
Ged đi theo con đường xuống núi, rời khỏi Re Albi trong bóng tối mùa đông khi mặt trời còn chưa mọc, và trước buổi trưa thì chàng đến được Bến cảng Gont. Ogion đã đưa cho chàng xà cạp, áo sơ mi và áo khoác bằng da và vải lanh của người dân xứ Gont, để thay cho những y phục xứ Osskil lộng lẫy của chàng, nhưng Ged vẫn giữ chiếc áo choàng lót lông thú đề phòng cho cuộc hành trình mùa đông của chàng. Với chiếc áo trên vai, trong tay không có gì khác ngoài cây quyền trượng sẫm màu cao ngang đầu mình, chàng đi đến bên Cổng Thành, và các lính canh đang uể oải đứng bên hai con rồng chạm khắc không phải nhìn đến lần thứ hai cũng biết chàng là một pháp sư. Họ dẹp các cây giáo của mình sang bên và để cho chàng đi qua mà không hỏi han gì, dõi mắt nhìn theo khi chàng đi xuống phố.
Trên cầu cảng và trong Lữ quán của hội Hàng Hải, chàng hỏi thăm xem có con tàu nào sắp lên đường về phía Bắc hay phía Tây để đến Enlad, Andrad hay Oranéa không. Tất cả đều trả lời không có con tàu nào sắp rời Cảng Gont cả vì lễ hội Hồi Dương đã gần kề, và ở hội Hàng Hải họ bảo chàng rằng ngay cả các thuyền đánh cá cũng không ra khỏi Vách Vũ Trang trong thứ thời tiết bất trắc này.
Họ mời chàng ở lại hội Hàng Hải ăn tối; một pháp sư hiếm khi phải lên tiếng yêu cầu để được phục vụ. Chàng ngồi đó giữa những phu khuân vác, những người đóng thuyền, những người điều khiển thời tiết, vui vẻ lắng nghe những lời trò chuyện ngắn gọn, chậm rãi bằng chất giọng Gont trầm trầm của họ. Chàng rất muốn được ở lại Gont, từ bỏ mọi phép thuật, mọi chuyến phiêu lưu, quên hết mọi quyền lực và mọi nỗi kinh hoàng, để được sống yên bình như bất kỳ người bình thường nào khác trên mảnh đất quê hương quen thuộc, thân thiết. Đó là mơ ước của chàng; nhưng mục đích của chàng lại khác hẳn. Sau khi biết không có con tàu nào sắp rời bến thì chàng không ở lại lâu trong Lữ quán hay trong thành bang. Chàng đi dọc theo bờ vịnh cho tới khi đến được ngôi làng nhỏ đầu tiên nằm ở phía Bắc Thành Gont, và ở đó chàng hỏi thăm các ngư dân cho đến khi tìm được một người có chiếc thuyền muốn bán.
Ngư dân đó là một ông già khắc khổ. Con thuyền của ông, dài mười hai bộ 6 và đóng bằng các tấm ván xếp chồng lên nhau, đã méo mó và rạn nứt đến nỗi gần như không còn chịu đựng nổi sóng gió nữa, nhưng ông ta vẫn đòi giá rất cao: một lời thần chú bảo vệ, đảm bảo cho những chuyến đi biển an toàn suốt một năm trời cho con thuyền của ông, cho bản thân ông và cả con trai của ông nữa. Bởi vì ngư dân xứ Gont không sợ gì hết, không sợ cả các pháp sư, họ chỉ sợ biển cả mà thôi.
Lời thần chú đi biển an toàn mà các ngư dân vùng Bắc Archipelago thường rất tin tưởng đó chẳng bao giờ cứu nổi một người khỏi gió bão hay sóng biển, nhưng nếu được thực hiện bởi một pháp sư có đôi chút hiểu biết về vùng biển địa phương, về cách đóng thuyền và các kỹ năng của một người thủy thủ, thì nó cũng đem lại cho ngư dân đó một bùa phép bảo vệ, giúp cho ông ta ngày ngày được an toàn. Ged thực hiện bùa phép ấy một cách cẩn thận và trung thực, loay hoay suốt cả đêm đó và ngày hôm sau, không bỏ qua điều gì, chắc chắn và nhẫn nại, mặc dù suốt thời gian đó đầu óc chàng luôn căng ra vì lo sợ và ý nghĩ của chàng không ngừng hướng về những con đường tăm tối, cố hình dung xem con quái vật bóng đen sẽ mò tìm chàng như thế nào, khi nào thì nó sẽ đến, và nó sẽ đến từ đâu. Khi bùa phép cho lão ngư đã được hoàn thành, chàng gần như kiệt sức. Đêm đó chàng ngủ lại trong lều của lão ngư trên một chiếc võng làm bằng ruột cá voi, và tảng sáng hôm sau tỉnh dậy thấy người mình bốc mùi chẳng khác nào một con cá trích khô, rồi chàng đi xuống bờ vịnh bên dưới Vách đá Bắc, nơi con thuyền mới của chàng đang đậu.
Chàng đẩy nó xuống mặt nước phẳng lặng gần bến đỗ, và ngay lập tức nước bắt đầu tràn vào lòng thuyền. Ged nhảy xuống thuyền nhẹ nhàng như một con mèo và bắt đầu sửa sang lại những tấm ván bị cong và những cái cọc đã mục nát, dùng cả các dụng cụ thông thường lẫn pháp thuật, như chàng từng giúp Pechvarry ở thành Torning Hạ trước kia. Người dân trong làng lặng lẽ kéo đến, không quá gần, để ngắm bàn tay thoăn thoắt và nghe giọng đọc thần chú nhẹ nhàng của chàng. Cả việc này chàng cũng làm hết sức cẩn thận và nhẫn nại cho tới khi tất cả đều được hoàn thành và con thuyền đã được sửa lại lành lặn, chắc chắn. Rồi chàng dùng cây quyền trượng mà Ogion đã đẽo cho làm cột buồm, giữ cho nó đứng vững bằng thần chú, và buộc ngang cây cột một trục căng buồm bằng gỗ cứng. Từ trục này, chàng dùng thần chú dệt nên một tấm buồm trên chiếc khung cửi của gió biển, một tấm buồm vuông trắng như tuyết ở đỉnh núi Gont trên đầu họ. Nhìn thấy tấm buồm ấy, cánh phụ nữ đang đứng xem thở dài ghen tị. Rồi Ged đến đứng bên cột buồm và nổi lên một ngọn gió thần nhè nhẹ. Con thuyền lướt trên mặt nước tiến ra khơi, ngang qua vùng vịnh rộng lớn, quay về phía Vách Vũ Trang. Khi đám ngư dân trên bờ đang im lặng đứng xem nhìn thấy con thuyền nhỏ bé, vá víu đó lướt theo ngọn gió thổi căng buồm, nhẹ nhàng và nhanh nhẹn như một con chim lội 7 cất cánh bay lên, họ liền reo hò, toét miệng cười và giậm chân trong làn gió lạnh trên bờ biển; và khi Ged thoáng quay đầu nhìn lại thì thấy họ vẫn đứng đó hoan hô chàng, dưới khối đá khổng lồ đen sì, lởm chởm của Vách Bắc, nơi các thảo nguyên đầy tuyết của ngọn Núi nhô lên khuất vào những đám mây.
