
Ged ở lại ngôi làng trên đảo Bàn Tay phía Tây suốt ba ngày, nghỉ ngơi cho lại sức và chuẩn bị cho một con thuyền mới, không phải bằng những mảnh ván vụn và phép thần nữa mà bằng gỗ chắc được ghép và bịt các mối nối một cách kỹ càng, với một cột buồm vững chãi và một tấm buồm của riêng nó, như vậy chàng có thể lái thuyền một cách dễ dàng và ngủ khi nào chàng muốn. Như mọi con thuyền ở phương Bắc và vùng Biển này, nó được đóng bằng nhiều tấm ván xếp chồng lên nhau và vít chặt để chống chọi những con sóng biển dữ dội; mọi bộ phận trên thuyền đều được đóng rất chắc chắn và cẩn thận. Ged còn gia cố thêm cho các tấm ván bằng những bùa phép khắc sâu vào từng thớ gỗ, vì chàng nghĩ mình sẽ phải đi một đoạn đường rất xa trên con thuyền ấy. Con thuyền chứa được hai đến ba người, và người chủ cũ của nó nói rằng ông cùng các anh em trai đã cùng nó vượt qua rất nhiều sóng gió dông bão, và nó luôn kiên cường đưa họ về bến an toàn.
Không giống như người ngư dân đáo để ở đảo Gont, ông lão đánh cá này sẵn lòng biếu chàng con thuyền, vì kính sợ và kinh ngạc trước pháp thuật của chàng. Nhưng Ged vẫn trả ơn ông bằng cách dùng pháp thuật chữa lành bệnh đục nhân mắt đang sắp làm ông bị mù. Ông già vui sướng nói với chàng: “Chúng tôi gọi con thuyền là Chim Lội , nhưng xin ngài hãy đặt lại tên cho nó là Trông Xa , và vẽ một cặp mắt lên hai bên mũi thuyền, như vậy thì lòng biết ơn của tôi sẽ nhìn ra từ những tấm ván gỗ không có mắt đó, để giúp ngài tránh khỏi các tảng đá và vỉa đá ngầm. Bởi vì tôi đã quên mất trên đời này có nhiều ánh sáng đến mức nào, cho tới khi ngài chữa khỏi mắt cho tôi.”
Khi sức lực quay trở lại với chàng, Ged cũng làm nhiều công việc khác trong mấy ngày chàng ở lại ngôi làng nhỏ nằm dưới những rặng rừng thoai thoải của đảo Bàn Tay ấy. Thời thơ ấu khi còn ở Thung lũng Bắc trên đảo Gont, chàng đã gặp những người giống như dân làng ở đây, nhưng nghèo khổ hơn. Chàng rất thân thuộc với họ, thân thuộc hơn chàng có thể cảm thấy ở bất kỳ triều đình vương giả nào, và chàng biết rõ mọi nỗi thiếu thốn cay cực của họ mà không cần phải hỏi. Vậy là chàng dùng các bùa phép phòng và chữa bệnh cho mọi đứa trẻ yếu ớt hoặc đang bị ốm, đọc những lời thần chú để vỗ béo cho bầy dê và cừu gầy nhom của người làng, viết chữ Simn cổ lên các con suốt và khung cửi, lên các mái chèo, các nông cụ bằng đồng và đá mà họ mang tới cho chàng, để cho những thứ dụng cụ ấy hoạt động tốt; và chữ Pirr cổ mà chàng viết lên đòn nóc của các ngôi nhà sẽ bảo vệ căn nhà và người sống trong đó khỏi hỏa hoạn, gió bão và sự hỗn loạn.
