Nguồn gốc, thanh toán và chuyển đổi
Về tính chất tộc người của thủ lãnh Lam Sơn, sử sách cho đến nay không ai dám nói rõ cả dù là sự xác định đã rành rành ra đấy. Sử quan viết về vua mình thì dùng những từ văn hoa đã đành: “Bực trượng phu sinh ở đời phải cứu nạn lớn, lập công to...” Người thời nay cũng mượn tôi thần cũ để tung hô mà khỏi mang tiếng tránh né: “(Lê Lợi) sinh trong một gia đình ‘đời đời làm quân trưởng một phương’.” (Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam, Lịch sử Việt Nam, tập I, 1971, tr. 239, trích lời bia Vĩnh Lăng của Nguyễn Trãi). Người ẩn danh trong tác phẩm này cũng là đồng tác giả của tập sách dày Khởi nghĩa Lam Sơn (bản 1977) với nhiều biện minh hơn. Các tác giả đã đặt những thắc mắc ngoài tính chính thống vào các lời chú, lấy cớ rằng chúng vẫn “chưa đầy đủ và vững chắc để xác định thành phần dân tộc của Lê Lợi”. Tất cả những lời ca tụng tránh né có nguyên nhân là vì, với thời đại ngày nay, ông vua có quyền sinh sát cũ đã choàng thêm cái áo thần thánh của bậc anh hùng cứu nước. Vì thế, họ nhất định cho là “hoàn toàn không có căn cứ” vì “mâu thuẫn với chính sử (Việt)” chuyện Lê Lợi đã đầu hàng Minh, làm tuần kiểm huyện Nga Lạc, những điều cũng ở trong các tài liệu Minh mà hai tác giả đã sử dụng rất nhiều. Nhưng sử quan xưa, dù phải nịnh bợ, cũng nhân một lúc thành thật của ông vua để ghi chép lại đôi lời bất ngờ: “Trẫm... (từng) đem hết của cải để phụng thờ chúng, mong khỏi tai họa... (và) việc dấy nghĩa binh chỉ là sự bất đắc dĩ thôi...”
Tính chất chính thống của thời đại bây giờ không cho phép ai khai thác thêm lời ghi cũ thì hà cớ gì phải phạm húy thêm để nói về tộc người “thấp kém” của ông vua khai sáng? Chỉ vì ông vua khi xuống đồng bằng làm chủ nước đã nâng cao địa vị dòng họ mình lên đến tột đỉnh, lại không biết níu kéo toàn thể tộc đoàn cũ của mình theo ngang hàng với lớp người ở trung châu, khiến ngày nay, tập đoàn Mường đó vẫn còn sống lạc hậu để người ta không dám nhận là nguồn gốc phát xuất của ông vua kia. Có nể nang lắm, không chối bỏ được thành phần vốn là nòng cốt lúc nguyên thủy kia thì người ta cố xếp lại trong một bức tranh “đại đoàn kết dân tộc”, cho bao gồm “những người con ưu tú của dân tộc thuộc các thành phần xã hội và dân tộc (sic!) khác nhau... chung một nhiệt tình yêu nước, một chí căm thù giặc sâu sắc và cùng chung một lý tưởng quyết tâm giải phóng đất nước” (Lịch sử Việt Nam, I, tr. 240). “Đồng bào Mường vùng Lam Sơn vẫn coi Lê Lợi, Nguyễn Thận là thủ lãnh dân tộc mình” và gọi họ là đạo Chàm, đạo Mục như các ông “đạo” Tày Thái Mường khác ghi trong Toàn thư. “Còn cha, ông của Lê Lai, người xả thân cứu Lê Lợi, đã nhiều đời làm tù trưởng xã Dục Tú, vùng Mường. Thanh niên Mường tham gia nghĩa quân rất đông nên nghĩa quân Lam Sơn còn được gọi là ‘đội lính Mường Lam Sơn’” (Các dân tộc ít người..., tr. 28, chắc là theo bản dịch Lam Sơn thực lục của Mạc Bảo Thần). Thì ra hai phụ đạo Dục Tú (Lê Lai) và Khả Lam (Lê Lợi), một người là Mường, người kia lại không phải, chỉ là kẻ nối nghiệp một ông (Lê Hối) từng “dạy học các nơi, di cư đến Như Áng và sau dời đến chân núi Lam Sơn (Khởi nghĩa Lam Sơn), không nói ra nhưng là ám chỉ một người Kinh có văn học, văn minh rõ rệt!
Định kiến kỳ thị mạn ngược và trung châu vững chắc đến mức trở thành tự nhiên, ngây ngô khờ khạo trong lập luận. Phan Huy Chú viết (Lịch triều..., Nhân vật chí, tr. 324) về Trịnh Khả: “Vua (Lê Lợi) thấy ông biết tiếng Lào, sai mang tờ điệp nhờ vua Ai Lao giúp binh lương...” Dùng cụm từ “biết tiếng Lào” vì tác giả hồn nhiên nghĩ ông kia là người “Việt”/Kinh như ông mà không thấy Lê Quý Đôn nhắc chuyện Lê Lợi giao tiếp với một chức quyền ở Lào được mang họ Trịnh, và lại một nhà sư Lào để mả cho vua cũng họ Trịnh (Lam Sơn thực lục), nghĩa là những người đang được nói đến, không biết có họ gì khi là người Lào nhưng người dùng ngôn ngữ Việt Hán đã mắc cho họ chữ “Trịnh...”! Không chỉ là giao tiếp bên ngoài. Lê Lợi còn lấy người họ Trịnh (như trường hợp ông cố, ông cha mình, dòng dõi đầy chất Thái!), sinh ra quận vương Tư Tề sau này. Phan Huy Chú (Lịch triều..., Dư địa chí, tr. 50) nói về “đất Tống Sơn tuy là nơi phát đạt to hơn cả nhưng từ trước tới nay chưa có người đỗ đại khoa”. Ông không chịu dẫn thêm cho ta hiểu đất Lam Sơn “phát đạt to” thành dòng vua Lê (theo ông là “Việt”) cũng không có người đỗ đại khoa, giống như Tống Sơn của nhà Nguyễn vậy. Ta dẫn ra không phải để ngụ ý tiếp tục chê lén như tác giả mà là để xác nhận các vùng đất sản sinh ra hai triều đại Việt vẻ vang ngự trị hơn năm thế kỷ kia, vốn thật là của “thiểu số”, không cần mơ đến Khổng Mạnh cũng ngồi ở bậc cao, còn dân đại khoa mà tác giả hãnh diện thì cũng chỉ là thần tử của bọn Man/Mang kia, các ông nghè đó từng được một ông vua “mường mán” khác (Nguyễn Huệ) xin về dùng! Các tác giả Các dân tộc ít người... đã lôi những người ở vùng mạn ngược Đại Việt chống Minh để ghép vào từng tộc thiểu số ngày nay mà chừa ra thành phần của các người lãnh đạo, cho thuộc tộc Việt - như mình! Giá đừng hợm hĩnh vô lối, đừng mang tinh thần đại đoàn kết tân thời ra giải thích lịch sử thì người ta sẽ thấy ra một quá khứ Đại Việt vào đầu thế kỷ XV dồi dào hơn bức tranh “nghĩa quân” nhiều sắc mà chỉ có một màu, dù trong đó có kể nghĩa quân Áo đỏ, chắc là đồng tộc với nhóm A La/Hồng Di ở đông Côn Minh ngày nay, còn phía Lê Lợi thì có lúc gọi miệt thị là “Hồng y chi tốt” - bọn Áo đỏ!