Chàng lái thuyền ngang qua vịnh và ra khỏi Vách Vũ Trang để đi vào Biển Gont, rồi hướng về phía Tây Bắc để đi qua vùng Bắc đảo Oranéa, trở về đúng đường mình đã đi khi trước. Chàng không có kế hoạch hay phương kế gì, chỉ biết trở lại con đường cũ của mình mà thôi. Con quái vật bóng đen đang bám theo đường bay xuyên qua nắng gió từ đảo Osskil của chàng khi chàng vẫn còn mang hình dạng chim ưng, và nó có thể đi đường vòng hoặc đi đường thẳng, không có cách nào để biết chắc được. Nhưng dù gì đi chăng nữa thì nó cũng không thể không nhìn thấy Ged đang thẳng tiến qua mặt biển mênh mông để tới tìm gặp nó, trừ phi nó đã rút lui hoàn toàn vào lãnh địa của những giấc mơ.
Chàng mong được đối đầu với nó trên biển, nếu quả thực chàng phải đối đầu với nó. Mặc dù không chắc chắn tại sao nhưng chàng khiếp sợ khi nghĩ đến việc sẽ phải gặp con quái vật đó trên đất liền khô ráo. Trên biển có bão tố và thủy quái, nhưng không có quyền năng xấu xa nào: sự xấu xa chỉ tồn tại trên mặt đất. Và trong vùng đất tối tăm nơi Ged từng đến đó không có biển, không có một dòng sông hay con suối nào hết. Cái chết tồn tại ở nơi khô cạn ấy. Tuy trong tiết trời mùa đông khắc nghiệt này biển cả đối với chàng là một mối hiểm nguy, chàng lại thấy mối hiểm nguy đó, sự đổi thay và không vững vàng của nó giống như một cơ may, một món vũ khí phòng thủ. Chàng tự nhủ, khi cuộc phiêu lưu mạo hiểm điên rồ này đi đến đoạn kết và chàng phải đối mặt với con quái vật bóng đen, có lẽ ít nhất chàng cũng có thể túm được con quái vật ấy ngay khi nó có thể túm lấy chàng, dùng sức nặng của cơ thể mình, dùng sức nặng của cái chết của chính mình, kéo nó xuống đáy đại dương sâu thẳm, và giữ nó ở đó để nó không thể trỗi dậy được nữa. Như vậy thì ít ra cái chết của chàng cũng sẽ đặt dấu chấm hết cho con quái vật mà chàng đã thả ra khi còn sống.
Chàng lái thuyền đi trên mặt biển sóng gió dập dềnh, trên đầu là những đám mây nặng trĩu tản mác thành từng mảng lớn ảm đạm. Chàng không dùng gió thần nữa mà để mặc cho thuyền trôi theo ngọn gió thường lạnh buốt thổi từ phía Tây Bắc đến; chốc chốc chàng lại đọc một lời thần chú để giữ vững tấm buồm pháp thuật của mình, khiến nó tự căng ra và xoay mình đón hướng gió. Nếu không dùng bùa phép thì có lẽ chàng sẽ phải rất vất vả mới giữ nổi con thuyền nhỏ ọp ẹp đi đúng hướng trên mặt biển đầy sóng gió ấy. Chàng tiếp tục đi tới, luôn để mắt canh chừng tứ phía. Bà vợ của lão ngư đã cho chàng hai ổ bánh mì cùng một bình nước, và sau vài giờ, khi đã nhìn thấy Mỏm đá Kameber, hòn đảo duy nhất nằm giữa Gont và Oranéa, chàng nghỉ lại để ăn uống, thầm biết ơn người phụ nữ xứ Gont ít lời đã cho chàng thức ăn. Rồi chàng lại đi tiếp, giờ hướng về phía Tây nhiều hơn, vượt qua vùng đất liền lờ mờ phía xa, dưới một màn mưa bụi lất phất ẩm ướt mà trên đất liền thì có lẽ sẽ biến thành tuyết. Không có một tiếng động nào ngoài tiếng kẽo kẹt của ván thuyền và tiếng sóng vỗ nhè nhẹ vào mạn thuyền. Không một con thuyền hay một cánh chim nào khác xuất hiện. Không có gì chuyển động ngoại trừ mặt nước vốn không bao giờ đứng yên và những đám mây đang lững lờ trôi, những đám mây mà chàng lờ mờ nhớ là đã bay quanh mình khi chàng, trong hình thù của con chim ưng, bay về hướng Đông trên chính con đường mà giờ chàng đang đi theo hướng ngược lại; và khi ấy chàng đã nhìn xuống mặt biển xám bên dưới cũng như giờ đây chàng ngước lên nhìn bầu trời xám trên đầu.
Không có gì ở xa hơn phía trước khi nhìn quanh. Chàng đứng dậy, lạnh cóng, mệt mỏi vì cứ phải nhìn mãi vào không gian u ám. “Lại đây,” chàng lẩm bẩm, “lại đây đi nào, mi còn đợi gì nữa hả Bóng đen kia?” Không có tiếng đáp lại, không có bóng tối nào chuyển động giữa màn sương và những con sóng mù mịt. Thế nhưng bây giờ chàng đã biết, mỗi lúc một chắc chắn hơn, rằng con quái vật đó không còn ở xa nữa, rằng nó đang mò mẫm bám theo dấu vết mờ mịt của chàng. Và bất thình lình chàng hét to lên: “Ta đang ở đây, ta, Ged Chim Cắt, và ta triệu tập mi, hỡi Bóng đen của ta!”
Con thuyền kẽo kẹt, sóng rì rào, gió khẽ rít lên trên cánh buồm trắng. Thời gian trôi qua. Ged vẫn chờ đợi, một tay nắm chặt chiếc cột buồm bằng gỗ thủy tùng, mắt nhìn không chớp vào màn mưa bụi giá buốt đang kéo đến từ phía Bắc và chầm chậm đổ xuống thành những đường xiên tả tơi. Thời gian trôi qua. Thế rồi, xa tít trong màn mưa trên mặt biển, chàng thấy con quái vật bóng đen mò tới.
Nó đã vứt bỏ thân xác của Skiorh, gã chèo thuyền người Osskil, không bám theo chàng qua gió mưa và trên biển cả trong hình thù của một tên âm binh nữa. Nó cũng không mang hình dạng của con quái vật mà chàng đã nhìn thấy trên Đồi Roke và trong những cơn ác mộng của mình. Thế nhưng giờ đây nó đã có một hình thù, ngay cả dưới ánh sáng ban ngày. Trong cuộc rượt đuổi Ged và trong trận chiến với chàng trên vùng đồng hoang, nó đã hút được một phần sức mạnh của chàng, lấy sức mạnh ấy làm của riêng mình: và có thể chính vì chàng đã triệu tập nó đến, giữa lúc thanh thiên bạch nhật này, nên đã trao cho nó, hoặc bắt buộc nó phải có một hình dạng bên ngoài. Quả vậy, giờ đây trông nó hơi có vẻ giống người, nhưng vì là một bóng đen nên nó không có cái bóng của riêng mình. Nó tiến đến, ngang qua mặt biển, vượt Cửa Enlad đến chỗ Ged, chỉ là một hình thù dị dạng mờ mịt bước đi một cách khó khăn trên ngọn sóng, cố đưa mắt nhìn theo chiều gió; và cơn mưa lạnh giá đổ xuống xuyên qua nó.
