Xứ Hải Địa 1, Pháp Sư Xứ Hải Địa

Lượt đọc: 690 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHIM CẮT CẤT CÁNH
image

Ged thức giấc, và suốt một lúc lâu chàng nằm đó, chỉ cảm thấy hết sức sung sướng khi mình vẫn còn có thể tỉnh dậy, vì chàng đã ngỡ mình sẽ không bao giờ thức dậy được nữa, và hết sức sung sướng khi lại nhìn thấy ánh sáng, ánh sáng ban ngày rực rỡ tràn ngập quanh mình. Chàng thấy như mình đang lơ lửng trên luồng sáng đó, hay trôi nổi trên một con thuyền đang bập bềnh trên mặt nước hết sức phẳng lặng. Cuối cùng chàng nhận ra mình đang nằm trên giường, nhưng nó không giống với bất kỳ cái giường nào chàng từng nằm. Nó được đặt trên một chiếc khung với bốn chân cao chạm trổ, với những tấm đệm bằng lụa hảo hạng nhồi lông vũ, chính những tấm đệm này đã khiến chàng tưởng mình đang lơ lửng, và bên trên giường là một tấm trướng đỏ thắm treo lên để chắn gió. Tấm màn được buộc lại ở hai bên, và Ged nhìn ra thì thấy một căn phòng tường xây bằng đá, sàn lát đá. Qua ba ô cửa sổ cao, chàng nhìn thấy vùng đồng hoang, trơ trọi, nâu xám dưới ánh mặt trời mùa đông yếu ớt, đây đó rải rác những cụm tuyết. Căn phòng hẳn phải nằm khá cao so với mặt đất, vì từ cửa sổ có thể nhìn ra được một khoảng rất xa.

Một tấm chăn bằng xatanh nhồi lông tuột sang một bên khi Ged ngồi dậy, và chàng thấy mình đang mặc một chiếc áo chùng bằng lụa thêu chỉ bạc, như một ông hoàng. Trên chiếc ghế cạnh giường, một đôi ủng bằng da dê và một chiếc áo choàng lót lông thú đã được sắp sẵn cho chàng. Chàng ngồi đó hồi lâu, thẫn thờ và ngơ ngẩn như người bị bỏ bùa, rồi đứng dậy và giơ tay toan với lấy cây quyền trượng của mình. Nhưng chàng không còn cây quyền trượng nữa.

Bàn tay phải của chàng mặc dù đã được bôi thuốc và băng bó lại nhưng đã bị bỏng ở lòng bàn tay và các ngón tay. Giờ chàng mới cảm thấy đau trên bàn tay, cũng như cơn ê ẩm khắp cơ thể.

Chàng lại đứng im không nhúc nhích hồi lâu. Rồi chàng thì thầm, không gọi to và cũng không có vẻ hy vọng lắm: “Hoeg... hoeg...” Bởi vì con thú nhỏ bé dữ tợn và trung thành đó, con vật câm lặng từng gọi chàng từ cõi chết trở về ấy, cũng đã biến mất. Đêm qua khi chàng bỏ chạy thì nó có còn ở bên chàng không? Mà đó có phải là đêm qua không, hay là cách đây đã nhiều đêm rồi? Chàng không biết. Mọi thứ đều mập mờ và tối tăm trong trí nhớ của chàng, tên âm binh, cây quyền trượng bốc cháy, cuộc rượt đuổi, tiếng thì thào, cánh cổng. Chàng không thể nhớ được điều gì rõ ràng. Thậm chí ngay cả lúc này cũng không có gì là rõ ràng. Chàng lại thì thào gọi tên con vật yêu quý của mình, nhưng không có lấy một chút hy vọng rằng sẽ lại được nhìn thấy nó, và nước mắt trào dâng trong mắt chàng.

Đâu đó, một tiếng chuông leng keng vẳng lại. Một tiếng chuông nữa lanh lảnh vang lên ngay ngoài cửa phòng. Một cánh cửa ở phía bên kia phòng mở ra, sau lưng chàng, và một người phụ nữ bước vào. “Xin chào, Chim Cắt,” nàng mỉm cười nói.

Đó là một phụ nữ vẫn còn trẻ, dong dỏng cao, vận chiếc áo trắng thêu chỉ bạc, với một tấm lưới bạc bọc quanh mớ tóc dài buông thẳng xuống lưng như một thác nước đen nhánh.

Ged ngượng nghịu cúi đầu chào.

“Ngài không nhận ra ta phải không?”

“Nhận ra người ư, thưa Phu nhân?”

Cả đời mình, chàng mới chỉ gặp một người phụ nữ khác cũng ăn mặc sang trọng ngang với vẻ đẹp của mình như vậy: đó là Phu nhân O, người đã đi cùng Lãnh chúa của mình đến dự buổi lễ Hồi Dương ở Roke. Phu nhân O giống như một ánh nến bé nhỏ, lung linh, nhưng người thiếu phụ này thì lại chẳng khác nào một vầng trăng non rực rỡ.

“Ta nghĩ là ngài sẽ không nhận ra,” nàng mỉm cười nói. “Nhưng cho dù ngài đã quên đi chăng nữa thì ngài vẫn được chào đón ở đây, như một người bạn cũ.”

“Đây là đâu?” Ged hỏi, miệng nói chậm chạp và người vẫn còn cứng đờ. Chàng thấy rất khó khăn khi phải mở miệng nói với Phu nhân và càng khó hơn khi phải rời mắt khỏi nàng. Đối với chàng, bộ y phục vương giả mà chàng đang mặc thật hết sức lạ lẫm, những phiến đá lát sàn mà chàng đang đứng trên nó cũng không quen thuộc, thậm chí cả không khí chàng đang hít thở cũng khác thường; chàng không còn là mình, không còn giống như bản thân chàng trước kia nữa.

“Nơi đây gọi là Cung điện Terrenon. Phu quân của ta, Lãnh chúa Benderesk, là quốc chủ của vùng đất này, suốt từ biên giới phía Bắc của vùng Đồng hoang Keksemt cho tới Dãy núi O, và là người sở hữu viên đá thần Terrenon. Còn về phần ta thì ở Osskil này họ gọi ta là Serret, nghĩa là Bạc, trong tiếng nói của họ. Còn ngài thì ta biết có tên gọi là Chim Cắt, và đã được phong pháp sư trên Đảo Thông thái.”

Ged nhìn xuống bàn tay bị bỏng của mình và đáp: “Tôi không còn biết mình là gì nữa. Tôi từng có quyền phép. Nhưng tôi e là mình đã mất hết pháp lục rồi.”

“Không! Ngài không hề đánh mất pháp lực của mình đâu, hoặc nếu có thì cũng chỉ để rồi sẽ lấy lại được gấp mười lần sức mạnh ấy thôi. Ở đây ngài sẽ được bảo vệ khỏi thứ đã rượt đuổi ngài tới nơi này, bạn của ta ạ. Tòa tháp này được bao quanh bằng những dãy tường thành hết sức vững chãi, và không phải tất cả đều xây bằng đá. Ngài có thể nghỉ ngơi ở đây để lấy lại sức. Ở đây ngài cũng có thể tìm được một pháp lực mới, và một cây quyền trượng không cháy thành tro trong tay ngài. Xét cho cùng, một con đường xấu xa vẫn có thể dẫn tới một cái đích tốt lành. Giờ thì hãy đi với ta, ta sẽ chỉ cho ngài thấy vương quốc của chúng ta.”

Nàng nói giọng ngọt ngào đến nỗi Ged hầu như không hiểu nàng đang nói gì, chỉ bị khuấy động bởi sự hứa hẹn trong giọng nói của nàng. Chàng đi theo nàng.

Quả thực căn phòng của chàng nằm rất cao bên trên ngọn tháp vươn lên đỉnh đồi như một chiếc nanh sắc nhọn. Chàng theo Serret đi xuống những dãy cầu thang uốn lượn bằng đá hoa cương, qua những gian sảnh và căn phòng sang trọng, qua những ô cửa sổ cao quay ra hướng Bắc, Tây, Nam và Đông, nhìn xuống những dãy đồi thấp màu nâu trùng trùng điệp điệp, không một ngôi nhà, không một bóng cây, không hề thay đổi, trơ trọi dưới bầu trời mùa đông. Chỉ ở chân trời phía Bắc mới thấy mấy đỉnh núi trắng xóa nổi bật trên nền trời xanh, và ở phía Nam thì lờ mờ thấy được mặt biển lấp lánh.

