thanh, Nghệ (“các tỉnh khác”) - Danh xưng công quyền gọi chúng là “trấn”, nhưng dân chúng đến gần đây vẫn gọi là “xứ” theo vị trí phương hướng: xứ Đông (có làng cổ Trai - Dương Kinh của nhà Mạc), xứ Đoài, xứ Nam, xứ Bắc, và đặc biệt: xứ Thanh, xứ Nghệ. Lê Quý Đôn khi nói về tiền Đàng Trong cho biết dân Nghệ gọi cổ tiền là “thư tiền”, tiền cái, tiền to, như vậy cũng nối tiếp - mà không biết đến ý của A. de Rhodes, là tiền nhỏ “không dùng ở các tỉnh khác” (nghĩa là Thanh Nghệ). Vùng này trong phân tranh Lê-Mạc thuộc riêng về Lê. Thăng Long cùng với tứ trấn, cách biệt với Thanh Nghệ vào thời kỳ có loại tiền nhỏ lưu hành mà khởi đầu dung dưỡng là từ trên triều đình với Mạc Đăng Dung đúc và cho dùng loại kém giá trị (pha tạp chất mà căn bản vẫn là đồng) khiến sử quan phải dùng đến chữ tiền gián để chỉ chúng. Có phải với tính cách trung ương một thời của Mạc, sử tiền/tiền sử đã trở thành xứ tiền/tiền xứ của các xứ Đông, Đoài... với loại tiền nhỏ, tiền xấu dồn dập phồn tạp gây ảnh hưởng đến tên gọi hay không?

Đã nói, dịch giả ngày nay gọi sử tiền là tiền thông dụng, đúng với một nghĩa của chữ “sử” Hán (nhân+lại) nhưng chữ này cũng còn được đọc là “sứ” (giả). Chữ “xứ” Hán (?) viết khác nhưng cũng lại được dùng cho chữ “xử” (trí). Hai tập hợp từ Hán dù có cùng sự chuyển biến về cách đọc, nhưng vẫn dẫn đến những từ chỉ hai sự việc khác nhau. Nhưng trong dân chúng thì vẫn có sự lẫn lộn âm của s và x, nghĩa là sử, sứ, xử, xứ được phát ra ngoài cửa miệng lúc đầu, vẫn giống nhau. Có thể nào dân chúng Thăng Long của thế kỷ XVII, XVIII khi chỉ một loại tiền hiện diện trước mắt, đến từ tứ trấn, đã gọi là “tiền xứ” mà nhà nho, người cầm quyền cứ dùng chữ cũ, hoặc bởi thói quen không chịu thay đổi, hoặc bởi thấy giọng đọc không có khác nên không cần thay đổi chữ viết cho đúng với nội dung mới?

Vậy thì sự phức tạp đã xảy ra từ quy định của quá khứ và thực tế đương thời khiến cho tương quan giữa tiền quý và tiền gián ở các thế kỷ XVII, XVIII càng thêm phần phức tạp, không phải chỉ dừng lại ở sự chênh lệch về tổng số tính đếm, mà ngay cả khi được quy định tương đương giá trị rồi, vẫn có sự thiên ái về loại tiền lớn, nhất là dưới mắt nhà cầm quyền. Lê Quý Đôn phân biệt trong Vân Đài loại ngữ: “Công tư tiêu dùng, ban thưởng hay cấp phát đều kể theo sử tiền, mà thu nộp thuế thì kể theo tiền cổ; tiền sử chỉ dùng về việc mua bán trong dân gian mà thôi”. Tuy các lệnh của các năm Vĩnh Thọ thứ 1 (1656), Cảnh Trị thứ 8 (1669) có nói rõ: “Quan dân mua bán thông dụng tiền cổ, tiền sử... đều dùng tiền cổ, tiền sử, trừ tiền chì, thiếc, gang, sắt...” nhưng rõ ra là có sự dè bỉu tiền sử/gián, như ví dụ ở chuyện quy định tiền thưởng thi bắn năm Chính Hòa thứ 10 (1689): tiền gián để thưởng cho những người bắn súng hạng bét, còn các hạng trên đều được thưởng cổ tiền. Và triều đình cũng chỉ kể cổ tiền/tiền quý khi thu vào kho đụn: nha môn xét kiện lấy tiền công gọi là “lễ đảm” (1659); làng xã theo hương ước không theo lệnh triều đình cho lính về hưu sớm, phạt (1681); quan được thăng chức phải có lễ tạ (1720); nạp kiện mà bỏ ngang không đi hầu, phạt (1718); lính nhập ngũ rồi mà được vào hầu hạ (phủ chúa) phải nạp tiền (1733); tất cả đều là tiền quý, cổ tiền. Tuy nhiên, cũng vì có hai ý nghĩa khác nhau đồng thời dành cho các loại tiền mà ta có thể hiểu văn bản theo hai cách khác nhau tùy tình hình thực tế của người thi hành lệnh. Thưởng tiền sứ/ gián có nghĩa là đưa tiền loại xấu mà đếm đủ 60/600 mà cũng có thể là phát tiền lớn với tiêu chuẩn 36/360!