Vì nó đã bị ánh sáng ban ngày che mờ mắt, và vì chàng đã gọi nó đến, nên Ged nhìn thấy nó trước khi nó nhìn thấy chàng. Chàng nhận ra nó, cũng như nó nhận ra chàng giữa mọi sinh vật, mọi bóng đen khác.
Giữa sự hiu quạnh khủng khiếp của mặt biển mùa đông, Ged đứng đó và nhìn con quái vật mà chàng vẫn khiếp sợ. Dường như gió đang thổi nó đi xa khỏi con thuyền, và làn sóng bập bềnh dưới chân nó khiến chàng rối mắt, và đôi lúc dường như nó lại có vẻ tiến đến gần chàng hơn. Chàng không thể nói chắc là nó có chuyển động hay không. Nhưng giờ thì nó đã nhìn thấy chàng. Mặc dù trong đầu chàng không còn gì khác ngoài nỗi kinh hoàng và khiếp sợ sẽ bị nó đụng vào, khiếp sợ cái đau buốt giá hiểm độc mà nó gây ra, cái đau sẽ rút hết sức lực của chàng, nhưng chàng vẫn đứng im phăng phắc, chờ đợi. Rồi bất thình lình, chàng cất tiếng gọi ngọn gió thần đột ngột thổi mạnh vào cánh buồm trắng của mình, và con thuyền của chàng lướt trên làn sóng xám xịt thẳng tiến đến chỗ con quái vật bóng đen đang nương theo làn gió.
Trong sự yên lặng như tờ, con quái vật bóng đen có vẻ nao núng, rồi nó quay người và bỏ chạy.
Nó chạy ngược chiều gió về phía Bắc. Con thuyền của Ged cũng đuổi theo ngược chiều gió, tốc độ của con quái vật bóng đen đối lại với phép thuật của chàng pháp sư, và cơn mưa tạt vào cả hai. Chàng trai hét lên ra lệnh cho con thuyền, cho tấm buồm, cho ngọn gió và làn sóng trước mặt, tựa như một thợ săn thúc giục đàn chó của mình đuổi theo con sói đang chạy phía trước ngay trong tầm mắt. Chàng thổi vào tấm buồm thần của mình một ngọn gió có thể xé toạc bất kỳ tấm buồm bằng vải thường nào, nó đẩy con thuyền của chàng chạy băng băng trên sóng chẳng khác nào một trận bão đầy bọt biển, càng lúc càng tiến gần hơn tới con quái vật đang tháo chạy kia.
Giờ đây con quái vật bóng đen đã xoay theo hình bán nguyệt, và đột nhiên lại có vẻ mơ hồ, mờ nhạt đi, không còn giống người nữa mà chỉ như một làn khói bị gió thổi bay, rồi nó quay ngoắt lại và lao theo chiều gió như thể định chạy về đảo Gont.
Dùng cả tay lẫn pháp thuật, Ged cũng quay con thuyền của mình lại, cú xoay đầu đột ngột khiến nó tròng trành rồi lao lên như một con cá heo giỡn sóng. Chàng đuổi theo còn nhanh hơn trước, nhưng con quái vật bóng đen đang càng lúc càng mờ đi trước mắt chàng. Mưa lẫn với mưa đá và tuyết xuyên vào lưng, vào má trái chàng đau rát, và chàng không thể nhìn xa hơn một trăm thước trước mặt mình. Chẳng mấy chốc cơn bão mạnh lên và con quái vật biến mất hẳn khỏi tầm mắt của chàng. Nhưng Ged vẫn biết chắc đường đi của nó, như thể chàng đang đi theo dấu vết của một con thú dữ để lại trên tuyết chứ không phải là một bóng ma đang lướt trên mặt biển. Mặc dù gió đang thuận chiều, chàng vẫn giữ cho ngọn gió thần thổi vào buồm, và bọt nước bắn tóe ra từ cái mũi tàu tròn trong khi nó xé sóng lướt tới trước.
Cứ thế, người đi săn cũng như kẻ bị săn đuổi tiếp tục cuộc rượt bắt lạ lùng, nhanh như chớp ấy, trong khi trời tối đi nhanh chóng. Ged biết rằng với tốc độ của mình trong mấy giờ vừa qua, lúc này hẳn chàng phải đang ở phía Nam đảo Gont, và đang đi qua nó về hướng Spevy hoặc Torheven, hoặc thậm chí đi qua cả những hòn đảo đó về phía vùng Biển mênh mông. Chàng không thể biết chắc được. Chàng không quan tâm. Chàng đang săn lùng, chàng đang đuổi theo, và nỗi khiếp sợ đang chạy trước mặt chàng.
Thế rồi bất thình lình, trong thoáng chốc, chàng nhìn thấy bóng đen trước mặt mình, không xa lắm. Ngọn gió thường đã bắt đầu dịu đi, và cơn mưa tuyết dữ dội đã biến thành một màn sương mù lạnh buốt, rời rạc nhưng đang dày lên. Qua màn sương ấy chàng thoáng nhìn thấy con quái vật bóng đen đang chạy ở đâu đó bên phải mình. Chàng lên tiếng ra lệnh cho ngọn gió và tấm buồm, rồi quay bánh lái và tiếp tục đuổi theo, nhưng đó vẫn là một cuộc rượt đuổi mù quáng: sương mù đang dày lên rất nhanh, cuồn cuộn và tan tác ra khi bị ngọn gió thần thổi vào, hạ xuống vây lấy con thuyền làm thành một tấm màn nhợt nhạt không có hình thù, chắn hết ánh sáng và mọi cảnh vật xung quanh. Ngay khi Ged mở miệng đọc lời thần chú làm cho quang đãng, chàng lại nhìn thấy con quái vật bóng đen, vẫn ở bên phải chàng nhưng giờ đã gần hơn rất nhiều, và đang đi chậm lại. Sương thổi xuyên qua cái đầu lờ mờ không có mặt mũi của nó, nhưng nó vẫn mang hình dáng người, chỉ có điều dị dạng hơn và luôn luôn biến đổi, giống như cái bóng của con người vậy. Ged lại quay thuyền sang bên phải, tưởng rằng chàng đã đuổi kẻ địch của mình đến tận đất liền: nhưng đúng lúc đó thì nó biến mất, và chính con thuyền của chàng lại bị mắc cạn, đâm sầm vào những tảng đá trong một cái vũng cạn mà chàng không nhìn thấy được vì màn sương mù dày đặc. Chàng suýt nữa bị ném ra khỏi thuyền, nhưng kịp túm được cây quyền trượng làm cột buồm trước khi đợt sóng vỗ bờ tiếp theo kéo tới. Đó là một đợt sóng rất mạnh, nó đẩy con thuyền nhỏ ra khỏi mặt nước và đập nó vào một tảng đá, như một người nhấc một cái vỏ ốc sên lên và giẫm nát.