Mấy người hầu mở cửa rồi lui sang bên cho Ged và Phu nhân Serret bước qua; họ đều là những người Osskil da nhợt nhạt, khuôn mặt khắc khổ. Serret cũng có nước da sáng màu, nhưng không giống những người này, nàng nói tiếng Hardic rất giỏi, thậm chí Ged thấy như giọng nàng còn thoáng một chút âm sắc của người xứ Gont nữa. Đến chiều hôm đó nàng dẫn Ged đến ra mắt phu quân của mình, Lãnh chúa Benderesk xứ Terrenon. Già gấp ba lần vợ mình, da trắng bệch, mình gầy giơ xương, đôi mắt đã mờ đục, Lãnh chúa Benderesk chào Ged với vẻ nhã nhặn lạnh lùng, miễn cưỡng, và mời chàng muốn ở lại bao lâu tùy ý. Rồi ông ta không nói thêm gì nữa, không hỏi Ged về cuộc hành trình của chàng cũng như những kẻ đã rượt đuổi chàng đến đây; Phu nhân Serret cũng không hỏi bất cứ chuyện gì liên quan đến những điều này.

Nếu đó là một điều lạ lùng thì nó cũng chỉ là một phần trong vô số những điều lạ lùng khác của nơi này cũng như về sự hiện diện của chàng ở đó. Đầu óc Ged dường như không còn suy nghĩ rõ ràng được nữa. Chàng không thể nhìn được mọi thứ một cách minh bạch. Chàng đến tòa tháp này hoàn toàn tình cờ, thế nhưng sự tình cờ ấy lại có vẻ đã được sắp đặt; hoặc chàng đến đây theo sự sắp đặt, thế nhưng sự sắp đặt đó lại đến một cách hoàn toàn tình cờ. Chàng đã đi về phía Bắc; một người lạ ở Orrimy bảo chàng hãy đến đây tìm sự giúp đỡ; một con tàu xứ Osskil đợi chàng dưới bến; Skiorh đã dẫn chàng đến đây. Trong tất cả những việc đó thì có bao nhiêu phần là do con quái vật bóng đen đang săn đuổi chàng gây ra? Hay chẳng có một chút nào cả; hay cả chàng lẫn kẻ đang săn đuổi chàng đều bị thôi thúc tới nơi này vì một quyền năng nào khác, chàng đi theo lời dẫn dụ ấy và bóng đen thì lại bám theo chàng, nhập vào Skiorh để dùng gã làm vũ khí khi thời cơ đến? Chắc hẳn là như vậy, bởi vì rõ ràng là con quái vật bóng đen, theo như Serret nói, không thể bước vào Cung điện Terrenon được. Kể từ khi tỉnh dậy trong tòa tháp này, chàng không hề cảm thấy dấu hiệu hay mối đe dọa nào chứng tỏ nó đang ẩn nấp quanh đây. Nhưng nếu vậy thì cái gì đã đưa chàng tới đây? Vì nơi này không phải là một nơi người ta có thể đến được một cách tình cờ; ngay cả khi đầu óc vẫn còn mụ mị thì chàng vẫn thấy được điều đó. Không người lạ mặt nào khác đặt chân qua những cánh cổng kia. Tòa tháp đứng đó, cao vòi vọi và tách biệt, quay lưng lại với thành bang gần nhất, Neshum. Không ai đến đây, cũng không ai rời đi. Các ô cửa sổ của tòa tháp chỉ nhìn xuống cảnh hoang vu.

Ged nhìn ra từ những ô cửa sổ này trong khi chàng ngồi một mình trong căn phòng cao phía trên ngọn tháp của mình, ngày này qua ngày khác, ngơ ngẩn, chán nản và lạnh giá. Trong tháp lúc nào cũng rất lạnh, bất chấp tất cả những tấm thảm, màn trướng, những bộ quần áo lót lông sang trọng và những chiếc lò sưởi rộng bằng đá hoa cương. Đó là cái lạnh ngấm vào tận xương tủy, không gì có thể làm dịu nổi. Và mỗi lần Ged nghĩ đến chuyện chàng đã phải đối mặt với kẻ thù của mình như thế nào, bị đánh bại và phải quay lưng bỏ chạy ra sao, thì một nỗi hổ thẹn lạnh ngắt lại trỗi dậy trong lòng chàng mà không tài nào xua đi được. Trong trí tưởng tượng của chàng, các vị Thầy đảo Roke đều tập trung lại, Tổng pháp sư Gensher cau mày đứng giữa họ, và Nemmerle cũng có mặt ở đó, cả Ogion, thậm chí cả bà dì phù thủy đã dạy cho chàng những lời thần chú vỡ lòng: tất cả bọn họ đều nhìn chàng không chớp mắt, và chàng biết mình đã phụ lòng tin họ gửi gắm vào chàng. Chàng những muốn van vỉ, muốn nói: “Nếu con không bỏ chạy thì con quái vật bóng đen sẽ có được con; nó đã hút hết sinh lực của Skiorh, cùng một phần sinh lực của con, và con không thể chống lại nó: nó đã biết tên con. Con buộc phải bỏ chạy. Một pháp sư bị biến thành âm binh thì sẽ là một quyền năng hết sức khủng khiếp phục vụ cho cái xấu xa và sự hủy diệt. Con buộc phải bỏ chạy.” Nhưng trong trí tưởng tượng của chàng, không người thầy nào của chàng đáp lại. Rồi chàng lại ngắm tuyết rơi, không dày nhưng không bao giờ ngừng, phủ lên mặt đất trống trải bên dưới ô cửa sổ, và cảm thấy cái lạnh âm ỉ đang lớn dần trong mình, cho đến khi dường như chàng không còn cảm giác nào nữa ngoài sự mệt mỏi đờ đẫn.

Cứ như thế, chàng ngồi một mình suốt mấy ngày trời với nỗi đau khổ trong lòng. Khi ra khỏi phòng, chàng vẫn giữ dáng vẻ cứng nhắc và lặng lẽ. Vẻ đẹp của Phu nhân Serret khiến đầu óc chàng rối tinh, và trong tòa Cung điện sang trọng, tao nhã, ngăn nắp và kỳ lạ này, chàng cảm thấy mình chỉ là một tên chăn dê, không hơn không kém.

Họ để mặc chàng khi chàng muốn ngồi một mình, và khi chàng không còn chịu nổi những ý nghĩ trong đầu và lớp tuyết rơi ngoài cửa sổ nữa thì Serret thường đến trò chuyện cùng chàng trong một gian sảnh uốn lượn, treo đầy thảm thêu và bập bùng lửa sáng. Nét mặt vị Phu nhân của Pháo Đài này không có chút vui tươi nào, nàng không bao giờ cười to dù rất hay mỉm cười; thế nhưng chỉ cần một nụ cười của nàng cũng đủ khiến Ged thấy dễ chịu hơn. Mỗi khi bên nàng, chàng dần quên đi sự lúng túng và nỗi hổ thẹn của mình. Chỉ ít lâu sau, họ đã gặp nhau hàng ngày để trò chuyện, những câu chuyện phiếm kéo dài và lặng lẽ, bên lò sưởi hay bên ô cửa sổ của một trong những gian phòng cao bên trên tòa tháp, cách xa các thị nữ vốn luôn theo hầu Serret.

Vị Lãnh chúa già gần như suốt ngày ở trong mấy căn phòng của riêng mình, chỉ ra ngoài vào buổi sáng và đi đi lại lại trên mảnh sân phía trong phủ đầy tuyết của tòa tháp, như một phù thủy già vừa thức trắng cả đêm để luyện thuốc. Khi đến ăn cùng với Ged và Serret, ông ta ngồi im lặng, thỉnh thoảng liếc nhìn người vợ trẻ trung của mình với vẻ hà khắc thoáng chút thèm muốn. Những lúc ấy Ged lại thấy thương hại cho nàng. Nàng giống như một con hươu trắng bị cầm tù, như một con chim trắng bị trói chặt cánh, như chiếc nhẫn bạc trên ngón tay của một ông già. Nàng cũng chỉ là một đồ vật trong kho báu của Benderesk mà thôi. Sau khi Lãnh chúa lui về phòng, Ged ở lại với nàng, cố xoa dịu nỗi cô đơn của nàng cũng như nàng đã an ủi chàng.