Như đã thấy, tuy trưng lãnh đất Giao Châu của Hán Đường để lại nhưng Lý Trần đã không quản trị hết toàn vùng. Sự xâm lăng của quân Minh đã làm đảo lộn khắp Đại Việt đến mức độ gay gắt nhất. Quan điểm độc tôn vẻ phương diện chủng tộc, đậm nét với việc trục xuất Mông Cổ, lại thêm mức độ chuyên chính quen thuộc bắt đầu từ ông vua Minh khởi nghiệp có thuyết Tống Nho nghiêm khắc phụ họa, khiến chính sách họ áp dụng ở Đại Việt, phần lãnh địa có sản vật nhiệt đới độc nhất của đế quốc, cho người dân thuộc trị thấy chỉ có mỗi một con đường là phản kháng. Liên hệ với Thăng Long của Trần, có những người tưởng có thể nhờ cậy quân Minh lật đổ họ Hồ nên lúc đầu hùa theo rất đông. Lúc thất vọng quay giáo thì con cháu họ Trần nào cũng nghĩ mình có thể là vua Trần tương lai. Họ tranh đua với Giản Định, Trùng Quang. Các nô tỳ cũ tưởng có dịp từ địa vị pháp lý thấp nhất trong xã hội, vụt nhảy lên làm lãnh tụ, chủ vùng, và may ra, làm chủ nước. Thế gia các hương ấp chưa vào vòng kềm tỏa của Trần - những người của hội nghị Diên Hồng cũ, nay thấy bị đe dọa mất quyền, mất mạng nên vùng lên phản kháng. Chủ nhân các vùng rừng núi thấy đầu hàng cũng không xong, như trường hợp Phan Liêu, Lộ Văn Luật... Thế là loạn tứ phương, không cần viện dẫn đến một tinh thần đại đoàn kết, ý thức yêu nước, yêu quốc gia giả định nào cả. Tập nhóm Lam Sơn có đủ hạng người quy tụ không phải là chuyện lạ nhưng điều cần thiết cho vấn đề chúng ta bàn ở đây, là nòng cốt của nó chính là tập hợp thiểu số trong vùng mở đường cho những liên hệ đi sâu về phía tây Đại Việt, qua liên hệ trong giao thương, chiến tranh, chính các tộc người đó sẽ cai trị các vùng đồng bằng phía đông qua nhiều thế kỷ liên tiếp.
Địa vực của tập nhóm Lam Sơn khiến họ giao tiếp nhiều với tập nhóm tộc Thái vốn đã thành lập các trung tâm chính trị bề thế trên đất Lào ngày nay. Vì thế họ không chỉ gồm những người bản địa, hiểu theo nghĩa các sử gia dân tộc muốn ta công nhận. Chúng ta không thể biết rõ các thành phần Thái trong nhóm đã đến gần Lam Sơn vào lúc nào, pha trộn ở đây đến chừng mực nào, và cũng không thể coi họ thuộc quyền của Đại Việt Lý Trần được, như khi ta đã xét khả năng của các họ này trong sự vươn quyền lực đến những nơi xa xôi, xa Thăng Long, xa đồng bằng. Tuy nhiên rõ ràng cộng thêm với sự suy sụp quyền lực ở Thăng Long, nhóm Lam Sơn đã trở nên tự chủ và theo đó lại mạnh lên vì sự giao tiếp tăng tiến với phía tây. Việc Lê Lợi giao tiếp với một thủ lãnh tộc Thái đóng nơi một vùng Chiềng gì đấy ở Ai Lao, việc nhờ cậy Trịnh Khả là bằng cớ về liên hệ kinh tế, vây cánh chính trị. Lam Sơn thực lục nhắc chuyện nhà sư núi Đá Trắng với tên xứ Phật Hoàng, là bằng cớ khác về tinh thân: Ông phụ đạo vốn chỉ biết có Giàng nay được sự phổ độ từ Ai Lao, nhận thêm tín ngưỡng Phật giáo, dù là một thứ Phật giáo phù thủy. Chính quyền ngoại trị mới ở Thăng Long phải lưu tâm đến họ là điều đương nhiên. Và khi phải chống với Minh thì họ phải tìm sự liên kết, cầu viện hay ngược lại, xung đột với các nhóm Thái gần cận. Giữa các tập nhóm này, sử quan Việt nhận ra Ai Lao là thành phần lớn nhất. Tên Ai Lao của sử Việt là từ đâu ra?
Như ta thấy, nhắc đến Ai Lao lần đầu là năm 1048 rồi lại có chuyện Ai Lao sang “cống” năm 1067. Không có chi tiết cho thấy sử quan đương thời biết rõ về Ai Lao như tập hợp lớn về sau. Việc Ai Lao “cống” năm 1067 cùng với Ngưu Hống chứng tỏ đó là một tập đoàn gần kề nhóm kia, không có dáng gì là của một tổ chức địa vực lớn cả. Tên Ai Lao của Trung Hoa là chỉ một dãy núi chạy đến biên giới Việt, rồi chỉ một tập đoàn Di được nhắc trong Tiền Hán thư, sinh sống ở vùng thuộc tính Vân Nam liên hệ đến tộc Shan bắc Miến Điện ngày nay. Từ hải cho thấy dưới đề mục Lão Qua, chú thêm Laos, thuộc địa Pháp, khi xưa là Nam Chưởng. Điều đó hợp với ghi chép của sử quan Nguyễn (Liệt truyện) trong đề mục Nam Chưởng mang các tên khác: Lao Long, Lão Quà Gia, Lão Qua, với kinh đô là Mang Long/Mường Luông (Luang Prabang), và xác nhận Ai Lao là tên xưa cuối đời Lê của nước Vạn Tượng đương thời. Nhưng vào thế kỷ XI của Lý thì chỉ mới có những nhóm nhỏ Thái thành lập độc lập, vậy có lẽ triều đình Lý đã có tin tức về các nhóm này và gốc gác của họ, nên lấy tên Ai Lao trong sách cũ mà gọi cho một nhóm liên lạc được với Thăng Long để từ đó gọi chung cho những tập đoàn Thái phía tây có xung đột với Đại Việt cho đến khi họ phát triển lớn thành “nước”. Trần đã có xung đột với Ai Lao nhiều lần (1290, 1298, 1301, 1334-35). Đó là thời gian thành lập vương quốc Chiêng Mai của người Thái lấn qua phía đông Mekong, đến vùng Luang Prabang, gây cơ sở địa vực cho Pha Ngum lập vương quốc Lan Xang (1353) trên đà tiến mãi dẫn đến xung đột với Đại Việt của Lê. Chúng ta có thể xác nhận đây chính là “Ai Lao” nói đến trong Toàn thư về thời này mà chứng cớ là Nguyễn Trãi đã ghi trong Dư địa chí của ông, thêm với từ “Lào” ngày nay, được viết gọn lại trong sách là (Ai) Lao. (Những địa danh ghi trên bản đồ của Việt Nam ngày nay có đủ các thanh giọng, đúng hơn, khác với trên bản đồ của người Pháp chẳng hạn. Các nhân danh cũng vậy).
