Muốn tìm dấu vết giới tính trần trụi, hay có liên hệ với dục tính trong sử Việt, phải đi ngược dòng thời gian của tài liệu còn giữ lại qua bao sửa đổi của người sau. Điều này thì không phải chỉ là chuyện của Việt Nam - Đại Việt. Bởi vì không có Việt Nho mà chỉ có Nho-Việt học của người Trung Quốc, của Khổng Nho. Nho giáo qua các lý thuyết gia triều Tống mang tính cách thánh giáo gay gắt, khai triển từ cơ sở nghi lễ thích dụng cho quân quyền, được tuyên dương trong các triều Minh, Thanh. Nó có một thời gian dài đủ để tác động sâu xa trên các nho thần Việt Nam và đi vào sử sách.
Trung Quốc không phải chỉ có Nho giáo nên cổ sử của họ về thời Tam Hoàng Ngũ Đế còn có chuyện rồng giao phối rải tinh khí trước sân chầu, văn khắc đời Hán còn có hình bà Nữ Oa và ông Phục Hy quấn đuôi vào nhau, Đạo gia như Cát Hồng, một thời làm huyện lệnh Câu Lậu ở Giao Chỉ, chỉ rõ phương cách thi hành tính dục để thành tiên thánh... Nho giáo lại cũng không phải là Tống Nho cho nên ông Khổng Tử ngay cả khi bàn về đạo trị nước cũng không phải chỉ nói chuyện tôn ty, cương thường mông lung. Mà rất cụ thể. Bị vạ vì nàng Nam Tử, ông cũng biết than: “Ta chưa thấy ai hiếu chính như hiếu sắc”, nhưng trong đạo Tề gia - trước giai đoạn Trị quốc, Bình thiên hạ, ông có dặn cách xử trí cho người đàn ông đa thê của thời đại ông: “Người thiếp dù có già, nếu chưa tới 50 tuổi thì cũng nên gần gũi năm đêm một lần.” (Lễ ký, dẫn theo Reay Tannahill, Sex in History, New York 1982, tr. 184. Bản dịch của Nguyễn Tôn Nhan: Kinh Lễ, Nxb. Văn học 1998 không có câu này, có lẽ vì dịch giả đã lược bỏ nguyên bản rất nhiều). Đó không phải là chuyện riêng tư trong phòng kín, bởi vì nếu không giữ yên gia đạo, nếu có xảy ra xào xáo thì hàng xóm biết chuyện, mất mặt, làm sao thi hành việc công, làm sao lấy được lòng tin cậy của vua chúa? Vua quan Việt đời Lê làm luật theo sách nhà Đường không thể nào không chịu ảnh hưởng: “Chồng sơ với vợ, đến năm tháng không đi lại, cho phép người vợ cáo lên quan sở tại và xã quan làm bằng, thì mất vợ” (Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí, Hình luật chí, Hà Nội 1992, tập II, tr. 327). Với điều kiện kèm theo, “nếu có con thì cho hạn một năm”, ta không rõ, có một con hay mười con có khác gì nhau, bởi vì với vợ già mười con thì khó theo luật lắm.
Nho gia Việt bình thường làm ra dáng không lưu tâm đến chuyện đó. Họ được huấn luyện theo một thiên hướng khác nên không thể tin rằng có ý thức tính dục trong câu nói của bậc vạn thế sư biểu. Chỉ trong tinh thần phe phái họ mới sáng suốt lên khi công kích đạo Phật: “Khuyến thiện trừng dâm, con ai đẻ tháng Tư mồng tám?” Còn thì họ vẫn nghe đến câu “Thư trung hữu nữ nhan như ngọc” nhưng cứ coi như một lời khuyến khích học vấn thanh cao mà không thấy hàm ý sử dụng hình ảnh sex của người xưa, lúc chưa bị những lời giáo huấn về “lễ” che lấp. Cũng như khi kính cẩn quỳ lạy hoàng đế, lết tới ôm đầu gối theo kiểu “bảo tất” học được của vua Thanh, họ cũng có thể tưởng tượng những gì thầm kín trong cung thất nhưng cứ xưng tụng bậc Con (của ông, bà) Trời (đẻ ra) theo kiểu “nói dậy mà không phải dậy”. Chỉ có ông vua mới chỉ ra sự thật không ai dám nói đó, và có lọt ra ngoài, có lưu truyền lại hậu thế thì không phải qua tai, qua miệng của người trong nước, người ở trong nước. Giá như đừng có ông Tây Chaigneau giúp việc cho Nguyễn Ánh, giá ông con lai tên Đức không di tản qua Pháp viết hồi ký thì hậu thế không biết Gia Long đã dạy cho cậu bé bài học sinh lý đầu đời như thế nào. Và để người Việt ngày nay hãnh diện đã có ông vua, trước cả người nước Mỹ, biết sự giáo dục sinh lý cho trẻ con quan trọng là dường nào: nó có cơ làm đảo lộn cả một ý thức hệ!