“Viên đá quý được dùng để đặt tên cho cung điện là loại đá gì vậy?” Một hôm chàng hỏi khi họ đang ngồi chuyện trò bên những chiếc đĩa vàng và cốc vàng rỗng không, trong phòng ăn rộng thênh thang, sáng rực ánh nến.

“Ngài chưa bao giờ nghe nói đến nó sao? Nó là một vật rất nổi tiếng đấy.”

“Chưa. Tôi chỉ biết rằng các Lãnh chúa đảo Osskil có những kho báu rất nổi tiếng.”

“À, viên đá này lại nổi tiếng hơn tất thảy các kho báu đó. Đi nào, ngài có muốn nhìn thấy nó không?”

Nàng mỉm cười, với một vẻ giễu cợt và liều lĩnh, như thể hơi sợ hãi vì điều mình sắp làm, và dẫn chàng trai ra khỏi gian buồng, xuyên qua những dãy hành lang dài hẹp ở tầng dưới cùng của tòa tháp, và đi xuống các bậc thang dẫn xuống tầng hầm, đến trước một ô cửa khóa kín mà chàng chưa bao giờ nhìn thấy. Phu nhân Serret mở cánh cửa này bằng một chiếc chìa khóa bạc, vừa mở vừa ngước nhìn Ged vẫn với nụ cười như vậy, như thể thách thức chàng đi theo. Nằm sau cánh cửa này là một hành lang ngắn và một cánh cửa khác, mà nàng dùng một chiếc chìa khóa vàng để mở, và sau đó lại là một cánh cửa nữa, được mở ra bằng một lời Đại Thần Chú khai mở. Đằng sau cánh cửa đó, ngọn nến của Serret chiếu rọi lên một căn buồng nhỏ tựa như một hầm ngục: sàn, tường, trần nhà đều bằng đá thô, trống trơn không có đồ đạc gì.

“Ngài có nhìn thấy nó không?”

Khi Ged nhìn quanh phòng, đôi mắt pháp sư của chàng lưu lại ở một trong số các phiến đá lát sàn. Nó cũng xù xì và ẩm ướt như các phiến đá khác, một viên đá lát nặng nề, không có hình thù gì: thế nhưng chàng vẫn có thể cảm thấy quyền năng của nó, tựa như nó đang cất tiếng nói với chàng. Và hơi thở của chàng nghẹn lại trong họng, trong thoáng chốc chàng bỗng cảm thấy mình hoàn toàn yếu ớt. Đây chính là viên đá nền móng của tòa tháp này. Đây chính là trung tâm của tòa tháp, và ở đó rất lạnh, lạnh buốt xương; không gì có thể sưởi ấm cho căn buồng nhỏ hẹp ấy. Đây là một vật rất cổ kính: một linh hồn cổ xưa và khủng khiếp đang bị giam cầm trong tảng đá kia. Chàng không đáp lại Serret, không nói có hay không, mà chỉ đứng yên, và ngay lúc đó, với một cái liếc nhìn chớp nhoáng và tò mò, nàng chỉ về phía viên đá. “Đó chính là viên đá Terrenon. Ngài có ngạc nhiên khi thấy chúng ta lại cất giấu một viên đá quý giá như vậy ở kho báu sâu kín nhất trong tháp không?”

Ged vẫn không trả lời, chỉ đứng sững sờ và cảnh giác. Phu nhân Serret gần như có vẻ đang dò xét chàng; nhưng chàng nghĩ rằng nàng không biết gì về bản chất của viên đá nên mới nói về nó một cách vô tư như vậy. Nàng không biết về nó đủ để khiếp sợ nó. “Hãy cho tôi biết nó có quyền lực như thế nào,” cuối cùng chàng nói.

“Nó được tạo ra từ trước khi Segoy nâng các hòn đảo trên thế giới từ dưới biển Đại Hải lên. Nó được tạo ra cùng lúc với thế giới, và sẽ tồn tại cho đến ngày tận thế. Thời gian đối với nó chẳng là gì cả. Nếu ngài đặt tay lên nó và hỏi nó một điều gì đó, nó sẽ trả lời phụ thuộc vào quyền lực của bản thân ngài. Nếu biết lắng nghe thì ngài sẽ nghe được giọng nói của nó. Nó sẽ nói về những điều trong quá khứ, hiện tại và tương lai. Nó đã dự đoán rằng ngài sẽ đến, từ rất lâu trước khi ngài đặt chân lên mảnh đất này. Giờ ngài có muốn hỏi nó một điều không?”

“Không.”

“Nó sẽ trả lời ngài.”

“Tôi không muốn hỏi điều gì cả.”

“Nó có thể cho ngài biết,” Serret cất giọng nhẹ nhàng, “làm cách nào để đánh bại kẻ thù của ngài.”

Ged đứng lặng thinh.

“Ngài sợ viên đá sao?” Nàng hỏi như thể không tin, và chàng đáp lại: “Vâng.”

Trong cái lạnh giá và sự im lặng chết người của căn phòng được tầng tầng lớp lớp bùa phép và các bức tường đá bao quanh, trong ánh sáng của ngọn nến độc nhất mà nàng cầm trong tay, Serret lại liếc nhìn chàng bằng cặp mắt long lanh. “Chim Cắt,” nàng nói, “ngài đâu có sợ.”

“Nhưng tôi sẽ không nói gì với linh hồn đó,” Ged trả lời, và nhìn thẳng vào nàng, chàng nói thêm với vẻ thẳng thắn nghiêm trang: “Thưa phu nhân, linh hồn đó bị giam giữ trong viên đá kia, và viên đá được bảo vệ bằng những lời thần chú trói buộc và thần chú ẩn giấu, cùng đủ loại khóa, giữa ba lớp tường đá của một tháp canh nơi vùng đất hoang vu, không phải vì nó là một vật quý giá, mà bởi vì nó có thể gây ra những điều hết sức xấu xa. Tôi không biết người ta đã nói cho phu nhân biết những gì về nó khi phu nhân đến đây. Nhưng một người vẫn còn trẻ và mềm yếu như phu nhân thì không bao giờ nên chạm vào vật đó, thậm chí không nên nhìn nó nữa. Nó sẽ không đem lại điều tốt lành cho phu nhân đâu.”

“Ta đã chạm vào nó. Ta đã nói với nó, và nghe được nó đáp lại. Nó không làm gì hại ta cả.”

Nàng quay người và họ lại đi qua những ô cửa, những dãy hành lang cho đến khi ra tới chiếc cầu thang rộng, hai bên có thắp đuốc của tòa tháp, Serret mới thổi tắt cây nến của mình. Họ chỉ nói vài lời từ biệt nhau.

Đêm đó Ged không ngủ được mấy. Điều khiến chàng trằn trọc không phải là ý nghĩ về con quái vật bóng đen; ý nghĩ ấy gần như đã hoàn toàn bị xua ra khỏi đầu óc chàng bởi những hình ảnh khác cứ luôn luôn hiện về: Viên đá nền móng của tòa tháp, khuôn mặt của Serret lúc sáng lúc tối trong ánh nến, quay về phía chàng. Chàng không ngừng cảm thấy cặp mắt của nàng đang nhìn mình, và cố nghĩ xem ánh mắt của nàng có vẻ như thế nào khi chàng từ chối chạm vào Viên đá, liệu nó có vẻ khinh bỉ hay bị xúc phạm. Khi cuối cùng chàng cũng ngả lưng nằm xuống ngủ, tấm lụa trải giường vẫn lạnh như băng, và chốc chốc chàng lại thức giấc trong bóng tối, không thể xua đuổi được ý nghĩ về Viên đá và cặp mắt của Serret.

Ngày hôm sau chàng đến gặp nàng trong gian sảnh uốn lượn xây bằng cẩm thạch xám, chiếu sáng bởi vầng mặt trời đang ngả dần về phía Tây, nơi chiều chiều nàng vẫn ngồi chơi hay dệt cửi cùng các thị nữ của mình. Chàng nói: “Phu nhân Serret, tôi đã khiến phu nhân phật ý. Tôi thật có lỗi.”

