
Ged tưởng rằng khi theo học một vị pháp sư vĩ đại, cậu sẽ ngay lập tức được đặt chân vào vùng đất phép thuật huyền bí và kỳ diệu. Cậu ngỡ mình sẽ hiểu được tiếng nói của muông thú và tiếng lá lao xao trong rừng, bằng một lời có thể khiến gió đổi chiều, và học cách biến mình thành bất kỳ hình thù nào cậu muốn. Có thể cậu và người thầy của mình sẽ biến thành hươu cùng phóng trên thảo nguyên, hoặc giương đôi cánh đại bàng chao liệng trên đỉnh núi để bay đến Re Albi.
Nhưng sự thực không phải như vậy. Hai thầy trò lang thang, đầu tiên là xuống Thung lũng, rồi đi dần về phía Nam và phía Tây, vòng quanh ngọn núi, nghỉ lại trong những thôn xóm nhỏ hay cũng có khi phải ngủ đêm trong một chốn vắng vẻ tiêu điều, chẳng khác nào những thầy phù thủy nghèo khổ phải đi làm thuê, hay thợ hàn, hoặc thậm chí là những tên ăn mày. Họ không đi đến bất kỳ lãnh địa bí hiểm nào. Chẳng có điều gì xảy ra. Cây quyền trượng bằng gỗ sồi của vị pháp sư mà mới đầu Ged ngắm nghía một cách tò mò và kính sợ hóa ra chẳng là gì khác ngoài một cây gậy chống chắc chắn. Ba ngày trôi qua, rồi bốn ngày trôi qua, và Ogion vẫn chưa hề đọc một lời thần chú nào cho Ged nghe, cũng chưa hề dạy cho cậu một cái tên, một chữ Run 3 hay một bùa phép nào.
Dù là một người rất kiệm lời, ông có vẻ hiền lành và bình thản đến nỗi chẳng mấy chốc Ged đã quên bẵng nỗi sợ của mình, và một hai ngày sau cậu đã đủ can đảm để hỏi người thầy của mình: “Thưa thầy, bao giờ thì việc học tập của con sẽ bắt đầu ạ?”
“Nó đã bắt đầu rồi đấy,” Ogion nói.
Im lặng một lát, như thể Ged đang cố nén một cái gì đó mà cậu phải nói. Rồi cậu bật ra: “Nhưng con đã được học gì đâu!”
“Bởi vì con vẫn chưa nhận ra điều mà ta đang dạy con,” vị pháp sư đáp, vẫn vững vàng sải những bước dài trên con đèo cao nằm giữa Ovark và Wiss. Ông có nước da ngăm ngăm màu đồng, giống như phần lớn những người xứ Gont khác; tóc đã ngả bạc, người gầy gò nhưng dẻo dai như một con chó săn, không biết mệt mỏi là gì. Ông không nói nhiều, ăn ít, ngủ còn ít hơn. Mắt ông rất tinh, tai ông rất thính, và trên khuôn mặt thường toát lên vẻ chăm chú lắng nghe.
Ged không trả lời. Không phải lúc nào cũng có thể dễ dàng trả lời một vị pháp sư.
“Con muốn làm phép,” Ogion lại lên tiếng, chân không ngừng bước. “Con đã kéo quá nhiều nước từ cái giếng ấy rồi. Hãy đợi đã. Tuổi trưởng thành cũng có nghĩa là phải biết kiên nhẫn. Sự thành thạo là chín lần kiên nhẫn đấy. Cây thảo mộc bên đường kia là gì?”
“Hoa rơm ạ.”
“Còn cây kia?”
“Con không biết ạ.”
“Người ta gọi nó là cỏ bốn lá.” Ogion đã đứng lại, đầu gậy bọc đồng của cây quyền trượng đặt gần cây thảo mộc bé nhỏ, và Ged liền cúi xuống nhìn cho rõ hơn, nhổ một hạt cỏ khô lên xem, rồi cuối cùng, khi thấy Ogion không nói gì thêm, cậu liền hỏi: “Thưa thầy, nó dùng làm gì ạ?”
“Theo như ta biết thì nó chẳng có ích gì cả.”
Ged cầm hạt cỏ một lát trong khi họ đi tiếp, rồi ném nó đi.
“Khi con đã nhận ra được cây cỏ bốn lá trong mọi mùa, từ rễ cho đến lá cho đến hoa, qua hình dạng, mùi vị và hạt của nó, thì con sẽ biết được tên thật của nó: điều đó còn quan trọng hơn cả ích lợi của nó. Con hãy tự hỏi mà xem, ích lợi của con là gì? Hay của bản thân ta là gì? Núi Gont có ích lợi gì? Đại dương có ích lợi gì?” Ogion đi tiếp khoảng nửa dặm nữa, rồi cuối cùng kết luận: “Để lắng nghe, người ta phải biết im lặng.”