Khi con thuyền Trông Xa của chàng đã sẵn sàng và được chất đầy nước cùng cá khô, chàng vẫn ở lại thêm một ngày nữa để dạy cho người thi sĩ trẻ của làng bài ca Chiến Công của Morred và Trường Ca Havnor. Các con tàu xứ Archipelago rất hiếm khi đến hai hòn đảo Bàn Tay: những bài ca được sáng tác từ hàng trăm năm trước vẫn là mới đối với dân làng ở đây, và họ rất thích được nghe các bản anh hùng ca. Nếu Ged đã thoát khỏi lời nguyền yểm lên chàng thì chàng sẵn sàng ở lại đó một tuần, hoặc một tháng, để hát cho họ nghe tất cả những gì chàng biết, để những bài ca tuyệt vời như vậy được biết đến trên một hòn đảo mới. Nhưng chàng không được tự do, và sáng hôm sau chàng giương buồm ra đi, tiến thẳng về phía Nam, ngang qua mặt biển rộng. Vì con quái vật bóng đen đã chạy về hướng đó. Chàng không cần phải dùng lời thần chú tìm kiếm nào mới biết được điều này: chàng biết rõ như vậy, chắc chắn như thể có một sợi dây mảnh nhưng không bao giờ đứt buộc chàng và con quái vật đó với nhau, bất kể ở giữa có bao nhiêu dặm đường, biển cả và đất liền. Vậy là chàng tiếp tục con đường mình phải đi một cách chắc chắn, không vội vã, không hy vọng, trong khi ngọn gió mùa đông đưa đẩy con thuyền của chàng về phía Nam.
Chàng dong buồm trên mặt biển vắng lặng suốt một ngày một đêm, và đến ngày thứ hai thì chàng đến được một hòn đảo nhỏ mà người ta nói có tên là Vemish. Người dân trên bến cảng nhỏ bé của hòn đảo ấy nhìn chàng đầy nghi ngờ, và chỉ lát sau vị phù thủy của họ vội vã chạy đến. Ông ta chăm chú nhìn Ged hồi lâu, rồi cúi đầu và nói bằng một giọng nửa khoa trương nửa khúm núm: “Thưa ngài Pháp sư! Xin thứ lỗi cho sự táo gan của tôi, và hãy để chúng tôi có được cái vinh hạnh cung cấp cho ngài bất kỳ thứ gì ngài cần cho cuộc hành trình của ngài - thức ăn, nước uống, vải buồm, dây thừng, - ngay lúc này con gái tôi đang quay một cặp gà mái tơ để đem đến biếu ngài - nhưng tôi nghĩ sẽ là khôn ngoan hơn nếu ngài tiếp tục lên đường ngay khi nào ngài thấy thích hợp. Người dân ở đây đang hoang mang lắm. Vừa mới hôm kia thôi, chúng tôi nhìn thấy một người đi qua hòn đảo nghèo hèn của mình, từ phía Bắc sang phía Nam, nhưng không ai thấy có một con thuyền nào thả người đó lên bờ hay đón người đó đi, và dường như người đó không có bóng. Những người đã nhìn thấy người đó bảo với tôi rằng người đó trông hao hao giống ngài.”
Nghe vậy, Ged liền cúi đầu, quay đi, trở lại bến cảng Vemish và tiếp tục lên đường mà không hề ngoái nhìn trở lại. Khiến người dân đảo khiếp sợ hay biến vị phù thủy của họ thành kẻ thù của chàng thì chẳng ích lợi gì. Chàng thà ngủ lại trên biển còn hơn, và chàng ngẫm nghĩ mãi về những gì mà vị phù thủy đã nói, bởi vì nó khiến chàng hết sức lo ngại.
Ngày đã tàn, bóng tối buông xuống với một màn mưa nhẹ rơi lất phất như thì thầm trên biển suốt đêm và trong ánh bình minh xám xịt. Ngọn gió bấc nhẹ nhàng vẫn tiếp tục đưa thuyền Trông Xa tiến về phía trước. Sau buổi trưa, màn mưa và sương mù tan đi, đôi lúc mặt trời lại tỏa nắng; và đến chiều thì Ged nhìn thấy chéo bên phải đường đi của mình là một dãy đồi thấp xanh xanh, nằm trên một hòn đảo lớn, sáng lên dưới ánh nắng mùa đông yếu ớt đó. Những làn khói bếp xanh quấn quýt trên các mái nhà bằng đá xám của mấy thành phố nhỏ nằm dọc dãy đồi ấy, một khung cảnh ấm áp giữa mặt biển mênh mang đơn điệu.