Cây quyền trượng mà Ogion đã đẽo gọt cho chàng quả là chắc chắn và đầy pháp thuật. Nó không hề bị gẫy mà vẫn tiếp tục lướt trên mặt nước như một khúc gỗ khô. Ged vẫn bám chặt vào nó khi bị kéo lui về phía sau vào vùng nước sâu khi đợt sóng vỗ bờ rút xuống từ cái vũng cạn, nhờ vậy mà chàng không bị đập vào những tảng đá, cho tới khi đợt sóng tiếp theo kéo tới. Bị nước biển phả vào mờ cả mắt, ho sặc sụa, chàng cố giữ cho đầu mình không bị ngụp xuống nước trong khi phải cưỡng lại lực kéo khủng khiếp của biển cả. Khi cố bơi ra xa tránh con sóng vỗ bờ đang dồn đến, một đôi lần chàng thoáng nhìn thấy một bãi cát nhỏ cách mấy tảng đá một quãng. Gom hết sức lực, cộng thêm sự hỗ trợ của cây quyền trượng, chàng vùng vẫy gắng bơi đến bãi cát đó. Chàng không tiến đến gần hơn được. Từng đợt sóng cồn lúc dâng lên lúc hạ xuống xô đẩy chàng như một mảnh giẻ rách, và cái lạnh buốt xương của biển sâu đang nhanh chóng rút hết mọi hơi ấm trong người chàng, làm cho chàng mỗi lúc một yếu đi cho đến khi chàng không cử động nổi hai cánh tay nữa. Chàng không còn nhìn thấy cả bãi biển lẫn đống đá, và không biết mình đang quay về hướng nào. Khắp xung quanh chàng chỉ có sóng biển vỗ ầm ầm, dưới chân chàng, trên đầu chàng, làm mờ mắt chàng, khiến chàng ngạt thở, và nhấn chìm chàng.
Một con sóng dâng lên dưới màn sương mù tả tơi cuốn lấy chàng, đẩy chàng lăn tròn hết lần này đến lần khác, rồi ném chàng lên bờ cát như một cành củi trôi dạt.
Chàng nằm đó. Cả hai tay chàng vẫn nắm chặt cây quyền trượng bằng gỗ thủy tùng. Những đợt sóng yếu hơn cố kéo chàng từ trên bãi cát xuống nước khi chúng rút xuống, trong khi lớp sương mù lúc tan ra lúc tụ lại trên đầu chàng, và lát sau, một cơn mưa tuyết đổ xuống người chàng.
Phải mất một lúc lâu chàng mới nhúc nhích được. Chàng chống tay và đầu gối để ngồi dậy, rồi bắt đầu chậm chạp bò lên bãi cát, tránh xa khỏi mép nước. Xung quanh chàng giờ đã tối om, nhưng chàng khẽ đọc một lời thần chú, và ngay lập tức một đốm lân tinh lóe lên trên đầu cây quyền trượng. Nhờ ánh sáng ấy soi đường chàng khó nhọc bước từng bước một về phía các đụn cát. Chàng đã kiệt sức, ê ẩm và cóng lạnh đến nỗi chuyện bò qua bãi cát ướt trong bóng tối đầy tiếng gió bão và sóng biển ấy cũng chẳng khác nào công việc vất vả nhất mà chàng từng phải làm trong đời. Có lúc chàng có cảm tưởng như tiếng sóng vỗ và gió rít đã im bặt, lớp cát ướt biến thành đất bụi dưới hai tay mình và những ngôi sao xa lạ tỏa sáng lên lưng mình: nhưng chàng không ngẩng đầu lên mà cứ bò tiếp, và một lát sau chàng lại nghe thấy tiếng thở hổn hển của chính mình, và lại cảm thấy cơn gió lạnh ngắt tạt mưa vào mặt.
Cuối cùng, cử động cũng khiến chàng thấy ấm hơn một chút, và khi lên đến chỗ các đụn cát, nơi luồng mưa gió có dịu đi đôi phần, chàng đã đứng dậy được. Chàng ra lệnh cho cây quyền trượng tỏa sáng mạnh hơn, bởi vì khắp bốn bề đều tối đen như mực, rồi chàng tựa vào cây quyền trượng loạng choạng và chậm chạp đi tiếp khoảng nửa dặm về phía đất liền. Lên đến đỉnh một đụn cát, chàng lại nghe thấy tiếng sóng vỗ to hơn, không phải sau lưng chàng mà là trước mặt: các đụn cát lại dốc xuống thành một bờ biển khác. Nơi chàng đang đứng không phải là một hòn đảo mà chỉ là một vỉa đá, một dải cát nằm giữa đại dương mênh mông.
Chàng đã quá mệt đến nỗi không còn thấy tuyệt vọng được nữa, tuy vậy chàng buột ra một tiếng nức nở và dựa vào cây quyền trượng, ngơ ngác đứng đó một lúc lâu. Rồi, chàng bướng bỉnh quay sang bên trái, để ít ra như vậy thì gió cũng chỉ thổi vào lưng mình, và tiếp tục lê bước xuống dưới đụn cát cao, tìm chỗ trú chân trong một cái hốc nào đó giữa đám cỏ đang uốn cong trong gió, ngọn đóng đầy băng. Khi giơ cây quyền trượng lên cao để xem trước mặt mình có gì, chàng thoáng nhìn thấy một cái gì đó mờ tỏ ở bên rìa của quầng sáng lân tinh: một bức tường bằng gỗ ướt nước mưa.
Đó là một căn lều hoặc một cái kho, nhỏ xíu và ọp ẹp như thể được xây bởi bàn tay con trẻ. Ged dùng cây quyền trượng gõ lên cánh cửa thấp. Cửa vẫn đóng im ỉm. Ged liền đẩy cửa ra và gần như phải gập đôi người lại để bước vào. Chàng không thể đứng thẳng bên trong căn lều được. Những viên than đỏ hồng trong lò lửa, và trong ánh sáng lờ mờ do chúng tỏa ra, Ged nhìn thấy một người đàn ông với mái tóc dài bạc trắng đang sợ hãi co rúm lại nép vào bức tường đằng xa, và một người khác, mà chàng không biết là nam hay nữ, đang hé mắt nhìn qua một đống giẻ hay da thú trên sàn.
“Tôi sẽ không làm hại các vị đâu,” Ged khẽ nói.
Họ không nói gì. Chàng nhìn từ người này sang người khác. Mắt họ thất thần vì sợ hãi. Khi chàng đặt cây quyền trượng xuống, người nằm dưới đống giẻ liền chúi đầu xuống rên rỉ. Ged bỏ chiếc áo choàng ướt sũng vì nước biển và băng giá ra, cởi hết quần áo rồi co mình ngồi bên lò lửa. “Cho tôi mượn cái gì đó để khoác tạm,” chàng nói. Giọng chàng khản đặc, răng chàng đánh vào nhau lập cập và người chàng run lẩy bẩy đến nỗi chàng gần như không nói nổi. Nhưng nếu họ có nghe thấy chàng thì cũng chẳng ai trong hai con người già cả kia đáp lại. Chàng với tay lấy một mảnh giẻ từ đống giẻ dùng làm giường kia - trước kia có lẽ nó từng là một tấm da dê, nhưng giờ thì đã tả tơi và đen sì dầu mỡ. Người nằm dưới đống giẻ dùng làm giường đó rên lên vì sợ, nhưng Ged không chú ý tới. Chàng lau khô người rồi thì thào: “Ông có củi không? Hãy cời lửa cho to lên một chút, cụ ạ. Tôi đến đây vì cần được giúp đỡ, tôi không muốn làm hại các vị đâu.”
Ông già không nhúc nhích, sợ hãi đờ đẫn nhìn chàng.
“Ông có hiểu tôi nói gì không? Ông có biết nói tiếng Hardic không?” Ged dừng lại một lát, rồi hỏi, “Kargad?”