Ged nhíu mày. Cậu không thích bị người khác làm cho mình cảm thấy như một thằng ngốc. Cậu giữ kín mọi nỗi bực bội và sự sốt ruột của mình, cố tỏ ra ngoan ngoãn, để rồi rốt cuộc Ogion sẽ phải dạy cho cậu một điều gì đó. Bởi vì cậu khao khát được học hỏi, khao khát có được sức mạnh. Nhưng dần dần cậu thấy rằng có khi mình còn học được nhiều hơn nếu đi với bất kỳ người thu nhặt thảo mộc hay bất kỳ thầy phù thủy làng nào, và khi hai thầy trò đi vòng quanh quả núi về phía Tây, tiến vào những cánh rừng hoang vắng đằng sau xứ Wiss, càng ngày cậu càng băn khoăn không hiểu vị Pháp sư Ogion vĩ đại này có phép thuật gì mà lại được ca tụng đến vậy. Vì khi trời mưa, Ogion thậm chí cũng không hề dùng bùa chú mà bất kỳ người điều khiển thời tiết nào cũng biết để gạt cơn dông sang bên. Ở một vùng đất nơi đi đâu cũng gặp pháp sư như Gont hay Enlade, người ta có thể thấy một đám mây đen chậm rãi bay từ bên này sang bên kia, từ vùng này sang vùng kia, vì bị một lời thần chú đẩy đi, cho đến khi cuối cùng cũng ra đến biển, nơi nó có thể đổ mưa mà không bị ai quấy rầy. Nhưng Ogion thì cứ để mặc cho mưa rơi. Ông tìm một cây vả vòm lá rậm rạp và nằm xuống dưới gốc cây. Ged khom mình giữa những bụi cây nhỏ nước tong tong, ướt sũng và hậm hực, tự hỏi biết pháp thuật thì có gì tốt đẹp khi người ta quá khôn ngoan đến mức không muốn sử dụng nó, và ước gì mình đã theo học ông già điều khiển thời tiết ở dưới Thung lũng nọ, với ông ta thì ít ra cậu cũng được ngủ một cách khô ráo. Nhưng cậu không hề thổ lộ những ý nghĩ của mình. Cậu không nói một lời. Người thầy của cậu mỉm cười, và ngủ thiếp đi dưới làn mưa.
Khi ngày hội Hồi Dương sắp đến và những đợt tuyết dày đầu tiên bắt đầu rơi trên đỉnh núi Gont thì hai thầy trò về đến quê hương của Ogion, Re Albi. Đó là một thành phố nằm trên rìa những vách đá cao của Thác Nước, và tên nó có nghĩa là Tổ Chim Ưng. Từ trên thành phố người ta có thể nhìn được rất xa xuống bến cảng nằm sâu bên dưới và các tháp canh của Cảng Gont, nhìn thấy những con tàu ra vào của vịnh giữa hai Vách Vũ Trang, và xa xa ở phía Tây, ngang qua mặt biển, người ta có thể thấy những ngọn đồi xanh xanh của xứ Oranéa, hòn đảo nằm ở đầu phía Đông của Quần Đảo Nội địa.
Ngôi nhà của vị pháp sư, mặc dù khá rộng rãi và được xây dựng chắc chắn bằng những khúc gỗ lớn, với lò sưởi và ống khói chứ không phải chỉ là một đống lửa, cũng chẳng khác gì so với những căn lều của làng Thập Tổng Quán: tất cả chỉ có một phòng lớn, kèm thêm một cái chuồng dê xây ghép vào bên. Trên bức tường phía Tây của căn phòng có một góc thụt vào, và Ged nằm ngủ ở đây. Bên trên cái đệm rơm của cậu là một ô cửa sổ nhìn ra biển, nhưng thường thường các cánh cửa chớp đều đóng kín để chắn những cơn gió mạnh thổi đến từ phía Tây và phía Bắc suốt mùa đông. Ged trải qua mùa đông trong bóng tối ấm áp của căn nhà, lắng nghe tiếng mưa tuôn gió rít bên ngoài hay sự tĩnh lặng của tuyết rơi, học đọc và viết Sáu Trăm Cổ Ngữ Hardic. Cậu rất phấn khởi vì được học những từ ấy, bởi vì không có chúng thì có học các thần chú và bùa phép khác cũng chỉ là học vẹt, không đem lại sự thông thái thực sự cho ai hết. Tiếng Hardic là tiếng nói của xứ Archipelago, và mặc dù nó không có quyền phép gì hơn bất kỳ tiếng nói nào khác, nó lại bắt nguồn từ Cổ Ngữ, thứ ngôn ngữ được dùng để đặt tên thật cho tất cả mọi vật trên đời: và để hiểu được Cổ Ngữ thì phải hiểu được thứ chữ Run đã được viết ra khi những hòn đảo của thế giới mới nhô lên từ biển cả.
Thế nhưng vẫn không có điều kỳ diệu, không có phép màu nào xảy ra. Suốt mùa đông, không có gì khác ngoài những trang của cuốn sách Run dày cộp được lật giở, ngoài mưa và tuyết rơi; và Ogion sẽ quay về sau những chuyến du ngoạn trong các cánh rừng băng giá hay sau khi chăm nom đàn dê, giậm chân rũ sạch tuyết khỏi ủng, và im lặng ngồi xuống bên cạnh lò sưởi. Sự im lặng lắng nghe dài dằng dặc của vị pháp sư tràn ngập căn phòng, tràn ngập tâm trí Ged, cho đến khi có những lúc dường như cậu đã quên mất tiếng nói nghe như thế nào: và khi cuối cùng Ogion cũng lên tiếng thì như thể ngay lúc đó, lần đầu tiên, ông đã phát minh ra tiếng nói. Nhưng những điều ông nói lại chẳng quan trọng gì mà chỉ liên quan tới những chuyện giản dị như bánh mì, nước uống, thời tiết và nghỉ ngơi.
Khi mùa xuân đến, nhanh chóng và tươi sáng, Ogion thường sai Ged đi thu thập thảo mộc ở các đồng cỏ bên trên Re Albi, và bảo cậu muốn đi bao lâu tùy thích, cho cậu được tự do lang thang cả ngày bên những dòng suối được mưa đổ nước đầy ăm ắp, xuyên qua những cánh rừng và chạy nhảy trên các cánh đồng xanh tươi ẩm ướt dưới ánh mặt trời. Lần nào Ged cũng đi một cách vui vẻ, và ở bên ngoài cho đến khi trời tối; nhưng cậu không bao giờ quên các thứ thảo mộc. Cậu luôn để mắt tìm kiếm chúng, trong khi trèo đèo, lội suối thám hiểm, và luôn đem được về một vài thứ. Cậu tìm thấy một đồng cỏ nằm giữa hai dòng suối nơi một loại hoa tên là cỏ bạch thánh mọc dày, bởi vì thứ hoa này rất hiếm và được các thầy thuốc trả giá cao, ngày hôm sau cậu liền quay lại đó. Một người khác đã đến đó trước, một cô bé, cậu biết đó là con gái của vị Lãnh chúa già cả của Re Albi. Cậu sẽ chẳng đời nào thèm nói chuyện với cô ta, nhưng cô bé lại đến gần và thân mật chào: “Tôi biết cậu, cậu là Chim Cắt, học trò của ngài pháp sư. Ước gì cậu kể cho tôi nghe về pháp thuật!”