Chính quyền Lê Trịnh dùng tiền gián cấp tiền tuất cho các quan văn, võ, giám ban, tôn thất, quận chúa, cung tần, nghĩa là những người trong và quan phủ liêu. Đó là các năm Bảo Thái thứ 2 (1721), Bảo Thái thứ 5 (1724), Vĩnh Khánh thứ 4 (1732), Vĩnh Hựu thứ 5 (1749). Tiền thờ cúng cấp ở các năm Bảo Thái thứ 3 (1722), Vĩnh Khánh thứ 4 (1732) cũng bằng gián tiền nhưng đến năm 1767 thì lại phát bằng cổ tiền. Có vẻ điều này trùng hợp với lúc tiền đồng (tốt) dồi dào nhờ khai thác lại mỏ Tụ Long (1757), khai thác các mỏ ở Thái Nguyên, Hưng Hóa, ở Lạng Sơn (1759), thu thuế hai mỏ đồng ở Hưng Hóa (1759).

A. de Rhodes có mặt ở Đàng Ngoài từ 1627 chắc thấy đang thi hành một lệnh đóng thuế thân đưa ra hai năm trước đó (Vĩnh Tộ thứ 7, 1625). Theo đó, tiền thuế thân của dân tứ trấn Sơn Tây, Sơn Nam, Kinh Bắc, Hải Dương, hạng “lánh” đóng mỗi năm 3 quan 5 tiền, hạng “quân” 1 quan 5 tiền, hạng “dân” 1 quan 2 tiền 30 đồng, hạng (ưu đãi) 1 quan, hạng “bất cụ” 8 tiền. Chữ “ưu đãi” trên là của chúng tôi dùng để tạm chỉ một lớp người trong làng xóm mà cả ba tài liệu có phần không đồng nhất với nhau, nhưng đó không phải là điều đáng quan tâm ở đây. Lệnh trên ghi từ hai sử gia Phan Huy Chú và Phạm Công Trứ chỉ nói trống trơn về một loại tiền phải nạp, tuy ta có thể chắc chắn đó là tiền quý, cổ tiền. Lê triều... cho ta thêm bằng cớ, vì ngoài việc thêm chữ “cổ tiền” có nói rõ số tiền gián tương đương mà các hạng phải nạp: hạng lánh 7 quan (gián tiền), hạng quân 3 quan 3 tiền, hạng dân 2 quan 5 tiền, hạng ưu đãi 2 quan, hạng bất cụ 1 quan 6 tiền.

Nhìn sự tương đương quy định các hạng phải nạp thì, trừ hạng quân, con số chỉ tiền gián gấp đôi con số chỉ về cổ tiền (ví dụ 3 quan 5 tiền cổ tiền và 7 quan gián tiền...) Nhưng nếu chiếu theo quy định gấp đôi đó áp dụng cho hạng quân thì họ chỉ phải đóng có 3 quan tiền gián, chứ không phải là 3 quan 3 tiền. Cứ theo suy nghĩ bình thường, một điều luật phải có tính cách nhất quán trong từng phần một, có biệt lệ tất nhiên phải được dành riêng, hoặc giải thích, nếu cần. Vậy có thể là Lê triều... đã bị chép sai ở đây: hạng quân chỉ phải đóng có 3 quan gián tiền mà thôi. Cái đuôi 3 tiền có thể theo đà quáng mắt, lỡ tay mà chui vào văn bản. Chúng ta có thể thấy một chứng cớ khác: năm Thịnh Đức thứ 6 (1657), có lệnh về nộp tiền cho toán duyệt tuyển (điều tra hộ khẩu), “nếu không có cổ tiền 1 quan thì nạp sử/gián tiền 2 quan”.