Ged đi theo một đoàn thuyền đánh cá vào bến cảng của họ, và khi men theo các con phố của thành bang trong buổi chiều vàng mùa đông, chàng tìm thấy một lữ quán tên là Harrekki, ở đó có ánh lửa, rượu mùi và sườn cừu nướng giúp chàng sưởi ấm cả thân thể lẫn tâm hồn. Quanh những chiếc bàn trong lữ quán còn có một vài lữ khách khác, vốn là thương nhân vùng Đông Hải, nhưng phần lớn khách trong quán đều là người dân thành bang, đến đó để được uống rượu mùi ngon, nghe ngóng tin tức và tán chuyện. Họ không phải là những người khắc khổ nhút nhát như các ngư dân ở đảo Bàn Tay mà là dân thành thị đích thực, lanh lợi và điềm tĩnh. Chắc chắn họ biết Ged là một pháp sư, nhưng không nhắc gì đến điều đó, ngoại trừ ông chủ quán, trong khi trò chuyện (ông ta là một người rất hay chuyện), nói rằng thành Ismay này đã có may mắn được chia sẻ với các thành bang khác trên đảo một báu vật vô giá, đó là một vị pháp sư tài năng từng theo học trên Đảo Roke và được chính Tổng pháp sư trao cho cây quyền trượng, và mặc dù lúc này không có mặt ở thành phố, nhưng vị pháp sư ấy đã định cư ngay trên quê hương bản quán của mình ở chính Ismay, và vì vậy ở đây họ không cần một người hành nghề Pháp thuật nào nữa. “Như người ta vẫn nói đấy, hai cây quyền trượng ở cùng một nơi thì tất phải đụng nhau , có phải vậy không, thưa Ngài?” Ông chủ quán nói, vui vẻ mỉm cười. Nhờ thế, Ged biết rằng ở đây không có ai cần đến chàng, một pháp sư lang thang đi kiếm sống bằng pháp thuật của mình. Vậy là chàng đã bị xua đuổi một cách thẳng thừng ở Vemish và một cách tế nhị ở Ismay, và chàng băn khoăn không hiểu những câu chuyện chàng đã được nghe về sự tử tế ân cần ở vùng Đông Hải này là thật hay giả. Đây là đảo Iffish, nơi anh bạn Vetch của chàng đã được sinh thành. Nó có vẻ không phải là một nơi hiếu khách như Vetch đã kể.

Thế nhưng chàng vẫn thấy rằng quả thực họ có những khuôn mặt đôn hậu. Chỉ có điều họ đã cảm thấy ở chàng một vẻ gì đó mà chàng biết là sự thực: chàng rất xa lạ và tách biệt đối với họ, chàng mang trên mình một lời nguyền và đang săn đuổi một thứ hắc ám. Chàng giống như một cơn gió lạnh thổi qua một căn phòng ấm cúng, như một con chim két bị gió bão đẩy đến một vùng đất lạ. Chàng đem theo số phận khắc nghiệt của mình rời khỏi nơi này sớm chừng nào thì người dân ở đây càng sớm được an toàn chừng ấy.
“Tôi đang trên đường thực hiện một sứ mệnh,” chàng nói với ông chủ quán. “Tôi sẽ chỉ ở lại đây một, hai đêm thôi.” Giọng chàng rầu rầu. Ông chủ quán, sau khi liếc nhìn cây quyền trượng bằng gỗ thủy tùng nơi góc nhà, lần đầu tiên mới chịu im bặt đi và chỉ lẳng lặng rót thứ rượu mùi màu nâu sẫm vào cốc của Ged cho đến khi bọt tràn cả ra miệng cốc.