Ged cúi nhìn những bông hoa trắng đang chạm khẽ vào chiếc váy trắng của cô bé, mới đầu cậu thấy thẹn thùng, cau có và không đáp lại lấy một lời. Nhưng cô bé vẫn tiếp tục nói chuyện một cách cởi mở, vô tư lự và không chút ngượng nghịu đến nỗi dần dần cậu thấy thoải mái hơn. Đó là một cô bé khá cao, khoảng bằng tuổi cậu, da vàng vọt, gần như trắng; trong làng người ta đồn rằng mẹ cô đến từ Osskil hay một vùng đất xa xôi nào đó. Mái tóc dài buông xõa như một thác nước đen nhánh. Ged nghĩ cô bé thật xấu xí vô cùng, nhưng cậu lại muốn làm cô bé vui, muốn làm cô ngưỡng mộ mình, cái mong muốn mỗi lúc một mạnh lên trong khi hai đứa nói chuyện với nhau. Cô bé bắt cậu phải kể mọi chuyện về những điều cậu đã làm với màn sương mù để đánh bại bọn chiến binh Karg, và cô lắng nghe như thể cô hết sức kinh ngạc và khâm phục cậu, nhưng cô không thốt ra một lời khen nào. Chẳng mấy chốc cô đã lảng sang chuyện khác. “Cậu có gọi được các loài chim và thú đến với mình không?” Cô hỏi.
“Có chứ,” Ged đáp.
Cậu biết ở vách núi phía trên đồng cỏ có một tổ chim ưng, và liền triệu tập con chim bằng cách gọi tên thật của nó. Con chim bay tới, nhưng không chịu đậu lên cổ tay Ged, chắc hẳn là vì sự có mặt của cô gái kia. Nó rít lên, đôi cánh rộng có sọc đập mạnh trong không trung, rồi lại bay lên theo làn gió.
“Câu thần chú khiến con chim ưng phải bay đến ấy, cậu gọi là gì?”
“Thần chú Triệu tập.”
“Cậu có thể gọi được cả hồn người chết không?”
Cậu nghĩ cô ta hỏi như vậy chỉ để giễu cợt cậu, bởi vì con chim ưng đã không hoàn toàn tuân theo lời triệu tập của cậu. Cậu sẽ không chịu để cho cô ta chế giễu mình. “Tôi sẽ làm được, nếu tôi muốn,” cậu bình thản nói.
“Chẳng phải gọi hồn là một việc rất khó và rất nguy hiểm hay sao?”
“Đúng là rất khó khăn. Nhưng còn nguy hiểm ư?” Cậu nhún vai.
Lần này thì cậu gần như chắc chắn là trong mắt cô bé có vẻ ngưỡng mộ.
“Cậu có biết làm bùa tình yêu không?”
“Cái đó thì chẳng có gì khó cả.”
“Đúng vậy,” cô ta nói, “bà phù thủy làng nào cũng làm được điều đó. Nhưng cậu có biết làm phép Biến hóa không? Cậu có thay đổi được hình dạng của mình như người ta nói là các pháp sư thường làm được không?”
Một lần nữa cậu lại không biết chắc cô ta có hỏi một cách giễu cợt hay không, nên cậu lại dùng câu trả lời: “Tôi sẽ làm được nếu tôi muốn.”
Cô ta liền nài nỉ cậu hãy biến thành một thứ gì cậu muốn - một con diều hâu, một con bò, một ngọn lửa, một cái cây. Cậu từ chối bằng những câu trả lời ngắn gọn bí hiểm như người thầy của cậu thường dùng, nhưng cậu không biết làm sao để thẳng thừng từ chối khi cô ta ngon ngọt dỗ dành mình; hơn nữa cậu cũng không rõ bản thân có tin vào những lời huênh hoang của chính mình hay không nữa. Cậu ra về, nói rằng vị pháp sư thầy mình đang đợi cậu ở nhà, và hôm sau cậu không quay lại cánh đồng đó nữa. Nhưng hôm sau nữa, cậu quay lại, tự nhủ là mình nên hái thêm hoa khi chúng vẫn còn đang nở. Cô bé đã có mặt ở đó, và hai đứa cùng bước chân trần qua mặt đất lầy lội um tùm cỏ, hái những bông cỏ bạch thánh nặng trĩu hoa. Vầng mặt trời mùa xuân đang tỏa sáng, và cô bé trò chuyện với Ged vui vẻ chẳng khác nào những cô bé chăn dê ở làng cũ của cậu. Cô lại hỏi cậu về chuyện phép thuật, và mở to mắt lắng nghe, nên cậu lại tiếp tục khoác lác. Rồi cô ta bảo cậu hãy làm phép Biến hóa, và khi cậu từ chối thì cô ta nhìn cậu, gạt mấy lọn tóc đen ra khỏi mặt, và nói: “Cậu sợ à?”
“Không, tôi không sợ.”
Cô ta mỉm cười với một thoáng khinh khỉnh rồi nói: “Có lẽ cậu còn nhỏ quá.”
Điều đó thì Ged không thể chịu được. Cậu không nói gì, nhưng quyết tâm sẽ chứng tỏ khả năng của mình với cô bé. Cậu bảo cô bé ngày mai hãy quay lại đồng cỏ này nếu cô muốn, rồi bỏ đi và quay về nhà khi thầy cậu vẫn còn chưa về. Cậu đi thẳng tới giá sách và lấy xuống hai cuốn sách Tri Thức, hai cuốn sách mà Ogion chưa bao giờ mở ra khi có mặt cậu.
