Chuyện Phiếm Sử Học

Lượt đọc: 676 | 3 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
TÂY TIẾN
BIÊN GIỚI CỦA ĐẠI VIỆT: VẤN ĐỀ LIÊN QUAN VỚI TRUNG HOA VÀ CÁC TỘC NGƯỜI THIỂU SỐ

❊ ❊ ❊

Nói về vấn đề biên giới giữa hai nước, người thời nay thường nghĩ tới cái cột mốc bằng xi măng đặt ở một nơi nào đó rồi người ta lén lút dời đổi để cho đất mình rộng hơn, như chuyện từng xảy ra giữa Việt Nam và Campuchia thời Việt Nam cộng hòa, giữa Việt Nam và Trung Quốc ngay trong thời nay. Gọi là “lén lút” bởi vì dù ở thế mạnh, như Trung Quốc (đối với Việt Nam) và Việt Nam (đối với Campuchia) chắc người ta cũng chỉ ôm (?) cột mốc chạy đặt vào đất bên kia vào lúc nửa đêm gà gáy để sáng ra, chủ nhân bị lấn, nếu biết, lại ôm đặt vào chỗ cũ, và chắc có càu nhàu chửi bới om sòm! Tuy nhiên cột mốc cũng không phải là chuyện mới, mới chỉ là cái chất xi măng/bê tông kèm theo, thay vì trụ gỗ khắc vạch, cục/đống đá trống trơn mà thôi. Ngày xưa vua quan Trần đã cực nhọc vì sứ Nguyên đòi hỏi tìm vị trí của cột mốc Mã Viện đặt trên đất Giao Chỉ xưa. Hốt Tất Liệt chắc có nghe chuyện kim thạch học của nhà nho Tống, nhưng bảo Đại Việt tìm cột đồng không phải để làm nhà khảo cổ yêu nước (nhà mình) mà là để xác nhận quyền lực thiên triều đã từng đến đấy, không nệ lý lẽ rằng của Hán không phải là của Nguyên Mông Cổ! Vua Trần chắc không thèm tìm kiếm, nhưng câu trả lời “đã lâu mất vết tích” bao hàm ý nghĩa không phủ nhận một sự kiện nói rằng có ghi trong sử sách, để rồi lại đẩy nó vào cõi mơ hồ cho mất bằng chứng tranh chấp cụ thể. Bởi vì trước khi xảy ra to chuyện hơn thì cột mốc vẫn mang một chừng mực giá trị pháp lý mà cả hai bên đều phải công nhận, cho nên dù là ở phía mạnh, người ta cũng chỉ có thể làm việc dời đổi một cách lén lút. Cho đến khi không thèm nói chuyện pháp lý nữa. Chưa kể chỉ riêng sức mạnh cũng đủ tạo nên lý, lẽ phải, không cần đến lập luận rằng chính lý mà không có sức mạnh kèm theo thì cũng chẳng có tác dụng gì, hình như ông B. Pascal đã nói như thế, đúng mọi thứ cho cả tương quan quốc tế đến tận ngày nay.

Vậy thì cái khác xưa và nay, không phải là có hay không biên giới mà là sự rành rẽ chi li trong sự phân định biên giới ấy. Lê Văn Thịnh tranh giành đất Quảng Nguyên với nhà Tống. Lê Thánh Tông nói đến việc “không nhường một tấc đất của Thái Tổ để lại”. Nhưng như thế nào là “đất của tổ tiên để lại”? Trong tương quan biên giới, vua chúa Đại Việt chỉ quan tâm tới phía mạnh, phía Trung Quốc, mà bỏ ngỏ vấn đề đối với phía tây, hay có khi chỉ giải quyết phía tây theo với quyền lực cụ thể của mình trong tương quan với thế lực Trung Quốc mà thôi.