Nghe thấy từ ấy, ông già kia đột ngột gật đầu, chỉ một cái thôi, tựa như một con rối già ủ rũ bị giật dây vậy. Nhưng vì đó là từ tiếng Kang duy nhất mà Ged biết, cuộc trò chuyện của họ cũng kết thúc tại đó. Chàng tìm thấy một đống củi xếp tựa vào một bức tường, tự mình nhóm lửa, rồi ra dấu hỏi xin một ít nước, vì nước biển mặn khiến chàng lợm giọng và giờ chàng băn khoăn không biết mình đang ở đâu. Ngay cả với ngọn gió thần thì chàng cũng không thể đi tới tận xứ Kargad được. Hẳn hòn đảo này nằm ngoài vùng Biển, phía Đông đảo Gont nhưng vẫn ở phía Tây của đảo Karego-At. Kể cũng lạ là ở một nơi nhỏ bé, trơ trọi, một dải cát đơn độc giữa biển thế này mà cũng có người ở; có thể họ là người bị đắm tàu; nhưng lúc này thì chàng đã quá mệt nên không còn muốn băn khoăn về họ nữa.
Chàng hơ chiếc áo choàng ra trước đống lửa. Lớp lông thú ánh bạc khô rất nhanh, và ngay khi lớp len lót đã ấm lên, mặc dù chưa khô hẳn, chàng liền quấn mình trong chiếc áo và nằm duỗi ra bên lò lửa. “Hãy ngủ đi, hỡi những người khốn khổ,” chàng nói với hai vị chủ nhà câm lặng của mình, ngả đầu xuống sàn nhà toàn cát, và ngủ thiếp đi.
Chàng ở lại trên hòn đảo không tên đó ba đêm liền, vì buổi sáng đầu tiên khi thức dậy mọi cơ bắp của chàng đều ê ẩm, người mệt nhoài và phát sốt. Suốt cả ngày và đêm đó, chàng nằm trong lều bên đống lửa như một khúc gỗ bị sóng đánh dạt vào bờ. Sáng hôm sau, khi thức dậy chàng vẫn thấy đau nhức và cứng đờ cả người, nhưng đã hết sốt. Vì ở đó không có đủ nước để giặt, nên chàng đành phải mặc lại bộ quần áo đóng đầy muối, và bước ra ngoài trong buổi sáng xám xịt lộng gió để nhìn xem con quái vật bóng đen đã lừa chàng đến nơi nào.
Đó là một dải cát đầy đá, chỗ rộng nhất ở bề ngang cũng chỉ có một dặm, và chiều dọc thì dài hơn một chút, viền quanh là các vũng cạn và những đống đá. Trên đó không có một bụi rậm hay một cái cây nào, ngoài thứ cỏ biển rạp xuống. Căn lều nằm ở một chỗ trũng giữa những đụn cát, và hai ông bà già sống đơn độc ở đó trong cảnh hiu quạnh tuyệt đối của biển khơi mênh mông. Căn lều được dựng, hay đúng hơn là được chồng đống từ các cành củi và các tấm ván bị sóng đánh dạt vào bờ. Họ lấy nước uống từ một cái giếng nước lợ bên cạnh căn lều; và thức ăn của họ là cá và tôm cua, hoặc tươi hoặc khô, cùng với rong biển. Những tấm da rách rưới trong lều, những chiếc kim khâu và lưỡi câu bằng xương, cùng các sợi gân dùng làm dây câu cá và gậy nhen lửa không phải là da và xương dê như Ged tưởng, mà là của giống hải cẩu đốm; và quả thực hải cẩu thường đưa con non của chúng đến những dải cát như thế này vào mùa hè. Nhưng ngoài hải cẩu ra thì không có ai đến nơi này nữa. Hai ông bà già khiếp sợ Ged không phải vì họ tưởng chàng là một hồn ma, cũng không phải vì chàng là một pháp sư, mà chỉ vì chàng là một con người. Họ đã quên mất rằng trên đời vẫn còn những con người khác.
Vẻ sợ sệt lầm lì của ông già không hề giảm đi chút nào. Khi ông ta nghĩ rằng Ged sắp đến đủ gần để chạm vào ông, ông liền tập tễnh bỏ đi, cau có liếc mắt ngoái nhìn sau lưng qua mớ tóc bạc bù xù bẩn thỉu. Còn bà già thì mới đầu vẫn rên rỉ và nấp vào đống giẻ của mình mỗi khi Ged cử động, nhưng khi chàng nằm trong căn lều tối tăm đó, mê man vì cơn sốt, chàng thấy bà ngồi xổm bên cạnh và nhìn chàng với một vẻ đờ đẫn và khát khao kỳ lạ; rồi một lát sau bà còn đem nước đến cho chàng uống. Khi chàng ngồi dậy để đón lấy chiếc vỏ ốc từ tay bà, bà lại hoảng lên và đánh rơi nó, làm nước đổ lênh láng hết cả, và bà òa khóc, rồi lấy mớ tóc bạc dài lau mắt.
Giờ bà lại quan sát khi chàng loay hoay dưới bãi biển, thu nhặt những mảnh ván từ con thuyền của chàng, đã bị sóng đánh dạt vào bờ, dùng chiếc rìu đá thô sơ của ông già và một lời thần chú liên kết để ghép chúng lại. Chàng không có đủ ván để sửa lại con thuyền hay đóng một con thuyền mới, và phải dùng pháp thuật để bù vào những gì mình còn thiếu. Thế nhưng bà già không quan sát công trình tuyệt tác của chàng mà lại quan sát chàng, vẫn với vẻ khát khao như vậy. Một lát sau bà ta bỏ đi, rồi quay lại với một mớ trai mà bà đã nhặt được trên các tảng đá. Ged ăn ngay khi bà đưa chúng cho chàng khi chúng vẫn còn sống và ướt nước biển, rồi cảm ơn bà. Có vẻ mạnh bạo hơn, bà đi vào lều và quay trở ra, lại mang theo một vật gì đó, một cái gói bọc trong một mảnh giẻ. Với vẻ rụt dè, mắt không rời khỏi mặt chàng, bà mở cái gói ra và giơ nó lên cho chàng thấy.
Đó là một chiếc váy trẻ con bằng lụa thêu kim tuyến và đính ngọc trai, loang lổ vết muối và đã ố vàng theo năm tháng. Trên thân áo, những hạt ngọc đính thành một hình mà Ged biết rõ: mũi tên hai đầu tượng trưng cho hai vị thần Huynh đệ của Vương quốc Kargad, bên trên là một chiếc vương miện.
Bà già nhăn nheo, bẩn thỉu, khoác một tấm da hải cẩu khâu vụng đó chỉ vào chiếc váy lụa nhỏ xíu rồi chỉ vào mình, và mỉm cười: một nụ cười dễ thương, không có chủ ý gì, như nụ cười của một đứa trẻ. Từ một nếp giấu khâu giữa gấu váy, bà lấy ra một vật nhỏ và đưa cho Ged. Đó là một mảnh kim loại sẫm màu, có lẽ là một mẩu trang sức vỡ, giống như nửa vòng tròn của một chiếc nhẫn đã gãy. Ged ngắm nhìn, nhưng bà ra hiệu cho chàng nhận lấy nó, và không chịu đi cho đến khi chàng đã cầm nó trong tay, rồi bà lại gật đầu và mỉm cười; bà đã trao cho chàng một món quà. Nhưng chiếc váy thì bà lại cẩn thận gói lại trong tấm giẻ đầy dầu mỡ, và bà tập tễnh quay trở lại căn lều để giấu vật đẹp đẽ ấy đi.