Cậu tìm một lời thần chú để tự biến hình, nhưng vì vẫn chưa biết rõ các chữ Run cổ và không hiểu hết những gì mình đang đọc, cậu không thể thấy được điều mình cần tìm. Hai cuốn sách này đã cổ lắm rồi, Ogion được thừa hưởng chúng từ vị thầy của mình, Heleth Mắt Tinh, và Heleth lại thừa hưởng chúng từ thầy của mình, vị Pháp sư xứ Perregal, và cứ thế mãi cho đến tận thời hồng hoang. Chữ viết trong sách nhỏ và rất lạ, đã được không biết bao nhiêu bàn tay viết đè lên và gạch xóa, những bàn tay giờ đều đã trở thành cát bụi. Thỉnh thoảng, Ged cũng hiểu được một vài điều cậu đang cố đọc, chỗ này một chút, chỗ kia một chút, và vì những câu hỏi của cô bé và vẻ giễu cợt của cô ta luôn ám ảnh tâm trí cậu, cậu liền dừng lại ở một trang viết về lời thần chú triệu tập hồn người chết.
Trong khi cậu đọc lời thần chú ấy, cố hiểu từng chữ Run và từng ký hiệu, một nỗi kinh hoàng bỗng dâng lên trong cậu. Mắt cậu dán vào trang sách, cậu không thể rời mắt ra cho đến tận khi đọc xong toàn bộ câu thần chú.
Khi ngẩng đầu lên thì cậu thấy trong nhà đã tối. Cậu đã đọc mà không có chút ánh sáng nào, trong bóng tối dày đặc. Giờ khi cúi xuống cuốn sách, cậu không còn nhìn thấy những dòng chữ Run nữa. Nhưng nỗi kinh hoàng vẫn tiếp tục dâng lên, dường như đã trói chặt cậu vào chiếc ghế. Cậu thấy người lạnh ngắt. Khi ngoái đầu nhìn qua vai, cậu thấy có một vật gì đó đang thu mình nấp bên cánh cửa được đóng kín, một mảng bóng đen không hình thù còn tối hơn cả bóng tối. Hình như mảng tối ấy đang vươn về phía cậu, và thì thào, thì thào gọi cậu: nhưng cậu không thể hiểu lời nào.
Cánh cửa bật mở. Một người lao vào nhà với quầng sáng trắng lóa bao quanh mình, đó là một hình người sáng rực, đột ngột cất lên những tiếng kêu to và dữ dội. Bóng tối và những tiếng thì thào ngưng lại và biến mất.
Nỗi kinh hoàng buông tha Ged, nhưng cậu vẫn khiếp sợ thất thần, vì người đứng ở ngưỡng cửa kia chính là Pháp sư Ogion, với một quầng sáng quanh mình, và cây quyền trượng gỗ sồi trong tay ông cũng chói lòa.
Không nói một lời, vị pháp sư bước qua chỗ Ged ngồi, thắp đèn lên, và đặt hai cuốn sách trở lại giá. Rồi ông quay sang thằng bé và nói: “Con sẽ không bao giờ thực hiện được lời thần chú đó mà không đặt sức mạnh và mạng sống của con vào vòng nguy hiểm. Có phải con mở cuốn sách ra để tìm lời thần chú đó không?”
“Thưa thầy, không ạ,” thằng bé khẽ đáp, và một cách đầy hổ thẹn, cậu kể cho Ogion biết cậu muốn tìm điều gì, và tại sao.
“Con không nhớ ta đã bảo với con rằng mẹ của con bé đó, vợ của ngài Lãnh chúa, là một nữ pháp sư sao?”
Đúng là Ogion từng nói cho cậu biết điều này, nhưng khi ấy Ged không chú ý lắm, mặc dù bây giờ thì cậu đã hiểu rằng Ogion sẽ không bao giờ cho cậu biết điều gì nếu không có lý do chính đáng.
“Chính con bé ấy cũng đã có nửa phần là phù thủy rồi. Có thể chính mẹ nó đã sai nó đến bắt chuyện với con. Có thể chính bà ta đã mở cuốn sách ra ở cái trang con đã đọc. Bà ta phục vụ cho những quyền lực không giống như ta: ta không biết mục đích của bà ta là gì, nhưng ta biết bà ta muốn làm hại ta. Ged, hãy nghe ta đây. Con đã bao giờ nghĩ rằng quanh sức mạnh cũng có nhiều mối nguy hiểm như quanh ánh sáng có nhiều bóng tối chưa? Pháp thuật không phải là một trò chơi chúng ta biểu diễn để cho vui hay được khen ngợi. Hãy suy nghĩ điều này cho kỹ: mọi lời nói, mọi hành động trong Pháp thuật của chúng ta đều được thốt ra hay được thực hiện vì điều thiện hoặc điều ác. Trước khi nói hay làm điều gì con phải biết rõ cái giá phải trả!”
Bị nỗi hổ thẹn giằng xé, Ged kêu lên: “Nhưng làm sao con biết được những điều đó, khi mà thầy chẳng dạy cho con biết gì hết? Từ khi đến đây với thầy con chẳng làm được gì, chẳng thấy được điều gì...”
“Giờ thì con đã thấy được một điều rồi đấy,” vị pháp sư đáp lại. “Ở bên cánh cửa kia, trong bóng tối, lúc ta bước vào.”
Ged im lặng.