Không bàn đến “lực” là yếu tố then chốt cuối cùng, bây giờ hãy nhìn đến phần “lý” về chủ quyền Việt mà hai bên đều công nhận. Vấn đề không đặt ra trong thời Bắc thuộc. Vấn đề chủ nhân ông của vùng đất An Nam chỉ đặt ra khi người Hán mất quyền cai trị trực tiếp nơi này để chuyển qua một lớp người khác không do triều đình Lạc Dương, Tràng An, Lâm An, Hàng Châu hay Nam Bắc Kinh phái tới. Nhưng thay vì nó trở thành dứt khoát lại chuyển qua những hình thức rửa mặt cho nhau, trong đó có mang sự bất lợi của phía yếu hơn, là Đại Việt. Trong thế kỷ X, lúc khởi đầu, họ Khúc đã bắt chước các ông lãnh tụ quân sự địa phương nơi các “quân” của thời Tàn Đường (trong đó có ông “phù thủy” Cao Biền) mà xưng là tiết độ sứ của Tĩnh Hải quân, bộ phận cai quản khu vực An Nam cũ đã đổi tên từ 866. Dương Đình Nghệ cũng tự xưng tiết độ sứ, loay hoay chưa được việc gì thì bị giết. Đến Ngô Xương Văn mới thấy chức tiết độ sứ trở lại, kéo dài qua Đinh Liễn, Lê Hoàn. Biến chuyển của thời kỳ này thường được coi như nằm trong thời độc lập của Đại Việt nhưng thật ra chỉ là việc giành quyền bính ở thuộc địa phương Nam khi chính quyền trung ương suy yếu, giống như những chuyện đã xảy ra trong quá khứ nhưng với một tập đoàn đã có ý thức riêng biệt mạnh hơn. Vua Lương (trung ương) đã trao cho họ Lưu coi Quảng Châu kiêm thêm Tĩnh Hải quân tiết độ sứ, cho nên khi thấy họ Khúc được trao (hay chỉ mới xin?) chức ấy, họ Lưu liền sai người đánh giết. Cũng vì lẽ đó mà Nam Hán tiếp đánh Ngô Quyền, người kế nghiệp kẻ từng xưng tiết độ sứ (ngầm hiểu: của Tĩnh Hải quân), rồi buông tha, chịu cho Ngô Xương Văn lãnh cái khu vực Nam Hán muốn giành mà vì chết mất con, không chiếm được đó. Thế có nghĩa là trong khi tham gia giành giật, dùng thế lực riêng tiêu diệt lẫn nhau để đòi trung ương chấp nhận mình, những người đó, tuy hành xử tự ý, nhưng vẫn công nhận là còn nằm trong hệ thống chung của thuộc địa. Tiết độ sứ tuy bị thiên triều Tống hạ giá sau thời kỳ thuộc địa tách rời: chức chỉ phong cho con của ông vua nhỏ (Đinh), gượng gạo cho kẻ đánh quân mình (Lê Hoàn), nhưng đó lại là cái khâu quan trọng để ràng buộc cựu thuộc địa nay đã trở thành độc lập trong thực tế.

Người ta đã tha hồ xưng vương đế mà mình không có cách nào trừng phạt được thì phải nới tay, phong cho làm một chức gì trong triều, còn thuộc vào hệ thống của triều đình. Thế là Đinh Bộ Lĩnh được phong Giao Chỉ quận vương, Lê Hoàn mắc “tội” đánh thắng quân của thiên tử, nên bị tụt xuống chỉ là quận hầu (986), rồi lại được tha để trở lại chức Giao Chỉ quận vương (993). Danh xưng “quận” kèm theo, chứng tỏ kẻ được phong là một quan chức nằm trong hệ thống hành chính của đế quốc. Ông quận vương ở An Nam chỉ biến mất khi nhà Nam Tống bị “rợ” Kim uy hiếp, muốn tìm thế nhờ cậy ở phương Nam nên phong cho Lý Anh Tông làm An Nam quốc vương (1164) của An Nam quốc một thời mới hơn chứ không là Giao Chỉ quận quá xưa nữa.

