Chuyện Phiếm Sử Học

Lượt đọc: 78 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
NHÀ NHO LẠI CÁI

❊ ❊ ❊

Nho sĩ Việt từ lúc muốn là, và trở thành tầng lớp trí thức truyền thống, đã phải chịu hai áp lực chính; áp lực từ tính chất tầng lớp xuất thân của mình và áp lực từ kiến thức ngoại lai thu nhận. Hai điều ấy khiến tạo nên tính chất các sản phẩm văn học được cho ra đời, cùng lúc với những cung cách ứng xử trong tình thế có áp lực nặng nề từ bên trên và sự trống rỗng lý thuyết đồng điệu của quần chúng từ phía dưới.

Nhắc lại, dưới hệ thống cai trị bằng tông tộc của Lý, Trần, nho sĩ chỉ là “gia thần”, cái tên được xác nhận bởi ông chủ Trần. Vì kiêu ngạo với kinh sách học được, loại kinh sách từ nước lớn đưa tới vốn có bản chất độc tôn từ căn bản, nhưng đến đây lại được ứng dụng qua những thân xác mang địa vị thấp kém ở địa phương, nên các sử quan Việt tha hồ mắng chửi người vắng mặt - xa đời, đã chết, mà né tránh người có quyền chức đương thời. Nhà nho Trần chỉ huênh hoang với chữ nghĩa mà không dám đụng chạm đến thực tế nên Chu An làm “Thất trảm sớ” mà khi được trao quyền lại giật mình, lẩn đi ẩn để cho thanh cao. Không điều gì chứng tỏ rõ hơn mối tương quan đó khi thấy người có quyền - và ở vào cái thế ứng dụng học và hành như Hồ Quý Ly, chê một nho sĩ: “Biết mấy chữ mà (dám) nói chuyện Hán, Đường!” Với Hậu Lê, khi kinh sách phổ biến rộng rãi hơn với tính chất tuyển lựa qua thi cử đều đặn hơn, có hệ thống hơn thì nho sĩ tuy phồn tạp hơn nhưng vẫn không thấy địa vị mình đổi khác để có thể tự đổi thay. Lê Thánh Tông vẫn đái vào mũ quan - như Hán Cao Tổ xưa, vẫn mắng sàn sạt nho thần, giết người - rồi phản tình, tự phê.

Nhưng nho sĩ lại xuất thân từ đám dân chúng không những đã mờ mịt với lời thánh dạy mà lại còn có lối sống thường trực không còn gì xa hơn: sự biểu lộ dục tính đối với họ là bình thường mà lại là những điều nho sĩ không nói ra được, vì không có chữ để diễn tả. Hãy đọc lại những bài thơ văn chữ Hán bị ràng buộc từ trong lúc luyện tập thi cử mà họ chưa thoát nổi dù là để đem ra thù tạc, ngâm vịnh riêng tư. Vòng kềm tỏa của chữ Hán với nội dung được học tập khiến họ chỉ có thể trôi nổi trong các sáo ngữ, không dính líu gì tới cuộc sống thật của họ, cuộc sống vốn gắn liền với những suy nghĩ bằng ngôn từ bản xứ, thế mà lại chưa có hình thức biểu hiện: chữ viết. Cố gắng tìm ra một dạng chữ thì quốc ngữ ấy cũng còn bị ràng buộc bằng chữ Hán vay mượn. Tuy nhiên, có còn hơn không, và thứ văn tự nôm đó cũng phải trải qua một thời gian dài để thành hình. Ta có thể bắt đầu với bài thơ của chàng điếm Ô Lôi ở LNCQ và thơ quốc ngữ của Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm để thấy chặng đường hình thành gập ghềnh như thế nào. Hai chữ “song viết” đang làm khổ người nghiên cứu ngày nay, chắc cũng phải làm cực nhọc người xưa không ít.