Ogion quỳ xuống và nhóm lửa trong lò, vì trong nhà rất lạnh. Rồi, vẫn quỳ như thế, ông nói bằng giọng nói nhẹ nhàng của mình: “Ged, con chim cắt non của ta, con không bị ràng buộc với ta hay phải phục vụ ta. Con không tìm đến với ta, mà chính ta đã tìm đến chỗ con. Con vẫn còn quá trẻ để quyết định điều này, nhưng ta không thể quyết định thay con được. Nếu con muốn, ta sẽ đưa con đến Đảo Roke, ở đó người ta dạy tất cả các pháp thuật cao cường. Bất kỳ bùa phép nào con muốn học, con sẽ được học, bởi vì con có sức mạnh rất lớn. Lớn hơn cả lòng kiêu hãnh của con, ta hy vọng là vậy. Ta sẽ giữ con lại đây với ta, bởi vì ta có điều con còn thiếu, nhưng ta sẽ không giữ con lại trái với ý muốn của con. Giờ thì con hãy chọn đi, Re Albi hay là Roke.”
Ged đứng như trời trồng, lòng hoang mang. Cậu yêu kính vị pháp sư Ogion này, người đã chữa lành cho cậu chỉ bằng một cái chạm, người không một lần giận dữ: cậu yêu kính ông mà không hay biết, mãi cho đến tận lúc này. Cậu ngắm nhìn cây quyền trượng gỗ sồi dựng vào góc ống khói, nhớ lại ánh sáng rực rỡ của nó đã thiêu hủy điều xấu xa đến từ bóng tối, và cậu mong được ở lại với Ogion, mong được cùng ông lang thang xuyên rừng, đi thật xa, đi thật lâu, học cách im lặng để lắng nghe. Thế nhưng những khát khao khác trong cậu vẫn không chịu nằm yên, khát khao có được vinh quang, khát khao được hành động. Con đường dẫn đến pháp thuật của Ogion có vẻ rất dài, một đường hẻm hẻo lánh làm chậm bước chân, trong khi cậu có thể dong buồm trước gió biển thẳng tiến đến Biển Nội địa, đến với Đảo Thông Thái, nơi không khí sáng rực phép thần thông và vị Tổng pháp sư bước đi giữa những điều kỳ diệu.
“Thưa thầy,” cậu nói, “con sẽ đi đến Roke ạ.”
Vậy là mấy ngày sau, vào một buổi sáng mùa xuân rực rỡ nắng vàng, Ogion bước đi bên cạnh Ged, dẫn cậu xuống con đường dốc dài mười lăm dặm dẫn từ Thác Nước xuống Đại Cảng của đảo Gont. Ở cổng thành, giữa hai con rồng chạm khắc, các lính canh của thành Gont với những thanh gươm tuốt trần quỳ xuống đón chào vị pháp sư khi họ nhìn thấy ông. Họ biết ông rất rõ và tôn kính ông, không chỉ vì mệnh lệnh của Lãnh chúa mà còn vì sự tự nguyện của chính họ, bởi vì mười năm trước Ogion đã cứu thành phố thoát khỏi một cơn động đất đáng sợ đã xô đổ những ngọn tháp giàu có xuống mặt đất và làm nghẽn các con kênh của Vách Vũ Trang bằng tuyết lở. Ông đã cất tiếng nói với Núi Gont, xoa dịu nó, và đã làm các vách núi run rẩy của Thác Nước phải nằm im, như thể xoa dịu một con thú đang hoảng sợ. Ged đã được nghe kể về nó, và giờ đây, kinh ngạc khi thấy các lính canh vũ trang đầy mình quỳ xuống chào người thầy ít nói của mình, cậu nhớ lại chuyện đó. Cậu ngước lên nhìn vị pháp sư đã ngăn chặn cả một cơn động đất với vẻ gần như sợ sệt, nhưng gương mặt của Ogion vẫn bình thản như mọi khi.
Hai thầy trò bước xuống bến, ở đó vị Trưởng cảng vội vã chạy tới đón Ogion và hỏi xem ông ta có thể giúp được gì. Vị pháp sư cho ông ta biết, và ngay lập tức ông ta nói có một con tàu trên đường đến Biển Nội địa có thể nhận Ged làm hành khách. “Hoặc họ có thể nhận cậu bé làm người gọi gió,” ông ta nói, “nếu cậu ta biết làm. Họ chưa có người điều khiển thời tiết trên tàu.”
“Thằng bé có chút tài vặt với sương mù, nhưng gió biển thì không,” vị pháp sư đáp, nhẹ nhàng đặt tay lên vai Ged. “Đừng thử sức mình với đại dương và gió biển, Chim Cắt ạ; con vẫn chỉ là một chú bé đất liền mà thôi. Ngài Trưởng cảng, con tàu đó tên là gì?”
“Tàu Bóng Đen , đến từ quần đảo Andrades, hướng tới Thành Hort, đem theo lông thú và ngà voi. Một con tàu rất tốt, thưa Pháp sư Ogion.”
Khuôn mặt vị pháp sư tối sầm lại khi nghe thấy tên con tàu, nhưng ông chỉ nói: “Vậy cũng được. Chim Cắt, con hãy trao bức thư này cho vị Giám thị Trường Roke. Chúc con thuận buồm xuôi gió. Tạm biệt!”
Ông chỉ nói có vậy. Ông quay đi và bước thẳng lên con phố dẫn ra khỏi bến cảng. Ged rầu rĩ đứng lại đó và nhìn người thầy của mình đi khuất.
“Đi nào, chàng trai,” vị Trưởng cảng gọi, và dẫn cậu xuống bờ biển, nơi tàu Bóng Đen đang sẵn sàng nhổ neo.
Kể cũng lạ, trên một hòn đảo chỉ rộng có năm mươi dặm, trong một ngôi làng nằm dưới những vách đá muôn đời nhìn ra biển, một đứa trẻ có thể lớn lên mà không bao giờ đặt chân vào một con thuyền hay nhúng ngón tay xuống nước biển, nhưng sự thực là vậy. Nông dân, người chăn dê, chăn gia súc, thợ săn hay thợ thủ công, dù làm nghề gì thì người đất liền vẫn coi đại dương là một vương quốc mặn mòi thất thường, không liên quan gì đến họ. Ngôi làng chỉ cách làng của họ có hai ngày đi đường đã là một lãnh thổ khác hẳn, và hòn đảo nằm cách đảo của họ một ngày đi thuyền chỉ là một lời đồn thổi, là những ngọn núi xanh mờ nhạt nhìn thấy ngang qua mặt biển, không vững chãi như nền đất dưới chân họ.