“Không,” nàng tư lự nói, rồi nhắc lại, “Không...” Nàng bảo các thị nữ đang đứng hầu ở đó lui vào, và khi họ chỉ còn lại một mình, nàng quay sang nhìn Ged. “Vị khách của ta, người bạn của ta,” nàng nói. “Ngài có cái nhìn rất sáng suốt, nhưng có lẽ ngài đã không thấy hết được những điều cần phải thấy. Ở Gont và ở Roke, họ dạy các pháp thuật rất cao cường. Nhưng họ không dạy tất cả các pháp thuật trên đời. Đây là Osskil, là hòn đảo Ô Thước; đây không phải là vùng đất Hardic: nó không được cai trị bởi các pháp sư, và họ cũng không biết nhiều về nó. Ở đây có nhiều biến cố mà các học giả phương Nam không ghi chép lại, và nhiều vật không có tên trong danh sách của các nhà Khởi Danh. Người ta thường khiếp sợ những gì mình không biết rõ. Nhưng ở Cung điện Terrenon này ngài không phải sợ điều gì hết. Một người yếu đuối hơn thì sẽ sợ hãi. Không phải là ngài. Ngài là người từ khi ra đời đã có quyền lực để điều khiển vật nằm trong gian buồng kín kia. Điều đó ta biết chắc. Đó chính là lý do tại sao ngài lại có mặt ở đây.”

“Tôi không hiểu.”

“Đó là vì phu quân Benderesk của ta đã không hoàn toàn thành thực với ngài. Nhưng ta thì sẽ thành thực. Lại đây, hãy đến ngồi bên ta.”

Chàng đến ngồi cạnh nàng trên bậu cửa sổ khoét sâu có lót đệm. Ánh mặt trời đang tắt dần giờ đã ở ngang tầm ô cửa sổ, trùm lên họ một thứ ánh sáng rực rỡ nhưng không có chút hơi ấm; trên vùng đồng hoang đang chìm vào bóng tối bên dưới chân tháp, lớp tuyết mới rơi đêm qua vẫn còn nguyên, không tan đi chút nào, tựa như một tấm vải trắng đục phủ lên mặt đất.

Lúc này, Serret nói rất khẽ: “Benderesk là Lãnh chúa và là người Thừa kế viên đá Terrenon, nhưng ông ấy không biết sử dụng nó, ông ấy không thể bắt nó toàn tâm toàn ý phục vụ mình. Ta cũng không thể, cho dù là một mình hay góp sức với phu quân của ta. Cả ông ấy lẫn ta đều không có đủ quyền phép hay khả năng. Nhưng ngài thì lại có cả hai.”

“Làm sao phu nhân biết được điều đó?”

“Chính Viên đá cho ta biết! Ta đã bảo với ngài rằng nó tiên đoán được ngài sẽ đến đây mà. Nó biết rõ chủ nhân của mình là ai. Nó đã đợi ngài đến. Nó đã đợi ngài từ trước khi ngài ra đời, đợi người có đủ sức để làm chủ nó. Và người nào có thể khiến viên đá Terrenon trả lời mọi câu hỏi của mình và vâng theo mọi mệnh lệnh của mình thì người đó cũng có thể điều khiển được số phận của chính mình: có sức mạnh để đánh bại mọi kẻ thù, dù là trên dương gian hay đến từ một thế giới nào khác; có thể biết được tương lai, có mọi tri thức, mọi của cải, mọi lãnh địa trên đời, và một quyền phép khiến chính Tổng pháp sư cũng phải quy phục! Ngài muốn bao nhiêu cũng được, dù nhiều hay ít, chỉ cần ngài yêu cầu mà thôi.”

Nàng lại ngước cặp mắt long lanh lạ lùng lên nhìn chàng, và cái nhìn của nàng xuyên thấu qua chàng, đến nỗi chàng run rẩy như thể bị lạnh. Thế nhưng trên mặt nàng vẫn có vẻ sợ hãi, dường như nàng muốn nhờ chàng giúp đỡ nhưng lại quá kiêu hãnh nên không muốn hạ mình. Ged thấy hết sức bối rối. Khi nàng nói, nàng đặt tay lên tay chàng; một sự tiếp xúc nhẹ nhàng, trông bàn tay ấy thật nhỏ bé và xinh đẹp trên bàn tay mạnh mẽ ngăm đen của chàng. Chàng van vỉ: “Phu nhân Serret! Tôi không có những quyền năng như phu nhân nghĩ đâu - những gì tôi có trước kia thì tôi cũng đã ném đi hết rồi. Tôi không thể giúp nàng. Tôi không có khả năng giúp nàng. Nhưng tôi biết rõ điều này: con người không được phép sử dụng các Quyền Pháp Cổ trên đời này. Chúng không bao giờ được trao vào tay chúng ta, và trong tay chúng ta thì những quyền pháp ấy chỉ gây ra tai họa mà thôi. Dùng cách xấu xa để đạt được mục đích thì sẽ đem lại kết сụс xấu xa. Tôi không bị thu hút tới đây, mà bị săn đuổi đến đây, và thế lực đã săn đuổi tôi đến đây chỉ muốn tiêu diệt tôi mà thôi. Tôi không thể giúp phu nhân được.”

“Ai đã vứt bỏ quyền lực của mình đôi khi lại có được một quyền lực mạnh mẽ hơn nhiều để thay thế,” nàng mỉm cười nói, như thể mọi nỗi lo sợ và do dự của chàng chỉ là sự khiếp hãi của một đứa trẻ. “Có thể ta biết rõ hơn ngài cái gì đã đưa ngài tới đây. Có phải một người đã đến nói chuyện với chàng trên phố ở Orrimy không? Ông ta là một sứ giả, một người hầu ở Terrenon này. Trước kia ông ta cũng đã từng là một pháp sư, nhưng ông ta đã ném cây quyền trượng của mình đi để phục vụ cho một quyền năng mạnh mẽ hơn quyền năng của bất kỳ pháp sư nào. Và khi đến Osskil này, trên vùng đồng hoang, ngài đã cố chống lại một bóng đen bằng cây quyền trượng gỗ của mình; và suýt nữa thì chúng ta đã không thể cứu được ngài, bởi vì thứ đang bám theo ngài xảo quyệt hơn chúng ta tưởng, và đã hút mất rất nhiều sinh lực của ngài rồi... Chỉ có bóng đen mới đánh bại được bóng đen. Chỉ có đêm tối mới đánh bại được đêm tối mà thôi. Hãy nghe tôi, Chim Cắt! Vậy ngài cần gì để đánh bại được bóng đen đang chờ đợi ngài bên ngoài những bức tường này?”

“Tôi cần thứ mà tôi không thể biết được. Tên của nó.”

“Viên đá Terrenon vốn biết rõ mọi sự ra đời, mọi cái chết, mọi vật trước và sau khi chết, những thứ bất sinh và những thứ bất tử, dương gian cũng như âm thế, nó sẽ cho ngài biết cái tên ấy.”

“Còn cái giá phải trả là gì?”

“Không có cái giá nào cả. Ta đã nói nó sẽ vâng lệnh ngài, phục tùng ngài, là nô lệ của ngài.”

Choáng váng, bị nỗi ngờ vực giằng xé, chàng không trả lời. Serret nắm lấy bàn tay chàng trong cả hai bàn tay của mình và nhìn thẳng vào mặt chàng. Mặt trời đã khuất sau màn sương mờ che phủ đường chân trời, và bầu không khí cũng mờ đục đi, nhưng gương mặt nàng lại ngời lên với vẻ ngưỡng mộ và đắc thắng khi nàng ngắm nhìn chàng và nhận thấy ý chí của chàng đang bắt đầu lung lay. Nàng thì thầm: “Chàng sẽ trở nên hùng mạnh hơn hết thảy, trở thành chúa tể của loài người. Chàng sẽ cai trị, và ta sẽ cai trị cùng chàng…”

Ged đứng bật dậy, và khi bước lên một bước chàng có thể nhìn thấy ngay đằng sau khúc quanh của bức tường dài, bên cạnh ô cửa, Lãnh chúa Terrenon đang đứng lắng nghe và cười nhạt.

Mắt Ged bỗng nhìn được rõ ràng hơn, và đầu óc chàng cũng trở nên sáng suốt. Chàng cúi xuống nhìn Serret. “Chính ánh sáng là thứ có thể đánh bại được bóng tối,” chàng lắp bắp, “ánh sáng.”