Tất nhiên, lúc khởi đầu, xung đột với dòng họ Pha Ngum là to lớn nhưng nhóm của Lê Lợi cũng không tránh khỏi sự va chạm với các thế lực địa phương, trong đó hẳn có các nhóm Thái, nằm tràn trên vùng được coi là khu vực thẩm quyền cũ của Trần và phần đất Ai Lao, muốn lấn tới. Xung đột nhỏ là chuyện ghi trong Lam Sơn thực lục với “phản thần” Ái ở sách Nguyệt Ấn, và Đỗ Phú ở thôn Hào Lương gây bức bách khởi nghĩa. Nhìn kỹ lại Lời thề Lũng Nhai (bản Hoàng Xuân Hãn chứ không phải là bản sửa lại của Khởi nghĩa Lam Sơn) thì thấy ban đầu cũng chỉ là của một tập hợp người làm “lễ tâu cáo” lên “Vua Trời, Hậu Đất” để chống lại “bè đảng nào vì muốn xâm tiếm... sắp vượt cửa vào để làm hại...” (Tất nhiên một tập hợp mang tính chất đại diện lớn rộng về mặt địa vực, tộc người như thế này là cơ sở có thể dẫn đến thành công nếu nổi lên chống đối, nhưng đó lại là vấn đề khác). Các nhân vật họ Đỗ sau này cũng làm lớn trong đời Lê, từng được lấy họ vua nhưng gốc gác thấp kém không mất đi qua nhận xét của người “trí thức” hơn: Lê Thánh Tông chê đại đô đốc Lê/Đỗ Khuyển “như thỏ khôn giữ mệnh”, còn Đỗ Bí, “chức cao nhất vào hàng tể thần... chỉ biết sắp gà vào nồi mà để cá kình lọt ra ngoài lưới”, tội được ghép ngang với một Đỗ Trượng nào đấy. Cũng là nhỏ nhưng cùng một cơ sở xung đột là sự trả thù của tư mã Lê Ngân lúc thành công đối với Phạm Mẫn, người tranh ruộng trước kia với đầy tớ của Ngân (ghi lại năm 1434).
Xung đột nội bộ của tập nhóm Lam Sơn là chuyện giết Lê Lai, một phụ đạo khác (1427), chuyện nhóm Thái Trịnh Khả lên cầm quyền (1437) mà khiến đại tư đồ Lê Sát phải tâu vua: “Khả lên cầm quyền thì thần nguy mất!” Với các tập hợp sắc tộc khác trong vùng thì có Lộ Văn Luật gièm pha Lê Lợi với Ai Lao, có Phan Liêu chịu quy phục mà cũng không thoát chết hồi sau. Các thổ hào họ Cầm trong vùng dính dáng với các địa danh (Kham/Cam Môn, Cam Cát...) có Cầm Bành giữ phủ Trà Lân cho Minh, đầu hàng mà được Lê Lợi buông tha lúc đầu hẳn vì thế lực riêng trong vùng. Có Cầm Quý của châu Ngọc Ma, hợp tác với Lê Lợi (1420), nuôi Trần Cảo, chắc không phải là thương người thất thế mà vì mưu tính riêng, khiến cho Cảo về Đông Đô, khi thấy nguy đến tính mạng lại muốn trở về chốn nương thân cũ. Cuộc xung đột lớn với chúa Ai Lao, Lan Kham Deng (cầm quyền 1416-1428), được Toàn thư vẽ ra như một sự phản bội bởi vì cho rằng họ từng giúp Lê Lợi lúc khởi đầu (1419) mà không thấy đó chỉ là họ làm việc dùng người ngăn chặn thế lực Minh. Cho đến lúc thấy Minh còn xa mà quân Lam Sơn lớn mạnh lại gần sát nách (tin tức do Lộ Văn Luật cung cấp?), họ phải tự lực ra tay (1421) và tiếp theo, hợp tác với Minh(1422) để tiêu diệt nguy cơ trước mắt. Mưu tính của họ không thành công, Lê thắng Minh dù đem toàn bộ lực lượng về tận Đông Đô xa xôi, nhưng đất căn bản Lam Sơn (trở thành Lam Kinh) với những cuộc hành quân trong quá khứ trên vùng núi rừng xa lạ, đã trở thành mối đe dọa thực sự cho các tập đoàn Thái cũ, mới muốn yên thân hay đang trên đà nống ra.
Sự thiệt thòi trước tiên đến với các tập hợp vùng bắc, tây bắc Đông Đô khi Lê muốn củng cố quyền hành trên đất mới, lo thu dọn triều Trần cũ. Trần Cảo làm vua hờ cho Minh lấy thể diện rút quân, đã bị giết (1-1428) thì tới lượt những người họ Trần có danh vọng sờ sờ trước mắt phải lo toan. Khôn ngoan hơn, khi thấy Lê có mòi thắng thế (cuối 1427), viên Phán đại lý chính (coi việc hình ngục) họ Trần “tâu với vua là vì tính ngông cuồng nhiều bệnh, xin được xuất gia”. Sử thần “không rõ tên” (?) nhưng đã nhận “vua muốn đền công lao” thì hẳn Trần không phải là thứ vô tích sự; và người kia “vội cắt tóc” hẳn là thấy tình hình nguy cấp, cho nên sau đó “không biết đi đâu”. Biệt tích là phải, vì tuy tuyên bố không tham gia chính trị nữa nhưng còn chường mặt ra ngoài là còn có cớ cho người ta giết. Minh cứ đòi tìm con cháu nhà Trần thì không thể báo cáo họ đã chết hết một khi tả tướng quốc Trần (Nguyên) Hãn của triều mới, dù được cho đổi sang họ Lê, vẫn rõ ràng là dòng dõi Trần Nguyên Đán. Thái bảo Phạm Văn Xảo cũng đã được cho họ Lê, đáng lẽ không việc gì, rủi ro lại được mang tên Trần Văn Xảo trong việc “tùy nghi” cho có chứng cớ trong hội thề với Vương Thông, do ông quân sư Nguyễn Trãi gộp vào cho mạnh thế chính danh của lực lượng mới. Thế thì phải chết là đúng rồi! Toàn thư khi nói đến sự việc này, chỉ nhắc như một điều bên lề về tư cách của bọn nịnh thần, về một sai lầm mà biết hối tiếc của ông vua mở nước. Buông lời chê trách, chỉ có những người xa đời không thấy chuyện vạch ra là có hại cho bản thân như Lê Quý Đôn, Phan Huy Chú. Với đương thời, liên hệ bên lề đến vấn đề, chỉ còn giữ lại bản “Chiếu bình Phục Lễ ban sư” (Nguyễn Trãi..., tập 2, tr. 150-53) cũng của ông quân sư Nguyễn Trãi, lúc này là Quan phục hầu, thảo ra. Chi tiết thật ít để ta có thể hiểu đầy đủ ngọn ngành nhưng cũng đáng quan tâm, vì như đã nói, tờ chiếu cho thấy những biến động trên vùng châu thổ lần này lan đến tận biên giới xa mà một triều đại gốc vùng cao giải quyết được dễ dàng hơn chính quyền gốc “hạ lưu” cũ.
Tờ chiếu bá cáo với quan dân Đại Việt về việc đánh dẹp Đèo Cát Hãn, tù trưởng Mường Lễ, nơi mang tên mới: châu Phục Lễ (1432). Chiến trận chống Minh như đã nói lan đến rừng núi vùng tây bắc của Đại Việt bởi vì đến thời Minh, triều đình Hán tộc đã có mặt vững vàng trên vùng tây nam của họ nên có thể sử dụng đường tiến quân theo triền sông Hồng và các phụ lưu, không phải chỉ lệ thuộc vào lũng Lạng Sơn như xưa. Cho nên khi quân Lê tiến ra vây thành Đông Đô, chém Liễu Thăng khiến quân Mộc Thạnh từ Vân Nam xuống phải tan vỡ thì các tù trưởng vùng đó thấy lẽ khôn ngoan là phải liên kết với Lê. Nhân vật có liên quan ở đây là Đèo Cát Hãn, được dụ về cuối năm 1427. Xa Khả Tham thuộc vùng gần hơn so với Đèo Cát Hãn, đã theo về từ vài tháng trước. Nhưng Đèo Cát Hãn, như lời kể trong chiếu ban sư, cũng không dễ dàng khuất phục. Cuối năm 1430, Lê đem quân đánh Bế Khắc Thiệu, đầu 1432 thắng Đèo Cát Hãn, sự việc cho thấy dấu vết mở rộng quyền lực theo đường đất gần, xa. Lời chiếu kể tội liên can: “Năm ngoái ở trấn Thái Nguyên, thằng (Bế) Khắc Thiệu mưu phản, thật do thằng Hãn gây họa. Nay thằng (Đèo) Cát Hãn làm loạn lại bởi âm mưu của thằng Xảo...”