Vì vậy, đối với Ged, vốn chưa bao giờ ra khỏi vùng núi cao, Cảng Gont là một nơi tuyệt vời và kỳ diệu, với những căn nhà và những ngọn tháp lớn xây bằng đá, bờ biển với cầu cảng, vịnh nhỏ, bến tàu đậu và chỗ thả neo, bến cảng nơi năm chục con tàu và thuyền sàn thấp đang nằm lắc lư bên bến, hoặc được kéo lên bờ nằm lật úp đợi sửa chữa, hoặc thả neo ở vũng đậu với các tấm buồm hạ xuống và những mái chèo được xếp lại, các thủy thủ hét gọi bằng những thứ tiếng lạ tai và phu khuân vác khom người vì nặng chạy đi chạy lại giữa đủ loại thùng, hộp, những cuộn thùng và hàng chồng mái chèo, những lái buôn râu ria xồm xoàm trong chiếc áo choàng lông khe khẽ bàn bạc với nhau trong khi bước đi trên lớp đá nhớp nháp bên trên mặt nước, những ngư dân đang dỡ mẻ cá mới đánh được ra khỏi lưới, thợ đóng thùng đập thình thịch và thợ đóng thuyền quai búa, người bán trai rao hàng và các thuyền trưởng hò la, và cách xa tất cả những thứ đó là vùng vịnh tĩnh lặng chan hòa ánh nắng. Mắt, tai và trí não hết sức bối rối, Ged đi theo vị Trưởng cảng xuống bến tàu rộng rãi nơi Bóng Đen thả neo, và vị Trưởng cảng dẫn cậu đến chỗ thuyền trưởng.
Không cần trình bày dài dòng, thuyền trưởng đã đồng ý chở Ged đến Roke ngay, vì đó chính là yêu cầu của vị pháp sư; và vị Trưởng cảng để thằng bé lại với ông ta. Thuyền trưởng tàu Bóng Đen là một người to béo, với chiếc áo choàng đỏ viền lông thú giống như áo của các thương nhân xứ Andrades. Ông ta không hề liếc nhìn Ged mà chỉ cất tiếng oang oang hỏi: “Cậu có biết điều khiển thời tiết không, chú bé?”
“Thưa, có ạ.”
“Cậu có biết gọi gió không?”
Cậu buộc phải thú nhận là cậu không thể, và sau khi nghe vậy thuyền trưởng liền bảo cậu hãy tìm một góc không làm vướng chân người khác và ngồi yên ở đó.
Giờ các tay chèo đang lên tàu, vì Bóng Đen phải ra đến vũng tàu trước khi trời tối, và giương buồm khi thủy triều rút lúc bình minh. Chẳng có chỗ nào không vướng chân cả, nhưng Ged cố trèo lên chỗ những kiện hàng được bao, buộc và phủ cẩn thận bằng da ở đuôi tàu, và ngồi ở đó ngắm nhìn mọi chuyện diễn ra. Các tay chèo, những người đàn ông vạm vỡ với cánh tay khổng lồ, nhẹ nhàng nhảy lên tàu trong khi phu khuân vác ầm ầm vần những thùng nước ra bến và xếp chúng gọn ghẽ bên dưới ghế chèo. Con tàu vững chãi đằm xuống nước vì chở nặng, nhưng vẫn bập bềnh theo làn sóng đang vỗ nhẹ vào bờ, sẵn sàng ra khơi. Rồi người lái tàu đứng vào chỗ của mình ở bên phải cột buồm phía đuôi tàu, mắt hướng về phía thuyền trưởng đang đứng trên một tấm ván bắc từ mạn vào chỗ mũi thuyền chạm nổi thành hình con Mãng Xà xứ Andrades. Thuyền trưởng gầm lên các mệnh lệnh của mình, và tàu Bóng Đen được tháo dây buộc, để cho hai con thuyền nhỏ hì hục kéo nó ra khỏi bến cảng. Rồi ông thuyền trưởng lại gầm lên: “Mở cửa chèo!” và các mái chèo lớn được rầm rầm kéo ra, mỗi bên mười lăm chiếc. Các tay chèo khom những tấm lưng khỏe mạnh trong khi một chú bé bên cạnh ông thuyền trưởng gõ nhịp trên một chiếc trống. Nhẹ nhàng như một con chim hải âu tung cánh, con tàu ra đi, và chẳng mấy chốc bỏ lại phía sau những tiếng ồn ào huyên náo của Thành. Họ ra đến vùng nước yên tĩnh ngoài vịnh, với đỉnh Núi nhô lên trắng xóa trước mặt, nom như đang lơ lửng trên bầu trời. Họ thả neo xuống tại một cái vũng nông ở mé khuất gió của Vách Vũ Trang, và con tàu đậu lại đó qua đêm.
Trong số bảy mươi người của thủy thủ đoàn, có nhiều người như Ged, vẫn còn rất trẻ, nhưng tất cả đều đã làm lễ Trưởng thành. Những chàng trai này thường gọi Ged đến cùng ăn uống với họ, và mặc dù có phần dữ dằn nhưng họ đều thân thiện, rất hay đùa tếu và trêu chọc. Dĩ nhiên họ đều gọi cậu là chú Chăn Dê, vì cậu là người đảo Gont, nhưng họ cũng không chọc ghẹo gì hơn. Ged cao và khỏe không kém gì các chàng trai mười lăm tuổi khác, và rất nhanh miệng đáp lại một lời khen hay một lời châm chọc; vì thế cậu dần dần hòa nhập với họ và thậm chí ngay trong đêm đầu tiên, đã sống như một người trong bọn và học tập công việc của họ. Điều này khiến những người chỉ huy tàu hài lòng, bởi vì trên tàu không có chỗ cho các hành khách lười biếng.