Ged biết rằng mình chỉ nên ở lại Ismay đêm nay thôi. Chàng không được chào đón ở đây hay ở bất kỳ nơi nào khác. Chàng phải đi đến nơi chàng buộc phải đến. Nhưng chàng đã quá chán ngán vì mặt biển trơ trọi lạnh lẽo, chán ngán sự im lặng khi chàng không được nghe một giọng nói nào. Chàng tự nhủ mình sẽ ở lại Ismay một ngày, rồi sẽ ra đi vào ngày hôm sau. Vậy là đêm đó chàng ngủ muộn; khi thức dậy, chàng thấy một lớp tuyết nhẹ đang lất phất rơi, và chàng tha thẩn trên những con phố và ngõ ngách của thành phố để ngắm người dân bận bịu với công việc của mình. Chàng ngắm những đứa trẻ mặc áo lông xây lâu đài và đắp tượng bằng tuyết; chàng lắng nghe các bà nội trợ tán gẫu ngang qua phố từ cửa nhà này sang cửa nhà khác, và ngắm người thợ đồng làm lụng bên một chú phụ việc mặt đỏ gay, mồ hôi đầm đìa đang cố kéo chiếc ống bễ thổi vào lò nung; khi ngày chạng vạng dần, qua các ô cửa sổ vàng đục ánh đèn từ trong nhà hắt ra, chàng nhìn thấy cánh phụ nữ ngồi bên khung cửi, chốc chốc lại quay sang nói chuyện hay mỉm cười với đứa con hay ông chồng đang ở cạnh đó, trong căn nhà ấm cúng. Ged đứng bên ngoài ngắm nhìn tất cả những cảnh tượng ấy, tách biệt, đơn độc, và tim chàng nặng trĩu, mặc dù chàng không muốn tự thừa nhận rằng mình đang rất buồn. Khi đêm xuống, chàng vẫn nấn ná trên phố, không muốn quay trở lại lữ quán. Chàng nghe thấy một chàng trai và một cô bé vui vẻ trò chuyện khi họ từ trên phố xuống, đi ngang qua chàng, rồi tiến về phía quảng trường, và đột nhiên chàng quay phắt lại, bởi vì chàng nhận ra giọng nói của chàng trai nọ.
Chàng đi theo và bắt kịp hai người ấy, bước lên bên cạnh họ trong ánh chiều chạng vạng chỉ được soi rọi bởi tia sáng của mấy chiếc đèn lồng xa xa. Cô bé lùi lại, nhưng anh chàng kia thì nhìn chàng chằm chằm, rồi giơ cây quyền trượng trong tay lên, chắn ngang trước mặt như một bức tường giữa họ để ngăn chặn mối nguy hiểm hay hành động xấu xa. Và đến đây thì Ged không còn chịu nổi nữa. Giọng chàng hơi run run khi chàng nói: “Tôi tưởng anh sẽ nhận ra tôi chứ, Vetch.”
Ngay cả khi ấy Vetch vẫn còn hơi do dự.
“Tôi nhận ra cậu,” anh nói, hạ cây quyền trượng xuống rồi nắm lấy tay Ged và ôm lấy hai vai chàng. - “Tôi nhận ra cậu rồi! Xin chào, người bạn của tôi, xin chào! Tôi đón cậu một cách mới hay ho làm sao chứ, như thể cậu là một bóng ma mò đến từ phía sau vậy - ấy thế mà tôi đã mong đợi cậu đến, đã tìm kiếm cậu...”
“Vậy ra anh chính là vị pháp sư mà họ vẫn khoe khoang ở Ismay này đấy ư? Tôi đã ngờ ngợ...”
“Ồ, phải, tôi là pháp sư của họ; nhưng nghe này, để tôi giải thích cho cậu biết tại sao tôi lại không nhận ra cậu, anh bạn. Có lẽ tôi đã gặp quá nhiều khó khăn khi tìm cậu. Ba ngày trước - ba ngày trước cậu có mặt ở Iffish này không?”