Vừa dứt lời thì chàng đột nhiên nhận ra, rõ rành rành như thể những lời nói của chàng chính là luồng sáng chỉ cho chàng thấy quả thực chàng đã bị nhử, bị lôi kéo tới đây ra sao, họ đã lợi dụng nỗi sợ hãi của chàng để đánh lừa chàng như thế nào, và một khi nắm chắc được chàng rồi, thì họ sẽ giữ chàng ở lại đây bằng cách nào. Đúng là họ đã cứu chàng thoát khỏi con quái vật bóng đen, nhưng đó chỉ là vì họ không muốn chàng bị nó chiếm hữu trước khi biến chàng thành nô lệ của Viên đá. Một khi ý chí của chàng bị quyền lực của Viên đá thâu tóm thì họ sẽ để cho bóng đen đi qua những bức tường kia, bởi vì một tên âm binh là một nô lệ tốt hơn nhiều so với một người tự do. Nếu chàng chỉ chạm vào Viên đá một cái, hay nói với nó một lời thôi, thì chàng sẽ vĩnh viễn không còn làm chủ bản thân mình được nữa. Thế nhưng, giống như con quái vật bóng đen đã không thể đuổi kịp và bắt được chàng, Viên đá cũng không thể điều khiển được chàng - gần như không thể. Suýt nữa chàng đã đầu hàng, nhưng chưa nhượng bộ hoàn toàn. Chàng đã không chịu ưng thuận. Cái ác sẽ không thể nắm giữ được một linh hồn không bằng lòng phục vụ nó.

Chàng đứng giữa hai người đã đầu hàng, đã ưng thuận làm nô lệ cho Viên đá, hết nhìn người này đến người kia trong khi Benderesk bước tới trước.

“Ta đã bảo nàng rồi,” Lãnh chúa Terrenon cất giọng lạnh lùng nói với phu nhân của mình, “hắn sẽ tuột khỏi tay nàng thôi, Serret. Đám pháp sư xứ Gont các người toàn là một lũ ngốc thông thái cả. Và ngươi cũng là một kẻ ngu ngốc, mụ đàn bà xứ Gont kia, ngươi tưởng có thể đánh lừa cả ta lẫn hắn, điều khiển chúng ta bằng vẻ đẹp của ngươi, và dùng viên đá Terrenon cho những mục đích của riêng mình. Nhưng ta là Chủ nhân của Viên đá, ta, và đây là hình phạt ta dành cho một mụ vợ không chung thủy: Ekavroe ai oelwantar ...” Đó là một lời thần chú Biến Hóa, và hai bàn tay dài của Benderesk giơ lên để biến người phụ nữ đang co rúm lại thành một vật gớm guốc nào đó, một con lợn, một con chó hay một mụ già điên dại, xấu như quỷ. Ged bước tới và giơ tay lên gạt tay vị Lãnh chúa đi, vừa gạt vừa đọc một lời thần chú ngắn gọn. Mặc dù chàng không còn cây quyền trượng nữa, và đang phải đứng trên một mảnh đất xa lạ, xấu xa, lãnh địa của một quyền năng hắc ám, nhưng chàng vẫn đủ sức thắng thế. Benderesk đứng yên, cặp mắt mờ đục của ông ta dán chặt lên Serret vẻ căm ghét, nhưng không nhìn thấy nàng.

“Đi nào,” nàng run rẩy nói, “Chim Cắt, đi thôi, nhanh lên, trước khi lão ta có thể triệu tập lũ Thuộc Hạ của Viên đá đến...”

Như thể một lời thì thào đang vang vọng khắp tòa tháp, xuyên qua những viên đá xây tường và lát sàn, một lời rì rầm khô khan, run rẩy, như thể chính mặt đất vừa lên tiếng.

Nắm lấy tay Ged, Serret cùng chàng chạy qua những hành lang, đại sảnh, chạy xuống những dãy cầu thang dài uốn lượn. Họ ra đến mảnh sân trong của tòa tháp, nơi một tia nắng bạc cuối cùng trong ngày vẫn còn sót lại trên lớp tuyết bẩn thỉu bị giày xéo. Ba tên lính canh lâu đài chặn đường họ, mặt lầm lầm và đầy hồ nghi như thể chúng đã ngờ hai kẻ này đang có âm mưu gì đó chống lại Lãnh chúa của họ. “Trời tối rồi, thưa Phu nhân,” một tên nói, và một tên khác chêm vào, “Phu nhân không thể ra ngoài lúc này được.”

“Tránh ra cho ta đi, lũ rác rưởi!” Serret thét lên, và nói mấy lời bằng tiếng Osskil nghe như tiếng huýt gió. Ba tên lính lùi lại và gục xuống đất quằn quại, một tên trong bọn gào lên.

“Chúng ta phải đi ra bằng cổng chính thôi, không còn đường nào khác cả. Ngài có nhìn thấy nó không? Ngài có tìm được nó không, Chim Cắt?”

Nàng kéo tay chàng giục giã, nhưng chàng vẫn do dự. “Phu nhân đã phù phép gì lên chúng vậy?”

“Ta đổ chì nóng chảy vào tủy xương của chúng, chúng sẽ chết ngay thôi. Nhanh lên, lão ta sắp thả bọn Thuộc Hạ của Viên đá ra rồi, và ta không thể tìm thấy cánh cổng được nữa - nó được che giấu bằng một bùa phép rất mạnh. Nhanh lên!”

Ged không hiểu nàng nói thế nghĩa là sao, bởi vì qua mái vòm bằng đá trên sân chàng có thể nhìn thấy cánh cổng bị phù phép rõ ràng không kém gì chính mái vòm nọ. Chàng dẫn Serret qua mái vòm này, chạy qua lớp tuyết trên mảnh sân trước không vương một vết chân, và rồi, với một lời thần chú Khai mở, chàng dẫn nàng qua cánh cổng của những bức tường pháp thuật.

Nét mặt nàng thay đổi khi họ chạy qua cánh cửa đó, lao vào ánh chiều nhá nhem màu bạc của Cung điện Terrenon. Trong ánh sáng ảm đạm của vùng đồng hoang, nàng vẫn không kém phần xinh đẹp, nhưng vẻ đẹp của nàng còn có vẻ dữ dằn của một mụ phù thủy; và rốt cuộc thì Ged cũng nhận ra nàng - con gái của Lãnh chúa Re Albi, con gái của nữ pháp sư xứ Osskil, cô bé đã chế giễu chàng trên đồng cỏ xanh phía trên căn nhà của Ogion, cách đây đã lâu lắm rồi, người đã khiến chàng tìm đọc lời thần chú giải thoát cho con quái vật bóng đen. Nhưng chàng không mấy bận tâm đến điều này nữa, vì giờ đây chàng còn đang mải nhìn khắp quanh mình, mọi giác quan đều căng ra cảnh giác, tìm kiếm kẻ thù ấy, tìm kiếm bóng đen đang chờ đợi chàng đâu đó bên ngoài những bức tường pháp thuật kia. Có thể nó vẫn còn là tên âm binh, vẫn nằm trong vỏ bọc của Skiorh, hoặc có thể nó đang ẩn nấp trong bóng đêm càng lúc càng dày đặc, chờ đợi thời cơ để túm lấy chàng, nhập mảng tối không hình thù gì của nó vào thân thể đang sống của chàng. Chàng cảm thấy nó đang ở rất gần, nhưng không nhìn thấy nó. Nhưng khi nhìn quanh, chàng nhìn thấy một vật nhỏ, tối sẫm, bị vùi một nửa trong tuyết, chỉ cách cánh cổng vài bước. Chàng cúi xuống và nhẹ nhàng nâng nó lên trong hai bàn tay. Đó chính là chú chồn otak, bộ lông ngắn mượt mà của nó đầy máu, thân hình bé nhỏ của nó nhẹ bỗng, cứng đờ và lạnh ngắt trong tay chàng.

“Hãy biến hình đi! Biến hình đi, chúng đang đến đấy!” Serret thét lên, túm lấy cánh tay chàng và chỉ về phía ngọn tháp sau lưng họ, nổi bật trong ánh chiều tà như một chiếc răng. Từ những ô cửa sổ hẹp dưới chân tháp, những sinh vật đen sì đang bò tới, những cặp cánh dài duỗi ra, chậm chạp vỗ vỗ, và chúng chao liệng bên trên những bức tường để bay đến nơi Ged và Serret đang đứng trên sườn đồi, không có gì che chắn. Những tiếng thì thào lao xao họ nghe thấy trong tòa thành to dần lên, mặt đất dưới chân họ rung động và rền rĩ.