Vấn đề lằng nhằng như thế lại đưa đến một kết quả pháp lý to lớn mà các sử gia thường bỏ qua, chưa kể các sử gia dân tộc lại cho rằng nhắc tới là làm điều ô nhục, là vô lý, không hợp với tinh thần yêu nước, là phản bội ý chí kiên cường bảo vệ tổ quốc của toàn dân Việt. Hãy nghe Lê Hoàn đưa lời tranh luận với sứ Tống: “Việc cướp trấn Như Hồng là do bọn giặc biển ở cõi ngoài, Hoàng đế có biết đó là không phải của quân Giao Châu không? Nếu Giao Châu có làm phản thì đầu tiên đánh vào Phiên Ngung, thứ đến đánh Mân Việt, há chỉ dừng ở trấn Như Hồng mà thôi?” Ông quận vương ở châu Giao Chỉ đòi chiếm đến một phần khá lớn của nhà Tống mới vừa phục hưng, ông đó yêu đất của mình đâu có thua gì tinh thần yêu nước của người bây giờ? Thực tế của quyền lực trên vùng đất mà thiên tử không với tới được đã dựa trên một căn bản pháp lý rõ ràng: ông tiết độ sứ Tĩnh Hải quân, ông quận vương của châu Giao Chỉ đã lãnh trông coi đất của hoàng đế thiên triều nên thấy mình có toàn quyền trên đất được giao. “Quân Giao Châu” là của triều đình có châu Giao nhưng cũng là của người đương quyền ở châu Giao: Lê Hoàn.

Đại Cồ Việt rồi Đại Việt, hiểu cả từ phía Việt, là tiếp nối phủ Đô hộ An Nam, chưa kể là Nam Việt của Triệu Đà, là Giao Châu, Giao Chỉ của Hán và các triều đại Trung Quốc tiếp theo. Cho nên sử quan Việt cứ nhắc tới Triệu Đà và nước Nam Việt. Trần Quốc Tuấn nhắc đến Triệu Đà để đem tự tin cho Anh Tông chống Nguyên: “Từ khi Triệu Vũ mở nước, vua Hán đem quân xuống nam...” Và Nguyễn Trãi trong “Cáo bình Ngô” đã vẽ ra truyền thống “Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần...” để giành lấy quyền chủ nhân ông của tập đoàn mới vừa chiến thắng. Điều quan trọng khác theo kiểu “bắt không được, tha làm phúc”, là phía mạnh cũng mở đường không chối bỏ, coi tính chất pháp lý đó như là điều kiện ràng buộc vừa phải. Tống sau khi đòi “làm cỏ”, đòi “dạy lễ” cho đám dân Việt “uống bằng mũi... nói tiếng chim” không được, liền vỗ về “Phải như Úy Đà cung kính, thuận tòng vâng chiếu Hán chẳng trái”. Đó là một cam kết công nhận địa vực đi theo với việc phong chức. Ranh giới của địa vực đó còn co giãn theo với tham vọng và quyền lực cụ thể của các bên, nhưng thông thường thì người ta vẫn tôn trọng nó. Nùng Tồn Phúc, Nùng Trí Cao nổi dậy chỉ có vua Lý sai quân đánh dẹp, cho đến khi Trí Cao lấn trên vùng chủ quyền của Tống mới thấy Địch Thanh ra tay. Đất Quảng Nguyên giàu vàng mà nhà Tống chiếm trong chuyến Quách Quỳ ra quân (1076) sau trả về Việt không phải vì nhà Tống “tham Giao Chỉ tượng” nhưng chính vì Lý dựa trên một căn bản pháp lý: đất đó của họ Nùng, nghĩa là thuộc phần của Lý! Chúng ta còn có thể kể những sự kiện lặt vặt khác như việc các cá nhân, tập đoàn của bên này chạy qua bên kia liền được trao trả cho chủ vùng đất...