Ta không thể biết gì hơn về âm mưu liên kết trong ngoài đó. “Thằng Hãn” là Trần Nguyên Hãn, “thằng Xảo” là Phạm Văn Xảo. Phan Huy Chú với ảnh hưởng của tiềm thức nghiêng về phe trung châu nên cho rằng Hãn thấy việc xa lánh Lê Lợi là phải: “ông (Hãn) nói riêng với người thân: ‘Nhà vua có tướng như Việt Vương (Câu Tiễn)... không thể cùng sung sướng được.’ Ông xin về hưu, vua cho... Có người cáo ông mưu phản. Vua sai lực sĩ xá nhân bắt về hỏi. Thuyền đến bến dưới xã Đông Sơn, ông giận uất khấn với trời rằng: ‘Tôi với vua cùng mưu cứu dân, nay nghĩa lớn đã định, vua lại muốn giết tôi, hoàng thiên có biết xin soi xét cho’.” Nhưng chúng ta cũng có thể nhìn vấn đề kỹ hơn. Những “lực sĩ xá nhân” đi bắt hẳn là thuộc đội Thiết đột nòng cốt tin cẩn của Lê Lợi và chắc cũng không phải chỉ có 42 người ngồi cùng thuyền với Hãn. Nói là oan nhưng Phan Huy Chú cũng cho thấy Trần Nguyên Hãn “về làng làm nhiều nhà cửa và đóng thuyền chở binh khí”. Để làm gì, mơ làm Phạm Lãi ngao du sông nước (Tây Thi đâu?) mà chất binh khí theo, để làm gì? Biết vua nghi mà vẫn làm nhiều nhà cửa thì nếu không ngu độn tất cũng là có ý xây dựng đồn binh để lo thân. Trần Cảo bị giết đầu năm 1428, sứ sang Minh báo tang trở về mang lệnh vua Minh tìm con cháu nhà Trần, rồi chỉ mấy tháng sau sứ Minh lại sang thúc giục tìm cho ra, ông cháu Trần Nguyên Đán ngồi ngay trong triều có thấy yên tâm không? Xin về quê mà vua bảo mỗi năm phải đến chầu một lần, gương “về chầu” mà thực ra là làm con tin đó, Hãn chắc phải hiểu như sẽ xảy ra về sau với mấy ông phụ đạo hay con cháu họ nằm ở Đông Đô, lúc vua vui thì tha, lúc buồn thì giết. Hãn phải lo thân và chuẩn bị tìm người liên kết. Bế Khắc Thiệu có mặt cùng phe trong chuyện thề bồi của Lê với Vương Thông, ở địa vực tương đối gần, là ứng viên ưu tiên nhất của ông tướng từng xông pha trận mạc, không chịu bó tay chờ người đến bắt. Có điều cơ may của thời tao loạn đã qua, không dễ mỗi một lúc lại gây nổi cơ đồ cho nên Hãn phải chịu chết. Chết vì bão lật thuyền hay vì người anh hùng vùng lên lần chót? Và ông cháu ngoại Trần Nguyên Đán nghĩ gì khi phải viết chiếu kết tội người anh em bà con? Chỉ vì mối liên hệ đó mà chính ông cũng phải nằm ngục, cho nên thảo chiếu cho vua rồi mà chưa an tâm, ông còn làm ráng một bài thơ ca tụng chiến công bình Phục Lễ. Mưu mô cho nhiều thêm thì cũng chỉ dẫn đến vườn vải mà thôi.
Trong biến cố này, ngờ rằng cũng có sự tâng công của một người nguyên họ Trần: Trình Hoành Bá. Sử quan nêu sự hối hận về sau của Lê Lợi, có nhắc tên những người nịnh hót bị bỏ ra ngoài mà Thái Tông (đúng hơn, là một phe nhóm triều thần) muốn dùng lại. Đám văn quan trung châu dựa thế ông vua khởi nghiệp, cương quyết chống đối nên thành công. Vấn đề đáng chú ý ở đây là trong loạt người bị phế đã kể, nhóm Nguyễn Thiên Tích (từng chú thích Dư địa chí của Nguyễn Trãi) lại nhắm riêng vào một người, “sợ Hoành Bá ở trong quân nhất định sẽ gây chuyện trở ngại, nên thích chữ vào mặt, đuổi về làm dân”. Chuyện xảy ra vào lúc ông vua con mới lên (1434), năm sau mới có lệnh kỵ húy đổi họ Trần làm họ Trình, nhưng rõ ràng là sử quan viết theo thời mới. Vậy thì sao lại có sự thù hằn riêng biệt ghê gớm đến thế, nếu phe nhóm trung châu của Tích không cho rằng kẻ kia ít ra cũng được coi là người cùng quê hương bản quán mà đi tố cáo chết người thì đó là một hành vi phản bội không thể tha thứ? Không thể nhắm vào người của phe phái khác thì tập trung vào người cùng phe thất thế như mình vậy.
Trường hợp Phạm Văn Xảo bị ghép với Đèo Cát Hãn khó tìm liên hệ hơn. (Có thể vì chúng tôi không có một tiểu sử của Phạm Văn Xảo). Nguyên chú của tờ chiếu trên không biết của ai, nhưng chỉ lặp lại lời bên trong gán tội cho Xảo mà thôi. Có lẽ chuyện Xảo xảy ra muộn hơn của Nguyên Hãn vì mối liên hệ với Trần ít rõ hơn, nhưng sự thể đã xảy ra với Hãn thì Xảo cũng thấy là sẽ tới phiên mình. Kẻ được Lê Lợi sai chiêu dụ Đèo Cát Hãn năm 1428 là một người họ Trần: Trần Hồ. Mối liên hệ gán ghép với triều cũ thật rõ rệt (ít ra là trong ngụ ý của Lê Lợi). Lời hiếu cho thấy rõ Đèo Cát Hãn là một lực lượng đang lớn mạnh ở vùng tây bắc, Xảo muốn cứu lấy thân hẳn phải trông chờ về phía đó. Nhưng quân lực Lam Sơn vừa thắng Minh xong, nhóm Thái ở Mường Lễ cũng như các nhóm tương tự khác không thể đương cự nổi.