Thường trong các bản dịch người ta dùng ngay chữ “lính” thông dụng ngày nay để dịch chữ “lánh hạng” của văn bản cũ khiến dễ gây lầm lẫn, nhất là khi kề sau đó có hạng “quân” với chữ ngày nay cũng có nghĩa là lính. Chữ “lính” ngày nay có thể xuất xứ từ chữ lánh nọ nhưng nếu cho chúng có nghĩa tương đương là ta đã hiểu lệch thời đại. Chữ “lánh” (khẩu+lực) có từ lệnh lập sổ đinh năm 1470 để chỉ một “hạng người riêng biệt” theo ý nghĩa chữ Hán của nó. Lê Thánh Tông lập điển lệ lớn dùng được cả ở đời sau, nhưng cấp thời là vét người chuẩn bị đánh Chiêm Thành năm sau, nên “xếp riêng” một hạng tráng đứng trên đầu các hạng quân, dân, lão, cố cùng khác. Vậy thì “lánh tráng” không phải là “lính tráng”, có thể bị lôi đi cho chiến dịch 1471, nhưng vào thời bình chỉ là một người dân (hiểu theo nghĩa ngày nay), một thanh niên được xếp vào hạng nhất trong ứng tuyển quân vụ. Vì thế anh ta mới phải chịu thuế thân, chứ nếu đi lính thật sự thì anh ta đã được cấp phát ruộng lính rồi! Phạm Công Trứ viết rõ “lánh hạng vô tòng chinh nhân” bị người dịch chuyển qua “hạng lính không tòng chinh” trở nên vô nghĩa với người ngày nay. Lính không tòng chinh sao gọi là lính? Còn nếu nói “lính không tòng chinh” (Toàn thư dịch) hay “lính không đi trận mạc” (Nguyễn Sĩ Giác dịch) có nghĩa là lính đồn trú, lính chưa gặp giặc, phân biệt với lính đang hành quân hay đang giáp trận, thì chắc người thâu thuế phải điên cái đầu! Các lệnh trong Lê triều... có viết rõ “binh” hoặc “lánh binh” là theo nghĩa “lính” ngày nay. Và anh lánh trừ bị này phải là con nhà, nếu không giàu thì cũng phải có tiền của. Ngày xưa, cả đến thời Nguyễn (ít ra là trên giấy tờ chỉ dụ chính thức), làng xã không được bắt người nghèo đi lính, chứng cớ là có hạng “cố cùng” để riêng trong lệnh kiểm tra người của Lê Thánh Tông kia. Và vì thế “quân” là hạng trừ bị số 2. Lệnh phân loại người của Lê Thánh Tông (mà thời Lê trung hưng còn theo) có chi tiết cho thấy rõ sự phân biệt trước sau, nặng nhẹ của hai hạng lánh, quân này. Tính cách tính thuế nặng nhẹ cho họ chứng tỏ vai trò quan trọng khác nhau giữa hai loại lánh, quân đó.

Vậy mà tương quan tiền quý, tiền gián vốn đã rối rắm lại còn bị khủng hoảng vì một loại tiền khác: tiền kẽm. Đây là nói chung để chỉ loại tiền khác chủng loại đồng, hiện diện thường xuyên nhiều nhất, chứ từ lâu trong nước vẫn có các thứ tiền gang, sắt, chì cùng lưu hành. Kim loại kẽm (và hợp kim của nó) có độ nung chảy thấp nên dễ có việc đúc trộm, và chính triều đình trong quá khứ cũng từng tham gia. (Lệnh đình chỉ năm 1325 của Trần Minh Tông). Lê Trịnh trong thế kỷ XVII theo truyền thống từ Lê sơ, đã ra nhiều lệnh không công nhận các loại tiền khác ngoài thứ “có chữ đồng” (lệnh 1658). Lệnh 1662 kèm các chỉ thị thi hành kiểm tra trên dưới trong ngoài, cấm dân các xã có phép đúc tiền đồng không được nhân dịp mà đúc các loại khác. Năm sau (1663) gắt gao hơn, không những cấm mà còn bắt buộc thu đổi, bù lại bằng một số tiền đồng ít hơn để lệnh tiêu hủy tiền kẽm có hiệu quả hơn.

