Trên tột đỉnh quyền bính của nước Việt chỉ có một người đàn bà được sử ta cho là đã xưng “vương”: Trưng Trắc. “Vua nước/dân Việt” đó (Việt điện u linh tập, 1329) lại chỉ được vua Trần phong là “phu nhân” chỉ vì các ông không công nhận có vua đàn bà. Trước Trần có một cô bé (Chiêu Thánh) làm kẻ lót đường cho dòng họ nhưng cũng bị né tránh chữ “vương”, chỉ được gọi là Chiêu Hoàng. Chúng ta người đời nay vẫn không thể tranh luận được gì nhiều hơn. Chúng tôi từng nhắc đến các dấu vết rất nhiều trong thời có sử về vai trò nổi bật của người phụ nữ Việt nắm giữ giềng mối truyền thống. Tuy nhiên lại cũng biết rằng việc cầm quyền thật sự là của người đàn ông thuộc dòng nữ chứ không phải là đàn bà. Mức độ phân chia uy thế, quyền lực giữa hai người đại diện giới tính này trên thực tế thời đại, cũng còn là điều phải phân vân.
Từ uy lực của truyền thống chuyển qua sức mạnh của giới tính
Chính vì nhận ra sự níu kéo của truyền thống nói trên mà chúng ta không lấy làm lạ như các sử quan nho thần về việc các ông vua Đinh, Lê và vài ông vua Lý đã lập nhiều hoàng hậu. “Hoàng hậu” chỉ là một cách gọi thuận tiện cho sử quan khi phải nói về vợ các ông vua. Đúng, đó chỉ là vợ các ông Đinh Bộ Lĩnh, Lê Hoàn, Lý Công Uẩn..., giản dị có thế mà thôi. Tuy nhiên vẫn có điều nói thêm về các bà vợ này, những người được sử sách phô bày với vai trò khuất lấp nhưng không che giấu hết sự thật bên dưới các danh hiệu vương giả vay mượn của họ.
Ta chú ý đến một số hoàng hậu có chữ “quốc” kèm theo: Kiểu Quốc, Cồ Quốc của Đinh Tiên Hoàng, Trịnh Quốc của Lê Đại Hành, Lập Quốc, Tá Quốc của Lý Thái Tổ. Hẳn không phải các bà đó vốn có tên cùng âm, mang ý nghĩa xa lạ khác nhau nhưng do sự diễn dịch của sử quan, đã tạo ra sự đồng âm bắt buộc. Sau ngàn năm Bắc thuộc, người thủ lãnh đã xưng vương thì các bà vợ phải được gọi với tên trang trọng của tầng lớp thượng lưu Trung Quốc. Trừ bà Ca Ông còn có dáng Di Lão gốc như của Đinh, tên các bà khác đều nghe rất kêu: Đan Gia, Trinh Minh, Đại Thắng/Thánh Minh (Dương hậu), Phụng Càn Chí Lý, Thuận Thánh Minh Đạo. Vậy thì chữ “quốc” trên chỉ có nghĩa là “nước”, các bà trên là đại diện của một “nước”. Dấu vết tàn dư của chữ “quốc” ở cuối đời Trần là việc phong cho bà thái trưởng công chúa “Quốc” Hinh/Thiên Hinh ở “Lạng Quốc” (Lạng Sơn). Các ông vua có tôn hiệu chữ Hán dài dằng dặc, các bà vợ có tên sang cả, hẳn là do các quan học chữ Hán/nho (hay chính người Hán như trường hợp Hồng Hiến của Lê Hoàn) đặt ra. Họ đã từng ghi chép sự kiện của triều đại dựa theo các biến động tương tự ở phương Bắc: chúng ta đã thấy sự tương đồng trong cuộc tranh chấp giữa Ngô Xương Văn và Đinh Bộ Lĩnh với chuyện giữa Hạng Vũ và Lưu Bang, chuyện Lê Hoàn cướp ngôi Đinh được diễn tả như cuộc binh biến Trần Kiều của Triệu Khuông Dẫn lấy ngôi nhà Hậu Chu. Ý thức bắt chước cho được ngang tầm với người cai trị cũ khiến cho cái cổng ngoài của kinh đô Hoa Lư mang tên một biên ải của Trung Quốc, cửa Đồng Quan, nơi đó thay vì có quan quân bị lưu đày canh chừng sa mạc, lại có người đầy tớ (hoành) tước Phúc hầu tên Đỗ Thích, ngủ giữa trời nằm thấy sao rơi vào miệng, nhân dịp trở về nhà chính, liền làm việc thí nghịch tưởng là để hoàn thành thiên mệnh được trao.
Những cuộc phân tranh sau khi thành phần đế quốc Đường ở phương Nam sụp đổ cũng tạo nên những lãnh chúa địa phương mà hình tượng Thập nhị sứ quân không phải chỉ có 12 người, đã cho ta thấy tính chất manh mún của nó. Ngoài vua Đinh ở Hoa Lư, trên vùng Ái Châu còn ông Lê Lương làm chủ đất. Thật ra đây là ông vua nhỏ, cũng như vô số vua nhỏ khác chiếm quyền trên thân xác tan rã của cựu phủ Đô hộ. Tính chất liên minh khu vực của thời kỳ hậu thuộc địa thấy rõ với nhiều trường hợp thời Ngô, Đinh, Lê. Ta biết được nhà Lý áp dụng liên hệ hôn nhân để lấy vây cánh là nhờ tài liệu ghi lại dồi dào hơn nhưng điều đó không phải đã không từng xảy ra về trước. Các bà được coi là hoàng hậu ngang nhau có nguyên nhân hẳn là từ những thế gia ngang ngửa quyền hành trong vùng, những tập họp địa vực hoặc cũng tự xưng là “quốc”, hoặc được nâng cấp là “nước” để ngang tầm với phía thông gia. Và sử quan thời đại cũng lại có một mẫu hình phương Bắc để chính danh cho sử sự: lịch sử Xuân Thu Chiến Quốc với các “nước” tranh giành nhau trên quyền bính tột đỉnh mà không mất sự gián đoạn giao tiếp bên dưới, ở đây là của cựu thuộc địa phương Nam. Bà Cồ Quốc có thể xuất thân từ tập đoàn Đinh cầm quyền kèm trong danh hiệu nước: (Đại) Cồ Việt - “đại” chỉ là chữ Hán của “cồ”; Kiểu Quốc là của tộc đoàn Kiểu thời tranh chiến mà Đinh thu phục; Trịnh Quốc là từ một tập đoàn Thái nào đó như ta sẽ thấy xuất hiện nhiều về sau. Tăng lục Trương Ma sáng tạo ra các danh hiệu này chăng?
Quan niệm về sự đối kháng tập đoàn trong tính cách chiến tranh khu vực ít nhiều gì cũng cho thấy rơi rớt của hình thức xung đột bộ lạc, trong đó tù binh nữ được coi như là chiến lợi phẩm, thể hiện nơi việc Lê Hoàn sử dụng người của chúa Chàm sau trận chiến 982. Và cũng chính trong tâm thức thời đại đó mà các bà vợ “Di” có quyền “tay hòm chìa khóa” một khu vực, như dưới đời Lý tiếp theo ngay sau đó, còn những đứa trẻ sinh ra, vốn thường bị ruồng bỏ vào thời gian sau, lúc này lại được công nhận chính thức, đương nhiên hưởng quyền lợi như các anh em khác mẹ khác để rồi theo khả năng riêng, cướp được chính quyền, nối nghiệp cha dù với sinh hoạt khác lạ đã khiến cho sử quan đẩy vào địa vị tội nhân của lịch sử. Đó là trường hợp Lê Ngọa Triều.
Sự sử dụng nữ tù binh của phe chiến thắng đương nhiên là có tính chất ép buộc nhưng cũng có thể thấy là điều bình thường. Trường hợp gặp phản kháng như Mỵ Ê là đặc biệt. Lý Thái Tông là “the right man in the wrong place”. Ông hấp tấp không lường được tâm cảm của kẻ thấy cảnh nước mất nhà tan còn sờ sờ trước mắt, và còn có sông nước thuận tiện bên cạnh tù binh, chứ nếu ông từ từ đưa về Thăng Long, an trí ở cung Ngân Hán xây xong thì Mỵ Ê hẳn cũng như bà chúa Lẫm, bà chúa Dệt Lĩnh nào đó được chia phần ruộng của ông hoàng đế điền chủ, sẽ thu lúa ruộng, trông coi quan nô tỳ trồng dâu nuôi tằm, an hưởng phúc mới, không cần phải tạo ra một cái chết bất đắc kỳ tử làm hoảng sợ ông vua của một thời lẫn lộn thần người, phải xây miếu đền để cầu xin tha thứ. Các nho thần về sau cũng chỉ là làm việc phụ họa, tán tụng người chết theo quan điểm của mình học được, vừa tỏ lộ được sự thông thái, vừa để vớt vát uy tín cho đấng quân vương vốn chưa từng sống như mình tưởng.
Sinh hoạt riêng tư ở cung đình tuy không bày tỏ nhưng ta thấy được sự biểu lộ tính dục trong các tên cung điện. Bỏ qua các tên sang cả thì ta thấy “cung” chỉ là “phòng”, “điện” chỉ là “nhà” để hiểu những diễn biến bên trong mà không ngạc nhiên. Lê có các điện Phong Lưu, Tử Hoa, Bồng Lai, Cực Lạc, và chỗ nằm ngủ được gọi là Trường Xuân. Các danh xưng cùng ý nghĩa hưởng thụ xác thịt đó khiến ta ngờ rằng người đặt tên lầu Đại Vân mà Lê Hoàn khoe với Tống Cảo, hẳn có chủ ý liên hệ với chuyện “mây mưa”. Lý Thái Tổ cho mở cửa Phi Long thông với cung Nghênh Xuân, có nghĩa là con rồng cao cấp sẽ đi qua cửa ấy để hưởng thú vui chăn gối, cũng như tất phải chung nhà với cung nữ nên một chỗ của những người này có tên là Long Thụy, cùng tên với điện Long Thụy được giảng rành rẽ: “làm chỗ cho vua ngủ nghỉ”. Cung Long Thụy được xây cùng với cung Thúy Hoa cho cùng mục đích, và khi nơi này xong thì có việc khánh thành trang trọng, đại xá, ban thưởng, trong khi sử quan không hề nói đến cuộc khánh thành nào khác. Lý Nhân Tông thì có cung Hợp Hoan (1089) mà sử quan không cần phải giải thích công dụng của nó, chúng ta vẫn có thể hiểu ngay.
Vì Lý có chút đổi khác. Là dân lưu vong, Lý không có cơ sở bản thổ ở Hoa Lư nên phải dựa vào binh lực và hệ thống tôn giáo có sẵn mà phá vỡ truyền thống địa phương. Vẫn còn các bà vợ mang chức “hoàng hậu” nhưng chen vào là một phân biệt cấp bực, cho bà vợ mang tên Lập Giáo đứng trên hết với quy chế xe kiệu và y phục khác hẳn những người kia. Sự dời đô về gần gũi trú quán quê nhà, với thủ phủ Đại La cũ có thói tục sinh hoạt thuộc địa hẳn là quen thuộc hơn so với thời ở hang động Hoa Lư, đã đem lại tự tín cho triều mới hơn, nên lại có sự đổi thay. Lý Công Uẩn đến đây có ba bà hoàng hậu mới mà ý nghĩa loại bỏ những người cũ nằm trong ghi chép “lại lập ba hoàng hậu”, và tên mới đầu bảng của hoàng hậu Tá Quốc. Nước bây giờ chỉ có một, và vị thế tôn giáo phù trợ phải theo bà Lập Giáo tụt xuống sau cùng. Từ đây, ảnh hưởng vào triều chính của người phụ nữ Đại Việt không chỉ dựa vào truyền thống cũ nữa mà bắt đầu đi theo quy trình chung nhất của nhân loại các thời trung cổ, là sử dụng âm mưu của giống cài chen chúc trong một cung đình phức tạp, nhiều thứ bực nhưng cũng dễ đảo lộn.
