Về hình thức thì đồng tiền có dạng tròn vành, vuông lỗ với ý nghĩa trời tròn, đất vuông, căn bản của kiến thức địa lý, thiên văn học ngày xưa, thật là xưa, được chuyển sang quan niệm siêu hình về sự an bình, hạnh phúc thường tục: mẹ tròn con vuông. Ý nghĩa siêu hình ấy lại kèm theo niên hiệu của ông vua cho nên miếng đồng nhỏ ấy có khi trở nên quý giá hơn giá trị thật của nó, và được dùng làm “tiền thưởng”:
Vua khen thằng Cát có tài,
Ban cho cái khố với hai đồng tiền.
Ông Hoàng Xuân Hãn bảo rằng đó là tiền thưởng (kèm theo “cái áo” chớ không phải là cái khố) cho ông Lê Ngô Cát, người viết Đại Nam quốc sư diễn ca. Nhưng kẻ xấu miệng thì lại dựa vào chứng cớ xưa (ghi rõ ràng trong Toàn thư) rằng đó là nói về “thằng Cứt”, ý nghĩa cũng như trong vế câu đối: “Trời sinh ông Tú Cát/Đất nứt con bọ hung” vậy. Cho nên thưởng cái khố với chỉ hai đồng tiền là tương xứng với nhau rồi.
Thường thì đồng đơn vị có đường kính khoảng 24 mm nhưng vì nhiều lý do, kể cả lý do ăn-gian, kích thước chuẩn không thể đều đặn khít rịt như đồng tiền Mỹ ngày nay. Kích thước 24 mm xê xích chỉ vì cách thức đúc thủ công đã đành mà còn vì người ta muốn đúc nhỏ để lợi nhiều đơn vị, tạo ra những vấn đề rắc rối nan giải trong hệ thống trao đổi bằng tiền từ khi nó xuất hiện trên thị trường.
Vì muốn ăn-gian cho nên người ta đúc tiền bằng các thứ kim loại dễ cháy như thiếc, chì, hay trộn lẫn với kim loại chính do đó đỡ tốn công, ít hư hao, giá thành thấp rồi tung ra thị trường “mập mờ đánh lận con đen”, cứ tính theo kiểu “đếm đầu chia xâu”; một, hai, ba... một tiền, một quan là... ăn-tiền. Tất nhiên người ta cũng thấy được giá trị thấp của chúng nhưng trong thực tế chúng vẫn có lúc qua-mặt được nhiều người:
Đồng tiền chì mua mớ tôm tươi,
Mua rau mới hái, mua nang [người?] đám đang.
Tiếc thay đồng tiền trinh mua vội mua vàng,
Mua rau muống héo, mua nàng ngân ngơ!
(Nguyễn Văn Ngọc, Tục ngữ phong dao I,
Mặc Lâm 1967, tr. 94)
Chất chính nằm trong tiền (đồng trinh) là đồng, thứ kim loại tạo nên cả một giai đoạn văn minh toàn nhân loại, làm mệt công các nhà khảo cứu. Cho nên tiền ngày xưa không phải chỉ là vật trung gian trao đổi mang thuần tính cách ước lệ mà còn chứa chất giá trị riêng nằm trong bản thân của nó nữa. Đại nạn Tam tông của Phật giáo Trung Hoa là một minh chứng cho tương quan trên bình diện chính trị của giá trị chất đồng nằm trong các tượng và trong các đồng tiền lưu hành ngoài dân gian. Các ông vua sùng mộ đạo Phật đua nhau đúc tượng, làm khan hiếm đồng bên ngoài khiến các chùa trở thành nơi chốn đầu cơ tích trữ, thành cái đích dòm ngó thèm thuồng của nhà chính trị khi còn kém thế. Và khi mạnh thế lên thì họ xông vào chùa mang tượng Phật ra đúc tiền, tạo tài sản khuynh loát thiên hạ, hay để giữ vững ngôi vị của mình. Gần nhất ở ta là trường hợp Nguyễn Hữu Chỉnh với đồng Chiêu thống của ông vua Lê cuối mùa. Giá trị chất kim loại nằm ngay trong hình thức của đơn vị tiền tệ xưa khiến cho chữ “đồng” thêm ý nghĩa kinh tế tài chính căn bản, có tầm sử dụng rộng rãi, vượt lên cả các chất kim loại cao giá hơn: đồng bạc, đồng tiền vàng. Rồi kéo dài tới ngày nay, nó trở thành đơn vị tiền tệ Việt Nam, không thấy xu, hào/cắc đâu cả mà chỉ thấy tờ giấy - hình như tờ 500.000 đồng là lớn nhất.