Ged cất mẩu nhẫn vỡ vào túi áo của mình cũng với vẻ trân trọng như vậy, vì trong tim chàng giờ tràn đầy nỗi thương cảm. Chàng đoán hai người này có lẽ là con một gia đình hoàng gia của Vương quốc Kargad; một tên bạo chúa hoặc một kẻ tiếm quyền nào đó sợ không dám làm dòng máu vương giả đổ xuống nên đã đẩy họ đến một hòn đảo không có trên bản đồ, cách xa Karego-At, để cho họ sống chết thế nào thì mặc. Ông già kia có lẽ từng là một chú bé tám hay mười tuổi, và bà già là một cô công chúa nhỏ bé bụ bẫm trong chiếc váy lụa đính ngọc trai; và họ đã sống trong cảnh đơn độc suốt bốn mươi, năm mươi năm qua, trên một dải đá giữa đại dương, trở thành hoàng tử và công chúa của xứ Hoang Vu.
Nhưng phỏng đoán ấy có đúng hay không thì mãi nhiều năm sau chàng mới biết được, khi cuộc kiếm tìm chiếc Nhẫn của Erreth-Akbe dẫn chàng đến xứ Kargad và đến Lăng tẩm của Atuan.
Sau đêm thứ ba của chàng trên đảo, bầu trời quang đãng hơn và ánh bình minh yếu ớt ló rạng. Đó là ngày lễ Hồi Dương, ngày ngắn nhất trong năm. Con thuyền nhỏ bằng gỗ và pháp thuật, bằng các mảnh ván vụn và những lời thần chú của chàng đã sẵn sàng. Chàng cố giải thích cho hai ông bà già hiểu rằng chàng sẽ đưa họ đến bất kỳ nơi nào, đảo Gont hay Spevy hay quần đảo Torikles; thậm chí chàng có thể để họ lại trên một bãi biển vắng người nào đó ở Karego-At, nếu họ yêu cầu, mặc dù vùng biển xứ Karg không phải là một nơi an toàn dành cho một người xứ Archipelago. Nhưng họ không chịu rời khỏi dải cát trơ trọi của mình. Bà già dường như không hiểu chàng định nói gì bằng những cử chỉ và những lời nhẹ nhàng ấy; còn ông già thì hiểu nhưng từ chối. Tất cả ký ức của ông về các vùng đất khác và những giống người khác chỉ là những cơn ác mộng của trẻ thơ, đầy máu, đầy những tên khổng lồ và tiếng gào thét: Ged nhìn thấy điều đó trên mặt ông, trong khi ông cứ lắc đầu hoài.
Vậy là sáng hôm đó, Ged múc nước từ dưới giếng lên đổ đầy một cái túi da hải cẩu, và vì không thể cảm ơn hai người đã cho chàng sưởi ấm và thức ăn nước uống, cũng không có món quà nào để đáp lễ bà cụ, chàng liền làm điều mình có thể, và phù phép cho nguồn nước lợ thất thường đó. Dòng nước trào lên từ lớp cát trở nên ngọt mát và trong trẻo không kém bất kỳ dòng suối nào trên đỉnh núi Gont, và nó sẽ không bao giờ ngừng chảy. Vì dòng suối ấy mà dải đất toàn đá và đụn cát đó giờ đã được ghi lại trên bản đồ và đã có tên; các thủy thủ gọi nó là Đảo Nước ngọt. Nhưng căn lều đã biến mất, và cơn bão của biết bao mùa đông không chừa lại chút dấu vết gì về hai con người đã sống cả đời ở đó và chết đi trong cảnh cô đơn.
Họ ở lại trong lều như sợ phải nhìn Ged đẩy con thuyền của chàng rời khỏi bãi cát phía Nam hòn đảo. Chàng để cho ngọn gió thường đang đều đặn kéo đến từ phía Bắc thổi phồng tấm buồm pháp thuật của mình, và nhanh chóng ra biển.
Cuộc tìm kiếm trên biển này đối với Ged là một điều kỳ lạ, bởi vì chàng biết rõ mình chỉ là một tên thợ săn không hay biết vật mình đang săn tìm là cái gì, hay nó có thể đang ở đâu trên khắp xứ Hải Địa này. Chàng phải săn tìm nó bằng phỏng đoán, bằng linh cảm, bằng vận may, ngay cả khi nó đang săn tìm chàng. Kẻ này không thể nhìn thấy được kẻ kia, Ged bị lúng túng bởi những cái bóng mờ mịt cũng như con quái vật bóng đen bị lúng túng bởi ánh sáng ban ngày và những vật rắn. Ged chỉ chắc chắn một điều duy nhất: giờ đây chàng đã trở thành người đi săn chứ không còn là kẻ bị săn đuổi nữa. Bởi vì con quái vật bóng đen, sau khi lừa được chàng lên dải cát kia, đã có thể tùy ý tiêu diệt chàng trong khi chàng nằm đó, dở sống dở chết trên bờ biển và mò mẫm trên các đụn cát trong bóng tối cùng dông tố; nhưng nó đã không chờ đợi cơ hội ấy. Nó đã đánh lừa chàng, rồi lập tức bỏ chạy, không dám đối mặt với chàng nữa. Điều đó khiến chàng nhận ra Ogion đã nói đúng: con quái vật bóng đen không thể hút được sức mạnh của chàng chừng nào chàng còn săn lùng nó. Như vậy có nghĩa là chàng phải tiếp tục săn lùng nó, tiếp tục đuổi theo nó, mặc dù dấu vết của nó đã nguội lạnh đi trên mặt biển mênh mông này, và chàng không có gì dẫn đường cho mình ngoại trừ cơn gió may mắn vẫn đang thổi về phía Nam, và một phỏng đoán hay một ý nghĩ mơ hồ trong đầu chàng mách bảo rằng hướng Nam hoặc Đông là đường đúng.
Trước khi màn đêm buông xuống, chàng nhìn thấy một dải bờ biển dài lờ mờ của một hòn đảo lớn nào đó, chắc hẳn là đảo Karego-At, nằm bên phía tay trái mình. Chàng đang đi trên hải đạo của những người da trắng man rợ đó. Chàng cảnh giác nhìn quanh xem có thấy một con tàu xứ Karg nào không và khi dong thuyền trong buổi hoàng hôn đỏ ối ấy, chàng lại nhớ đến buổi sáng xưa kia ở làng Thập Tổng Quán khi chàng còn thơ ấu, nhớ đến những tên chiến binh đội mũ lông chim, nhớ đến những đám cháy, nhớ đến màn sương mù. Và bất thình lình, khi nghĩ về cái ngày ấy, chàng chợt nhận ra con quái vật bóng đen đã dùng chính mưu kế của chàng để đánh lừa chàng, đem màn sương mù phủ lên chàng giữa biển, như thể lấy màn sương ấy ra từ chính quá khứ của chàng, dùng nó che mắt chàng trước mọi nỗi hiểm nguy và dẫn chàng đến chỗ chết.