Điều đó thấy ngay trong đời thứ hai của nhà Lý. Lý Thái Tông vẫn lập bảy hoàng hậu nhưng có một hệ thống cung đình (1041) hợp với tình hình mới trong đó có thêm nhiều vợ nhỏ khác chủng loại (như người họ Đào ở Chân Đăng tây bắc 1033), và hẳn ông không chừa ra các nữ tù binh Chàm tập họp vào cung Ngân Hán 1046 - cái tên có ý nghĩa của một sự xa cách đường đất mà nay lại được tiếp cận chung chạ. Cho nên vị trí “hoàng hậu” thấy là bình thường trong quá khứ nay có thêm dấu vết của sự thiên lệch ưu ái. Toàn thư không nói gì hơn, chuyện năm 1035 “lập người thiếp yêu (không rõ tên) làm Thiên Cảm hoàng hậu, phong hoàng tử Nhật Trung làm Phụng Càn Vương”. Tuy nhiên chúng ta lại thấy rằng tôn hiệu của bà được dùng làm một phần niên hiệu của vua sau trận thắng Chiêm Thành (Thiên Cảm Thánh Vũ), và cổ tiền gia ngày nay còn giữ được các đồng tiền có chữ “thiên cảm”, “(phụng) càn vương”. Phụng Càn Vương chỉ đứng sau thái tử Nhật Tôn (Thánh Tông sau này) và từng cầm quân đánh giặc (1043), giữ kinh thành khi cả vua và thái tử cùng xuất chinh (1037). Rồi ông mất tăm dạng, gây thắc mắc hữu lý cho người sau, vì nếu ông chết bình thường thì ắt cũng phải được ghi chép cẩn thận như những người ít có tầm quan trọng hơn ông nhiều.
Hệ thống cung đình có thứ bực của Lý thành hình sau sự xác nhận của biến cố loạn Tam vương (1028), vẫn còn chông chênh nên phát sinh nhiều mâu thuẫn trong việc thế tập, thể hiện tiếp bằng những cuộc âm mưu hoặc phản kháng vũ lực. Thân Lợi (“thằng Suy”, bia Đỗ Anh Vũ +1159) làm loạn trong hai năm 1140-41, được sử quan cho là “tự xưng” con của người thiếp không được Nhân Tông thừa nhận nhưng có thể là đúng như đã cáo với nhà Tống, và nếu ta xét theo khả năng tập họp binh lực được nhiều người theo của ông. Trái lại, Thiên Lộc con người thiếp yêu của Thần Tông lại suýt được lên ngôi nếu không có cùng một lúc cả ba bà phu nhân tranh đấu theo kiểu vừa hối lộ với thế lực khác, vừa làm áp lực tình cảm với ông vua chỉ còn chút hơi tàn, để đổi di chiếu.
Cái đà của áp lực phái tinh đó trong cung cấm khiến cho uy lực dòng nữ ngày xưa đang có chiều sa sút trong triều Lý, lại có dịp tồn tại trong sự kèn cựa chiếm đoạt quyền hành. Việc cậu bé ba tuổi Thiên Tộ (Anh Tông) lên ngôi làm nổi bật vai trò những người bên ngoại họ Đỗ trên chính trường. Mẹ Thần Tông họ Đỗ (+1145), bà nội của ông vua bé con, đã đem em là Đỗ Anh Vũ vào nắm quyền. Thoáng về trước ta đã thấy có những người họ Đỗ trong đó có Đỗ Thiện mà người ta đoán là tác giả Sử ký, người được lệnh đi báo cho cha mẹ ruột việc Thần Tông lên ngôi, chứng tỏ dấu vết liên hệ bà con. Đỗ Anh Vũ có tiếng xấu với sử quan nho thần nhưng công tích với triều đại cũng không bị phủ nhận cùng với bia đá còn lại ngày nay, đã giúp cho sử gia K. W. Taylor thêm một bài nghiên cứu (“Voices Within and Without: Tales from Stone and Paper about Đỗ Anh Vũ [1114-1159]” trong Essays into Vietnamese Pasts, Cornell University 1995, tr.59-80). Về sau lại có một bà Đỗ (Chiêu Linh) thái hậu khác (Đỗ Thụy Châu +1190) phù trợ cho một Đỗ An Di/Thuận (+1188) là em trai, lên nắm quyền. Đến cuối đời càng thấy xuất hiện nhiều người họ Đỗ nổi chìm theo với sự suy tàn của triều đại. Điều ta chú ý ở đây là việc Đỗ Anh Vũ tư thông với Lê thái hậu (Cảm Thánh, vợ Thần Tông) khiến xảy ra một âm mưu triệt hạ bất thành dẫn đến một suy luận có thể xa hơn về xã hội, hình luật thời ấy. Tính chất tư thông, cung cách chăm lo gỡ tội cho tình nhân của bà thái hậu khiến ta thấy có một chút gì bình thường thế nhân trong sinh hoạt cung đình đương thời. Như mọi tình nhân mê mệt khác, bà thái hậu trong tập họp buông rèm trị nước thay ông vua nhỏ, đem vàng bạc đút lót phe đảo chính, vận động phân rẽ phe này (trường hợp đối với Đàm Dĩ Mông), uyển chuyển làm theo luật nước để lật ngược thế cờ thua thành thắng, tạo nên một kỳ tích trong chính trường cũng như tình trường. Cũng bình thường đối với thời đại, như trường hợp một ông quan khác, thiếu sư Mạc Hiển Tích tư thông với thái hậu Đỗ Thụy Châu mà các quan đều né tránh. Chuyện ghi chép trong ĐVSL vào năm 1189, có gây cho ta thắc mắc về thời điểm (Mạc Hiển Tích trúng tuyển kỳ thi năm 1086, không thể hiện diện vào năm 1189, chưa kể còn làm việc quậy phá nội cung, và còn được sử ghi bị vua đày vào năm 1190 sau khi thái hậu mất) nhưng có thể đã xảy ra vào một lúc nào đó, với một ông thiếu sư khác. Chỉ có thái tử Long Xưởng đi quá giới hạn mới gây tai họa cho mình.
Toàn thư chép rằng “(Thái tử) Long Xưởng thông dâm với cung phi, vua không nỡ bắt tội chết” nên phế làm thứ nhân và bắt giam. Chuyện này thì cũng từng xảy ra ở nước làm gương mẫu cho Đại Việt: Trung Quốc. Tuy nhiên, ĐVSL (tr. 215) có chi tiết lạ hơn:
“Long Xưởng có tính hiếu sắc. Ở trong cung có cung phi nào được vua yêu quý, Long Xưởng cũng đều tư thông cả. Nhà vua rất ghét sự vô lễ ấy. Bà nguyên phi là Từ thị được vua yêu, hoàng hậu ghen bèn sai Long Xưởng lén lút đến tư tình để gây sự ngờ vực cho nhà vua, muốn rằng Từ thị từ đó bị vua đối xử nhạt nhẽo đi. Từ thị cứ tình thực tâu vua. Vua giận bèn phế Long Xưởng”.
Như vậy có nghĩa là trong cung vua, người ta khá dễ dàng tư tình, từ quan triều với mẹ vua, đến thái tử với các “dì” của mình, ông vua có biết cũng làm ngơ trừ phi động đến “cục cưng”. Cho nên ta không lấy làm lạ về chuyện đời Trần. Và ở đây là bắt đầu từ trong dân chúng, dù đã xảy ra ở nhà hào phú.
Từ cột kinh cầu thọ của Đinh Khuông Liễn đến hòn đá Thạch Quang Phật
Sử quan nho thần trong khi hạ bút để tuyên dương thánh giáo đã gạt hẳn những sự kiện xảy ra trái với ý thức hệ của mình. Người sau biết được những mảnh vụn rải rác là nhờ sự vô tình của các ông hay chỉ vì lớp sơn chuyển hóa mà các ông phủ lên đã không che lấp được hết quá khứ.
Khảo cổ học Việt Nam ngày nay đã đào được các cột đá khắc kinh của Đinh Khuông Liễn dựng năm 973 và của các năm sau đó. Kinh khắc được ông Hà Văn Tấn khảo sát kỹ càng (Hà Văn Tấn, “Từ một cột kinh Phật năm 973 vừa phát hiện ở Hoa Lư”, và “Cột kinh Phật thời Đinh thứ hai ở Hoa Lư” trong Theo dấu các văn hóa cổ, Hà Nội 1998, tr. 786-832). Ông cho biết kinh (bài chú) khắc trên hai loạt cột tuy có khác nhau một ít nhưng chỉ là một bản với mục đích cầu thọ của Mật tông. Ông cũng chỉ rõ tính chất khác nhau của Mật tông và Thiền tông, ngành Phật vẫn thường được coi là chủ đạo ở Việt Nam, nhưng qua bằng chứng ở các cột kinh này thì lại tỏ ra chúng có liên hệ mật thiết với nhau. Tuy nhiên sự thông thái của ông vẫn bị tính chất “nghiêm túc” che chắn nên ta có thể chen vào một vài suy nghĩ thường tục hơn.
Cột kinh có hàng chữ “Tĩnh Hải quân tiết độ sứ... Nam Việt Vương” thêm bằng cớ xác nhận cho ghi dấu năm Giáp Tý kèm theo, là cột khắc năm 973, năm Liễn được vua Tống phong tước trên. Nam Việt Vương là tước trong nước (969), nay chức tước trong ngoài có đủ cho Liễn khắc kinh cầu thọ mong hưởng phú quý lâu dài. Nhưng loạt kinh tràng thứ hai thì rõ ràng là dấu hiệu ăn năn cầu thọ vì đã giết người, lại giết Hạng Lang, nên hẳn phải được khắc trong hoặc sau năm 979. Tội nặng hơn để cần sám hối, là đã giết một đệ tử của Phật: đại đức Đính Noa Tăng Noa. Kinh và chú của Mật tông, vốn qua tay thiền sư Trung Quốc, chỉ là chữ (mà lại là ẩn ngữ), không thể cho ta biết sinh hoạt đi theo các bài ấy như thế nào. Đặc điểm của phần lớn các hệ phái tư tưởng Ấn Độ, trong đó có Phật giáo, là nằm ở sự mưu tìm giải thoát bằng suy tưởng, trong khi Mật giáo lại nhắm vào hành động (Sex..., sđd, tr. 222-223), như ông Hà Văn Tấn thấy họ “chú trọng đến các nghi lễ tôn giáo thần bí”. Nhưng không hẳn vì họ “tiếp cận với Đạo giáo (Trung Hoa)” - ít ra là đối với những người theo Mật tông ở Đại Việt, mà dấu vết để lại khiến ta phải nhìn về hướng ảnh hưởng đó.
Bằng cớ nằm trong truyện Man Nương của LNCQ, quyển sách có thời điểm xuất hiện cuối Trần, tương đương với ĐVSL, nghĩa là không bị ràng buộc về tính cách thánh giáo như khi ta phải so sánh với tác phẩm của Ngô Sĩ Liên. Một chứng minh khác là khi Vũ Quỳnh phỏng theo truyện cũ để viết Tân đính Lĩnh Nam chích quái (Bùi Văn Nguyên dịch thuật, chú thích, dẫn nhập, Hà Nội 1993, tr. 149) ông đã dàn xếp cảnh chùa chiền theo tính cách nam nữ riêng biệt, hợp với phong khí nho học của Hậu Lê, điều không xảy ra trước lúc “sửa mới”. Song ở cả hai bản cũ, mới đều có phần về nhà sư Ấn Độ biết thuật kỳ lạ “làm phép đứng/nhảy một chân”, và khi bước ngang qua bụng Man Nương đang ngủ thì khiến cô gái thụ thai. Địa điểm diễn tiến của truyện vẫn được coi là ở vùng chùa Dâu ngày nay, nơi phát xuất của một dòng Thiền tông có tên là Nam Phương. Tên đó, nhà sư Ấn Độ đó, tính chất thụ thai thần bí trong truyện tích cho ta thấy tính chất Mật giáo của Ấn Độ ở đây đã đậm nét hơn những gì lưu lại trong sách vở từ Mật tông Trung Hoa. Không phải chỉ có dựng đạo tràng làm phép hô phong hoán vũ, phục hổ giáng long, bay trên không, đi dưới nước, hay khắc kinh tràng ghi bài chú Đà la ni cầu thọ đã từng dùng cho ông vua Thiện Trú xưa... Nghi lễ của Mật giáo Ấn diễn tiến trong cảnh uống rượu, ăn thịt cá, điều mà Mật tông Phật của Miến Điện thi hành khiến cho phái Tiểu thừa ở đấy lấy làm căn cứ để công kích tính chất tà đạo của đối thủ, tuy không biết rằng những người này coi lạc thú như là thứ cần bồi đắp chứ không phải để xua đuổi, ghê sợ tránh xa. Sư đời Lý ở “giới trường, tịnh xá công khai uống rượu, ăn thịt, ở thiền phòng thì ‘gian dâm’ với nhau” không đợi đến Đàm Dĩ Mông tố cáo (1198). Nghi lễ Mật giáo Ấn có hành động giao hợp như chứng tích đạt được sự hòa hợp của tiểu ngã (cá nhân) và đại ngã (vũ trụ). Người ta không xấu hổ vì những điều ấy mà còn nặn tượng gắn lên đền thờ cho thế gian chiêm ngưỡng. Vì thế câu thần chú linh nghiệm thường được sử dụng nhất: Án ma ni bát di hồng/ Om mani padme hum, có nghĩa theo tín đồ Việt là “Thanh tịnh: thân, khẩu, ý” nhưng nguyên gốc lại mang hình thức tính dục là “Hoan nghênh châu báu nằm trong hoa sen” - một cách nói thanh tao hơn của câu: “Hoan nghênh cái linga nằm trong cái yoni” (Sex.., sđd, tr. 223-225).