Thế mà triều đình không những không buộc được dân chúng theo đúng chính sách đề ra mà còn bị lôi cuốn theo, làm tình hình tiền tệ đương thời rối rắm thêm. Chúng tôi từng suy đoán Lê Trịnh có đúc các đồng Vĩnh trị (1676), Chính hòa (1680), nhưng chỉ có thể dựa vào các mẫu thấy được ở Đàng Trong. (Những bài dã sử Việt, tr. 335). Chứng cớ tiền kẽm còn lưu hành là ở lệnh năm 1741: “Cấm kén chọn tiền kẽm... (vì triều đình) mới đúc tiền lớn nhỏ không đều, nhiều đồng mỏng quá... dân gian không cứ lớn nhỏ, đều chê là tiền xấu...” Điều này là để nói về các đồng Vĩnh trị, Chính hòa kẽm ở trên còn lại chăng? Nhưng rõ ràng là tiền kẽm tốt được nhà nước công nhận lưu hành tương đương với tiền đồng. Các lệnh không rõ ràng, lại qua bản dịch (Phan Huy Chú, Lịch triều..., II, tr. 244) nên chúng ta chỉ có thể suy đoán mà thôi. Triều đình “mới đúc tiền” hẳn là tiền đồng Cảnh hưng (niên hiệu bắt đầu 1740). Lệnh năm sau (1742) cho thu hồi tiền kẽm xấu, 1 quan lấy 5 “tiền tốt”, chữ dùng mơ hồ nhưng thấy trị giá tương đương với lệnh năm trước cho đổi lấy “tiền thông dụng”, nghĩa là đổi lấy tiền đồng. So sánh với lệnh 1663 nói về trước, chỉ cho đổi lấy 2 tiền quý, ta thấy nhà nước đã nhượng bộ dân vì trị giá đã tăng (5 tiền) có lẽ vì đó là tiền kẽm của nhà nước đúc. Lệnh năm 1745 nói rõ các tiền Cảnh hưng, Thái bình, Nguyên thông nên ta hiểu là tiền đồng. Những tiền đồng nhỏ bị đúc trộm chắc sẽ nhập chung vào loại A. de Rhodes chứng kiến. Còn tiền kẽm hẳn là được đánh đồng với loại tiền gián, kém giá trị hơn tiền đồng như sau này vẫn thấy trước khi người Pháp loại bỏ, thi hành khuôn mẫu tiền tệ mới.

Thật ra thì việc rối loạn tiền tệ này từ thế kỷ XVI, không phải bỗng dưng mà có, không thể chỉ trách cứ nơi sự bất lực của nhà cầm quyền Lê Trịnh (theo cách nhìn của người đời sau), hay nơi lòng tham của dân chúng (theo cách nhìn của vua chúa đương thời). Thế kỷ XVII, XVIII là lúc mối giao thương Đông Tây đã mở rộng với sự xuất hiện của các thương nhân Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Anh, Pháp... đến châu Á xin mở thương điếm buôn bán, lấn chiếm đất đai và do đó cũng kích động thêm các mối giao thương có sẵn trong vùng. Nhu cầu tiền tệ trao đổi trở thành vấn đề gắt gao. Chúng ta sẽ bàn vào lúc khác đến sự kiện tiền của các vương triều Việt đúc ra vốn nhằm mục đích khác hơn là tính toán cho nhu cầu kinh tế tài chính trong nước.