Chàng vẫn tiếp tục đi về hướng Đông Nam, và hòn đảo khuất dần khỏi tầm mắt khi bóng tối hiện ra từ phương Đông. Thân các con sóng đều tối đen trong khi các ngọn sóng vẫn phản chiếu lại ánh mặt trời đỏ ối đang lặn xuống phía Tây. Ged cất tiếng hát to Bài ca Mùa Đông, và tất cả các khổ thơ trong bài Chiến công của vị vua trẻ tuổi mà chàng còn nhớ được, vì đó là những bài ca thường được hát vào lễ hội Hồi Dương. Giọng chàng vang lên rõ ràng nhưng lại rơi vào hư vô trong cảnh tĩnh lặng mênh mang của đại dương. Bóng tối nhanh chóng kéo đến cùng những ngôi sao mùa đông.
Chàng thức trọn cái đêm dài nhất trong năm đó, ngắm những ngôi sao mọc lên phía bên trái mình, đi qua đầu mình rồi lại lặn xuống trên mặt nước đen sẫm phía bên phải, trong khi cơn gió lạnh mùa đông vẫn không ngừng đẩy con thuyền của chàng về hướng Nam, vượt qua một vùng biển tối. Chàng chỉ ngủ được một lát, rồi lại giật mình thức dậy. Con thuyền của chàng thực ra không phải là thuyền mà là một vật có nửa phần là bùa phép và thần chú, nửa phần còn lại cũng chỉ là những tấm ván và củi rề, và nếu chàng nới lỏng những lời thần chú Tạo hình cũng như Trói buộc đang giữ chúng lại với nhau, chúng sẽ nhanh chóng sụp xuống và trôi nổi lềnh bềnh khắp mặt biển. Tấm buồm được làm bằng pháp thuật và không khí, nên nếu chàng ngủ thì nó sẽ không thể chịu đựng được ngọn gió này lâu, mà chẳng mấy chốc chính nó sẽ biến thành một luồng gió. Các bùa phép của Ged rất chắc chắn và hiệu nghiệm, nhưng mặc dù đó là những phép thuật đơn giản, quyền năng khiến chúng hiệu nghiệm phải được hồi phục liên tục: vì vậy đêm đó chàng phải thức trắng. Chàng có thể đi nhanh hơn và dễ dàng hơn dưới hình thù của một con chim ưng hoặc cá heo, nhưng Ogion đã khuyên chàng không nên biến hình nữa, và chàng biết rõ lời khuyên của Ogion giá trị như thế nào. Vậy là chàng đi về phía Nam, dưới ánh sáng của các vì sao đang ngả về phía Tây, và cái đêm dài đằng đẵng ấy dần trôi qua, cho đến khi buổi bình minh của ngày đầu năm làm cả mặt biển sáng bùng lên.
Ít lâu sau khi mặt trời mọc, chàng nhìn thấy đất liền trước mặt, nhưng chàng đang tiến đến đó một cách hết sức chậm chạp. Ngọn gió thường đã dịu xuống lúc rạng đông. Chàng liền nổi một cơn gió thần nhè nhẹ thổi vào tấm buồm để đẩy con thuyền về phía mảnh đất ấy. Khi nhìn thấy nó, sự khiếp sợ lại đột nhiên trào lên trong chàng, một nỗi sợ thót tim thúc giục chàng hãy quay đi, hãy bỏ chạy. Và chàng bám theo nỗi sợ đó như một người thợ săn lần theo dấu chân to tướng có móng vuốt của con gấu, con gấu có thể xồ ra từ trong bụi rậm bất kỳ lúc nào. Giờ chàng đã tiến đến rất gần rồi: chàng biết rõ như vậy.
Càng lại gần, chàng càng thấy đó là một vùng đất kỳ lạ vươn cao sừng sững trên mặt biển. Từ xa nhìn lại thì tưởng như nó chỉ là một vách núi dốc đứng, nhưng lại gần thì mới thấy vách đá đó tách ra thành nhiều rặng núi dốc, có lẽ là của nhiều hòn đảo riêng biệt, và ở giữa là các eo biển hẹp. Ged đã nghiền ngẫm rất nhiều bản đồ và hải đồ trên tòa Tháp của thầy Khởi Danh ở đảo Roke, nhưng đó phần lớn là bản đồ của xứ Archipelago và các vùng biển Nội địa. Hẳn giờ chàng đang ở ngoài Đông Hải, và không biết hòn đảo này tên là gì. Nhưng chàng cũng không quan tâm đến điều đó. Sự khiếp sợ đang nằm trước mặt chàng, đang ẩn nấp trốn chàng hoặc chờ đợi chàng giữa những sườn núi và những cánh rừng của hòn đảo ấy, vậy là chàng tiến thẳng về phía đó.
Các vách núi tối sẫm rậm rạp cây cối của hòn đảo giờ đã nhô lên cao vút bên trên con thuyền của chàng, các ngọn sóng vỗ vào mũi đất lởm chởm đá làm bọt nước bắn tung tóe lên tấm buồm trong khi cơn gió thần đưa con thuyền tiến vào một eo biển nằm giữa hai mũi đất lớn, một dải biển ăn sâu vào đất liền, không rộng hơn bề ngang của hai con tàu sàn thấp. Biển bị cầm tù, không ngừng nổi sóng vỗ vào những bờ biển dốc đứng. Không có bãi biển, vì các vách đá dốc thẳng xuống làn nước tối đen, lạnh buốt, phản chiếu lại những ngọn núi cao bên trên. Bốn bề tĩnh lặng, không có một hơi gió.
Con quái vật bóng đen đã lừa chàng đến vùng đồng hoang của Osskil, lừa chàng rơi vào giữa màn sương mù và đâm vào những mỏm đá, liệu giờ nó còn định lừa chàng lần thứ ba hay không? Chàng đã đuổi nó đến đây hay chính nó đã dụ chàng đến đây để đẩy chàng vào một cái bẫy? Chàng không biết. Chàng chỉ biết đến nỗi sợ hãi giằng xé trong lòng, và biết rằng chàng phải tiếp tục tiến lên, thực hiện điều mình định làm: săn đuổi con quái vật đó, bám theo nỗi kinh hoàng đến tận nguồn cội của nó. Chàng lái thuyền hết sức thận trọng, để mắt coi chừng phía trước mặt và sau lưng, coi chừng từ trên xuống dưới các vách đá ở hai bên mình. Chàng đã để ánh sáng của buổi sớm mai nằm lại sau lưng trên mặt biển rộng. Ở đây tất cả đều tối đen. Khi chàng nhìn lại, khe hở giữa hai mũi đất giờ nom như một cánh cổng hoang vu nhưng sáng sủa. Các vách đá vươn cao hơn, cao hơn nữa trên đầu khi chàng đến gần chân núi nơi chúng vươn lên, và dải biển hẹp lại. Chàng nhìn vào khe hở tối om phía trước mặt, rồi lại quay sang phải, sang trái, nhìn những triền dốc dài, lỗ chỗ hang động, đầy đá tảng và những thân cây với bộ rễ chìa một nửa ra ngoài khoảng không. Không một vật gì chuyển động. Giờ đây chàng đã đi đến cuối con lạch, nơi nước biển, bị thu hẹp lại chỉ còn bằng bề ngang của một nhánh suối nhỏ, đang yếu ớt vỗ sóng vào một đống đá lớn, xù xì, trơ trọi. Các tảng đá bị rơi xuống nước cùng các thân cây mục nát và các chùm rễ của những cây cổ thụ đầy mấu chỉ chừa lại một con đường nhỏ xíu để lách thuyền qua. Đó là một cái bẫy: một cái bẫy mù mịt dưới chân ngọn núi tĩnh lặng, và chàng đã rơi vào đó. Không có gì chuyển động trước mặt hay trên đầu chàng. Tất cả đều im lìm như một vùng đất chết. Chàng không thể đi xa hơn được nữa.