Chúng ta không biết hệ phái (Thiền tông) Nam Phương chịu ảnh hưởng Mật giáo Ấn như đã nói trên trong chừng mực nào, nhưng chùa Dâu, qua cơn cách mạng văn hóa Việt, còn giấu được đến nay hòn đá cầu mưa của Lý-Trần-Hồ gọi là Thạch Quang Phật, “có dáng một sinh thực khí nam” như xác nhận của người quan sát bây giờ. Hòn đá như “cái nắm tay” đó chẳng thể nào là “cái nghiên đá” như sử gia nho thần nói, nó đã nấp dưới danh hiệu Phật Pháp Vân trong Toàn thư, nhưng chúng ta biết được đích danh nhờ sự tranh chấp ngôi vị hoàng đế giữa Hồ Nguyên Trừng và Hồ Hán Thương qua câu đố thử thách của Hồ Quý Ly vào đầu 1400. Thông thường thì gọi linga là nói gọn nhưng thực tế vẫn thấy đủ bộ linga-yoni trên vật chứng lưu lại trước mắt hay qua phát hiện đào bới. Cái yoni từng nằm trên trống đồng. Và trong dân gian còn có tục thờ nõ nường, rước sinh thực khí nam nữ, biểu diễn hành động giao hợp, qua mặt thời kỳ thanh tẩy xã hội chủ nghĩa, để còn tái hiện lễ hội Trò Trám (lấp đầy?) trong năm 2001, mở màn lễ Mật làm việc tính giao thật sự cho trai gái làng Dục Mỹ, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ thưởng lãm, dưới sự chứng kiến của phóng viên ngoại quốc quay phim làm tài liệu. (Tin của nguyệt san Khởi hành, California, số 55, tháng 5-2001, tr. 3). Các lễ cầu ngư của dân chài Việt dọc biển miền Trung không xa lễ Trò Trám trên. Và xa tuốt về phía nam, trong đầu thập niên 1970, một người ở Phan Thiết còn nhớ trước 1945, hằng năm người Chàm thường tụ về một khu vực đồng trống bên ngoài thành phố để tế thần, với nghi lễ như Trò Trám trên. Những người chép bài chú Đà la ni cho Đinh Liễn hẳn là có chứng kiến những lễ hội tương tự trong thế kỷ X của họ. Bánh giầy có dáng một cái yoni mà câu vè: Trúc Phê có tiệc bánh giầy, Bên Á hả miệng bên này chày đâm, như một hình tượng về hành động fellatio, oral sex đã có trong ngôn ngữ thường tục (bú cặc). Tập hợp “bán trôn nuôi miệng” chứng tỏ người ta đã biết về kê-gian/anal intercourse. Và thường vẫn có những từ chỉ các hành động cunnilingus, masturbation, zoophilia mà vì ảnh hưởng thánh giáo của giới nho học, người ta chỉ còn dùng chúng như những lời chửi mắng thô tục mà thôi: bú lồn, xụt cặc/t, đụ bò.
Các từ ngữ dùng cho sinh hoạt cơ bản của con người thường là các từ gốc gắn liền với tộc đoàn mà sự che giấu như trên càng khiến cho chúng mang tính xưa cũ hơn hết. Trong tiếng Việt, hai chữ “vợ chồng” đã mang một ý nghĩa cụ thể về sinh hoạt tính dục mà người ta không để ý tới. Nếu nhớ đến cách giải thích sự liên hệ giữa các phụ âm b, v trong các chữ bua/vua (chúa), phân bua/vua... rồi liên hệ với trường hợp có sự biến đổi vợ/bợ, để kết hợp với chữ “chồng” thì hiểu rằng người xưa đã cụ thể hóa hành động giao hợp thông thường nhất của nhân loại (dưới bợ, trên chồng), và chuyển dùng cho cơ chế hôn nhân của người Việt.
Lý Thánh Tông đem bộ linga-yoni của Chàm về trong trận 1069 (từ Thủy Vân, bắc Quảng Trị?), tuy hành động mang ý nghĩa thu phục thần linh kẻ chiến bại nhưng lại không cho ta thấy là dị ứng với tục thờ Bà Chúa Xứ, bởi vì VĐULT ghi rằng họ Lý đã đặt bà làm chủ đàn Viên Khâu (1154), nơi vốn theo ý nghĩa gốc của nó là chỗ thờ Ông Thiên, cha của vua. Sự tiếp nhận không gây thắc mắc chứng tỏ trong các phong tặng đầy hiểu biết của đời Trần tiếp theo: 1285 Địa Kỳ Nguyên Quân/Bà Chúa Xứ, 1313 Ứng Thiên Hóa Dục/Theo Đạo Trời Sinh Sôi Nảy Nở, và 1288 Nguyên Trung/Vốn Thẳng Cứng Xuyên Suốt, Không Lệch (ý nghĩa chỉ cái linga đối ứng với cái yoni trong phong tặng trước). Các chùa gốc thờ thần Po Yan Dari Chàm, vào thời kỳ “Bắc tiến” về sau, dưới lốt tổng hợp của Bà Chúa Xứ, đã xuất hiện ở miền Bắc hoặc dưới tên thô lỗ mà chính xác: Bà Banh/Bà Đanh, Bà Chúa Ngựa, hoặc dưới tên chuyển hóa ẩn tàng, nôm hoặc nho: chùa Bà Ả, Nhà Nàng, Thiên Phúc (Văn khắc Hán nôm Việt Nam, tr. 248/bia 1620, tr. 332/bia 1622, tr. 474/bia 1562). Tất cả chứng tỏ một sinh hoạt cúng lễ rất nghiêm chỉnh về cái giống trong suốt lịch sử Việt.(1)
Lại thấy hai trường hợp chữa bệnh hiếm muộn trong đời vua Lý Thánh Tông và ông con. Chúng tôi đã dựa vào truyền thuyết cho tới ngày nay và một sơ hở của sử quan mà cho là vào thời đó, các ông pháp sư đã nghĩ rằng có thể sử dụng thân xác mình làm phương tiện chữa bệnh (Thần, người và đất Việt). Không hẳn là một sự lợi dụng nhưng là một tin tưởng kiểu của Mật giáo đem vào hành động. Ở cấp cao trên triều đình thì có một ông sư thực thụ (Từ Đạo Hạnh) và một ông gián tiếp làm việc truyền đạt (Đại Điên, sư chùa Thánh Chúa dạy cho Nguyễn Bông). Địa điểm chùa, tên Cánh đồng Bông của nạn nhân mà các tác giả Toàn thư còn biết, đã chứng tỏ một phần sự thật. Cả hai thầy pháp đều làm cùng một việc chữa bệnh là “lẻn vào nhà tắm” (như Từ Vinh, cha Từ Đạo Hạnh, lẻn vào chỗ ở của cung nhân), hẳn vì thế mà sử quan ghi là “việc bị phát giác”. Thánh Tông giận sai chém Nguyễn Bông, nhưng Sùng Hiền Hầu lơ chuyện vợ mách. Điều đó được kể ở Thiền uyển tập anh đời Trần, chứng tỏ người đương thời từng in trí theo một lý thuyết để không cho là chuyện ghi lại này có ý nghĩa “lợi dụng bậy bạ”.
Trần nữ - con gái họ Trần
Sinh hoạt tính dục của người họ Trần thường bị các sử quan đời sau chê trách. Với ông vua (Thái Tông) thì chê trách nhẹ nhàng: “Chốn buồng the cũng có điều hổ thẹn”, căn cứ trên đạo lý: “Bỏ luân thường, mở mối dâm loạn”. Nhưng với ông quan (Trần Thủ Độ) thì lời chửi mắng “thói chó lợn” được tung ra như để hả ấm ức không thể thốt ra hết với vua. Tuy nhiên các chứng nhân đương thời thì lại không có thái độ hùng hổ ấy. Lê Văn Hưu chỉ chê gián tiếp về các cách tung hô xưng tụng, Lê Tắc không nói một lời về sinh hoạt trong nhà phía chủ. Hai người kia là thủ hạ của dòng họ cầm quyền không nói làm gì, nhưng Hồ Nguyên Trừng đối kháng, ít ra cũng thuộc dòng họ “cướp ngôi”, thế mà trong hồi ký Nam Ông mộng lục, ông này cũng không nhắc đến điều gọi là sự dâm loạn của họ Trần như người sau.
Phan Phu Tiên (1455) đổ thừa cho người thứ nhất (Thái Tông) là “mở mối dâm loạn... đầu têu cho Dụ Tông” sau này. Nhưng sử quan chỉ nói cho sướng miệng chứ Trần Cảnh lấy chị dâu là do sự sắp đặt ép buộc của Trần Thủ Độ và bà mẹ vợ Linh Từ, nguyên Trần nữ - con gái họ Trần. Ông đã trốn đi nhưng thấy “vua ở đâu thì cung điện (xây) ở đó”, nên phải trở về. Sinh hoạt phóng khoáng, buông lung là của cả người họ Trần, của người đương thời chứ không phải do Thái Tông khởi xướng.
Hãy cho rằng Trần Quốc Tuấn cướp công chúa Thiên Thành, con Thái Tông, em con chú của mình, là muốn phá gia đình kẻ đã làm tan rã nhà mình, trước khi được nghe lời trối phải báo thù của cha. Tuy nhiên khi Thái Tông gả con cho người cùng thân tộc gần (có thể là em khác mẹ, đoán định dựa theo tước vương được phong) thì rõ ràng là điều bình thường của thời đại, sử quan không soi mới ra để thấy đó là loạn luân. Lại thêm, xét cung cách tự nhiên của Quốc Tuấn lẻn vào nơi cô gái đã hứa hôn đang ở gia đình người vị hôn phu, thì ta thấy có sự thuận thảo giữa đôi bên, có sự đồng ý của cô gái, đồng thời cũng thấy có sự ngang bướng của con trai họ Trần, như kiểu ông hoàng tử Trần Duy lẻn ra ngoài cung đánh nhau, ăn cướp (1254) - hẳn không phải vì thiếu tiền mà chỉ vì nhu cầu tung hoành, để chứng tỏ sự dũng cảm của mình. Liên hệ thân tộc trong hôn nhân họ Trần do đó càng chồng chéo, khó có thể xác định cách xưng hô với nhau theo cách ta thường dùng ngày nay. Cho nên ta không quan tâm về việc Trần Hoảng (Thánh Tông sau này) lấy em gái Trần Quốc Tuấn, mà chỉ chú ý rằng cậu thái tử mới được làm vua, lấy vợ (tháng 8 âm lịch) vài tháng (tháng 11) là đã có con ngay! Đó là chứng tích sinh hoạt tính dục mạnh của con gái họ Trần mà người còn lưu lại nhiều bằng cớ hơn vì có thời sống đời dân dã là: Trần thị - Trần nhị nương - Huệ hậu - Thiên Cực công chúa - Linh Từ thái hậu (+1259), một loạt tên với địa vị càng lúc càng cao cùng công tích với dòng họ càng sâu dày khiến cho sử quan khó tính phải quay lại xưng tụng.