Chỉ đến khi loạn lạc tiếp theo làm giảm bớt áp lực kinh sách, đồng thời với đường tiến thân bằng khoa cử tuy vẫn còn đều đặn theo lối nhân tuần nhưng không còn là lối duy nhất dẫn đến quyền tước, sang giàu, lúc đó chữ quốc ngữ nôm mới phát triển theo với đà tiến lên đông đúc của đám người ít học (nho). Loạn lạc, võ tướng cũng làm quan được; Trịnh cần tay chân nhiều nên hoạn quan cũng chẳng cần học cho lắm. Giao thương mở rộng, thương nhân tuy không được sử quan hé mở cho một lời mà vẫn hiện diện, dù nhỏ nhoi, bên cạnh các thái giám, trên bia đá lưu truyền hậu thế, kể chuyện làm chùa, xây đình, mở chợ... cả khi đem tiền giúp cho làng xã thanh toán việc quan. Cho nên thế kỷ XVIII, nhất là nửa sau, đã thấy sự phồn tạp của sách vở chữ nôm khiến cho chúa Trịnh đại diện chính giáo thấy địa vị chữ thánh hiền lung lay, phải lên tiếng ngăn cấm. Đàng Trong đặc biệt hơn, vì ít nhiều thoát ra ngoài áp lực của kinh sách nên từ thế kỷ XVII đã có những truyện thơ nôm, có tên tác giả chính là những quan chức cao cấp, không cần phải xấu hổ giấu giếm, khác miền Bắc với Trinh thử, Trê cóc mang văn từ khúc khuỷu, không thấy ai nhận là chủ nhân. Thể thơ lục bát nhờ các đại biểu rỡ ràng như Truyện Kiều nên khiến có người cho là gốc Việt “vì dân tộc Việt có đủ mọi điều kiện để tạo nên (nó)... không phải vay mượn từ (ai) khác”, nhưng nếu nhìn vào sự tương cận văn thể và sự tiếp xúc của các tập họp Chàm Việt trong quá khứ ở phía bắc cả từ thế kỷ X, nhìn vào tiến trình thể loại, với các truyện thơ phía nam chưa hoàn chỉnh (như Truyện Song tinh), dấu vết rõ ràng sơ khởi của lục bát, thì cũng nên nén tự ái mà xem thử nó có gốc Chàm hay không.

Thế là với dạng chữ biểu hiện trực tiếp lời nói, các nho sĩ có phương tiện tỏ bày tâm tình của mình dàn trải hơn, thành thực hơn. Tất nhiên lúc này không thể có một thứ văn chương cá nhân chủ nghĩa xuất hiện ở Đại Việt, nơi một thể chế chính trị còn kềm hãm con người theo với một cơ sở đạo lý đem từ phương Bắc, càng lúc càng khắc nghiệt. Người ta phải lén lút náu hình, “núp bóng đàn bà”: Tần cung nữ oán Bái Công văn, Cung oán ngâm khúc. Nhà nho khi mượn lời nữ đã trở thành lại cái. Sự biến hình, dù trong tâm tưởng, và vô ý thức, cũng đã có nguyên nhân từ sự đè nén của quyền lực chính trị, của đạo lý gay gắt bóp mềm con người. Dạng hình mượn (làm người nữ) phối hợp với sự mềm yếu tâm tính, đủ cho sự giả trang của nho thần che mắt được quyền lực bên trên. Và thế là Đại Việt có một thành phần văn chương lại cái.

Lúc sơ khởi, và cũng có thể vì khả năng tác giả, sự giả trang còn lộ nét vụng về. Người cung nữ của Ôn Như Hầu lộ rõ chân tướng võ biền:

Dang tay muốn dứt tơ hồng,

Bực mình muốn đạp tiêu phòng mà ra!

và kể chuyện đêm tân hôn say sưa, táo bạo như niềm hoan lạc của chàng trai Nguyễn Gia Thiều nghỉ đêm ở nhà hát cô đầu: “Bóng dương lồng bóng đồ mi chập chùng”. Nhưng có lẽ không ai giả gái trong văn thơ thành công hơn Phan Huy Ích.

Thế kỷ XVIII, XIX, theo với đà chung, cũng là lúc xuất hiện các nữ sĩ dài hơi trên thi văn đàn Việt. Người ta nói đến Đoàn Thị Điểm với bản dịch Chinh phụ ngâm, công chúa Ngọc Hân với “Ai tư vãn”, và Hồ Xuân Hương với những bài thơ gán ghép đầy dục tính táo bạo... Và tất cả đều như những huyền thoại phát sinh từ thành kiến đơn giản hóa giới tính. Với nàng công chúa không bị lạc loài như người xưa (Một đi từ biệt cung vua, Có về đâu nữa đất Hồ ngàn năm) nhờ có ông Quang Trung uy vũ trùm trời, nên Lê Ngọc Hân cũng dễ được thông cảm là đã làm bài văn dài khóc ông chồng anh hùng. Không có gì sai hơn. Cũng giống như bảo Lộ bố văn là của Lý Thường Kiệt đích thân thảo ra, “Hịch tướng sĩ” là của Trần Quốc Tuấn (tuy chắc ông cũng có liếc qua). Không có bằng chứng theo kiểu “all rights reserved” thì ta hãy theo sự nghi ngờ hữu lý của ông Hoàng Xuân Hãn mà cho rằng “Ai tư vãn” là của danh sĩ Phan Huy Ích làm ra. Bởi vì nó có những nét tương tự bản dịch Chinh phụ ngâm khúc thường cho là của Đoàn Thị Điểm.