Chàng quay thuyền lại, cẩn thận lèo lái nó bằng những lời thần chú và một cái mái chèo tạm, đề phòng nó đụng phải các tảng đá ngầm hay bị vướng vào những cành, rễ cây đang vươn ra, cho đến khi nó lại quay đầu ra ngoài; và chàng đang định nổi một ngọn gió thần để đưa mình ra biển thì đột nhiên lời thần chú tắc nghẹn lại trên môi chàng, và tim chàng bỗng lạnh ngắt. Chàng ngoái nhìn qua vai mình. Con quái vật bóng đen đang đứng trên thuyền sau lưng chàng.
Nếu chàng chỉ để mất một giây thôi thì hẳn chàng đã bị đánh bại; nhưng chàng vốn luôn sẵn sàng, và lao tới trước để túm lấy con quái vật, nó liền chập chờn và rung rinh thoát ra, chỉ cách chàng một tầm tay. Giờ thì không pháp thuật nào có thể giúp chàng được nữa, chàng chỉ có thể dùng sức lực của cơ thể mình, dùng chính sự sống của mình để chống lại con quái vật kia. Không nói một lời, chàng xông tới tấn công, và cú xoay mình đột ngột của chàng khiến con thuyền tròng trành chúi đầu xuống. Một cơn đau nhói chạy từ cánh tay lên ngực chàng, khiến chàng nghẹt thở và cái lạnh buốt giá tràn ngập người chàng, khiến chàng mờ mắt: nhưng trong hai bàn tay chàng, tưởng đã túm được con quái vật bóng đen, lại không có gì hết - chỉ có bóng tối và không khí.
Chàng loạng choạng nhào về phía trước, túm lấy cột buồm để khỏi ngã xuống, và ánh sáng lại ùa vào mắt chàng. Chàng nhìn thấy con quái vật bóng đen đang rùng mình chạy khỏi chàng, co rúm vào rồi lại vươn lên khổng lồ phía bên trên chàng và tấm buồm trong một khoảnh khắc. Rồi, tựa như một làn khói đen không có hình thù gì nương trên ngọn gió, nó thu mình lại và bỏ chạy về phía khe hở rực sáng giữa hai vách núi.
Ged khuỵu gối. Con thuyền nhỏ vá víu bằng thần chú lại chúi đầu xuống, tròng trành một hồi để tự đứng vững lại, bập bềnh trên những con sóng lớn. Chàng co rúm người nằm đó, tê dại, không còn một ý nghĩ nào trong đầu, phải cố gắng lắm mới lấy lại được hơi thở, cho đến khi làn nước biển lạnh ngắt dâng lên dưới cánh tay nhắc cho chàng nhớ ra mình phải lo cho con thuyền, bởi vì các lời thần chú Trói buộc nó đang yếu dần đi. Chàng đứng dậy, bám vào cây quyền trượng dùng làm cột buồm, và gắng sức làm lại bùa phép Trói buộc. Chàng lạnh cóng và kiệt sức; hai bàn tay và cánh tay nhức nhối, và chàng không còn chút quyền pháp nào nữa. Chàng chỉ ước gì mình có thể nằm xuống đó, trong bóng tối nơi biển cả và núi rừng gặp nhau, và ngủ thiếp đi trên mặt biển dào dạt sóng.
Chàng không biết sự mệt mỏi này là một phép thuật con quái vật bóng đen đã dùng để yểm chàng khi nó bỏ chạy, hay là do cái lạnh cắt da cắt thịt chàng cảm thấy khi đụng vào nó, hay chỉ đơn giản là vì chàng quá đói, quá buồn ngủ và đã dùng quá sức; nhưng chàng cố chống lại nó, bắt mình phải nổi một ngọn gió thần thổi vào tấm buồm để đi xuôi xuống dải biển tối mờ theo hướng con quái vật bóng đen đã chạy.
Mọi nỗi kinh hoàng đã biến mất. Mọi nỗi vui sướng đã biết mất. Giờ đây chuyến đi của chàng không còn là một cuộc rượt đuổi nữa. Chàng cũng không còn là người đi săn hay kẻ bị săn đuổi nữa. Chàng đã gặp con quái vật ấy lần thứ ba, chạm vào nó lần thứ ba: chàng đã tự nguyện quay về phía nó, hòng túm lấy nó bằng hai bàn tay của mình. Chàng đã không bắt được nó, nhưng chàng đã tạo ra một mối liên kết giữa mình và con quái vật ấy, một sợi xích không bao giờ đứt. Giờ chàng không cần phải săn lùng, rượt đuổi nó nữa, nó có bỏ chạy cũng không ích gì. Cả chàng lẫn con quái vật đều không thể thoát được. Khi đến được thời khắc và địa điểm mà cả hai phải gặp nhau lần cuối, thì cả hai sẽ gặp nhau.
Nhưng cho đến lúc đó, và ở nơi đó, một nơi nào khác chứ không phải nơi này, Ged sẽ không được nghỉ ngơi hay yên tĩnh, dù là đêm hay ngày, trên mặt đất hay giữa biển khơi. Giờ chàng đã nhận ra, một nhận thức hết sức khó khăn, rằng sứ mệnh của chàng không phải là sửa chữa lại những gì chàng đã làm, mà là kết thúc những gì chàng đã bắt đầu.
Chàng đưa con thuyền ra khỏi hai vách đá tối đen, và trên biển ánh nắng ban mai lại tỏa sáng chan hòa, kèm theo một ngọn gió nhẹ thổi đến từ phía Bắc.
Chàng uống nốt chỗ nước còn lại trong cái túi da hải cẩu và lái thuyền vòng qua mũi đất phía Tây cho tới khi đến được một eo biển rộng nằm giữa nó và một hòn đảo khác ở phía Tây. Giờ thì chàng mới nhận ra nơi này, khi nhớ lại những tấm hải đồ của vùng Đông Hải. Đây là hai hòn đảo Bàn Tay, hai hòn đảo đơn độc với những dãy núi như các ngón tay vươn về xứ Kargad ở phía Bắc. Chàng đi tiếp giữa hai hòn đảo ấy, và khi trời chiều tối sầm lại vì những đám mây đen kéo đến từ phương Bắc, chàng liền dừng thuyền và đi lên bờ biển phía Nam của hòn đảo phía Tây. Chàng nhìn thấy một ngôi làng nhỏ ở đó, phía trên bãi biển nơi một dòng suối róc rách đổ xuống biển, và chàng không cần biết sẽ được đón chào ra sao, miễn là họ cho chàng nước uống, lửa sưởi, và một chỗ ngủ.
Dân làng là những người khắc khổ và nhút nhát, sợ hãi khi nhìn thấy cây quyền trượng pháp thuật, cảnh giác trước người lạ, nhưng lại mở rộng cửa đón chào người đến từ biển cả, chỉ có một mình, để tránh bão. Họ cho chàng rất nhiều nước uống và thức ăn, cho chàng sưởi ấm trong hơi lửa và cho chàng cảm giác thư giãn khi nghe thứ tiếng Hardic của quê hương được cất lên qua giọng nói của con người, tử tế hơn cả là họ cho chàng nước nóng để tắm rửa cho sạch hơi lạnh và vị mặn của nước biển, và cho chàng một cái giường để ngủ.