Tờ chiếu “ban cáo thị cho thần dân thiên hạ” trên, là một xác nhận quyền lực của tập đoàn lãnh đạo mới: “Phàm kẻ làm bề tôi nên lấy Hãn, Xảo răn mình, là kẻ phiên trấn nên lấy Cát Hãn, Khắc Thiệu răn mình thì thần dân của ta có thể cùng hưởng phúc lợi muôn đời mà được tiếng lâu dài ở đời sau”, ở lời hăm dọa có ve vuốt này, ta thấy Lê Lợi và tập nhóm Lam Sơn của ông chứng tỏ sự cố gắng đối xử không phân biệt đối với các lãnh tụ cả hai vùng cao thấp. Hội thề với Vương Thông có tên các thủ lãnh địa phương, trong đó có Bế Khắc Thiệu, Ma Luân (?). Hoàng Nguyên Ý, phụ đạo trấn Thái Nguyên là Thượng tướng. Phụ đạo Mường Mộc là Xa Khả Tham (sau được ban họ Lê) có tước Trụ quốc Quan phục hầu - Nguyễn Trãi không có phần “trụ quốc”; Xa Miên, chắc là bà con với ông phụ đạo kia, có chức thiếu úy chỉ kém cấp bậc với chức thái úy đầu triều, rồi Đèo Cát Hãn chức tư mã, Đèo Mạnh Vượng, con Hãn, được chức tư không... Ngay cả “nữ sử (nữ quan) nội thần” của vua (Thánh Tông) cũng có người Chàm (sự việc giết người năm 1509). Việc phong quan chức dù có ý chiêu dụ nhưng căn bản là xây dựng bản thân tông tộc nên khi thấy nguy hiểm là họ Lê giết, không cứ trong ngoài, đồng bằng rừng núi. Có điều sự đe dọa ở ngoài biên mang tính cách địa vực nên để lại dấu vết thay đổi trên cương vực lãnh thổ.
Trong lời kể tội Đèo Cát Hãn, thấy ông chúa Thái này có tham vọng rất lớn. Không chịu về “chầu” Đông Đô mà còn mở rộng cương vực, liên kết với các nhóm nhỏ hơn lấn đất Việt, rồi tự nhiên theo tương quan cùng tộc Thái, lại chuyển qua chiếm đất Ai Lao, vấn đề Đèo Cát Hãn không còn chỉ là của địa phương mà nối kết với những va chạm khác, trở thành của hai nước Đại Việt và Lào. Sự tranh giành quyền binh ở Luang Prabang cũng là cớ để Lê can thiệp (1434), mở rộng cương vực, cai trị trực tiếp: “Bấy giờ các mường của Ai Lao, tuy ngoài mặt nói là quy thuận nước ta, nhưng vẫn tráo trở bất thường, nên triều đình phải đặt quan ở những nơi đó để trông coi”. Tuy nhiên sự tranh chấp bên trong triều đình Đông Đô đã làm chậm phần nào sự lấn chiếm. Với các nhóm Thái lớn như Bồn Man, Lão Qua, họ chỉ giương oai, với các nhóm nhỏ, họ khích động cho đánh lẫn nhau, khi cần thì ra quân địa phương đàn áp để giữ yên vùng biên giới thủ đắc.
Sự rối loạn bên trong cung đình sau khi ông chúa khởi đầu chết, không phải là điều bất ngờ. Chính Lê Lợi cũng thấy trước nên “khóc” lo lắng cho Đinh Lễ; “Nếu trẫm không còn thì còn ai biết khanh nữa, sợ từ đây bị giáng truất mất thôi”. Nguyễn Thị Lộ “gièm” khiến ông mất chức không phải là vì ganh tị như sử quan nghĩ, nhưng ở đất kinh thành văn học mà ông đầy tớ cũ của chúa chỉ có mỗi việc là “sớm tối chầu hầu, không lúc nào rời bên cạnh”, làm sao cho người ta nhớ đến công xưa lúc hoạn nạn phá vây, đánh giặc? (Cũng may là chỉ biết hầu hạ, không dám chen vào các tranh chấp phe phái nên được chết già, quá thọ!) Đó cũng là một hình thức trả thù của nhóm trung châu vướng víu với thời cũ, vốn chỉ có thể nho nhoe bằng chữ nghĩa, nay cậy vào thực tế trị nước mà lớp võ tướng Lam Sơn không đủ khả năng, có lúc phải cầu cạnh. Sự phân hóa bè nhóm trên đất lạ, trong tình thế mới cũng trở nên phức tạp hơn. Vì các sử quan không để lại chi tiết nên ta không thấy rõ tình thế nhiều hơn, nhưng có vẻ căn bản của những biến động lúc đó là do nhóm cầm quyền Lam Sơn phải thích ứng với vai trò trị nước khi nằm ở trung châu. “Bè đảng riêng tây” là điều Lê Lợi đã thấy. Nhóm Lê Sát thuộc lớp người xuất hiện ngay từ lúc đầu, có Lê Sát cứ đòi giết người, Lê Ngân trả thù vặt từ hồi “tiền khởi nghĩa”, có Lê Ê “không biết một chữ”... đó là nhóm Mường thân cận của Lê Lợi. Nhóm chống đối là Lưu Nhân Chú gốc phía bắc Đông Đô tham gia đơn lẻ nên yếu thế, bị giết trước nhưng Trịnh Khả nhóm Thái còn thế lực từ chính nơi khởi nghĩa, bền dai hơn nên đủ sức chống lại. Sự thành công còn nhờ ở nhóm văn quan trung châu, như đã nói, tuy không có thế lực quân sự nhưng có lý thuyết trị nước, đem nhồi nhét ý thức quyền tuyệt đối của bậc chủ tể vào óc ông vua trẻ để hạ tể tướng Lê Sát, người hành xử theo cung cách những ngày cũ: “Khép cho thần tội chuyên quyền, ấy là tội của thần do tiên đế mà có cả”.
Xung đột của văn quan trung châu với nhóm “trí thức” Lam Sơn thấy trong nhiều lần tranh cãi về cách thức điều hành đất nước. Hạn hán đã lâu, người ta chỉ “rước Phật (Pháp Vân - cái cục đá của Hồ Quý Ly để lại) đọc chú để cầu mưa”. Nguyễn Thiên Hựu không biết đến chuyện ông vua mở nước đã quy y từ ngày còn trong rừng, nên lấy kinh sách ra can ông vua con: “Bệ hạ sửa đức, tha tù oan, thả bớt cung nữ mà trời không mưa thì xin chém đầu thần...” Có chút mưa nhỏ sau đó, bị Lê Sát hù dọa, hẳn ông quan văn ăn không ngon ngủ không yên một thời gian dài (tháng 4-1434). Ba năm sau lại xảy ra chuyện tranh chấp về lễ nhạc giữa Lương Đăng và nhóm Nguyễn Trãi, dẫn đến cái chết hụt của tham nghị Nguyễn Liễu dám cả gan bài bác hoạn quan, dù lúc này Lê Sát đã bị giết. Thế rồi Trịnh Khả, Trịnh Khắc Phục bị hạ tiếp chỉ vì biết chuyện kín trong cung, dù sao cũng là của riêng nhóm Mường làm vua: “Diên Ninh (Nhân Tông) tự biết mình không phải là con của tiên đế...”