Nói nhiều về bà chúa này là ĐVSL mà một tên, suy ra có sự xuyên suốt các tài liệu, là Thiên Cực công chúa. Toàn thư tuy chép sơ lược về thời nhiễu nhương chuyển tiếp Lý Trần nhưng cũng cho ta thấy tên bà vào lúc thành lập xong triều đại mới. Họ cho biết sau khi Lý Huệ Tông tự tử thì bà bị “giáng làm Thiên Cực công chúa, gả cho Trần Thủ Độ (1226)...” Tuy tên tước của Toàn thư xuất hiện muộn sau tài liệu của ĐVSL nhưng có thể sử gia sách sau đã dùng theo kiểu hồi cố, vì lúc họ Trần chưa làm vua thì không thể có danh hiệu “công chúa” cho bà được. Tác giả ĐVSL chắc sử dụng nó theo thói quen đời Trần là thời gian sử quan sinh sống, ví dụ như Trần Thủ Độ đã dùng chữ “công chúa” khi nói với người khác về vợ mình. ĐVSL còn gọi là “cô Hai họ Trần”. Trần Lý còn một người con gái nữa được gọi là “cô Ba họ Trần” gả cho Nguyễn Đường (1215) để ràng buộc người này khỏi thông đồng với Nguyễn Nộn, đến khi người này bị tử trận (chết ngay sau đó) lại gả cho Đoàn Văn Lôi (1218), một người con của Đoàn Thượng, thủ lãnh của hệ thống họ Đoàn ở Hồng Châu. Vì các thứ bực này mà ta khó chấp nhận Trần Tự Khánh (+1223) là “anh” của Trần thị theo Toàn thư, vì đã có người anh cả là Trần Thừa (cha Trần Cảnh/Thái Tông). Tuy nhiên nếu xếp Trần Tự Khánh sau cả cô Ba, thì tuổi ông ta có thể là quá nhỏ so với những hoạt động chính trị và quân sự của ông, vốn có tác động rất lớn trong việc gây uy thế họ Trần, dẫn đến việc chiếm ngôi mà Trần Thủ Độ chỉ là nguôi kế tục. Vấn đề có thể giải quyết nếu cho rằng họ là những người cùng cha khác mẹ. Chúng ta ráng chờ đợi sự chứng minh rành rẽ, và bây giờ trở lại với cô Hai.
Lại phải thấy ĐVSL không bao giờ liên kết cô Hai và công chúa Thiên Cực: cô Hai họ Trần đi với hoàng tử Sảm (Huệ Tông sau này), còn công chúa Thiên Cực chỉ xuất hiện trong những chuyện thông dâm hấp dẫn với người khác mà thôi. Điều trở ngại khác là trong chuyện thông dâm với Tô Trung Từ/Tự (tháng 6âl. 1211) thì sách có nói rõ chồng cô là Quan nội hầu Vương Thượng. Có một Quan nội hầu Vương Thượng ở tận Lạng Châu “xa xôi hiểm trở...” như lời Đàm Dĩ Mông can Huệ Tông khi ông vua muốn dẫn gia đình lên đấy tránh Trần Tự Khánh, tuy rằng cuối cùng ông vua vẫn có mặt nơi ấy (đầu 1214). Lạng Châu trong tranh chấp cũng thường đổi chủ. Tháng Giêng âl. 1212, Đinh Khôi đánh Lạng Châu, cướp các tài vật trong nhà công chúa Thiên Cực rồi kéo đi. Điều này là nói về một Thiên Cực khác biệt với cô Hai họ Trần, bà công chúa của năm 1167 gả về cho châu mục Lạng Châu là Hoài Trung Hầu, và sử quan vì ghi theo lối hồi cố mà lẫn lộn hai người. Bà Thiên Cực lúc xảy ra các chuyện thông dâm (1209, 1211) nếu mà của Lý thì đã quá già, hẳn không đủ để Phạm Du say mê đến mức lỡ hẹn quân tình được. Chuyện Tô Trung Từ thông dâm với Thiên Cực lại xảy ra ở Gia Lâm, nơi này rõ ràng là cách xa Lạng Châu, khó thể liên kết với Quan nội hầu Vương Thượng, mà lại gần với Thăng Long của cô Hai đang làm nguyên phi nơi ấy hơn, và cô Hai trước kia cũng đã từng ở trong nhà Tô Trung Từ. Chuyện Phạm Du thông dâm với Thiên Cực đã xảy ra khoảng thời gian cô Hai lấy vương tử Sảm (tháng 7âl. 1209), và điều này là đáng chú ý: Phạm Du bận bịu với Thiên Cực, lỡ hẹn quân tình, bơ vơ bỏ thuyền lên bộ liền bị hai tướng bắt đưa cho vương tử Sảm giết đi. Không phải ngẫu nhiên mà kẻ ngoại tình bị bắt lại được dẫn giải về cho ông chồng bị mọc sừng. Lê Tắc (An Nam chí lược, tr. 222) cho biết “hồi gần đây”, lúc chưa có chuyện chuộc tiền thế mạng thì người chồng được tự chuyên giết chết gian phu. Tên Vương Thượng cũng có thể hiểu theo nghĩa khác. Đó là chữ theo lối ngày nay, viết thường, chỉ sự tôn xưng: ”vương thượng” chỉ vương tử Sảm, lúc bấy giờ đã được họ Trần bỏ vương tử Thầm, tôn là Thắng Vương. Sự nối kết ”vương thượng” với Quan nội hầu Vương Thượng ở Lạng Châu là lầm lạc của sử gia, hay của người sau chép lại sách. Như thế ta gần như đã nối kết được công chúa Thiên Cực và cô Hai họ Trần trong thời chưa vinh hiển, còn đầy quá khứ buông lung, phóng túng như những người con gái, con trai khác của thời đại.
Đã nói, ĐVSL không chừa những chi tiết sỗ sàng, thường tục như trong chuyện Nguyễn Tự (1212), một tướng ngang ngửa tung hoành thời đại, đánh trận bị trúng tên, về nghỉ, hơn 10 ngày “vì lầm lỡ ăn nằm với đàn bà nên khí độc (?) phát lên mà chết”! Ông cậu Tô Trung Từ không chừa cả cô cháu nên ban đêm lẻn vào nhà (cung vua! nên bị giết là phải) rồi cũng được cháu Trần Tự Khánh chôn cất tử tế. Cô Hai họ Trần “có nhan sắc” (sử quan nhắc lại nhận định của vương tử Sảm), lấy chồng tuy thuộc dòng hoàng phái, có cơ nối ngôi Trời, nhưng làm nguyên phi của một ông vua khốn khổ thì cũng chẳng là vị trí để cô bỏ thói quen lúc còn là người “tự do”, lúc không quên nhìn sang kẻ khác. Đoạn văn của ĐVSL kể lại không thô tục nhưng đầy hấp dẫn, mở rộng lối cho dòng tưởng tượng: “Nhà vua (Cao Tông) sai Phạm Du đến lộ Hồng để huấn luyện quân sĩ sắp đánh người ở Thuận Lưu. Biết đã đến lúc dân Hồng đi đón mà Phạm Du còn cùng với công chúa Thiên Cực tư thông, không ngờ qua khỏi giờ phút ấy thì đã sai hẹn với người Hồng rồi. Phạm Du bèn lên thuyền theo đường sông mà đi đến bến Cổ Châu mới dừng lại, rồi theo đường bộ đến xã A Cảo thuộc vùng Ma Lãng thì bị người ở Bắc Giang là Nguyễn Nậu và Nguyễn Nải bắt đưa cho vương tử Sảm giết đi”. Một chuyến phiêu lưu tình ái đầy hấp dẫn mà thiếu người khai thác thành trường thiên tiểu thuyết hoặc phim ảnh bây giờ!
Khúc dạo đầu của cô Hai họ Trần khiến ta không lấy làm lạ với sinh hoạt tính dục của người họ Trần về sau. An Sinh Vương Trần Liễu nhân nước lụt chèo thuyền đi chầu, ghé vào cung họ Lý hiếp dâm cung phi tiền triều (1238), tuy vẫn bị phạt cho phải phép nhưng cung Lệ Thiên ấy lại được đổi tên là Thưởng Xuân, tỏ rõ một ám ảnh thích thú của toàn dòng họ mới vừa sang cả, được dịp thành hĩnh. Đã nói chuyện Trần Quốc Tuấn. Đã nói chuyện thái tử Trần Hoảng (Thánh Tông). Hãy kể thêm chuyện Trần Khánh Dư và công chúa Thiên Thụy, vợ Hưng Vũ Vương Trần (Quốc?) Nghiện. Bà công chúa, vướng mắc với vị thế cao sang, vẫn không biết nể nang dè dặt để cứ theo ý thích riêng, tìm lạc thú nơi khác với dinh thự của ông cha chồng đại vương oai thế trùm trời. Đến như anh họ Đỗ (Khắc Chung) được mon men làm họ Trần mà cũng “kết” với gái họ Trần, vợ vua Chấm, tuy có bị dân chính thống chửi mắng phải tránh né, nhưng rốt cuộc chỉ khi chết đi mới bị trả thù trên cái xác, nguyên nhân lại không phải vì chuyện trong buồng kín!
Điều đáng chú ý là sự chủ động của những người con gái họ Trần trong việc tìm người phối hợp, giữa sự o ép của tình thế. Cái ego đàn ông của họ Trần không phải không mạnh. Trần Duệ Tông đánh Chiêm, tự thân xông tới, bị đại tướng can ngăn, liền chê: “Ngươi thật là đàn bà” rồi sai lấy áo đàn bà mặc cho! Nhưng bà Thiên Cực một thời tung hoành trên tình trường, rốt lại lấy Trần Thủ Độ không phải là bị ép uổng, rồi sau đó đã chuyển sức xung động của mình vào việc quân cơ. “Khi... kinh thành thất thủ, Linh Từ ở Hoàng Giang, giữ gìn hoàng thái tử, cung phi, công chúa và vợ con các tướng soái thoát khỏi giặc cướp, lại khám xét thuyền các nhà chứa giấu quân khí đều đưa dùng vào việc quân” (Ngô Sĩ Liên). Đến cuối đời, vai trò đàn ông hết nổi bật, còn thêm tàn tạ nữa, thì hành tung của các bà lại hiển hiện rõ rệt như vào thời dòng họ còn là dân dã. Hoàng hậu của Phế Đế (+1388), năm 1393 đi chơi hồ Tây với Trần Nguyên Uyên (+1395), bị Nghệ Tông đem gả cho em Uyên là Trần Nguyên Hãng (+1399) để làm nhục, rốt lại trong biến loạn Minh (1406) thấy cùng với Trần Nguyên Chỉ chạy ra Đồ Sơn. Ông tư đồ Trần Nguyên Đán thấy thế nước nghiêng ngửa, hạ giá kết thân với họ Hồ nổi lên cũng khiến cho cô Thái bắt chước cha, có thai với anh đồ dạy học sợ tội bỏ trốn, không biết có phải từ đó đã sinh ra đại công thần Nguyễn Trãi sau này của triều Lê hay không.
Nhưng nổi bật nhất là công chúa Thiên Ninh (tên Bạch Tha, Ngọc Tha), con Minh Tông (+1357), lấy chồng năm 1342, trong biến loạn 1370 thấy có hai con đủ lớn để âm mưu giết Dương Nhật Lễ, không thành. Con chết, mẹ chết, Thiên Ninh đóng vai trò tích cực trong việc lật đổ Dương Nhật Lễ, xúi ông anh Trần Phủ lừng khừng, nhút nhát: “Anh phải đi (tránh nạn) đi! Em sẽ đem bọn gia nô dẹp nó cho!” Với công phục nghiệp cho họ Trần, bà được đổi tên là Quốc Hinh/Hương-thơm-của-vua/nước, với tước phong Lạng Quốc Thái trưởng công chúa. Tuy nhiên lại cũng giống bà tổ Thiên Cực, bà không thấy thắc mắc về khía cạnh sinh hoạt tính dục của mình. Có cậu em hoàng đế, vì danh y Trâu Canh cứu khỏi chết đuối lúc ba tuổi, “châm” chữa sao đó mà bị liệt dương, Thiên Ninh liền chịu lấy thân mình chữa bệnh. Chuyện kể là vào năm 1351, lúc cậu vua mười lăm tuổi nhưng đã lấy vợ từ hai năm trước, còn bà chị thì có chồng đã được chín năm. Sử quan cẩn thận ghi lại bài thuốc, chắc là để dành cho người sau, vì thấy rằng “quả nhiên công hiệu”: “Giết đứa bé con trai, lấy mật hòa với dương khởi thạch (‘đá’ kích dâm?) mà uống rồi thông dâm với chị hay em ruột của mình thì sẽ hiệu nghiệm”. Không biết các ông vua sau có dùng hay không nhưng công lao Trâu Canh đã khiến ông khỏi chết khi mắc tội thông dâm với cung nữ, còn được mời chữa bệnh khi Minh Tông hấp hối 1357. Hẳn Trâu Canh không phải chỉ chữa bệnh bằng bài thuốc mà còn bằng ngôn từ dẫn dụ, động tác làm gương vì sử ghi rằng ông ta “ra vào cung cấm hay dùng những câu kỳ lạ, những kế quỷ quyệt để huyễn hoặc Dụ Hoàng”. Sử quan nhà Lê còn thấy con cháu Trâu Canh nối nghiệp nhà trong đời mình, trong lúc dân gian ngày nay thì thích thú riêng với bài thuốc của Trâu Canh mà chắc là không thể thực hiện được, nên chuyển qua chuyện truyền kỳ về anh nông dân ngờ nghệch tìm được loại dây thảo ở bờ mương, vạt suối nào đó, quàng vào thì cường dương còn tháo ra thì hết hiệu nghiệm!