Tính chất “ủy nhiệm” đó vẫn không mất đi khi Quận trở thành Quốc. Quyền của thiên tử lớn thu hẹp lại nhưng vẫn còn có lý do để can thiệp nơi đất xa, dựa trên nền triết lý chính trị ban phát từ trung ương: thuyết vương hóa được Nho giáo bồi đắp. Tờ trình của Lê Thánh Tông có nhắc lại lời dụ của vua Minh: “Nước của vương cùng nước Chiêm Thành thế lực lớn nhỏ không đợi phải nói, nếu trước kia (Chiêm Thành) sinh sự ấy là không biết đo đức lượng tài, vẫn là việc bất nghĩa, nhưng nếu vương lại nhân họ nhỏ yếu mà tức giận đem quân uy hiếp kẻ yếu hèn cô đơn, thì có gọi là nghĩa được không? Sắc cho vương nên bỏ điều lỗi nhỏ mà tỏ cái nghĩa lớn, đem hết số người đã bắt trả lại cho nước Chiêm và nghiêm cấm quan lại giữ biên giới không được sinh sự cầu công, động binh gây oán để đến nỗi nghiêng đổ mà tự chuốc lo ngại”. Lời đe dọa không che giấu nên Lê Thánh Tông tỏ ra hiểu biết vị trí của mình: “Thần từ được phong đến nay đêm ngày kính sợ, thường lo giữ gìn đất đai và nhân dân của triều đình, đâu dám lấy của không phải làm của mình, trái lời bội nghĩa, chuốc lấy quở trách. Thần dù ngu si đến đâu cũng biết họa phúc... đâu dám đem lòng thôn tính, mà vẫn thương kẻ lưu ly thất sở, gia ơn vỗ về khiến họ trên dưới yên lành, cùng ở trong vòng hòa vui thịnh trị, mà quân dân nước thần được nghỉ ngơi mãi mãi, không phải lo việc binh đao”. Vấn đề bàn ở đây là sự minh định chủ quyền của Đại Việt, một thứ chủ quyền bị cắt xén nhưng vẫn là riêng biệt của một nước. Sự vòng vèo quanh chữ “nghĩa” của hai bên là một xác nhận đồng văn hóa, nghĩa là nước nhỏ tự nhận vẫn có giá trị riêng của mình, giá trị mà nước lớn đã đưa ra làm tiêu chuẩn xử trí, do đó phải nhìn nước nhỏ như một thành phần xứng đáng đứng trong trời đất, dù đó là cùng khung trời “thiên hạ” của quan niệm Trung Quốc. Từ đó đi đến vấn đề cụ thể là sự phong tước với những quyền hạn mà Lê Thánh Tông, bằng những lời nhẫn nhục, đã biện minh cho vai trò của mình: đánh “kẻ bất nghĩa” (vậy là đang theo “nghĩa”) chỉ vì muốn lo cho dân nước “được yên nghỉ mãi mãi” vốn là trong nhiệm vụ “giữ gìn đất đai và nhân dân của triều đình”.

Tính chất phiên thuộc mang lại thất thế cho Đại Việt. Cứ mỗi lần có đổi thay triều đại thì bị hành hạ khổ sở: hoặc bị xâm chiếm, hoặc chủ nước bị hạ giá, đang quốc vương trở thành đô thống sứ (Mạc, Lê một thời gian). Cơ sở pháp lý từ phía Trung Quốc là hoàng đế chỉ phong cho một người, một dòng họ, không thể ngang nhiên cướp đoạt dù là vì những biến động nội bộ. Trần Cảo chỉ là bù nhìn nhưng được phong là An Nam quốc vương vì nối nghiệp cha ông, còn Lê Lợi khi chưa tìm được con cháu họ Trần thì chỉ là “Quyền thự An Nam quốc sự” thôi.

Tuy nhiên từ khi được nhận là “quốc” thì chủ quyền cũng cao thêm một bực. Mạc cắt đất cầu phong “chuộc tội” không nghĩ là đất của người khác, của quyền lực khác, còn Minh nhận mà không thấy nó vốn là “đất đai và nhân dân của triều đình (ta)” nên mới có quà trao đổi là chức đô thống sứ! Ông thiên tử lớn khi thất thế cũng biết nhún nhường làm lợi cho phía phiên thần đối với dân chúng riêng. Không rõ tờ chiếu của Tống Hiếu Tông phong quốc vương cho Anh Tông Việt như thế nào, nhưng Minh Vĩnh Lịch khi bị Thanh rượt đuổi lại được Lê vượt biển xin phong (đường bộ bị tắc) thì có lời tuy vẫn bề trên nhưng sự nhường quyền tỏ lộ thật rõ (1647): “(Hãy) làm vua nước ngươi, chăn nuôi dân ngươi”. Chẳng trách Trịnh Tráng cũng nhân dịp đó kiếm lợi cho mình. Tờ chiếu phong An Nam phó quốc vương thật là thảm hại (1651): “Những người theo quân lần lượt đi cả (trốn, đầu hàng Thanh!) mà Trịnh Tráng ngươi dâng biểu nộp cống, từ mùa xuân đến mùa thu vất vả theo gót... Tuy có nhiều kẻ chê gièm, trẫm cũng không có lòng ngờ vực... tấn phong ngươi làm An Nam phó quốc vương” (Phan Huy Chú, Lịch triều..., Bang giao chí, tập III, tr. 210-211). Rõ ràng họ Trịnh đã chuẩn bị bước lên địa vị tối cao nhưng tình hình bên trong, cả ở nội bộ, không cho phép nên phải chịu phận phó cho đến khi tàn cuộc tang thương.