Một cơn thịnh nộ trào lên trong lòng Ged, một nỗi căm ghét bỏng cháy đối với tất cả những thứ chết chóc tàn nhẫn đã đánh lừa chàng, bẫy chàng, săn đuổi chàng. “Hãy biến hình đi!” Serret hét lên giục chàng, rồi vội vã đọc một lời thần chú để tự biến mình thành một con hải âu xám, bay vụt lên. Nhưng Ged thì lại cúi xuống nhổ một cọng cỏ dại mảnh dẻ và khô héo đâm từ dưới lớp tuyết vùi xác chú chồn otak lên. Chàng giơ cao cọng cỏ ấy và ra lệnh cho nó bằng Chân Ngữ, khiến cho nó dài ra, dày hơn, và khi chàng dứt lời thì trong tay chàng đã là một cây quyền trượng lớn, một cây quyền trượng pháp thuật. Không có ngọn lửa đỏ rực quái ác nào đốt cháy nó khi những con vật đen sì vỗ cánh từ Cung điện Terrenon bay đến bổ nhào xuống đầu chàng và bị chàng dùng cây quyền trượng quật vào cánh: nó chỉ sáng trắng một ngọn lửa thần, không đốt cháy mà chỉ xua đi mọi thế lực hắc ám.

Các sinh vật nọ liền phản công: chúng là những quái thai thuộc về một thời kỳ trước khi có chim chóc, loài rồng hay con người, từ lâu đã bị ánh mặt trời lãng quên nhưng đã được gọi đến bởi quyền năng cổ xưa, độc ác và không bao giờ biết quên của Viên đá. Chúng vây lấy Ged, bổ nhào xuống đầu chàng. Chàng cảm thấy những móng vuốt sắc nhọn như lưỡi hái của chúng quanh mình, và lợm giọng khi ngửi thấy mùi tử khí hôi thối của chúng. Chàng điên cuồng đỡ, gạt và đánh lại, xua đuổi chúng bằng cây quyền trượng rực lửa được tạo ra từ cơn giận của chàng và cọng cỏ dại. Và bất thình lình, tất cả bọn chúng lao vụt lên như một bầy quạ bị xua khỏi một cái xác thối, rồi lượn vòng và lặng lẽ vỗ cánh về phía mà Serret, trong hình thù con hải âu, đã bay tới. Những cặp cánh lớn của chúng có vẻ chậm chạp, nhưng chúng bay rất nhanh, mỗi cú vỗ cánh lại đưa chúng đi được một quãng dài qua khoảng không. Không con hải âu nào có thể vượt được tốc độ khủng khiếp đó.

Cũng nhanh chóng như chàng đã từng biến hình ở Roke, Ged biến thành một con chim ưng khổng lồ: không phải là con chim cắt như tên gọi của chàng, mà là con chim ưng Du Hành bay nhanh như tên bắn, nhanh như ý nghĩ. Chàng lướt trên ngọn gió mạnh, lạnh buốt, thổi ngược chiều, đuổi theo những sinh vật vừa rượt đuổi chàng. Bầu trời tối sầm lại và giữa các đám mây, những vì sao bắt đầu hiện ra tỏa sáng. Trước mặt mình, chàng nhìn thấy bầy quái điểu đen sì rời rạc đang bổ nhào xuống một chỗ ở lưng chừng trời. Phía sau cái mảng đen ấy là mặt biển vẫn còn lờ mờ chút ánh sáng ban ngày cuối cùng. Ged, trong hình thù chim ưng, lao thẳng vào những sinh vật thuộc hạ của Viên đá, và chúng bay tán loạn khắp nơi khi chàng xông tới, như những giọt nước bắn tóe lên khi bị một viên sỏi ném vào. Nhưng chúng đã chụp được con mồi của mình. Trên mỏ một con quái điểu dính đầy máu, có những mẩu lông vũ trắng dính vào móng vuốt một con khác, và không thấy con hải âu nào bay đằng sau chúng, trên mặt biển mờ sáng nữa.

Chúng lại quay sang tấn công Ged, vụng về bay nhanh về phía chàng, há hốc những cái mỏ sắc nhọn như thép. Chàng lượn vòng trên đầu chúng hét to tiếng kêu thách thức giận dữ của loài chim ưng, và rồi lao thẳng về phía những bờ biển thấp của Osskil, bay qua những ngọn sóng vỗ bờ.

Bầy quái điểu của Viên đá chao liệng, kêu gào một hồi lâu, rồi từng con một, chậm rãi bay trở về phía đất liền, trở về vùng đồng hoang. Các Quyền Pháp Cổ không thể vượt qua biển vì bị ràng buộc vào một hòn đảo, một lãnh địa nhất định, một cái hang, một tảng đá, hay một dòng suối. Những tên thuộc hạ đen sì ấy lại bay về tòa tháp, nơi có lẽ Lãnh chúa điện Terrenon, Benderesk, sẽ khóc nức nở khi thấy chúng trở về, hoặc có lẽ ông ta sẽ cười. Nhưng Ged vẫn điên cuồng bay tiếp trên đôi cánh chim ưng của mình, như một mũi tên không bao giờ rơi xuống, như một ý nghĩ không bao giờ bị lãng quên, bay qua Biển Osskil, bay về phía Đông, xuyên qua màn đêm và ngọn gió mùa đông giá buốt.

Trời đã muộn khi Ogion Câm Lặng trở về ngôi nhà của ông ở Re Albi sau những chuyến du hành mùa thu. Năm tháng trôi qua, ông càng trở nên lặng lẽ và cô độc hơn bao giờ hết. Vị Lãnh chúa mới của xứ Gont ở thành bang dưới chân núi chưa bao giờ khiến ông thốt ra được một lời, mặc dù ông ta đã đích thân trèo lên Tổ Chim Ưng để nhờ vị pháp sư giúp đỡ cho một chuyến cướp bóc liều lĩnh đến quần đảo Andrades. Ogion, người thường nói chuyện với những con nhện đang chăng mạng, người đã từng lịch sự cúi chào các loại cây, lại không nói một lời nào với vị Lãnh chúa của Đảo, và ông ta bất mãn ra về. Có lẽ chính trong lòng Ogion cũng có đôi chút bất mãn hay lo ngại, vì ông đã ở trên núi một mình suốt mùa hè và mùa thu, và giờ đây, chỉ khi lễ hội Hồi Dương sắp đến mới quay trở về tổ ấm của mình.

Buổi sáng sau khi trở về ông dậy muộn, và muốn uống một chén trà bấc, nên ông liền đi ra dòng suối chảy bên sườn đồi cách nhà một quãng ngắn để múc nước. Hai bên mép dòng suối nhỏ vẫn chảy róc rách đã đóng băng, và trên lớp rêu khô héo giữa các tảng đá đã loáng thoáng những mẩu sương giá. Ánh sáng ban ngày chan hòa, nhưng ít ra trong vòng một giờ nữa, mặt trời vẫn chưa thể sưởi ấm được cho bên sườn núi khổng lồ này: khắp vùng phía Tây xứ Gont, từ các bãi biển cho đến đỉnh núi, đều im lìm, không có ánh mặt trời nhưng vẫn sáng sủa vào những sáng mùa đông. Vị pháp sư đang đứng bên bờ suối, ngắm nhìn vùng thảo nguyên, hải cảng và mặt biển mờ xám ở xa xa, thì bỗng nghe thấy tiếng vỗ cánh trên đầu. Ông ngước nhìn và giơ một cánh tay lên. Một con chim ưng khổng lồ nhào xuống, cặp cánh đập mạnh, và đậu lên cổ tay ông. Như một con chim săn mồi đã được huấn luyện, nó bám chặt vào đó, nhưng nó không có sợi xích nào bị đứt, không có vòng đai hay một chiếc chuông nào. Móng vuốt của nó bám chặt vào cổ tay Ogion; cặp cánh có sọc của nó run rẩy; đôi mắt tròn vàng đã mờ đi nhưng vẫn đầy vẻ dữ tợn.