Cao độ sinh hoạt tính dục buông thả của nhà họ Trần tập trung vào chuyện Trần Dụ Tông, nên không lấy làm lạ là đã nảy sinh truyện Hà Ô Lôi của Lĩnh Nam chích quái, ghi lại dưới đời ông vua này, còn có cả thời điểm rành rẽ “Thiệu Phong thứ sáu” (1346).
Truyện nói về một chàng trai sinh từ sự phối hợp giữa người trần và một vị thần, một chuyện thần lén lút cướp vợ viên quan đi sứ vắng nhà, sinh ra một cậu bé đen xấu nhưng nhờ Lã Động Tân làm phép nên có được giọng hát mê mệt lòng người. Dụ Tông mê quận chúa A Kim mà không được thỏa mãn mới bảo Ô Lôi đi dụ để bêu xấu, và Ô Lôi thành công. Các nhân vật, trừ Dụ Tông, đều có dáng lịch sử nhưng không rõ ràng. Đặng Sĩ Dinh, viên quan đi sứ có vợ bị thần hiếp, người làng Ma La, gộp lại giống như tên của ông thám hoa Đặng Ma La đỗ vào đời Thái Tông (1241). Huy Từ hoàng hậu giống như được nhớ từ tên hiệu một bà phi của Anh Tông: Huy Tư. Và Minh Uy Vương, người giết Ô Lôi, như là tước đảo ngược của con Lý Thái Tông: Uy Minh Vương Lý Hoảng mà vai trò trấn nhậm Nghệ An hướng về nam khiến ông còn được thờ xa hơn, ví dụ như ở Bình Định. A Kim chỉ là tên tượng trưng của dòng cành vàng lá ngọc, cũng như Ô Lôi là trỏ hình dạng đen đúa của nhân vật chính. Dụ Tông thì mới có mười tuổi.
Tuy nhiên nếu loại bỏ những thêm thắt, ta thấy truyện có một cốt lõi thật, đáng lưu ý, nhất là khi so với tình hình khả năng nho sĩ đương thời, rõ ràng họ chưa đủ sức viết được một “tiểu thuyết” của sáng tạo mà chỉ là tô vẽ từ “những chuyện góp nhặt... lượm lặt ở tiếng vang chuyện đồn”, theo con đường hẳn là thành công hơn Hồ Tông Thốc chỉ vì gần với nguồn thông tin chi tiết hơn mà thôi. Dụ Tông mê người tôn thất là chuyện-thường của họ Trần. Dịch giả Lê Hữu Mục đã dựa vào thời gian xảy ra truyện tích, và lầm lạc với đời sống của anh Dụ Tông, Cung Túc Vương Trần Nguyên Dục, lấy người con hát sinh ra Dương Nhật Lễ sau được nối ngôi, mà đoán định niên đại ra đời của Lĩnh Nam chích quái (tr. 14,15). Ông cho chuyện cướp vợ là của Dụ Tông chứ không phải của người anh nên xếp đặt sự thật sít sao từ chuyện đời thường qua sách vở, quả quyết Hà Ô Lôi là hình ảnh của Dương Nhật Lễ lịch sử, để tìm ra luận chứng cho mình, về phần chúng ta chẳng tìm cách kết tội người xưa, nhưng sự kiện Nguyên Dục cướp vợ từ tay người chồng họ Dương cũng được Lê Tắc nói về một ông vua khác cướp vợ hứa hôn của người (tương đối thất bại). Tên vua không được nói rõ, tên người phụ nữ chỉ nhớ được từ quê quán (Vạn Xuân phi), nhưng Lê Tắc hàng Nguyên từ 1285 thì hẳn là chuyện đã xảy trước đời Trần Dụ Tông gần một thế kỷ (An Nam chí lược, tr. 238), nghĩa là cũng vẫn chuyện bình thường của nhà họ Trần. Nhưng ở truyện Hà Ô Lôi, ta lại thấy nhiều tình tiết, tâm cảm thời đại hơn các dòng sử khô khan, đồng thời truyện cũng hé mở cho những suy đoán bất ngờ hơn.
Trước hết là ở hình dạng nhân vật, được tả là “da thịt đen như mực”, đen “nhưng da láng như mỡ”, được cả tiên Động Tân khen “đẹp lắm” trước khi tiếp sức thêm giọng hát tuyệt vời ngoài tính chất thông minh mẫn tiệp khác. “Đen” ở đây rõ ràng là da đen theo giống chứ không phải vì dang nắng! Đời Trần đã có rất nhiều giao tiếp với hải đảo dân có màu da sậm hơn người Việt, vậy thì việc có một người con lai như thế không phải là điều lạ. Thời Lê trung hưng có người lấy lái buôn ngoại quốc sinh con đen mà chắc vì sĩ diện con Rồng cháu Tiên người ta đã cho bà ta mãi đến sau hai năm xa chồng mới sinh con! Học giả miền Bắc có cơ hội đi điền dã, đã gợi ý rằng tên làng Ma La giống như một điểm tụ cư của tù binh Chàm, và đây là một hậu duệ của tù binh Chàm trong vùng. Ô Lôi lúc lớn lên được vào hầu trong cung Dụ Tông. Phía trời Tây, triều đình người Ả Rập đã có rất nhiều nô lệ da đen “làm loạn” ở hậu cung như còn truyền lại trong Ngàn lẻ một đêm. Huyền thoại về khả năng tình dục của người da đen có ở khắp nơi, cho nên cung đình họ Trần thêm một Ô Lôi cũng không là mới. Vậy phải chú ý đến sự “sủng ái” của vua đối với “tân khách” Ô Lôi. “Vua thường bảo ở triều rằng nếu ai có thấy Ô Lôi gian phạm con gái nhà ai, bắt nó đến đây thì vua thưởng tiền một ngàn quan, nếu giết nó thì phải bồi thường một vạn quan. Đi chơi đâu vua cũng thường cho nó đi theo”. Tuy sử quan khen bài thuốc của Trâu Canh, nhưng chắc là không ”công hiệu” lắm vì rốt cuộc Dụ Tông vẫn không có con, lúc chết đi phải để Dương Nhật Lễ lên thay. Vậy thì Ô Lôi trong triều, với những điều ghi lại “nhẹ nhàng” kia, chứng tỏ là một “boy friend” của Dụ Tông (theo chỉ dẫn của Trâu Canh?), điều đã thấy rất nhiều ở thời cổ Hy Lạp, cũng như trong chữ Hán “đoạn tụ”, từ tích Hán Ai Đế (năm 6-1 TCN.) phải cắt ống tay áo của mình mới trỗi dậy được mà không làm kinh động người yêu-trai (Đổng Hiền) đang ngủ mê mệt nằm đè lên (Hán thư, Đổng Hiền truyện). Nhu cầu sex ở người bị liệt dương cũng thấy ở Đàng Trong, thời chúa cuối đời Nguyễn. Lê Quý Đôn ghi lại (Phủ biên tạp lục, bản dịch Hà Nội 1964, tr. 65): “(Nguyễn Phúc Thuần) tuổi trẻ thích chơi bời múa hát, có bệnh không gần đàn bà được, sai người con hát yêu dâm loạn với cung nữ để làm vui”. Ngờ rằng sự rối loạn dục tính của Phúc Thuần phát sinh tình trạng voyeurisme đó, đã có mầm mống từ cha của ông: Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát đã cho gọi con trai là con gái, con gái là con trai, nhưng dấu hiệu phía nữ không thấy, chỉ rõ rệt là phía nam, như cũng Lê Quý Đôn cho biết Nguyễn Phúc Hiệu (con trai trưởng) được gọi là Đức mụ, còn Phúc Dương (cháu) được gọi là Chị Dương. Phúc Khoát có 15 con trai, không kể con gái, như vậy không thể là “bất lực”, nhưng sự việc đổi-giống, làm lẫn lộn giống như thế, hợp với nhận xét “lại cái” (chữ Pháp: efféminé của J. H. White 1819) tỏ ra ông có khuynh hướng lưỡng tính trong người. “Người con hát yêu” của Phúc Thuần, ở trường hợp Trần Dụ Tông là Hà Ô Lôi. Ô Lôi không phải chỉ là trường hợp đồng tính mà là lưỡng tính.
Có lẽ hiếm có trường hợp văn chương sex trong sách xưa của Việt Nam như ở đây, ở tài liệu có thể là xưa nhất. “Giọng phúng vịnh (của Ô Lôi) như đùa gió cợt trăng, như mây bay nước chảy làm cho ai cũng thích nghe, đến đàn bà con gái càng thích nghe hơn”. Quận chúa A Kim “nghe tiếng hát Ô Lôi... Véo von như tiết điệu Quân thiên... ý tứ thê lương” liền cho vào chầu hầu. “Thanh âm thấu cả trong ngoài, quận chúa vì thế cảm động mới thành bệnh uất kết, dần dà đến ba bốn tháng bệnh càng nặng thêm... Một hôm Ô Lôi đêm vào hầu bệnh... Quận chúa không ngăn được tình dục mới bảo Ô Lôi rằng: ‘Từ ngày mày vào đây, vì giọng hát của mày mà ta thành bệnh’. Rồi cùng Ô Lôi giao thông, bệnh dần dần bớt”.
Họ Trần chấm dứt vai trò lịch sử của mình, với cái đuôi ngắn ngủi của họ Hồ, cũng là đóng kết luôn cả một giai đoạn sử nước Việt từ thời độc lập. Một giai đoạn mới sẽ bắt đầu với sự khích động của một thời thuộc trị nữa.
Khi Thánh giáo lên ngôi
Rõ ràng từ triều (Hậu) Lê, nhất là từ Lê Thánh Tông (làm vua 1460-1497), ý thức hệ Nho giáo đã được chấp nhận là chính thống từ trên tột đỉnh quyền hành - ít ra là trên đại thể và lý thuyết, để hướng dẫn tổ chức chính trị và cách hành xử cá nhân. Thánh Tông như đã tìm được ở Tống Nho một lý thuyết, một phương tiện xóa bỏ sự cách biệt giữa dòng giống Mường Thái của nhà mình để trị đám quan dân trung châu của Trần còn lưu luyến chủ cũ.
Không phải bỗng nhiên mà vấn đề nổi bật dằng dai của thời gian Lê trị nước, đầu tiên là vấn đề tranh luận về lễ nhạc thi hành trên triều đình như thế nào. Công cuộc cải cách lễ nhạc diễn tiến trong sự giằng co giữa bảo thủ và đổi thay, nằm cả trong quan điểm của hai phe đối nghịch với đại diện là Lương Đăng và Nguyễn Trãi nhưng căn bản vẫn là “phỏng theo quy chế của nhà Minh” đương thời. Tổ chức học hành thi cử nhặt nhiệm, thường xuyên hơn thời trước đã đem những nguyên tắc Nho đi vào tầng lớp dân chúng rộng rãi hơn. Cho nên những gương tiết nghĩa, những việc trừng trị các quan dân không theo “lễ” cũng được ghi nhận nhiều hơn.
Vợ góa của Nguyễn Văn Điều là tiết phụ được cấp bảng vàng (1456). Người ta truy tặng cả những nhân vật trong quá khứ: Lê Thị Liễn (ghi được cả tên họ), vợ Túc vệ Lương Thiên Tích đời Hồ, có nhan sắc, góa chồng sớm, không con, ở vậy, được biểu dương (1437). Trong lúc đó thì Quốc tử giám sinh Lê Tử Dục dụ dỗ vợ cả, vợ lẽ của người khác (mắc cùng các tội khác) liền bị xử chém. Hàn lâm viện đãi chế Vũ Văn Phỉ thông dâm với mẹ vợ, tuy bỏ tiền chuộc tội nhưng vẫn phải đi đày, bất thường, khác với trường hợp trạng nguyên “Lợn” Nguyễn Nghiêu Tư (1448) vẫn cứ còn khoa bảng, làm quan triều đình. Vấn đề phức tạp có vẻ là do có thêm những hục hặc phe phái chen vào. Ngay đến người có tên trong biển ngạch công thần (1429) như Lê Thụ mà vẫn bị hặc tội: (đầu 1435) “đang có quốc tang lại lấy vợ lẽ... không theo lễ, phép”. Bà Dương hậu từ xưa được ngồi chung với hai ông chồng Đinh Tiên Hoàng và Lê Đại Hành nay phải di dời. Đến ông vua Hùng quốc tổ được Ngô Sĩ Liên chế biến để phục vụ chủ mới cũng bị chê mất ngôi chỉ vì ham ăn uống, vui chơi.