Sự hiểu biết về “cách làm vua” của nhóm này phải có thời gian để thâm nhập. Các tờ chiếu thăng giáng của Nguyễn Trãi viết cho Lê Thái Tổ, các lời “can gián” của văn quan Đông Đô cho Thái Tông, Nhân Tông, các lời khích bác tố cáo lẫn nhau của tập đoàn lên xuống quyền binh, cho ta thấy rõ điều đó. Ông phụ đạo ở nhà tranh lên làm vua thấy dị ứng với nhà cửa “quy mô lớn lao lộng lẫy”, thấy rối rắm phiền phức với bọn nịnh thần trung châu, nên răn đe: “Lệnh cho bách quan không được làm những việc xưng tụng công đức viển vông cùng bày đặt linh đình những lễ nghi yến hạ”. Tư Tề “tuy tư lự chưa thật chu đáo (nhưng) mà tai mắt cũng đã thấu nghe sự thế”, được coi là người kế nghiệp (1429), có xác nhận chính thức (1431). Theo thói tục, như Lê Lợi là con út mà cai quản gia đình khi anh chết, việc chỉ định làm chủ đất nước lúc này có kèm theo người em phòng hờ. Thế mà không đợi để thời gian thực hiện sự chuyển tiếp, chỉ hai năm sau Tư Tề lại bị truất phế vì “không hiếu với cha mẹ, ngược đãi quần thần...” Ông vua dần dà cũng thấy ra rằng người con lớn này - chắc coi quan triều như đầy tớ trong nhà ở góc rừng Lam Sơn xưa, đã không thích ứng kịp với thời thế! Ông em cũng chẳng hơn gì, sở dĩ còn ngồi đó chỉ vì ông cha không còn sống để ra sắc chỉ giáng lần nữa. Nhưng lần này đã có cơ chế định cho khuôn phép tuy ông chẳng chịu vào khuôn. Thầy vào dạy, cậu bé vua 12 tuổi đứng dậy bỏ đi; cậu không chơi với bạn bè sách vở mà chỉ nô đùa với bọn hầu hạ trong cung, chắc vì chúng nói nhiều điều thích thú hơn chữ nghĩa xa vời. Nhóm hoạn quan Đinh Thắng ngày sau bị giết vì can Nguyễn Trãi không nên đưa Nguyễn Thị Lộ vào cung cho ông vua sàm sỡ để mưu tính thế bên-trong, những người này không nghĩ rằng chính họ đã gợi chuyện thích thú cho cậu bé lúc trước. Vú nuôi chỉ là đầy tớ, sao bảo đừng mắng chửi? Cầm cung bắn chim mà bị can ngăn thì sao không bắn thẳng vào kẻ không cho mình hưởng vui thú? Có voi sao không tập cỡi? Sao không cho nó đánh nhau với dê núi xem “ai thắng ai”? Mà triều đình có khá gì hơn không, họ còn chăng lưới săn trước cửa kia mà!
Bà thái hậu họ Nguyễn có thể không chàng ràng với ai được, nhưng tiếng đồn Nhân Tông “không phải là con của tiên đế” chứng tỏ tổ chức cung đình Lê, dù có hơn Trần chút ít, cũng không được nghiêm túc lắm. Chứng cớ khác là Dương Thị Bí ghen lồng lộn khiến Thái Tông phải truất mẹ, phế con. Sự phân hóa bên trong khiến Nghi Dân đủ người để làm việc giết thái hậu và vua. Và có người họ Trần chen vào biến cố.
Hình như có sự bất nhất của sử quan trong việc ghi các tên người Trần/Trình này. Chưa có lệnh đổi họ thì đã có Trình Chân (1434) chắc là Trần Chân, lệnh đưa ra rồi (1435), và cả khi các lệnh tiếp theo sau này của Lê Thánh Tông (1461, 1466) xuất hiện, vẫn có các tên Trần Hiển (1437), Trần Bàn (1465), nhưng có thể nghĩ rằng Toàn thư vốn là của nhiều đời nên sự sơ hở vẫn có thể xảy ra, chưa kể trường hợp có những người quá thân cận với vua như Trần Phong của Thánh Tông. Nhưng phần lớn có vẻ sử quan đã tuân thủ nghiêm nhặt. Họ Trình hiếm hoi trong các trang sử trước đó, lại nổi lên rất nhiều vào thời Lê sơ, với một loạt quan xử kiện (1448, 1449), nổi bật là công việc đi sứ qua Minh, rõ ràng là cần người văn học mà triều mới chưa có: Trình Nguyên Hy (1435), Trình Chân (1434, 1446, 1451, trong chuyến rắc rối ở biên giới 1456). Trong chuyến sứ đi đòi người bị Chiêm Thành bắt (1449) có tên Trình Nguyên Đỉnh, rõ ràng đó là Trần Nguyên Đỉnh theo dòng tên người quen thuộc vào cuối Trần. Tất cả minh chứng một tập hợp họ Trần cũ, qua biến nạn xảy ra với những người đồng tộc, chịu vào khuôn phép, đã có mặt trong triều mới, và nhân thấy có cơ hội cũng muốn ngoi thêm lên với toan tính riêng. Trong cuộc đảo chính của Nghi Dân, sử quan kê ra một dọc Phạm Đồn, Phan Bang, Trần Lăng (Trung hưng ký thêm Ngô Trang) nhưng đến khi lập bảng ghi công phản đảo chính thì được kể: “Xướng nghĩa trước và hạ thủ đầu tiên là Lê Nhân Thuận, đã chém giặc (Trần) Lăng (bè đảng có đến cả trăm người!)” Tên Lê Nhân Thuận trước đó không thấy có trong nhóm chủ trương, mà được kể công đầu, vậy lý do công tích là ở bản thân người ông ta giết kia. Và Trần Lăng không đổi làm Trình Lăng chỉ vì sử quan muốn nêu đích xác nguồn gốc. Cho nên lên ngôi xong là Thánh Tông nhắc lại lệnh kỵ húy, hai lần.
Tập họp quyền bính lúc này lại trở về với nhóm nòng cốt Lam Sơn. Tuy có việc cạnh tranh tiếp theo là Lê Lăng đòi lập Khắc Xương (bị giam chết 1476) thay Nghi Dân nhưng Lăng sau đó bị giết (tháng 8âl. 1462), quyền hành còn lại trong tay Nguyễn Xí, người trông coi đàn chó săn của Lê Lợi trước kia. Nguyễn Xí muốn nổi bật, và đã thấy thành công khi con là Sư Hồi làm thơ-rơi nói xấu, tố cáo Lê Niệm, Lê Thọ Vực, Trịnh Văn Sái, Nguyễn Lỗi, những người cùng nhóm lật đổ Nghi Dân, thế mà Thánh Tông lại bênh. Thư tố Sư Hồi mưu phản được Thánh Tông đưa xem và an ủi. Những người bị tố cáo kia phải ngậm miệng và chắc là càng phải cố công phục vụ nhiều hơn, tránh cái họa của Lê Lăng xảy ra chỉ vài tháng sau. Thánh Tông cần Nguyễn Xí, như khi “tâm sự” với Sư Hồi, tỏ ra biết chuyện mà có ý thóc mách trong thế còn thấy mong manh của mình (1465): “... Án lớn xảy ra hơn... bắt nhiều con em nhà quyền quý... Người ta nói đến cả Cung Vương (Khắc Xương) và Lê Niệm...” Điều này chứng tỏ sự tranh chấp của các phe phái lúc bấy giờ vẫn còn nằm ngoài quyền uy của ông vua mới. Chỉ dần dà với ngày tháng, ông mới tập trung được quyền lực như lời chê khéo của sử quan Vũ Quỳnh (1453-1516): “(Vua) lấy người thân (Nguyễn Xí) làm chức chỉ huy, dùng họ nhà mẹ làm việc duyệt xét”.
Đi sâu vào phía tây
Nhưng rốt lại, kết cục của những biến động đó đã đưa lên một ông vua đủ văn tài, thấu hiểu nguyên tắc trị nước để dân trung châu không dám coi thường mở miệng dạy vua mà trái lại bị vua giở sách thánh hiền, mắng không kịp vuốt mặt. Sau nhiều trận giết nhau làm mòn sút phe phái, võ tướng cũng vào khuôn phép hơn. Tổ chức nội bộ vững vàng, thế là lực lượng Đông Đô dồn sức bung ra biên giới để uy tín Thánh Tông càng tăng. Những trận đánh phía tây lúc đầu, theo lời sử quan thì vẫn có vẻ thắng thế nhưng thật ra kết quả không mấy khả quan. Trận 1467, tướng Khuất Đả báo thắng trận nhưng chỉ thấy quân Lào đã lẩn tránh trước, để nhóm tù trưởng nhỏ ở lại hàng phục. Trận đánh ở vùng Lai Châu tháng Ba năm đó chỉ huy động thổ binh. Khuất Đả cũng bị thua ở đông bắc. Quyển Đại Việt sử ký của Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên nằm trong cung đình đủ cho Thánh Tông biết chuyện xưa mà tiếp tục đánh đòn quyết định về phía Chiêm Thành trước khi lại quay sang tây. Cho nên sau trận thắng ở Chà Bàn, dù “uy danh chấn động khắp chốn... các nước phiên thuộc ở phía tây kẻ trước người sau đều lật đật tranh nhau đến cống”, Thánh Tông vẫn tổ chức đánh Ai Lao.