Bằng lòng hay không bằng lòng thì chúng ta là người của thời đại ngày nay, trước khi có bằng chứng khác đánh đổ, chúng ta phải theo xác định của ông Hoàng Xuân Hãn và Nguyễn Văn Xuân. Thật ra thì ngoài bằng cớ rành rành kiểu hàng chữ “Tác giả giữ bản quyền” không tìm đâu ra, những người bênh vực “nữ quyền” cũng có bằng cớ. Thông thường, khó có thể tin ai không phải là đàn bà mà viết được những câu:

Nghe trước có đấng vương Thang, Võ,

Công nghiệp nhiều tuổi thọ thêm cao,

Mà nay áo vải cờ đào,

Giúp dân dựng nước xiết bao công trình.

(Chắc có thể tìm ra những câu mềm hơn, nhưng người viết không có bản văn trong tay, đành lấy lại trong quyển sách cũ vậy).

Hay:

Quân đưa chàng ruổi lên đường,

Liễu dương biết thiếp đoạn trường này chăng?

...

Dấu chàng theo lớp mây đưa,

Thiếp nhìn rặng núi ngẩn ngơ nỗi nhà.

Tuy nhiên loại chứng cớ trên lại là dựa trên thành kiến về sự phân biệt rạch ròi giới tính, rạch ròi về phương diện sinh lý, và quan điểm đạo lý Nho với sự phân biệt rõ ràng về bổn phận, tâm cảm. Chúng ta cũng muốn bà Đoàn Thị Điểm là tác giả bản dịch thường dùng kia nhưng không thể, hay chưa thể, cãi lại chứng cớ của ông Hoàng Xuân Hãn qua các bản văn sưu tầm được.(2) Dòng lý luận có thể đúng suốt một tiến trình bắt đầu bằng cái sai nhưng không thể vì sự đúng đó mà biện minh cho chứng cớ căn bản. Vấn đề là trở lại với cái đúng ban đầu và tìm cách giải thích sao lại có sự (ta tưởng là) ngược ngạo kia. Bản văn đã có tác giả thì chỉ tìm nguyên nhân ở chính tự thân tác giả. Lời ngâm khúc đã nhuần nhuyễn giọng đàn bà thì phải hiểu là, ít ra lúc viết nên câu thơ, tâm tình Phan Huy Ích đã chuyển hóa thành đàn bà. Đó là tài riêng của Phan Huy Ích, nhưng cũng là kết quả của giáo dục Nho dồn ép con người ông, phát lộ trong thời kỳ uy thế thánh giáo sa sút, có một anh dòng dõi thương nhân (Nguyễn Hữu Chỉnh) chê “nhà nho (Phan Huy Ích) nói khoác”, cùng lúc với sự dọn sẵn nhuần nhuyễn cho cách phát biểu tâm tình bằng ngôn từ bản xứ.

Phan Huy Ích chỉ núp bóng một nhân vật quyền quý hay tưởng tượng, và còn giữ lại lời của tầng lớp sang cả của ông, nhưng những người sau ông lại núp bóng một nhân vật có thật: Hồ Xuân Hương, để thỏa mãn một ẩn ức có thật, lâu dài, phổ biến trong dân chúng, trong tầng lớp họ. Và điều này thì lại phải đợi đến khi Nho giáo tàn tạ, khoa cử bãi bỏ để cái giống bị đè nén lâu ngày, nổi lên. (Xem Đào Thái Tôn, Hồ Xuân Hương - Tiểu sử - Văn bản - Tiến trình huyền thoại hóa, Nxb. Hội nhà văn, Hà Nội 1999. Chú ý các năm xuất hiện loại thơ này). Lấy ví dụ bài thơ “Vịnh Cái quạt”:

Mười bảy hay là mười tám đây?

Cho ta âu yếm chẳng rời tay...

Rõ ràng đây không phải là nũng nịu đòi hỏi của người nữ mà là chuyện mơ tưởng của anh chàng An Nam tây kiểu Xuân Diệu, vì với “truyền thống” thì tuổi lý tưởng trọn vẹn của người con gái là 15, 16. (Xuân xanh nay độ trăng tròn lẻ, lời gán cho Nguyễn Thị Lộ của thời văn thơ Nguyễn Trãi còn khấp khểnh gập ghềnh như chuyến tiễn đưa nàng Kiều về thanh lâu).

Nhà nho chỉ đổi giống tâm tình, khác với một loại đồng liêu khác, thay đổi thể xác mà có khi tâm tình, thể chất còn nguyên là đàn ông: các hoạn quan.


Nguồn: TVE 4U
Được bạn:Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 28 tháng 5 năm 2026

« Lùi
Tiến »