Quy chế Lễ của Khổng Tử rất gắt gao trong việc phân biệt giao tiếp trai, gái. Nam nữ không được ngồi lẫn lộn với nhau, không treo quần áo cùng chỗ, không dùng chung khăn lược, không trao vật gì tận tay... Nếu có trao, người nữ phải cầm một cái thúng, không có thúng thì hai bên ngồi xuống đặt vật xuống đất rồi mới nhận của nhau. (Kinh Lễ đã dẫn, tr. 41,135). Nguyên tắc “trai gái không được tắm chung” đã được đề ra trong “24 điều giáo huấn” của thời Hồng Đức. Chắc là bắt chước của Đại Việt nên vài thế kỷ sau đó, một giáo phái Tin Lành Mỹ, giáo phái Shakers cũng chủ trương nam nữ ăn riêng, làm lễ riêng, không được bắt tay nhau, cả đến ngăn cấm tình dục nữa. Chỉ vì giáo chủ “Mẹ Lee” của phái này nằm mộng thấy mình trở lại Vườn Địa Đàng, gặp cảnh ông Ađam bà Êva giao hợp khiến từ việc đó phát sinh muôn đời phiền lụy khổ ải cho nhân loại (Sex..., tr. 187). Thánh Tông lại muốn vươn lễ giáo đến cả các dân tộc thiểu số nên sắc chỉ 1470 cũng nhắc đến việc trị tội những người Man lấy vợ cả, vợ lẽ của anh em đã chết rồi, cho là phạm đến luân thường đạo lý (như khi mắng chửi vua Chiêm) mà không biết rằng đó là tục lệ thường của họ. Và chắc Thánh Tông cũng không biết rằng ngay trên vùng quyền lực trực tiếp của ông, người dân cũng chỉ quan tâm đến một nửa của một trong 24 điều giáo huấn kia. Nhà văn Chu Tử còn thấy ở gần quê ông (Sơn Tây), phụ nữ vẫn tắm truồng, và có lần cậu bé Chu Văn Bình (lén đi coi) đã bắt quả tang ông thầy khả kính của mình cũng lảng vảng gần đó!
Lê Thánh Tông với tam cung lục viện không màng đến việc sử quan chê ham mê tửu sắc, bởi cho mình có quyền đó nhưng không ngờ con cháu mình còn ngon lành hơn. Lê Tương Dực tuy để các quan ra văn thư làm phép khuôn mẫu cho việc trị bình muôn đời, cấm các quan không được sai người dắt mối đĩ để vui chơi, nhưng có sẵn người thì cũng không nề hà gì mà không thụ hưởng. Vua “sai bọn nữ sử (đàn bà con gái trong cung) trần truồng chèo thuyền chơi trên hồ Tây... Vua cùng đi chơi thích lắm!” Vào nửa sau thế kỷ XVIII, chúa Trịnh Sâm bắt chước cũng không có gì lạ. Lê Thánh Tông mắng chửi bọn man di mọi rợ nhưng không ngờ con cháu mình lúc thất thế cũng phải lâm vào vòng loạn luân như ai. Lê Thần Tông Duy Kỳ (1607-1662) là cháu ngoại Trịnh Tùng, cháu gọi Trịnh Tráng bằng cậu, thế mà phải chịu làm rể ông này, lại lấy bà vợ có bốn con của ông bác họ Lê Trừ bị Tráng giam trong ngục, hành động bị triều thần can ngăn, nhưng trước sự thể bị áp bức đành chỉ có thể ngậm ngùi than van! Chỉ vì họ Trịnh trong thế không thể cướp ngôi Lê thì để con cháu làm hoàng hậu, làm vua thay mình. Tính chất tương tranh của các dòng lớn đương thời khiến họ dùng nhân vật nữ làm thế kết giao, hòa hợp tạm thời, không kể gì đến lời thánh dạy, hay phép nước do chính họ đặt ra, răn đe dân chúng dưới quyền. Nguyễn Hoàng khi về Nam (1600), đã để con cháu làm tin ở đất Bắc, thấy chưa đủ, bèn gả con gái cho Trịnh Tráng, nghĩa là người ông-cậu trả thành cha vợ, cháu (có mẹ họ Đặng) vẫn lấy cô và như thế, cháu (Trịnh Tùng) trở thành cha chồng người em cô cậu! Tuy nhiên loại incest vì nhu cầu chính trị như thế là chuyện thông thường của khắp nơi, không riêng gì Đại Việt.
Đời sống vốn không phải chỉ là chuyện của sách vở như đã thoáng thấy trong các trường hợp bị trừng trị, làm cớ hòa hợp hòa giải kể ở trên. Cái nghề xưa như trái đất, đầu tiên của nhân loại (trước nghề thầy thuốc) cũng được ghi lại cẩn thận vào đời Lê, thời ông vua nối nghiệp cha, thấy không cần sửa đổi gì nhiều vì coi là đã đạt đến tột đỉnh của văn minh. Đầu năm mới (1501), Hiến Tông về Tây Kinh thăm quê cha đất tổ, ra lệnh cấm các quan không được mang theo vợ con, đĩ, để “bừa bãi tình dục”. Chữ “nữ kỹ” của Toàn thư đã được các sử quan Nguyễn thế kỷ XIX sửa thành “nữ nhạc” vừa cho hợp với thể giá tầng lớp thanh cao của mình, vừa để khỏi thất kính dưới mắt đấng quân vương sắp buông lời châu phê. Một chữ dùng ngắn ngủi không cho ta hiểu nhiều về sinh hoạt thường tục đó của nhân loại nhưng cũng cho ta thấy ra một tổ chức, lỏng lẻo hay chặt chẽ thì không rõ, nhưng vẫn là một tổ chức cung ứng sinh hoạt tình dục cho người có quyền thế, tiền bạc đi theo với thời thịnh trị, an bình tương đối của Lê Thánh Tông.
Tổ chức cung ứng tình dục đã phát triển rất đa tạp ở mẫu hình Trung Quốc của Đại Việt vào thời Tống, Nguyên, Minh - cùng lúc với Lê. Đất Hàng Châu nổi danh của Tống có các hoa thất, ở cấp bực thấp nhất, do nhà nước quản lý, dành cho lính tráng, thủy thủ và cả dân nghèo tìm vui. “Gái” ở đây là chiến lợi phẩm từ nước bại trận, là vợ con tù phạm, lưu đày. Ở cấp bực giữa là tửu gia, đôi lúc do bộ Công quản lý, dành cho quan chức, nơi có “cuộc vui suốt sáng trận cười thâu đêm” với gái đẹp, rượu ngon chuốc trong chén bạc, với cao lương mỹ vị, thắp đèn màu, phát sinh ra từ ngữ thanh/hồng lâu trong khu đèn đỏ ở hải ngoại, để thêm cho Mỹ tập hợp “red light district” khi lưu dân đi tìm quý kim ở Núi Vàng Cũ (San Francisco) vào cuối thế kỷ XIX. Ở cấp bực cao nhất, bảo trợ do quý quan, cự phú, văn nghệ sĩ là một loạt tên: ca thất, ca kỹ thất, trà gia, mà khách làng chơi khi mới bước qua cửa đã phải bỏ vài quan tiền ra mắt với “chén trà tìm hoa”, rồi lên lầu tốn thêm vài quan với chung rượu, để thấy mặt người đẹp dành cho chọn lựa, rồi cơm rượu, rồi ca múa, mỗi tiết mục trải qua là nghi lễ, là tiền tung “trăm nghìn đổ một trận cười như không” nhưng cũng xứng đáng với cao lương mỹ vị, khung cảnh người đẹp lụa là gấm vóc chiều đãi, trong căn phòng có nhiệt sưởi ấm mùa đông, có bầu nước đá làm mát mùa hè (Sex..., tr. 191-193). Cô Kiều than “thanh lâu hai lượt” nhưng chắc lần đầu đã ở đây gặp Thúc Sinh, sau mới hạ giá “mắt xanh” với Từ Hải ở thanh lâu thực sự.
Ở Đại Việt không thấy nhà nước bao cấp hay tổ chức với nhân dân cùng làm công việc này. Có một khía cạnh của một tổ chức không lên đến cấp bậc trung ương nhưng ở khu vực hành chính thấp đã gây nên tai tiếng dưới mắt vua quan thấm nhuần kinh sách. Từ khi đình làng thành lập cuối thế kỷ XV, tổ chức Hát cửa đình (lại cũng có thể manh nha từ lúc đình chưa thành đình làng) với từng nhóm chuyên nghiệp nhận thù lao từ vùng có sinh hoạt đó, có thể mua bán, trao đổi sinh hoạt này để kiếm lợi hay làm phương tiện cho làng xã giải quyết túng thiếu trong việc quan. Các tổ chức này có khi mở rộng tầm hoạt động theo với sự thành lập các giáo phường, nhưng tính chất cấp thấp của chúng khiến cho sinh hoạt các thành phần không xa rời nếp sống phóng túng tự nhiên thường nhật, khác với sự câu thúc triều đình muốn có. Đó là đầu mối của sự khinh miệt “xướng ca vô loài” mà những người dù bất mãn với quan niệm trên cũng không thể phủ nhận những bằng cớ còn xuất hiện mãi đến ngày nay. Đào với kép, đào chính với bầu gánh, với chức quyền địa phương, có khi trở thành một tầng lớp mại dâm không chuyên nghiệp, khuất lấp mà vẫn có đó trong sinh hoạt xã hội thường được mô tả là thanh cao dưới ngòi bút của văn nhân, sử thần.
Các dấu vết ấy phải nhờ các biến loạn mới bày tỏ ra dưới ngòi bút của những nho sĩ, nhân dịp thoát được sự kềm thúc của “cương thường đạo lý” để sống buông thả - tuy theo lẽ thường cũng tránh né bằng văn từ hoa mỹ. Đò sông Hương không phải đợi tới thực dân Pháp mới có, vì điệu nhạc các bài nam bình, nam ai đi theo các câu hò mái đẩy, tuy không để lại chứng cớ về thời điểm nhưng rõ ràng là xuất hiện từ rất lâu. Nguyễn Du đã thưởng thức tiếng đàn của người ca kỹ thành Thăng Long, cùng với đám quân tướng Tây Sơn chắc là há hốc mồm theo với tiếng nhạc lời ca. Sao lại có thể nghĩ rằng “cầm giả” này chỉ hát làm vui cho tác giả Truyện Kiều mà lúc khác không làm việc như người kỹ nữ bến Tầm Dương xưa kia? Người của nhà thế gia này không xa rời sách vở, không giã từ thánh Khổng một thời gian lâu dài thì hẳn không biết đến “nước vỏ lựu, máu mào gà”, không thể viết những câu như: “Rõ ràng trong ngọc trắng ngà, Dày dày sẵn đúc một tòa thiên nhiên” được. Thi sĩ ngắm nghía, trầm trồ rồi câu thơ vọt thoát ra như một thứ orgasme qua thi tứ, một thứ khoái trá được giải thoát của kẻ phải chịu ép mình trong kềm thúc lâu ngày. Trước ông một chút, nho sĩ võ biền Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều tả cảnh ân ái “Bóng dương lồng bóng đồ mi chập chùng”, theo cách nói khác của bình dân “Gặp thằng vua phải gió nó đè em cung nữ ra”. Cung oán ngâm khúc là một trang sách của những hồi tưởng dài về sex. Ở những nơi có các “Hồng Hồng, Tuyết Tuyết mới ngày nào còn chửa biết cái chi chi”, vừa cho thấy một tình trạng mại dâm trẻ em về phía chủ chứa, mà cũng tỏ rõ khuynh hướng ưa thích trẻ em ở các nhà nho đi tìm thú vui ngoài văn thơ. Nơi chốn vui chơi chắc không nhiều, không đa dạng nên nhà nho tiến sĩ đã lảng vảng một chỗ đến hàng mươi năm hơn, lần khân từ mẹ tới con: “Mười lăm năm thấm thoắt có ra gì... Ngã lãng du thì khanh thượng thiếu, quân kim hứa giá ngã thành ông...” Chính từ nơi này cũng nảy ra thảm cảnh gia đình như của Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu, hay các chuyện chính trị lớn lao với trường hợp thủ tướng tương lai Trần Trọng Kim vì đi hát ả đào chung với người thân Nhật bị Pháp vây bắt (Dương Bá Trạc), nên phải lẩn trốn để rồi thành nhà chính trị ngơ ngáo trong thời đại chỉ cần đến quần chúng, âm mưu, bạo lực. (Dẫn chứng từ Hoàng Văn Chí). Chính quyền Pháp khi đề ra các biện pháp kiểm tra vệ sinh các nhân viên ở các nơi vui chơi này - lục xì, hẳn không phải là làm điều quá quắt.