Gốc đồng tiền đồng là của thiên triều Trung Hoa, Cùng là xuất phát từ Trung Hoa mà Cao Ly/Triều Tiên/Đại Hàn (rắc rối quá!) và Nhật Bản đều giữ đơn vị “nguyên” của Tàu: won và yen. Chữ nguyên đã thấy ở tập hợp “nguyên bảo” trên tiền đồng nhưng về sau được nâng cấp, chỉ giá trị của kim loại bạc, và từ đó đi qua tiền giấy. Trong lúc đó, chữ “đồng” còn lại ở nước An Nam chỉ vì người ta giữ lại tên gọi từ một đơn vị trọng lượng tính cho đồng Khai nguyên thông bảo (đúc lần đầu năm 624 Đường Cao Tổ) được quy định tương đương với 1/10 lượng: 10 đồng Khai nguyên nặng một lượng.
Cũng không nên tham lam mà kể chuyện thời Tam Hoàng, Ngũ Đế. Chỉ cần biết đồng tiền trong hình dạng gần với chuyện ta kể, là xuất hiện cuối cùng của thứ tiền kim loại thông dụng ở Á Đông, trước khi các hình thức Tây phương đến thay thế. Một mặt đồng tiền có hai chữ là niên hiệu của vua lúc đúc tiền (thường là năm đầu lên ngôi hay đổi niên hiệu), hai chữ khác thường là “thông bảo”, “nguyên bảo”... Mặt sau tròn láng, thỉnh thoảng có các chữ chỉ nơi chốn, năm thứ... của niên hiệu đúc tiền, và có khi chỉ giá trị tương đương với đồng đơn vị: đương nhị, đương ngũ, đương thập (gấp đôi, gấp năm, gấp mười)...
Có sự thống nhất trong phép đo lường xưa giữa một đơn vị tiền và đơn vị trọng lượng, cả đến đơn vị chiều dài. Cho nên từ chữ Hán đã có sự lẫn lộn, qua tiếng Việt sự phức tạp càng tăng thêm, về phương diện trọng lượng, chữ tiền (Hán), đồng (Hán) chỉ một đơn vị nặng bằng 1/10 lượng. Đồng tiền chồng chất làm cục cân, đồng tiền xếp nối nhau làm đơn vị chiều dài, vì thế mới có cân non, cân già, thước non, thước già! Về phương diện tiền tệ, tiền (Việt) là chữ tương đương với mạch (Hán), đồng là chuyển sang Việt của văn (Hán), chỉ một đồng tiền. Và vì lẽ dùng chữ “tiền” để chỉ một đơn vị tính đếm nói trong một bài viết về tiền bạc bằng tiếng Việt thì dễ lẫn lộn, nên ở đây, khi nào có thể được, chúng tôi chuyển qua cấp bực quan cao hơn để khỏi gây rối rắm đầu óc. “Văn” được dịch sát là “chữ”, sinh ra biến giọng “trự” của dân Nghệ Tĩnh. Cho nên anh đồ Nguyễn Công Trứ đánh bạc gặp hên, mừng rơn:
Tưởng mần ba trự mà chơi vậy,
Bỗng chốc nên quan đạ sướng chưa!
Lại cũng là một câu chuyện về giọng ngông nghênh của nhà nho lỡ thời tự an ủi - cái loại tâm tính khẩu khí huênh hoang truyền qua cả đám dân thường chẳng biết gì là thơ với thẩn. “Quan” là đơn vị cao nhất của tiền đồng, có đến ba chữ Hán chỉ về nó: quán, mân, cưỡng.