Toàn thư có lúc dùng liên tiếp ba chữ Ai Lao, Bồn Man, Lão Qua nhưng thật ra Lê chỉ động tới nhóm lớn Lão Qua (cũng là Ai Lao) có thủ đô “thành Lão Qua”, và nhóm nhỏ Bồn Man. Tên Bồn Man không thấy ở Từ hải, chỉ vì đó là của Việt đặt ra theo dấu vết các chum đá để lại. Các thủ lãnh ở đấy thường mang họ Cầm tiếp cận với Việt, nhiều và thường xuyên cho nên có thể quan dân Việt đã thấy những cái chum đá sâu vào bên trong địa vực đó, và đặt tên là “người Man (ở vùng có) chậu, chum” - vùng Cánh Đồng Chum ngày nay, là “Mọi Chum” nếu dựa theo cách kêu tên thời gần đây. Và cũng nên lưu ý rằng lần đầu tiên, giữa năm 1434 xuất hiện tên gần với Bồn Man là Mường (mang) Bồn (tên gọi bình dân như Phan Huy Chú ghi nhận), nhưng đến giữa năm 1438 thì có tên đầy đủ là Tồn Bồn Man. Có thể hiểu đó là “người Man (ở vùng có) chum (xưa, cũ) còn lại”. Chắc là theo lệnh của Thánh Tông rút gọn tên người Man năm 1472, Tồn Bồn Man trở thành Bồn Man từ đó. Sử quan Nguyễn phân biệt Lão Quà Gia/Nam Chưởng và Vạn Tượng, “khi xưa là nước Ai Lao”, nhưng họ cũng biết có sự tranh chiến giữa hai khu vực này, đến “cuối đời Lê” Ai Lao mới đổi tên là Vạn Tượng, đúng với chuyện ở sử Lào thời vua P’ot’isarat (1520-1547). Mọi chú tâm của họ Lê đều dồn vào lực lượng lớn Lão Qua. Tuy nhiên, phải mất chín năm sau khi thắng Chiêm, Lê Thánh Tông mới tổ chức lực lượng đủ để đánh Lào.
Tầm mức quan trọng của trận chiến 1479 này, tỏ rõ với các tờ chiếu ra quân cũng đủ dài dòng, lớn lối như khi kể tội Chiêm. Có lẽ ban đầu Thánh Tông đã phân vân về việc chọn đích là Bồn Man hay Lão Qua. Hạ chiếu đánh Lão Qua tháng 9âl. 1478, không có chi tiết. Thế rồi lại định đánh Bồn Man, khu vực yếu trước (tháng 6âl. 1479). Lúc này thì đạo lý thánh hiền đã thâm nhập triều chính Đông Đô nên “chính nghĩa” chinh phạt đã cho là thuộc phía Lê: “(Cầm Công) hủy hoại tóc da chỉ vì đắm mê cửa Phật...” Chủ Bồn Man lại còn mắc thêm nhiều tội: “Bầy gian ác Lệ Khai thì dung túng chở che, người thổ tù Hàn Triệu lại giam giữ không thả. Thích tên bán nước Đức Lân mà kết làm phụ tử, ghét người tích trữ Lang Tủng thì giết cả vợ con...” Vậy là Cầm Công không những tính chuyện khuếch trương thế lực quanh vùng mà còn nuôi dưỡng những kẻ chống đối bên trong của Lê chạy trốn ra ngoài (“phường thích khách vô loài” nào đó và “tên bán nước” Đức Lân), chắc đúng vào sự kiện rối loạn nội bộ lớn mà Lê phân trần với Minh năm 1480: vì có 13 người ở Đông Đô chạy trốn sang biên giới, nên sai đầu mục sang đòi lại. Và tội nặng nhất là chống đối đại diện triều đình (Chế sứ Nguyễn Tử Nghi “vài mươi bọn”), giết hơn hai chục người (quân Vương Văn Đán).
Tuy nhiên ngay tháng sau lại có lệnh chuẩn bị đánh Lão Qua. Tội được kể ra, nhắc mâu thuẫn từ thời tổ tông: Đánh úp ngay lúc Lê còn phải chống Minh, giúp nhóm thổ tù tây bắc Việt chống đối triều đình (1441 “giúp kẻ gian dấy binh đánh chiếm”, 1448 “Tư không” Đèo Mạnh Vượng, con Đèo Cát Hãn, bị giết). Đương thời thì “cướp châu Lang Chánh... quấy phủ An Tây... ăn lấn như tằm” vùng Sầm Thượng, Sầm Hạ, nghĩa là đe dọa, lấn cướp phía tây Thanh Hóa, Sơn La, Lai Châu ngày nay. Lão Qua lại là lực lượng đứng sau lưng Bồn Man chống đối, vốn có các thành phần nội địa và nội bộ Lê khá nguy hiểm như đã nói. Thánh Tông không chịu vua Lào gọi ông mình là anh, gọi cha mình là cháu, chắc là từ lời ghi trong văn thư trao đổi nào đó - nghĩa là không chịu Lào đặt ở tư thế quốc gia ngang hàng với Lê. Thế thì chỉ có đánh nhau thôi!
Hai lệnh ra quân gần nhau quá khiến ta tưởng chỉ do một dự tính. Tuy nhiên nhìn kỹ, thấy toán quân được chỉ định (Lê Thọ Vực...) đi đánh Bồn Man, đang tập hợp (tháng 8 mới đến hạn kỳ) thì tháng 7 lại thêm chiếu đánh Lão Qua tiếp theo. Thế là phải gồm làm một, những người được chỉ định trước đó để ra quân đánh Bồn Man nay đánh luôn Lão Qua, ngay cuối tháng 7. Có vẻ là người ta nhận thấy việc đánh Bồn Man và Lão Qua không thể tách rời nhau, muốn đánh Lão Qua phải qua đất Bồn Man, đánh Bồn Man xong không thể không tiến đến đất Lão Qua. Cho nên kế hoạch hành quân đánh Bồn Man cũng dùng cho Lão Qua luôn. Vai trò Lão Qua quan trọng hơn nên để dành cho vua thân chinh, tuy rằng ông vua chỉ loanh quanh ở vùng đồng bằng! Tuy vẫn có toan tính đề phòng Bồn Man đánh tập hậu, nhưng vấn đề chỉ thực sự nghiêm trọng hơn khi quân đi sâu vào đất Lào không thể bảo đảm an ninh phía sau, tin thắng trận đưa về bị Bồn Man ngăn chặn. Cho nên đầu năm 1480 Thánh Tông lại sai Lê Niệm cầm quân thêm với chủ đích đánh riêng Bồn Man.