Đã nói nhà nước Đại Việt không dính dáng gì đến tổ chức mãi/mại dâm. Dân chiến bại được ban cho các quan có công đem về làm nô, vợ con tù phạm, kể cả vợ con các cựu công thần (như trường hợp vợ đại tư đồ Lê Sát) ban cho quan đương chức. Lê Tương Dực đánh thắng Uy Mục rồi “sử dụng” phi tần của ông này cũng có thể coi là một trường hợp chiếm đoạt chiến lợi phẩm. Tuy nhiên rõ ràng là có tổ chức mại dâm trong dân chúng như đã thấy ở trên. Điều này không tránh khỏi vì tổ chức thương nghiệp tuy bị chèn ép nhưng vẫn phát triển với các chứng tích từ rất xưa. “Chợ Đông” không phải chỉ xuất hiện với Trần mà đã phồn thịnh cả trong thời Bắc thuộc. Cao Biền mua chuộc thần Long Độ/Đỗ bằng cách tạc tượng đồng, rồi quay trở lại làm bùa yểm trấn áp không được, đành chịu thua “trở về Bắc”. Thời Lý Thái Tông, “chợ Đông mở rộng thêm, huyên náo tấp nập”, đời Trần uy thế chợ lớn lên cùng với tước phong của vua, nên người đương thời thấy “lửa cháy ba lần thiêu chẳng hết” (thơ Trần Quang Khải, bản dịch VĐULT). Vua Lý muốn dời đền đi chỗ khác vẫn không xong, chỉ vì thần là tượng trưng cho sinh hoạt thương mại. Chợ đông người, sinh hoạt phồn thịnh nên Trần muốn chém người “phỉ báng nhà nước (vua)” để thị chúng cũng đem ra xử ở đây (1283). Lại còn thêm chợ Tây Nhai nữa (1035). Bước phát triển mới của Lê hẳn là làm mất cái tên Bụng Rồng mang tính cách phong thủy rơi rớt của Đạo giáo thời Đường mà thay vào cho hợp với thời đại buôn bán Tống, Nguyên, bằng ông thần cụ thể của thương nghiệp, thần Bạch Mã Balaha, còn tên tới bây giờ. Thế thì tuy không được như Trung Quốc, nhưng Đại Việt cũng có một bộ phận thương nhân khuất lấp dưới mắt nho sĩ mà vẫn thường trực, để kéo theo sinh hoạt riêng đi với tiền bạc rủng rỉnh, trong đó có sinh hoạt gái. Các ông quan của Lê Hiến Tông đi về Tây Kinh, hay những người dắt mối bị tố cáo vào thời sau, hẳn là lấy nguồn cung cấp nếu không từ chợ Tây Nhai thì cũng là từ chợ Đông này.
Ở các thế kỷ XVII, XVIII, trên hai phần đất nước, giao thương mở rộng nên Đàng Ngoài có sinh hoạt của các làng nằm dọc La Rivière du Tonkin, đón các thương khách ngoại quốc, phát sinh một thần Bạch Mi nội địa là thần Liễu Hạnh, còn được các chị em ta ngày nay đến cầu khấn ở đền Phủ Giầy. (Trần Quốc Vượng, Dặm dài đất nước, Nxb. Thuận Hóa 2006. Ông này tuy không dám xác định nhưng cũng ngụ ý cho Liễu Hạnh là một “gái làng chơi”). Sinh hoạt mại dâm của Đàng Trong cũng có vẻ buông thả không thua kém, lại thêm có chứng kiến của người ngoại quốc được mời chào. Một du khách tình cờ trên đường từ Hội An đi Phú Xuân triều kiến chúa Nguyễn (2-1-1765) gặp một cô gái đẹp, cho tiền định mua dâm, cô gái bỏ chạy thì một người đàn bà có tuổi tiến đến “ngỏ ý tìm hộ một thôn nữ nhỏ...” (Nguyễn Sinh Duy, “Nhật ký du hành xứ Đàng Trong của James Beans”, Nghiên cứu Huế tập 2, 2001, tr. 155).
Dưới không theo lễ thì vua việc gì phải bận tâm. Quan như Nguyễn Lĩnh lấy em gái Mạc Đăng Dung sau khi có đến 10 vợ lẽ thì vua tam cung lục viện là chuyện đời thường. Cho nên sử thần lại có dịp chê các ông vua say đắm tửu sắc. Vẫn biết sự suy sụp của một triều đại nhìn dưới mắt sử gia về sau là do nhiều nguyên nhân khác sâu xa hơn, nhưng với thời đại mà quyền bính tập trung vào một gia đình, có các nguyên tắc đạo lý làm nền tảng cho sự an nguy của đất nước, thì hạnh kiểm của một ông vua cũng có phần góp vào sự đảo lộn chính trường.
Lê xuất thân từ tù trưởng phụ đạo, rõ ràng vào những ngày đầu của triều đại vẫn mang dấu vết cũ. Đánh nhau vừa xong thì có lệnh cho các đầu mục trở về quê cũ giành lại ruộng đất bị lấn chiếm. Mâu thuẫn của vị thế phụ đạo cũ và hoàng đế mới đã gây nên những rối loạn cung đình cộng với những mâu thuẫn khác làm nên những biến động buổi đầu Lê sơ. Chỉ đến khi Lê Thánh Tông “đổi đời”, bỏ thú “chơi săn”, vui “ngâm vịnh” (lời tựa của Đào Cử cho tập Quỳnh uyển cửu ca; Phan Huy Chú, Lịch triều..., II, tr. 204) thì triều đại và đất nước mới chuyển qua giai đoạn khác.
Nội tình gia thất của quốc/quận vương Tư Tề có chuyện người vợ lẽ bị ruồng bỏ được vừa mắt Hoàng Nguyên Ý, một ông phụ đạo khác ở Lạng Sơn, cũng là một nguyên nhân khởi loạn của ông này. Tổ chức cung đình chưa đủ quy củ ràng buộc nên ông vua thứ hai (Thái Tông) có bà vợ lớn quậy phá thật dữ. Sử quan cho là bà Dương Thị Bí “lăng loàn kiêu căng” vì có con được phong thái tử nhưng hẳn với nguyên nhân khác, vì có chuyện vua “rón nhịn bao dung” và bà khi bị giáng chức vẫn “hằn học trong lòng không kiêng nể gì cả” - tất cả những triệu chứng viện dẫn đều là của tình trạng xung đột ghen tuông tột đỉnh mà khuôn phép “lễ giáo” tỏ ra chưa đủ sức ràng buộc bà vợ. Hai tháng sau khi bỏ vợ (giáng làm thứ nhân), vua “ra lệnh chỉ tuyển con gái đẹp ở các huyện”. Thế mà bên mình vua đã có sẵn Lễ nghi học sĩ Nguyễn Thị Lộ, “người rất đẹp, văn chương rất hay... ngày đêm hầu bên cạnh,” ba năm sau (1442) sẽ gây nên cái chết của ông vua 19 tuổi. Sử quan ghi gọn ghẽ mà nhiều ý: “Vua thức suốt đêm với Nguyễn Thị Lộ rồi băng”. Sử quan thế kỷ XIX, lại vẫn thói quen che đỡ quân vương, tuyệt đối tránh nói chuyện tính dục, nên chuyển qua việc Thái Tông “mắc chứng sốt rét (?!)”. Thi Lộ vào hầu, chẳng để vua làm phiền (!) gì nhưng vẫn bị tội thí quân, gây vạ cho ông chồng già Nguyễn Trãi. Tự Đức gạt bỏ danh hiệu “người hiền” thiên hạ gán cho Nguyễn Trãi vì “Trãi nếu là người hiền thì sớm liệu rút lui, ẩn náu tung tích... (trái lại) thả lỏng cho vợ làm việc hoang dâm, vô liêm sỉ... (nên) cái vạ tru di cũng là do Trãi chuốc lấy”. Ông vua không-thể-có-con này chắc không chú ý đến một chi tiết khác của Toàn thư: “Tháng 9 ngày 9, giết bọn hoạn quan Đinh Phúc, Đinh Thắng vì khi Nguyễn Trãi sắp bị hành hình, có nói là hối không nghe lời của Thắng và Phúc”.
Tự Đức mà chú ý đến sự kiện này, thì Nguyễn Trãi còn tệ hơn là không phải “hiền giả” nữa. Nhưng hãy xét theo tính cách một mưu thần nổi danh, của Nguyễn Trãi, người thấy được tình thế đương thời của chính mình, phải chọn lựa đường lối thoát thân mà kết quả tàn hại cho bản thân, cho gia tộc không phải là do ông kém cỏi. Sự xung đột sau chiến tranh giữa Trần cũ và Lê mới, giữa truyền thống tông tộc Thăng Long và sức mạnh phụ đạo Lam Sơn không phải là điều tưởng tượng mà người tôn vinh tinh thần đoàn kết dân tộc thời bây giờ có thể cho là chuyện vu khống xấu xa. Sử quan Lê chỉ nói chuyện giết Trần Nguyên Hãn, Phạm Văn Xảo “người Kinh lộ” bên lề những sự kiện khác, nhưng ý định tránh né lỗi của vua, đổ tội cho các nịnh thần cũng là một chỉ dấu của sự xung đột không nằm trong tính cách cá nhân mà có dạng tập thể.
Võ tướng đủ sức lật đổ chính quyền mới đã bị giết, nhưng có thể buông tha cho văn thần không nguy hiểm, chỉ vì còn cần họ cho việc trị nước vốn nằm trong tay các võ tướng Lam Sơn, những người chỉ có mỗi một quyết định là “giết”. Trong việc xử tử bảy tên ăn trộm vị thành niên (1435), Nguyễn Trãi nói chuyện nhân nghĩa, dẫn Kinh Thư, Tả truyện liền bị các đại tư đồ Lê Sát, Lê Ngân đùn đẩy, nói dỗi: “Ông có nhân nghĩa có thể cảm hóa người ác thành thiện, xin giao chúng phiền ông cảm hóa cho”. Nguyễn Trãi đã gặp xung đột với Lương Đăng trong việc chế định mũ áo, nhạc lễ mới cho dòng họ cầm quyền từ lâu vốn chỉ biết mặc khố đâm trâu hội thề. (Quan tài ông Lê Tương Dực +1516 còn có cái khố đấy!) Quan văn gốc Lam Sơn cũng vậy: ngôn quan, thái sử Bùi Thì Hanh cùng với ông Lễ bộ thị lang gốc đạo sĩ làm lễ giết vượn sống cứu mặt trời, bị Đồng Hanh Phát, học trò của Nguyễn Mộng Tuân (“người tài sĩ”, theo Phan Phu Tiên), bài bác tâu với vua là không nên sử dụng “bọn âm dương, bói toán” làm mất thể thống triều đình. Cũng chính Đồng Hanh Phát xin bỏ lối hát rí ren của Thanh Hóa, và khi Bùi Thì Hanh bị giáng thì Ngô Sĩ Liên “Kinh lộ” ghi là “mọi người rất khoái chí”. Văn quan cấp dưới có thể chịu luồn lọt ẩn nhẫn để thoát, hay dựa vào thế cần đổi thay của nhóm Lam Sơn để tiến thân nhưng công thần Nguyễn Trãi đã từng nằm ngục ngay lúc “Chiếu bình Ngô” chưa ráo mực, tất thấy thế mình khó hơn nhiều. Muốn thoát được, ông phải vận dụng công sức nhiều hơn. Vì thế với óc mưu sĩ, ông đã cho Thị Lộ vào cung tìm thanh thế tận bên trong. Lời các hoạn quan can ngăn không làm ông co lại mà còn như chỉ dấu rằng mưu định của ông có cơ sở vững chắc hơn: vua 17, 18 tuổi con nít ham sắc thì “vợ” ông, lớn tuổi hơn, lão luyện hơn, càng dễ xỏ mũi đắc thế hơn chứ sao! Không thấy bà Thị Lộ xúi được vua giáng chức ông đại công thần Đinh Lễ “cưng” của Lê Thái Tổ là gì! Vậy thì Nguyễn Trãi không “hiền”, là “thứ dữ” nhưng chỉ vì không vượt qua được tình thế không ngờ, để ngăn trở cơn “thượng mã phong” của Lê Nguyên Long Thái Tông, mà ông mắc vạ đấy thôi. Lại không phải chỉ Thái Tông mà Hiến Tông có vẻ cũng chết cùng nguyên cớ: “Tháng 5, ngày 23 (1504), vua vì ham nữ sắc bị bệnh nặng”, và ngày hôm sau thì băng. Còn nhanh hơn cái chết của Nguyễn Tự cuối Lý qua Trần.