Trong hệ thống tính đếm tiền xưa, như đã nói, thư tư từ nhỏ tới lớn là văn/đồng tiền, mạch/tiên, quan/quan. Chữ (đồng) trinh Việt có vẻ là lấy từ nghĩa của chữ “trinh” Hán chỉ phần nền của vách nhà, cột nhà chuyển qua đơn vị thấp nhất của hệ thống xếp đặt tiền. Việc tính đếm Trung Hoa cũng có căn bản là hệ thống thập phân (nhất, thập, bách, thiên..., một tuần có 10 ngày). Chính chữ mạch lúc ban đầu được mượn làm chữ ba/bách (một trăm). Và một mạch có đủ một trăm như vậy gọi là mạch đủ. Song ít khi đủ lắm: năm Đại Thông thứ 11 (Hậu Tề, 537) có chiếu bắt buộc một mạch ăn một trăm mà dân không chịu, đến cuối đời chỉ còn có 35! Chúng ta phải lưu ý là chuyện bớt số lượng chỉ nằm giữa sự chuyển đổi từ cấp bực thấp nhất (văn/đồng tiền) qua cấp bực thứ nhì (mạch/tiền), còn qua cấp bực thứ ba thì vẫn theo hệ thống thập phân (1 quan có 10 tiền). Điều đó cho ta nghĩ rằng sự thay đổi nhất thiết phải là từ trong dân chúng, trong sinh hoạt hằng ngày, nơi sự trao đổi chỉ cần đến số lượng tiền thấp, của những hàng hóa có giá trị thấp.
Thật cũng lạ. Các tên văn, mạch, quán chỉ là những quy ước tính đếm, còn giá trị thật để trao đổi nằm trong chính các đơn vị đồng tiền, vậy thì nếu chưa đủ trăm thì cứ không gọi là mạch, không đủ ngàn thì chưa gọi là quán, gọi là: tám, chín... chục đồng tiền, gọi bảy, tám mạch, mấy mươi đồng, không được sao? Có lẽ chỉ có thể giải thích bằng một thứ tâm lý giấu chịu thực tế tầm thường, thấp thỏi, thấp kém đằng đẵng để ném mình vào ảo tưởng no đủ, cao sang trong thoáng chốc, để có thể sống được. Chưa có một trăm đồng tiền trong tay mà cứ nghĩ mình có một mạch, chưa đủ ngàn đơn vị mà cứ xỏ xâu vào dây lạt, dây mây để chứng tỏ mình có một quan đây! Đó là dạng của một thứ tâm lý vây vo, ngậm tăm xỉa răng khi không có gì trong bụng - và thành “truyền thống” vẫn ngậm tăm khi đã no đủ.
Tiền không-đủ mà vẫn cho là đủ, có đầy rẫy trong lịch sử Trung Hoa. Cuối thời đại Lục Triều có đông tiền một mạch ăn 80 đơn vị, tây tiền chỉ có 70 đồng (đông, tây lấy ranh giới là kinh đô của nước Sở cũ). Nơi kinh sư dùng trường tiền: 90. Đời Kim Thế Tông chỉ có 80 gọi là đoản tiền. Đất Ngô có tên riêng gọi là lục thân (60), thất thân (70).
Với nho sĩ Việt thì Trung Quốc là Tứ thư, Ngũ kinh, Nghiêu Thuấn... nhưng “vùng trời Hoa Hạ” của dân chúng Việt chỉ có một khoảng của hạ lưu sông Dương Tử xuôi về nam, nơi phát xuất của các vua Lý, Trần, nơi có một nước Ngô trở thành quen thuộc trên cửa miệng dân chúng miền Bắc: “thằng Ngô, con đĩ”, “chẳng ra ngô ra khoai gì cả” - cây ngô trong câu chuyện gần-như-tiếu-lâm về hột bắp giấu trong đít của viên sứ thần Việt đem về trồng, cho nên không thể dùng để cúng kiếng được. Vậy thì việc Trần quy định (1226) nộp cho “quan gia” phải đủ 70 đơn vị mới là một tiền (mạch), sau hồi Minh thuộc thiếu tiền đồng, Lê Thái Tổ chịu tính tiền chỉ có 50 đồng (1429) nhưng đến lúc ổn định, số đơn vị được tăng thành 60 (Thiệu Bình 1439), tất cả cho thấy rõ ràng dấu vết lục thân, thất thân của đất Ngô. Tuy nhiên dù đã là quan-không-đủ, nước ta vẫn không chịu thua Tàu, vẫn có trường tiền, tiền riêng: tiền quý/cổ tiền và tiền gián/sử tiền.