Thủy thủ đoàn ngủ trên sàn tàu trống trơn, đầy chật người, kiện hàng và các thứ dụng cụ, không có đủ chỗ nằm và cũng chẳng lấy gì làm thoải mái; nhưng đối với Ged thoải mái có là gì kia chứ? Đêm đó, cậu nằm giữa những cuộn da còn nguyên lông đến từ vùng đảo phía Bắc, ngắm nhìn những ngôi sao mùa xuân nhấp nháy bên trên mặt nước ở bến cảng và những chấm đèn vàng tí hon của Thành phố ở đuôi tàu, rồi ngủ thiếp đi và thức dậy sáng hôm sau, đầy phấn khởi. Thủy triều đã rút trước rạng đông. Họ nhổ neo và nhẹ nhàng chèo đưa con tàu ra khỏi hai Vách Vũ Trang. Khi mặt trời lên nhuộm đỏ Núi Gont sau lưng thì họ đã giương buồm và lướt trên mặt biển xứ Gont về hướng Tây Nam.
Ở giữa Barnisk và Torheven, họ gặp được luồng gió nhẹ thuận chiều, và đến ngày thứ hai thì họ nhìn thấy Havnor, Đảo Lớn, trái tim và tổ ấm của Archipelago. Suốt ba ngày liền họ nhìn thấy những ngọn đồi xanh của Havnor trong khi đi dọc bờ biển phía Đông của nó, nhưng họ không cập bến. Phải rất nhiều năm sau Ged mới đặt chân lên mảnh đất đó và được tận mắt ngắm những tòa tháp trắng của Đại Cảng Havnor nơi trung tâm thế giới.
Họ nghỉ lại một đêm ở cửa Kembermouth, cảng phía Bắc của đảo Way, nghỉ đêm tiếp theo tại một thành phố nhỏ nằm ở cửa ngõ Vịnh Felkway, và ngày hôm sau đi qua mũi O ở phía Bắc và đi vào Eo biển Ebavnor. Ở đây họ hạ buồm và dùng chèo, luôn luôn thấy một bên là đất liền, và luôn luôn ở trong tầm gọi của những con tàu khác, cả to lẫn nhỏ, tàu buôn và thương gia, có những chiếc từ vùng Ngoại Đảo vào, sau hàng năm trời rong ruổi, với các kiện hàng kỳ lạ, lại có những chiếc đi từ đảo này đến đảo khác trong vùng Biển Nội địa như những con chim sẻ. Họ để Havnor lại sau lưng và quay sang phía Nam, rời khỏi vùng eo biển đông đúc, dong buồm giữa hai hòn đảo tươi đẹp Ark và Ilien với những thành phố đầy tháp canh và nhà cửa san sát, để rồi xuyên qua màn mưa và luồng gió đang mỗi lúc một mạnh, bắt đầu đi ngang qua Biển Nội địa để đến Đảo Roke.
Đêm đó khi gió mạnh lên thành một cơn bão, họ hạ cả buồm lẫn cột xuống, và cả ngày hôm sau họ miệt mài chèo. Con tàu dài vững vàng trên sóng và can đảm tiến lên, nhưng người lái tàu đứng từ chỗ bánh lái dài phía đuôi tàu nhìn vào màn mưa tuôn rơi xuống mặt biển và chẳng thấy gì khác ngoài mưa. Họ đi về phía Tây Nam theo hướng chỉ của chiếc la bàn, biết rõ con tàu đi ra sao, nhưng không biết nó đang đi qua những vùng nước nào. Ged nghe thấy có người bàn tán về khoảng nước nông phía Bắc đảo Roke và Mỏm đá Borilous ở phía Đông; những người khác cãi lại rằng họ có thể đã bị lạc sang một hướng khác hẳn và hiện đang ở vùng biển trơ trọi phía Nam Kamery. Nhưng gió vẫn tiếp tục mạnh lên, xé toạc những ngọn sóng khổng lồ thành từng mảng bọt bay tứ tán, và họ tiếp tục chèo về phía Tây Nam với luồng gió gầm rít sau lưng. Các kíp chèo ngắn hơn, bởi vì công việc trở nên rất vất vả; những cậu trai trẻ hơn được phân công hai người một chèo, và Ged nhận phiên chèo của mình với những người khác như cậu đã làm kể từ khi họ rời Gont. Khi được nghỉ chèo thì họ lại tát nước, gió đã té rất nhiều nước biển lên thuyền. Vậy là họ luôn tay luôn chân giữa những con sóng chồm lên như những trái núi đầy sương khói dưới luồng gió, trong khi mưa đập mạnh lên lưng họ buốt giá, và tiếng trống giữ nhịp vẫn đều đều vang lên xuyên qua tiếng bão gầm thét tựa như tiếng tim đập.
Một người đến thế chỗ Ged ở ghế chèo và bảo cậu đi đến chỗ ông thuyền trưởng ở mũi tàu. Nước mưa nhỏ xuống từ gấu áo choàng của thuyền trưởng, nhưng ông đứng vững chãi như một thùng rượu trên boong tàu, và cúi xuống nhìn Ged, ông hỏi: “Cậu có làm cơn gió này dịu đi được không chàng trai?”
“Thưa, không ạ.”
“Cậu có biết điều khiển kim loại không?”
Ý ông là liệu Ged có thể khiến chiếc kim la bàn chỉ đường cho họ đến Roke được không, bắt nó chỉ hướng họ cần đi chứ không phải là hướng Bắc nữa. Pháp thuật này là bí mật của những Pháp sư Hàng hải, và một lần nữa Ged lại bắt buộc phải nói không.