Tình thế ghen tuông trong cung cấm cũng thấy dưới đời Lê Thánh Tông tuy không xảy ra một vụ Nghi Dân khác. Không có chuyện lịch sử lặp lại nhưng vẫn có diễn biến dẫn đến những tình thế thú vị hơn nhiều. Sử quan Vũ Quỳnh, người chứng đương thời, nói rõ: “Trường Lạc hoàng hậu (1441-1505) bị giam ở cung khác, đến khi vua ốm nặng mới được đến hầu bệnh, bèn giấu thuốc độc trong tay mà sờ đến chỗ lở, bệnh vua do vậy mới càng thêm nặng”. Nhà nho ít lời nhưng vẫn nhiều ý. Thánh Tông không chết vì vợ bởi vì nếu thật như vậy thì tuyệt dòng Nguyễn Đức Trung, có người cho là tổ ông Bảo Đại nhiều thăng trầm trong tình thế đầy xuôi ngược ngày nay. Nhưng cái ghen của bà hoàng thì đã thấy rõ. Ghen thấy qua sự kiện “bị giam ở cung khác”, ghen thấy qua lời đoán mò của sử quan. Nhưng quan trọng đối với chúng ta hơn, là căn bệnh của nhà vua.
Vua bị thương không phải vì chinh chiến. Đánh Chiêm Thành khải hoàn, vua thấy có mẹ, con đón rước, “thay áo, lên thuyền rồi về hành điện”, lành lặn. Mùa đông, tháng 11âl. (1496), “vua không khỏe”, còn gượng làm thơ khoe rằng “Dù Lý (Bạch), Đỗ (Phủ), Âu (Dương Tu), Tô (Đông Pha) sống lại vị tất đã làm nổi, chỉ có ta làm được”. Thế mà chỉ hơn hai tháng sau, vua ốm nặng một ngày rồi băng, “gươm thần, ấn thần đều biến mất”, chỉ còn lại bài thơ và mối hoài nghi người sau không dám nói. Thái tử lên ngôi, cho biết vua cha bị bệnh phong thũng. “Phong thũng” theo cách hiểu thông thường, và của cả y sinh ngày xưa, là chỉ hiện trạng bệnh lở lói, cùi hủi. Vua không bị chiến thương như đã nói, mà sử quan lại có lời mào đầu là vua mắc bệnh nặng “vì nhiều phi tần quá”, vậy thì Thánh Tông đã mắc “bệnh xã hội”. Vua bị lở lói ở chỗ đó, hay khắp mình mẩy vì giang mai ở thời kỳ cuối?
Cổ Ai Cập đã biết đến bệnh giang mai. Trung Quốc chậm hơn, mãi đến thế kỷ VII, VIII mới bắt đầu biết vài căn “bệnh xã hội” là do giao hợp mà ra. Đầu thế kỷ XVI, y học Minh nhận ra bệnh giang mai và cảnh giác dân chứng về việc giao hợp với gái làng chơi (Sex..., tr. 193). Y giới Tây phương, trước khi biết đến loại kháng sinh, đã chữa bệnh giang mai bằng hợp chất thủy ngân, arsenic; y giới Đông cũng chữa bằng thạch tín (arsenic). Thái y viện đời Lê đã dùng vị mã tiền có chứa thạch tín chữa cho Thánh Tông chăng? Vì thế mới có ghi nhận Trường Lạc hoàng hậu bôi “thuốc độc” (thạch tín) cho vua?
Vấn đề đặt ra là Thánh Tông mắc bệnh (có thể là) giang mai từ đâu? Ông vua không cần đi ra ngoài dân gian tìm thú vui, mà bắt con gái vào cung cho mình hưởng. Mỹ nữ các quan chọn cho vua hẳn phải lành lặn, “tinh khiết”. Nhưng có một nguồn cung cấp gái phức tạp hơn: các tù binh, và hẳn chắc chắn hiện diện nhiều, là tù binh Chàm. Thời Lê sơ thương nghiệp đã rộng như ta nói, nhưng không đến mức phát triển theo đà phồn tạp sôi nổi bên ngoài. Gốc rừng núi của Lê đã khiến họ không theo kịp với tình thế. Và hình như sự co lại của nhà Minh cũng có ảnh hưởng đến cách ứng xử với người ngoại quốc của Lê. Các quan gồng gánh mua bán chỉ những lúc đi sứ Trung Quốc, và Lê bị sứ thần thiên triều ép mua hàng cao giá, còn người hải đảo, người lục địa phía tây vẫn thường bị từ chối. Trong lúc đó thì sự giao tiếp với vùng hải đảo, với bên ngoài của Chiêm Thành có liên hệ từ rất xưa trong khối chung văn hóa Ấn, rồi Hồi giáo. Cơ chế chính quyền lỏng lẻo, rồi qua những hồi tan rã của hệ thống Chiêm Thành khiến việc giao thương với bên ngoài đại dương không gặp trở ngại nhiều. Thủy thủ vẫn là tác nhân chuyển bệnh xã hội của mọi thời đại, nơi chốn. Căn bệnh có tên “giang (dương) mai” qua truyền thuyết ảnh hưởng từ Trung Quốc là do Dương quý phi và Mai Uyển (?) gây tác hại cho đời sau, nhưng tên gọi thông thường ngày nay vẫn là “tim la”. Đó là chứng cớ nguyên gốc Đàng Trong, phát xuất qua giao thương mặt biển vì tim la rõ ràng là từ chữ Tiêm/Xiêm La, Thái Lan ngày nay. Tất nhiên nữ tù binh Chàm của Lê Thánh Tông cũng không phải là thứ đứng-đường, nhưng trong biến động nước mất nhà tan, sao khỏi có người sa sẩy trong buông thả? - và vẫn còn sắc đẹp cho ông vua chú ý tới. Người đẹp lại là tác nhân thu hút bệnh nhiều hơn người xấu. Lớp tù binh Chàm 1471 hai năm sau khi Thánh Tông mất (1497) còn được thấy “thân vương” Lê ưa chuộng thì trong thời gian còn sống, sao không có người lọt vào mắt xanh ông vua? Thời gian từ sau 1471 hay của những chuyến viễn chinh sau đó, đến khi ông mất là đủ dài cho sự ủ bệnh và phát triển đến độ “lở lói” cuối cùng, đưa ông vua sáng giá nhất Đại Việt về nơi yên nghỉ.
Căn bệnh của ông vua thời thịnh trị có tác động gì đến sự tàn tạ của triều đại về sau? Tất nhiên không có cách nào tìm chứng cớ ở sử quan. Chúng ta chỉ biết rằng ông sống khá lâu nên con ông (Hiến Tông) lên ngôi khá muộn, và sau đời ông này thì có dấu hiệu lệch lạc tính dục trong dòng họ. Chúng ta không bàn nhiều đến các ông Vua Quỷ (Uy Mục Đế), Vua Lợn (Tương Dực Đế), bởi vì các danh hiệu kia mang dấu hiệu phe phái rõ rệt khi ta đối chiếu với lời xưng tụng của các sử thần dưới đời những ông vua “bất xứng” này. Đã nói, hình như nguyên nhân chết cấp thời của Hiến Tông là vì truy hoan. Người con trưởng tên Tuân, theo xác nhận chính thức (sắc chỉ 1499) thì “thích mặc áo đàn bà, bỏ thuốc độc cả mẹ”, nói theo ngôn ngữ thông thường ngày nay, là “lại cái”. Có lẽ chi tiết “bỏ thuốc độc cả mẹ” mới là nguyên nhân chính của quyết định Hiến Tông không chịu phong thái tử cho ông. Bởi vì sự bất thường về giới tính ở phương Đông chỉ gây sự tò mò, ngạc nhiên, cùng lắm là chê trách, nhạo báng chứ không bị coi là tội lỗi như dưới ảnh hưởng Thiên Chúa giáo của Âu Tây. Chứng cớ là nhà Tây Hán có ông vua gay như đã nói. Từ khi phát triển, bớt ảnh hưởng thần quyền của Lý rồi thì Trần cũng chú ý đến các hiện tượng lạ của con người, như khi sử quan ghi chép (1300) việc người lộ Hồng sinh con trai hai đầu (frères siamois chưa hoàn chỉnh), người đàn bà ở kinh thành sinh con gái hai đầu, bốn chân bốn tay (1304), việc con gái Nghệ An biến thành con trai (1351). Khó có thể suy đoán thêm chi tiết về trường hợp cuối này nhưng khi khai triển luật pháp phổ biến hơn thì hẳn quan chức nhà Lê cũng gặp các trường hợp kỳ lạ về giới tính, với nghi án hai người phụ nữ ăn nằm với nhau mà ta chỉ có thể đoán là một người đã dùng cái clitoris của mình để làm tình với em gái! (Hồng Đức thiện chính thư, Nguyễn Sĩ Giác dịch, Sài Gòn, tr. 105, 107).
Người chú bản dịch Toàn thư dẫn Lê Quý Đôn cho biết thêm chi tiết về An Vương Tuân. Ông là người thông minh học rộng, sức lực hơn người, nhưng tính ngang bướng, thích mặc áo phụ nữ, hồi nhỏ vì không được như ý, đem thuốc đầu độc mẹ. Chuyên viên về sexologie hẳn có suy đoán hơn chúng ta với những chi tiết này. Người thường chỉ có thể đoán rằng tính chất về sức lực, trí thông minh được nêu ra là để nói về những yếu tố cá tính mạnh, đối kháng với tính nữ tiềm tàng trong người ông. Kết quả đưa đến việc bỏ thuốc độc mẹ là sự chống đối (“ngang bướng”) với những uốn nắn người con theo trí tưởng bình thường của người mẹ, trong đó hẳn không thiếu những lời chế giễu, răn đe. Nhưng đó là cá tính thiên bẩm, hay nói với sự thông cảm như của ngày nay, đó là do sự tạo giống bất toàn mà trong một chừng mực có thể sửa chữa được thì ảnh hưởng khuôn khổ xã hội sẽ mang lại kết quả đổi thay. Sống trong khuôn khổ của một quan niệm nam nữ rành rẽ thì về lâu về dài, khi lớn lên, qua thấm nhuần của kinh sách học được, An Vương Tuân sẽ trở lại như mọi con người khác. Cá tính nữ đã biến mất, hay bị nhận chìm trong sâu kín mà người đương thời không thấy, hay không quan tâm tới nữa. Lời Lê Quý Đôn làm nổi sự hả hê của một người thấy có kẻ trở về với chính giáo “sửa bỏ nết cũ, thờ mẹ rất hiếu”. Nhưng khi sử gia vô tình dùng ngôn từ kinh sách “giữ mình kín đáo” để chứng tỏ thêm sự đắc thắng của đạo lý, thì đồng thời cũng cho chúng ta hiểu được nỗi khổ tâm của một con người lạc loài với giới tính xác định vốn có từ trong căn bản mà phải bị đàn áp, nén sâu.
Bệnh vô sinh như của Tự Đức được người sau biết rõ vì sử có ghi, và ông phải nuôi đến ba người để kế nghiệp (mà ai cũng đều chết thảm theo với rối loạn ngoại xâm). Bầy tôi thì dễ nói hơn, tuy cũng không nhiều lời. Đó là Tống Phúc Đạm (+1799), người xung đột với Bá Đa Lộc, ông tướng “sợ súng... từng có tật ngầm (?), không gần đàn bà nên không có con.” (Đại Nam liệt truyện, tập 2, tr. 160-161.) Ông bị liệt dương hay như Lê Văn Duyệt?