Thật ra thì tương quan giao tiếp biên giới Việt-Trung chỉ khá rành rẽ ở về phía đông bắc. Đó là đường xâm lăng cổ điển qua trũng Lạng Sơn, chưa kể đường biển với ông phù thủy Cao Biền sai sấm sét đào kinh. Ngay cả ở đây, địa vực mà thiên tử Hán trao cho vua Việt vẫn còn có cả một vùng đệm của các tập đoàn thiểu số nắm quyền cai trị mà chính sách “ky my” ngầm hiểu là sự bất lực một chừng mực của trung ương, vẫn còn đeo đẳng khi chuyển qua Việt. Trên biên giới đông bắc, nhà Lý phải kết thân gia với các tù trưởng trên các vùng bên rìa khu vực đồng bằng ngày nay, như họ Thân của “động” Giáp chắn đường ải Chi Lăng nổi danh trong lịch sử. Xa hơn, họ Nùng ở một vùng Quảng Nguyên còn đầy đủ thực lực để tự quản, nếu không mưu tính bành trướng thành lập nước riêng thì hẳn không bị diệt. Khi quân Nguyên xâm lấn thì phụ họa với Trần đã có những tù trưởng đánh với thực lực riêng của mình. Với thời gian lâu dài, khi thế lực Thăng Long bành trướng, ta thấy có hiện tượng thổ tù hóa và trung châu hóa của lớp người đồng bằng và miền núi trong vùng. Qua tranh chấp cuối Trần, nhờ ở vị thế đứng về phe chính thống (âm mưu giết Lê Quý Ly, 1399) nên sử gia ghi rõ một người là Lương Nguyên Bưu có tiên tổ là phụ đạo triều Lý với tước vương, con cháu từng tham gia đánh Nguyên, đến đời Bưu thì với hành động kia rõ ràng không còn là thổ tù nữa mà đã trung châu hóa hoàn toàn.

Phía tây bắc thì phức tạp hơn. Lưu vực sông Hồng có các dòng chảy theo hướng tây bắc - đông nam không thấy dấu vết quân binh Bắc di chuyển vào thời xa xưa. Các nước Điền, Dạ Lang và sau này, Nam Chiếu, Đại Lý là những tập hợp người thành lập được quốc gia đã cùng với các nhóm nhỏ hơn, ngăn chặn bước tiến của dân Hán đi về phía tây nam của họ. Trái lại, các triền sông kia là đường mở thiên nhiên cho các tộc đoàn người thiểu số tràn xuống châu Giao nếu không bị ngăn chặn. Đời Đường đã thấy quân Nam Chiếu trên đất phủ Đô hộ như dấu vết di cư nổi bật. Họ có hai vạn quân giữ thành Đại La (863), phần lớn thuộc thành phần tộc Thái, trong đó có quân Pyu (“Phiếu” của sử quan Việt) khi họ chiếm nước này, bị Cao Biền giết khi đang gặt lúa nơi phía nam sông Đuống ngày nay. Thế rồi cuộc tái chiếm phủ Đô hộ dừng lại, như thế quan Nam Chiếu của lưu vực sông Lô, sông Hồng, sông Đa vẫn còn đó để tham dự vào những biến động với Đại Việt sau này. Phải chăng bà Trịnh Quốc (xem minh định về họ Trịnh nói sau) của Lê Hoàn là thuộc vào một tập hợp Thái còn lại đó? Chỉ đến khi quyền lực của chính quyền Trung Hoa vươn tới vùng tây nam ta mới thấy có các cuộc hành binh theo ngả sông Hồng: quân Mông Cổ trong năm 1257 và tiếp theo là Minh trong chiến tranh chiếm đóng và giữ gìn thuộc địa mới. Cho nên vùng tây bắc và tây của lưu vực sông Hồng, vùng tây của các lưu vực sông Mã, sông Lam trở thành khu vực tranh chấp riêng của một chính quyền Đại Việt lớn mạnh lấn tới và của các tộc người lần mò mưu sinh, phát triển, có khi cũng không yếu chút nào.

Nguồn: TVE 4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 28 tháng 5 năm 2026