Như đã biết, quyển Đại Việt sử ký toàn thư (Toàn thư) là do tập họp sử quan nhiều đời viết nên. Phần của sử quan thời Lê trung hưng khô khốc, buộc Lê Quý Đôn phải chê bai. Thời Lê sơ có ông vua được ngày nay coi là “nhà chính trị tài năng, nhà văn hóa lỗi lạc, nhà thơ lớn” (tiểu mục trong quyển sách kỷ niệm 500 năm ngày mất của Lê Thánh Tông, xuất bản năm 1998), trừ một lời đâm-ngang của ông Trần Quốc Vượng, nhưng ngày xưa ông sử quan Vũ Quỳnh đã có thể nói mơ hồ về căn bệnh “xã hội” của ông hoàng đế, một phần chắc vì e sợ lời nói không thanh tao, phần khác vì vấp phải khả năng kiến thức y tế của thời đại. Trước ông một thế hệ, sử quan Ngô Sĩ Liên, dưới quyền của ông vua luôn luôn đề cao thánh giáo, đã dọn lại sách sử cũ, quyết định “lễ nhạc... chẳng có điều gì sai mà không sửa đổi” (Biểu dâng sách), cho nên đã xóa bỏ nhiều ghi chép của người trước - tuy không thể nào tước sạch, chỉ vì ông không hiểu người trong quá khứ đã không sống như thời ông, không đi theo một lý tưởng chẳng bao giờ đạt được của tầng lớp ông. Sự cách biệt đó thấy rất rõ khi so sánh Toàn thư với Đại Việt sử lược (ĐVSL), quyển sách tuy cũng của nho thần nhưng là người của thời đại về trước.
Chẳng ở đâu trong Toàn thư thấy được đoạn văn này:
“(Năm Ất Tỵ, 1185) Kiến Ninh Vương là Long Ích đốc suất quan lính hơn 12.000 người đi đánh bọn Sơn Lão ở Sách Linh để báo thù trận La Ao. Quân kéo đến đóng ở thôn Đỗ Gia, Long Ích bắt giữ hết cả (người ở đó). Bọn Đinh Võ kêu than một cách thảm thiết. Người đi theo là Nguyễn Đa Cẩm thấy bọn Đinh Võ bị bắt làm tù, khoái chí bèn la mắng nhục mạ và đái vào miệng bọn Đinh Võ. Giống rợ Lão có tính hung hãn bèn cắn âm hành của Đa Cẩm. Đa Cẩm dùng tay đánh, Đinh Võ sẹo mất cả mồm. Đa Cẩm cũng ngã xuống đất gần chết. Do đó Long Ích mới sai các quan chức làm con cá gỗ khớp mồm bọn Đinh Võ, xong, dùng gậy đánh chết rồi đem phơi khô thịt của bọn ấy”. (Chép gần nguyên văn trong bản ĐVSL do Nguyễn Gia Tường dịch, tr. 226).
Chỉ vài năm sau (1189), ĐVSL (tr. 229) lại chép về một bộ phận sex khác, “ghê gớm” hơn: “Nhà vua (Lý Cao Tông) sai thái phó là Ngô Lý Tín, Đô quan lang trung là Lê Năng Trường xét xử về vụ tranh tụng quan thiếu sư là Mạc Hiển Tích. Bọn Lê Năng Trường sợ Mạc Hiển Tích nên không dám tìm tòi tra xét. Người trong nước cười giễu rằng: ‘Ngô phụ quốc là Lan, Lê đô quan là Kích’”. Người dịch viết hoa hai chữ “lan” và “kích” vì nguyên bản còn thêm: “Lan và Kích là hai người cuồng”. Tội nghiệp người chú thích phải khổ công tìm kiếm hai người ấy trong sử sách, để rồi bàn lan man mà không thấy rằng ý về “hai người cuồng” chẳng ăn nhập gì với nội dung chuyện kể cả. Câu phát biểu hàm ý khinh miệt, chửi mắng đến tàn tệ thì liên hệ gì đến người cuồng? Rõ ràng sử gia phải né tránh khi chạm đến một bộ phận sex ghê gớm hơn: “kích” có âm gần cận với “kít”, một phát âm slang của “cứt”, và “lan” là “lồn”!
Hình như đây là hai đoạn văn độc nhất trong sử cũ có nhắc đến bộ phận sex mà Ngô Sĩ Liên đã lược bỏ, có lẽ vì “thô vụng”, như ông đã cho biết khi biên tập sách xưa. Đoạn văn phát biểu bằng chữ Hán nên ta không biết người xưa gọi âm hành là gì - có lẽ cũng gần gần như người nay mà thôi, bởi vì các từ này mang tính cấm kỵ (xấu, dơ nhớp) nên có thể vẫn giữ nguyên trạng qua thời gian. Ví dụ, (Lý) Thường Kiệt có thể mang tên trong cung đình là “thằng Cặt/thằng Cu” cùng với tên “thằng Cứt” (xem sau). Tuy nhiên với một hai chút ghi chép còn sót lại đó, ta cũng có dịp để nghĩ rằng nếu Đại Việt sử kỷ (ĐVSK) của Lê Văn Hưu hay các thực lục của Đinh, Lê còn nguyên vẹn chắc sẽ cung cấp cho ta những cung cách xử trí tuy thô lỗ nhưng rất sát thực với đời sống hằng ngày của người xưa như thế.