“Thế thì,” ông thuyền trưởng gầm lên, át tiếng mưa và gió, “cậu sẽ phải tìm một con tàu khác chở cậu từ Thành Hort về Roke thôi. Giờ hẳn Roke đã nằm ở phía Tây của chúng ta rồi, và với tình trạng biển cả thế này thì chỉ có pháp thuật mới có thể đưa chúng ta đến đó. Chúng ta phải đi tiếp về phía Nam thôi.”
Ged không thích chuyện này, vì cậu đã được nghe các thủy thủ kể về Thành Hort, nghe nói rằng đó là một nơi không có luật pháp, đầy bọn buôn lậu xấu xa, ở đó người ta rất dễ bị bắt và bán làm nô lệ ở vùng Nam Hải. Cậu quay lại chỗ ghế chèo và lại tiếp tục gò lưng bên người đồng hành của mình, một chàng trai vạm vỡ người Andrades, lắng nghe tiếng trống giữ nhịp và nhìn chiếc đèn bão nhấp nhô nơi đuôi tàu, đốm sáng của nó chập chờn trước gió như bị tra tấn trong ánh chiều tà đẫm mưa. Đẩy những nhịp chèo nặng nhọc, Ged nhìn mãi về phía Tây. Và khi con tàu nhô cao trên một đợt sóng nhồi, trong thoáng chốc cậu bỗng nhìn thấy qua làn nước tối sẫm mờ mịt một tia sáng giữa các đám mây, như thể đó là ánh hoàng hôn cuối cùng: nhưng nó lại sáng rực chứ không đỏ.

Anh bạn cùng chèo với cậu không nhìn thấy ánh sáng đó, nhưng cậu vẫn reo gọi nó, Người lái tàu liền để mắt kiếm tìm nó với mỗi đợt sóng dâng cao, và khi Ged lại nhìn thấy nó thì ông cũng trông thấy, nhưng ông gào lên đáp lại rằng đó chỉ là mặt trời đang lớn mà thôi. Ged gọi một chàng trai đang tát nước đến thế chỗ cho cậu trên ghế chèo một lát, rồi tìm đường đến mũi tàu trên cái lối đi chật hẹp giữa hai hàng ghế, và túm lấy cái mũi thuyền chạm khắc để khỏi bị đánh bật ra khỏi tàu, cậu hét lên với ông thuyền trưởng: “Thuyền trưởng! Ánh sáng phía Tây đó chính là Đảo Roke đấy ạ!”
“Ta không thấy ánh sáng nào cả,” thuyền trường gầm lớn, nhưng ông chưa kịp dứt lời thì Ged đã vùng tay chỉ, và tất cả đều trông thấy một tia sáng lóe lên rõ ràng ở phía Tây, xuyên qua luồng gió dữ tợn và cơn cuồng nộ của biển khơi.
Không phải vì hành khách của mình, mà để cứu con tàu thoát khỏi sự đe dọa của cơn bão, ông thuyền trưởng ngay lập tức ra lệnh cho người lái tàu hướng về phía Tây, đi theo tia sáng ấy. Nhưng ông bảo Ged: “Chàng trai ạ, cậu nói như một Thuyền trưởng vậy, nhưng ta bảo cho mà biết, nếu cậu khiến chúng ta đi sai đường trong thời tiết như thế này thì ta sẽ ném cậu qua mạn tàu để cậu tự bơi đến Roke đấy!”
Giờ thì thay vì chạy trước cơn bão, họ lại phải chèo thuyền cắt ngang chiều gió thổi, và việc đó vô cùng vất vả: sóng biển liên tục xô vào mạn thuyền và đẩy nó về phía Nam, chệch khỏi đường đi mới, làm nó tròng trành và té nước vào đầy boong đến nỗi tất cả phải tát nước không ngừng, còn các tay chèo cũng phải chú ý vì sợ rằng khi họ khoát chèo lên khỏi mặt nước, con tàu đang tròng trành sẽ đẩy bật nó đi và khiến họ ngã nhào xuống giữa những chiếc ghế. Trong cơn bão, trời gần như tối, nhưng chốc chốc họ lại nhìn thấy ánh sáng ở phía Tây, đủ để giữ đúng đường đi, và vậy là họ lại tiếp tục tiến tới. Cuối cùng gió cũng dịu đi một chút, và ánh sáng lan tỏa trước mặt họ. Cả đoàn tiếp tục chèo, và họ xuyên qua cơn bão như đi qua một tấm màn, chỉ gạt chèo một cái là đã thoát khỏi cơn bão và đến được khoảng không gian quang đãng, nơi ánh hoàng hôn sáng rực trên trời và lấp lánh trên mặt biển. Vượt qua những ngọn sóng tung bọt trắng xóa, họ nhìn thấy một ngọn đồi tròn xanh cao nằm không xa lắm, và dưới chân đồi là một thành phố bên bờ vịnh nhỏ với những con thuyền đang nằm thả neo, tất cả đều yên bình.
Người lái tàu nghiêng mình trên mái chèo dài, quay đầu lại và gọi: “Thuyền trưởng! Đó là đất liền thật hay chỉ là phép ma thôi?”
“Cứ giữ cho tàu tiến thẳng đi, đồ đầu đất ngốc nghếch! Chèo đi, lũ nô lệ không xương sống kia! Đó là Vịnh Thwil và Đồi Roke đấy, tên ngốc nào cũng có thể thấy được! Chèo đi!”
Vậy là họ mệt mỏi chèo vào trong vịnh theo nhịp trống. Ở đó yên lặng đến nỗi họ có thể nghe thấy tiếng người lao xao trên bờ, tiếng chuông reo, và xa xa là tiếng gào thét của cơn bão. Mây đen vẫn vần vũ ở phía Bắc, Đông và Nam, cách hòn đảo chỉ khoảng một dặm. Nhưng bên trên đảo Roke, những ngôi sao đang lần lượt hiện ra trên bầu trời quang đãng và thanh bình.