“Mi là một sứ giả hay là một thông điệp?” Ogion nhẹ nhàng hỏi con chim ưng. “Đi với ta nào...” Con chim ưng không dời mắt khỏi ông. Ogion im lặng hồi lâu. “Hình như trước kia ta đã từng đặt tên cho mi thì phải,” ông nói, rồi sải bước về phía căn nhà và đi vào, con chim vẫn đậu trên cổ tay. Ông cho nó đậu cạnh lò sưởi, trong hơi ấm của đống lửa, và đưa nước cho nó. Con chim không uống. Rồi Ogion bắt đầu đọc một lời thần chú, rất khẽ, dệt nên tấm lưới pháp thuật bằng hai bàn tay mình hơn là bằng những lời chú. Khi lời thần chú đã hoàn thành trọn vẹn, ông nhẹ nhàng nói, - “Ged,” mà không hề liếc mắt nhìn con chim ưng trên mặt lò sưởi. Ông đợi thêm một lát nữa, rồi quay lại, đứng lên và đi về phía chàng trai đang đứng run rẩy, ngơ ngác bên lò lửa.

Ged đang mặc bộ y phục sang trọng và kỳ lạ bằng lụa và lông thú thêu chỉ bạc, nhưng quần áo đã rách nát hết, ngấm muối biển cứng đờ, và chàng đứng đó, hốc hác, người khom xuống, mái tóc xõa rũ rượi quanh khuôn mặt đầy sẹo.

Ogion cởi chiếc áo choàng lộng lẫy nhưng bẩn thỉu ra khỏi vai chàng, dẫn chàng đến góc phòng nơi cậu học trò của ông từng ngủ trước kia và bắt chàng nằm xuống tấm đệm rơm, khẽ đọc một lời thần chú ru ngủ, rồi để chàng lại đó. Ông không nói gì với chàng, biết rằng giờ đây Ged vẫn chưa nói được tiếng người.

Khi còn là một chú bé, Ogion, cũng như mọi chú bé khác, đã nghĩ thật là thú vị khi dùng pháp thuật để biến mình thành bất kỳ hình thù gì mình muốn, cho dù là con người hay thú vật, một cái cây hay một đám mây, và đùa giỡn với hàng nghìn sinh vật khác. Nhưng khi trở thành pháp sư thì ông đã học được cái giá của trò chơi ấy, đó là mối hiểm nguy khi đánh mất bản thân, khi sự thật bị lãng quên mất. Con người càng giữ một hình dạng không phải của mình lâu bao nhiêu thì mối nguy hiểm đó càng lớn lên bấy nhiêu. Mọi phù thủy tập sự đều được dạy câu chuyện về pháp sư Bordger xứ Way, người rất thích thú khi biến thành một con gấu đến nỗi đã làm việc đó ngày càng nhiều cho đến khi bản năng của con gấu lớn lên trong ông ta và tính người biến mất, và ông ta đã biến thành một con gấu thực sự, giết đứa con trai nhỏ của mình trong rừng, để rồi bị săn đuổi và tiêu diệt. Và không ai biết được bao nhiêu trong số những con cá heo đang nô giỡn dưới Biển Nội địa kia đã từng là người, những người thông thái, nhưng đã quên mất sự thông thái và danh tính của mình trong sự sôi nổi và thú vị của biển cả.

Ged đã biến mình thành một con chim ưng trong cơn thịnh nộ và mối hiểm nguy khủng khiếp, và khi chàng bay khỏi Osskil, trong đầu chàng chỉ có một ý nghĩ duy nhất: phải bay để thoát khỏi cả Viên đá lẫn bóng đen, để thoát khỏi vùng đất lạnh lẽo hiểm ác đó, để trở về nhà. Cơn giận và sự dữ dằn của con chim ưng cũng giống như những gì chàng đang cảm thấy, thế rồi chúng trở thành cảm giác của chính chàng, và ý chí tiếp tục bay của chàng trở thành ý chí của con chim ưng. Vậy là chàng đã bay qua đảo Enlad, chỉ dừng lại để uống nước trong một cái vũng đơn độc trong rừng, nhưng rồi lại cất cánh ngay, bị thôi thúc bởi nỗi khiếp sợ con quái vật bóng đen đang bám theo sau lưng. Vậy là chàng đã bay qua eo biển có tên Miệng Enlad, cứ bay tiếp, bay mãi, từ phía Đông xuống phía Nam, dãy đồi Oranéa lờ mờ ở bên phải chàng và dãy đồi Andrad còn mờ nhạt hơn ở bên trái, và trước mặt chàng không có gì khác ngoài mặt biển; bay cho đến khi rốt cuộc phía trước là một cột sóng không bao giờ thay đổi vươn cao lên trên những con sóng khác: đỉnh núi trắng xóa của xứ Gont. Suốt hành trình dài dằng dặc ấy, trong ánh mặt trời cũng như trong bóng tối, chàng vẫn giữ nguyên hình thù của con chim ưng, nhìn bằng cặp mắt của con chim ưng, và quên hết mọi ý nghĩ của mình, cho đến khi chàng chỉ còn biết những gì loài chim ưng biết: cái đói, hướng gió, và nơi chàng đang bay tới.

Chàng đã bay được đến nơi ẩn náu của mình. Chỉ có một vài người trên đảo Roke và một người duy nhất ở Gont mới có thể biến chàng trở lại thành một con người mà thôi.

Khi thức dậy, chàng vẫn có vẻ hoang dại và im lặng. Ogion không nói gì với chàng mà chỉ đưa cho chàng thức ăn và nước uống, để cho chàng khom mình ngồi bên lò sưởi, lầm lì như một con chim ưng khổng lồ, rầu rĩ và mệt mỏi. Khi đêm xuống chàng lại ngủ thiếp đi. Đến sáng ngày thứ ba chàng mới bước đến bên lò sưởi nơi vị pháp sư đang ngồi nhìn ngọn lửa không chớp mắt, và nói: “Thưa Thầy…”

“Chào mừng con đã trở về, chàng trai,” Ogion nói.

“Con trở về với thầy vẫn như khi con đã ra đi: một kẻ ngu ngốc,” chàng trai nói, giọng khàn đặc. Vị pháp sư hơi mỉm cười, ra hiệu cho Ged ngồi đối diện với ông bên lò lửa, và bắt đầu pha một ấm trà cho hai thầy trò uống.

Tuyết đang rơi, đợt tuyết đầu tiên của mùa đông trên những ngọn đồi thấp của Gont. Các ô cửa sổ quanh nhà Ogion đều đã đóng kín, nhưng họ vẫn có thể nghe thấy tiếng tuyết ẩm ướt rơi nhẹ trên mái nhà và sự tĩnh mịch bí hiểm của lớp tuyết bao phủ quanh ngôi nhà. Họ ngồi bên lò sưởi một hồi lâu, và Ged kể lại cho người thầy cũ của mình nghe những gì đã xảy ra trong quãng thời gian kể từ khi chàng rời khỏi Gont trên con tàu mang tên Bóng Đen . Ogion không hỏi gì, và khi Ged kể xong, ông vẫn im lặng một lúc lâu, bình thản, trầm ngâm. Rồi ông đứng lên, dọn bánh mì, phó mát và rượu vang lên bàn; hai thầy trò cùng ăn. Khi họ ăn xong và mặt bàn đã được dọn sạch, Ogion mới lên tiếng.

“Những vết sẹo của con trông dữ dằn quá, chàng trai ạ,” ông nói.

“Con không đủ sức mạnh để chống lại nó,” Ged đáp lại.

Ogion lắc đầu nhưng không nói gì một lúc lâu. Cuối cùng ông mới nói: “Lạ thật. Khi ở Osskil, con đã có đủ sức để chiến thắng một tên phù thủy trên lãnh địa của hắn. Con đã có đủ sức để cưỡng lại mọi mồi nhử và chống đỡ được cuộc tấn công của bọn thuộc hạ của một Quyền Pháp Cổ trên Trái Đất. Và khi ở Pendor, con đã có đủ sức để chống lại một con rồng chúa.”

“Ở Osskil con đã gặp may, chứ không phải là có đủ sức,” Ged trả lời, và chàng lại rùng mình khi nghĩ đến cái lạnh mơ màng chết người của Cung điện Terrenon. “Còn về con rồng thì con biết tên nó. Còn thứ xấu xa kia, cái bóng đen đang săn đuổi con đó, nó không có tên.”

Tất cả mọi vật đều có tên,” Ogion nói, vẻ cả quyết đến nỗi Ged không dám nhắc lại những gì Tổng pháp sư Gensher đã cho chàng biết, rằng những quyền phép xấu xa như cái bóng chàng đã thả ra thì không bao giờ có tên. Đúng là con Rồng chúa đảo Pendor đã nói nó sẽ cho chàng biết tên của cái bóng, nhưng chàng không tin rằng nó nói thật, cũng như chàng không tin vào lời hứa của Serret rằng Viên đá sẽ bảo cho chàng điều chàng cần biết.