Tuy nói rằng có năm đạo quân với những thay đổi nhỏ khi thực thi, nhưng ta thấy đúng là có ba hướng tiến chính. Mũi chính của Chinh tây đại tướng quân Lê Thọ Vực, người bắt Trà Toàn 8 năm trước, chắc là theo thung lũng sông Cả vào thẳng Cánh Đồng Chum (tình Xiêng Khoảng ngày nay) tràn ngập một tiền đồn giặc do “tên cháu hiếu của Bồn Man” chống giữ, rồi tiến chiếm “xứ hiểm yếu” Trấn Ninh (Bồn Man) để xông thẳng vào quân Lão Qua. Trịnh Công Lộ đánh ép từ phía sông Đà sang, có vẻ là theo đường Mường Thanh/Điện Biên Phủ ngày sau. Chức Chinh di của ông phò mã này với số lượng 2.000 quân, cho thấy đối tượng tập kích thấp hơn của Lê Thọ Vực. Và ở giữa là hai cánh quân nhỏ từ phía Nghệ An, Thanh Hóa đi lên, “chận đường giặc chạy”, “đánh chỗ sơ hở”. Toan tính của Lê Thánh Tông rõ ràng dựa vào ưu thế đông quân: “Nó như ong đàn kiến lũ, cố giữ thì được bên nọ núng đàng kia; nó tựa hươu chạy quạ kinh, đánh lại thì thế đã chia lực đã yếu”. Quân Lê chiếm Luang Prabang/Mang Long/Chiềng Vang, bắt/giết Tuyên úy sứ (chức Minh phong) Đạo Ban/P’aya Sai Tiakap’at (1438-1479) và hai người con (D.G.E. Hall, A History of South-East Asia, tr. 238-239; Sử quan Nguyễn, Liệt truyện..., tập 2, tr. 603). Quân dừng lại ở sông Trường Sa/Kim Sa. Tên sông được người nay chú là Irrawaddy e rằng không phải, vì kinh đô Ava của Thượng Miến đương thời nằm ngay trên sông đó. Trường/Kim Sa chắc là sông Saluen hợp với lời sử Việt “giáp biên giới phía nam nước Miến Điện”. Cũng không phải là Mekong vì quân đã vượt qua Luang Prabang. Sử quan Nguyễn đã ghi là sông Khung, Toàn thư gọi là sông Tiết La, nơi Đoàn Nhữ Hài (1335) biết “trại nó ở sát sông lớn Tiết La” nên toan tính “sau khi thắng trận bắt được tù binh theo dòng xuôi xuống, đi qua Chân Lạp và các nước phiên khác... diễu võ giương oai...”
Chiến thắng làm chấn động cả một vùng. Vũ Quỳnh vừa thi đỗ (1478), chứng kiến chiến dịch, tha hồ khen vua: “Đánh Sơn Man mà uy thanh vang dội phương Bắc, đánh Bồn Man mà đất đai mở rộng phía tây”. Sử quan nói tướng Việt “nhận được thư của nước Miến Điện, thắng trận trở về” nhưng ta biết rằng hẳn Miến phải điều binh ra biên giới để cản. Vua Minh nghe đồn quân Việt toan tính lấn sang đất “Bát Bách Tức Phụ” ở Vân Nam nên đưa thư sang khiển trách. Có lẽ tiếng đồn đó là do việc Thánh Tông sai quân tiếp viện Lê Thọ Vực, dò hỏi kết quả chiến dịch của các hướng hành quân, và các viên quan khâm sai, tuần tiễu này đã mang chiếu chỉ đến tận “ngã ba sông miền thượng lưu thuộc đất Lão Qua”, nghĩa là quân Lê không xa biên giới với Minh là mấy - chắc là để đuổi theo người con út của Đạo Ban là Phạ Nhã Trại đang trốn ở nước Bát Bách ấy. Cũng chắc Tène Kham mà sử Lào cho là đã chống đánh và đuổi Việt ra khỏi đất nước, là Phạ Nhã Trại vì vua Minh đã phong ông làm tuyên úy, có nghĩa là tiếp quyền cha cai quản đất Lào, vua Việt không thể trái mệnh được (Quốc sử quán Nguyễn, Liệt truyện, “Nam Chưởng”). Tuy nhiên Lê đã làm lực lượng kình địch lớn ở phía tây mình yếu đi một thời gian để có thể thu xếp trong thế mạnh với các phiên thần nơi biên giới.
Tất nhiên sự tùng phục của những người này vốn có giới hạn. Thánh Tông sai Lê Niệm đánh tan Bồn Man, không chấp nhận Cầm Công, nhưng rồi phải cử người liên hệ, chịu cho Cầm Đông cai quản. Sử quan nhân tiện nhắc chuyện tiếp: “Sau Cầm Đông lại làm phản”. Thật dễ hiểu bởi vì Cầm Đông chỉ làm chức tuyên úy cho có lệ, còn bên dưới là “quan lại (Lê) trấn giữ các huyện để cai trị”. Lê Thánh Tông đã đặt cơ sở bành trướng sâu vào phía tây đất Việt khiến cho khi nước yếu thế vẫn có bộ phận Ai Lao đến xin thần phục: năm 1510, Cục Mông xin nộp cống mà Uy Mục Đế không nhận giao thiệp chỉ vì “vừa mới lấy được nước” - mới lên ngôi, còn đang phải lo đối phó nội bộ. Năm 1515, Tương Dực bắt các trấn nạp thuyền gỗ để đi đánh Ai Lao nhưng việc đó không xảy ra vì năm sau ông bị Trịnh Duy Sản giết. Có rối loạn ở Đông Đô, Trịnh Tuy, một tập đoàn chống đối, đóng quân tận “đầu nguồn Thanh Hóa” (1534) để Mạc Đăng Dung phải mang quân đánh dẹp. Lúc này thì P’ot’isarat đã lấn quyền Nam Chưởng, kinh đô Ai Lao nằm ở Vạn Tượng, khuất nẻo hơn với Đại Việt. Cho nên khi sử quan nói Nguyễn Kim phò Lê Ninh ở xứ Lào (1529) được vua là Xạ Đẩu (P’ot’isarat) cho lấy Sầm Nứa làm căn cứ, thì chỉ là một cách nói “phải phép” của người thất thế chứ Vạn Tượng không thể với tay quyền uy được tới vùng đất Lê Thánh Tông từng sai quân chà đi quét lại nhiều lần này. Tuy nhiên thế phải nhờ cậy cũng khiến Trịnh Lê lo liên kết với Vạn Tượng. Có điều người mà sử quan Việt cho là Xạ Đẩu được lấy con nuôi Trịnh Kiểm (1564), con vua Lê (1571) không phải vẫn là P’ot’isarat mà chắc là Sett’at’irat (+1571), người lo chống giữ sự tràn lấn của Miến Điện.
Quân “Trung hưng” về chiếm lại vùng căn cứ cội gốc cũ, lần này đã trung châu hóa nhiều hơn nhưng bản chất “vùng cao” vẫu còn đó với một tập đoàn Lào Thái (Trịnh Kiểm) khác nắm thực quyền Đông Kinh, và mãi về sau con cháu hai tập đoàn vùng cao này vẫn chọn chiến trường trên đất phía tây: vùng Trấn Ninh của Lê Thánh Tông chiến thắng cũ là bãi tranh chấp quyết định của Lê Duy Mật và Trịnh Doanh, Trịnh Sâm. Mặt khác, khởi đầu cũng từ thời Trung hưng, một chi nhánh Mường đi về phía nam lập xứ Đàng Trong, rồi chính họ, đến thế kỷ XIX lại tiếp tục công trình của Lê Thánh Tông, bành trướng rộng lớn hơn, gặp tập đoàn Thái Xiêm La cũng đang lấn sang phía đông, sau lúc nhờ cậy nhau khi thất thế lại gây tranh chấp giành phần đất đệm của các tập đoàn yếu chen vào giữa.
Tháng Giêng 2004