Số lượng tiền thừa thãi ở Trung Quốc bị đẩy ra ngoài, từ khi họ dùng tiền giấy cũng đủ dùng ở nội địa Đại Việt, trong các chuyến buôn bán trên khu vực Á Đông, dài xuống phía nam, nhưng lại không đủ khi người Tây phương tới. Chúng ta thấy các chúa Đàng Trong cũng như Đàng Ngoài phải mua tiền của người Nhật, người Hòa Lan đúc bán, trong lúc cũng tự mình cố gắng đúc tiền riêng. Khả năng đồng không đủ cung cấp liền xoay qua đúc tiền kẽm. Loạn tiền kẽm ở Đàng Trong vào nửa sau thế kỷ XVIII (“Tiền kẽm và sự khủng hoảng tiền tệ...”, Những bài dã sử Việt, tr. 356-369) xét cho cùng, không phải chỉ bởi tham tâm của Võ Vương với sự xúi bẩy của một “cố vấn” thiên triều, mà là bởi khả năng kém cỏi trong việc điều hành đất nước trong một tình thế “đổi mới” không còn như khi khép kín trong khu vực nữa. Tình thế mới đó cũng đã thấy manh nha ở thế kỷ XVI trước, với nhà Mạc, với sự xuất hiện của loại tiền gián mang ý nghĩa kém cỏi của đời sau. Họ Mạc gốc dân chài, vốn người Hải Dương, ở miệt biển, tất quen thuộc với việc giao thương hơn dân các nơi nào khác ở sâu trong đất liền.

Cho nên Mạc Đăng Dung đúc tiền không phải chỉ để khoa trương danh hiệu một vương triều mới mà còn để sử dụng trong lưu thông. Lời sử quan thuộc phe đối nghịch (sử thần Lê Trịnh) có ngụ ý chê bai, trút tội nhưng vẫn cho ta thấy ông vua đầu đời Mạc này đã cố gắng đúc thật nhiều tiền. Ý nghĩa cầu phúc, cầu lợi thấy rõ trong việc xây dựng, giữ gìn các chùa Bà Banh vùng biển (và hẳn không quên chùa Bà Banh ở Thăng Long) mang ý nghĩa cúng tế Lỗ Lường, Đĩ Dàng ngày nay còn hiện diện trên đất Chàm cũ. Danh xưng một số chùa Bà Banh đổi dạng thành miếu Bà Chúa Ngựa rõ ràng với gốc Po Yan Dari, còn thấy ở thế kỷ XVIII, XIX có thấp thoáng bóng ông thần Bạch Mã Thái Giám bảo trợ thương buôn trên mặt biển, đã Việt hóa từ con ngựa Balaha của dân đi biển Ấn, Khmer, Chàm. Và do đó cũng không nên lấy làm lạ rằng triều Mạc đã xây dựng, thờ phụng rất nhiều hình tượng Quán Âm, vị Bồ tát cứu nạn quen thuộc mà cũng có liên hệ đến truyện tích cứu người trên mặt biển của thần Bạch Mã. Bia đình Lê Xá ở Hải Dương dựa theo Nguyễn Bính (thế kỷ XVI) ghi việc viên tướng và con ngựa mất cổ, hẳn là nằm trong truyền thống ấy (Văn khắc Hán nôm... tr. 136). Cho nên có thể nói triều Mạc đã tiếp tục đi theo quá khứ của dòng họ mình, chủ động phát triển giao thương trên mặt biển hơn các triều trước, và vì thiếu phương tiện nên phải sử dụng một loại tiền nhỏ, kém phẩm chất mà đời sau dù chê bai vẫn không thể chối bỏ được. Đó cũng chính là cơ sở khiến cho nhà Mạc cướp được quyền bính, tạo dựng được một nền chính thống riêng, đủ sức giằng co đương cự với Lê Trịnh trong hai phần ba thế kỷ giành làm chủ xứ Bắc.

Tóm lại, có thể nói từ thế kỷ XV (trở về trước bao nhiêu thì không biết) tiền quý tiền gián chỉ là cách phân biệt quy định tính đếm cho các loại tiền được coi là ngang giá. Còn có thể là từ thập niên thứ hai của thế kỷ XVI, và thế kỷ XVII, XVIII trở về sau thì thêm vào đó là sự phân biệt hai loại tiền khác giá trị. Lịch sử tiền gián, tiền quý không phải chỉ là chuyện của hứng khởi hay tham tâm cá nhân, dù là cá nhân cầm quyền, mà là của một phần đất nước vậy.


Nguồn: TVE 4U
Được bạn:Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 28 tháng 5 năm 2026

« Lùi
Tiến »