“Nếu bóng đen đó có tên,” cuối cùng chàng nói, “thì con không nghĩ là nó sẽ dừng lại và nói cho con biết đâu...”

“Không,” Ogion nói. “Nhưng con cũng không hề dừng lại và cho nó biết tên của con. Vậy mà nó vẫn biết được. Trên vùng đồng hoang ở đảo Osskil nó đã gọi đích danh con, cái tên ta đã đặt cho con. Quả là kỳ lạ, hết sức kỳ lạ...”

Ông lại chìm vào suy ngẫm. Cuối cùng Ged lên tiếng: “Con đến đây để xin được chỉ bảo chứ không phải để trốn tránh, thưa Thầy. Con sẽ không dẫn bóng đen ấy đến làm hại Thầy đâu, và nếu con ở lại đây thì chẳng mấy chốc nó sẽ mò đến thôi. Trước kia đã có lần Thầy đuổi nó ra khỏi chính căn phòng này...”

“Không; đó chỉ là điềm báo trước sự xuất hiện của nó, là cái bóng của một cái bóng mà thôi. Giờ thì ta không thể đuổi nó đi được nữa. Chỉ có con mới làm được điều đó.”

“Nhưng con hoàn toàn bất lực trước nó. Liệu có bất cứ nơi nào...” Giọng chàng ngừng bặt trước khi chàng kịp thốt ra câu hỏi.

“Không có nơi nào an toàn cả,” Ogion nhẹ nhàng đáp. “Con không được biến hình nữa, Ged. Bóng đen đó đang tìm cách hủy diệt bản chất của con. Nó gần như đã làm được điều đó khi nó bắt con phải biến thành con chim ưng. Không, ta không biết con nên đi về đâu. Nhưng ta có một ý về điều con nên làm. Thật không dễ dàng để nói với con điều đó.”

Sự im lặng của Ged bắt buộc ông phải nói lên sự thật, và rốt cuộc Ogion nói: “Con phải quay trở lại.”

“Quay trở lại ạ?”

“Nếu con đi tới trước, nếu con cứ tiếp tục bỏ chạy, thì chạy đến đâu con cũng sẽ gặp hiểm nguy và tai họa, bởi vì bóng đen đó rượt đuổi con, chọn đường cho con. Con phải lựa chọn. Con phải tìm kiếm thứ đang tìm kiếm con. Con phải săn đuổi kẻ đang săn đuổi con.”

Ged không nói gì.

“Ta đã đặt tên cho con trong nhánh suối của Sông Ar,” vị pháp sư nói tiếp, “một dòng suối chảy từ trên núi xuống biển. Một người sẽ biết được đoạn cuối con đường mà anh ta đi, nhưng anh ta sẽ không thể biết trước được kết cục ấy nếu không quay trở lại nơi khởi đầu của mình, và nắm giữ khởi đầu đó trong sự tồn tại của mình. Nếu anh ta không muốn là một cành củi khô xoay tròn và bị nhấn chìm trong dòng suối thì anh ta phải tự mình trở thành dòng suối, hoàn toàn trở thành dòng suối, từ nơi nó bắt nguồn cho đến nơi nó đổ vào biển. Con đã quay về Gont, con đã quay về với ta, Ged. Giờ hãy quay lại, và tìm kiếm cội nguồn thực sự, tìm kiếm cả những gì nằm phía trước nguồn cội ấy nữa. Ở đó con mới có hy vọng tìm được sức mạnh.”

“Ở đó ư, thưa Thầy?” Ged hỏi, giọng kinh hoàng. - “Ở đâu ạ?”

Ogion không trả lời.

“Nếu con quay lại,” một lát sau Ged nói, “nếu con săn đuổi kẻ đang săn đuổi con như lời thầy nói, thì con sẽ thấy cuộc săn lùng ấy sẽ không kéo dài. Nó không mong gì hơn là được đối mặt với con. Nó đã đối mặt với con hai lần, và cả hai lần nó đều đánh bại con.”

“Lần thứ ba sẽ là vận may,” Ogion nói.

Ged đi đi lại lại trong phòng, từ lò sưởi đến cửa, rồi lại từ cửa đến lò sưởi. “Và nếu nó đánh bại con hoàn toàn,” chàng nói, nửa tranh cãi với Ogion, nửa với bản thân mình, “thì nó sẽ cướp hết mọi hiểu biết và sức mạnh của con, và sử dụng chúng. Trong lúc này thì nó chỉ đe dọa một mình con mà thôi. Nhưng nếu nó nhập vào con, sở hữu con, nó sẽ dùng con để gây ra điều xấu xa khủng khiếp.”

“Đúng vậy. Nếu nó đánh bại được con.”

“Nhưng nếu con lại bỏ chạy thì chắc chắn nó sẽ lại tìm được con... Và mọi sức lực của con đều bị bỏ phí vào cuộc rượt đuổi.” Ged đi đi lại lại hồi lâu, rồi quay phắt lại và quỳ xuống trước mặt vị pháp sư, chàng nói: “Con đã được gặp nhiều pháp sư vĩ đại và từng sống trên Đảo Thông thái, nhưng thầy mới là vị thầy đích thực của con, thưa thầy Ogion.” Chàng nói với vẻ kính yêu và một niềm vui sướng nghiêm trang.

“Rất tốt,” Ogion nói. “Giờ thì con đã hiểu rồi đấy. Bây giờ mới hiểu còn hơn là không bao giờ hiểu. Nhưng rồi cuối cùng thì chính con sẽ trở thành thầy của ta.” Ông đứng dậy, thổi cho lửa bùng lên to hơn, đặt ấm nước lên để đun, rồi khoác chiếc áo choàng bằng da cừu và nói: “Ta phải đi lo cho đàn dê đây. Hãy để ý trông ấm nước cho ta nhé, chàng trai.”

Khi quay trở vào nhà, người đầy tuyết, chân giậm mạnh để rũ tuyết ra khỏi đôi ủng da dê, ông đem theo một thanh gỗ thủy tùng dài, xù xì. Suốt phần còn lại của buổi chiều muộn ngắn ngủi đó, và sau bữa tối, ông ngồi bên ngọn đèn đẽo gọt thanh gỗ bằng dao, đá mài và thỉnh thoảng, ông đưa tay vuốt dọc thanh gỗ như thể tìm xem có gì sai sót không. Vừa làm ông vừa ngân nga khe khẽ. Ged, vẫn còn mệt mỏi, lắng nghe tiếng hát của ông, và khi cơn buồn ngủ kéo đến, chàng tưởng như mình vẫn còn là một chú bé trong gian lều của bà phù thủy ở làng Tổng Quán Sủi vào một đêm đầy tuyết, trong bóng tối bập bùng ánh lửa, trong bầu không khí sực nức mùi thảo mộc và nặng trĩu khói, và đầu óc chàng lang thang mơ màng trong khi chàng lắng nghe tiếng ngân nga khẽ khàng những lời thần chú, hát về chiến công của các anh hùng đã chống lại những thế lực hắc ám và đã chiến thắng hoặc thất bại, trên những hòn đảo xa xôi tự ngàn xưa.

“Đây,” Ogion nói, trao cây quyền trượng đã được đẽo gọt xong xuôi cho chàng. “Tổng pháp sư đã trao cho con gỗ thủy tùng, đó là một lựa chọn đúng đắn, và ta vẫn dùng loại gỗ đó. Ta định dùng thanh gỗ này làm một chiếc cung tên, nhưng thế này thì tốt hơn. Ngủ đi, con trai của ta.”

Khi Ged, không tìm được lời nào để cảm ơn ông, quay về góc phòng của mình, Ogion nhìn theo chàng và nói, rất khẽ nên Ged không nghe thấy: “Hỡi con chim cắt non trẻ của ta, hãy cất cánh bay cao!”

Khi Ogion thức dậy lúc bình minh lạnh lẽo, Ged đã ra đi. Chàng chỉ để lại mấy dòng chữ cổ lấp lánh ánh bạc trên nền lò sưởi, theo cách thức của các pháp sư, dòng chữ mờ đi ngay khi Ogion đọc chúng: “Thưa thầy, con đi săn đây.”

« Lùi
Tiến »