“Tôi mới đến đây ngày hôm qua.”
“Ba ngày trước, trên đường làng Quor, ngôi làng trên đồi đó, tôi đã nhìn thấy cậu. Hay đúng hơn là tôi thấy hình bóng của cậu, hay một kẻ giả dạng cậu, hoặc có lẽ chỉ là một người trông giống cậu mà thôi. Hắn đi trước tôi, đang ra khỏi làng, và khi tôi vừa nhìn thấy hắn thì hắn đã rẽ sang một ngả đường khác. Tôi gọi mà hắn không trả lời, tôi đi theo nhưng chẳng thấy ai; cũng không thấy dấu vết gì; nhưng mặt đất nơi hắn đi qua đã bị đóng băng cả. Thật là quái lạ, và khi nhìn thấy cậu bước ra từ bóng tối như vậy tôi cứ ngỡ mình lại bị đánh lừa lần nữa. Tôi thật có lỗi, Ged.” Anh hạ giọng khẽ nói tên thật của Ged, để cho cô bé đang đứng đợi sau lưng anh không nghe thấy được.
Ged cũng hạ giọng gọi tên thật của người bạn mình: “Không sao đâu, Estarriol. Chính là tôi đây, và tôi rất mừng được gặp anh...”
Có lẽ Vetch đã nghe thấy trong giọng nói chàng còn có một vẻ gì đó hơn là nỗi vui mừng thông thường. Anh không buông vai Ged ra, và nói bằng Chân Ngữ: “Cậu đã đến đây từ bóng tối và trong cảnh hiểm nguy, Ged, nhưng tôi vẫn rất vui vì cậu đã đến.” Rồi anh lại nói tiếp bằng tiếng Hardic với cái giọng miền Đông Hải của mình: “Đi nào, về nhà cùng chúng tôi, chúng tôi đang trên đường về nhà đây, đã đến lúc rời khỏi bóng tối rồi! - Đây là em gái tôi, đứa út, xinh đẹp hơn tôi nhiều như cậu cũng thấy đấy, nhưng không được nhanh trí bằng: tên nó là Yarrow 8 . Yarrow, đây là Chim Cắt, người giỏi nhất ở trường và là bạn của anh.”
“Xin chào Pháp sư,” cô bé nói, rồi lịch sự cúi đầu và đưa tay lên che mắt để bày tỏ lòng kính trọng theo cách của phụ nữ vùng Đông Hải; cặp mắt của cô khi không bị che khuất thì ngời lên trong sáng, e thẹn và đầy vẻ tò mò. Cô bé có lẽ khoảng mười bốn tuổi, da nâu như anh trai mình, nhưng hết sức thanh mảnh. Bám trên tay áo cô là một con rồng có cánh và móng vuốt nhưng không dài hơn bàn tay của cô.
Họ cùng đi xuôi con phố tranh tối tranh sáng, và khi họ đi, Ged lên tiếng nhận xét: “Ở đảo Gont người ta thường nói phụ nữ xứ Gont rất can đảm, nhưng tôi chưa bao giờ thấy một cô thiếu nữ ở đó đeo rồng làm vòng tay cả.”
Nghe vậy, Yarrow cười phá lên, và cô đáp lại ngay: “Đây chỉ là một con thằn lằn harrekki thôi, ở trên đảo Gont anh không có harrekki sao?” Rồi cô bé lại thẹn thùng đưa tay lên che mắt.
“Không, chúng tôi cũng không có rồng. Thế con vật ấy không phải là rồng sao?”
“Chỉ là một loài rồng nhỏ, sống trên các cây sồi, ăn ong, sâu bọ và trứng chim - nó sẽ không lớn hơn thế này nữa đâu. Ôi, Pháp sư, anh trai của em vẫn thường kể về con vật nuôi của anh, con chồn otak hoang ấy - anh có còn nuôi nó nữa không?”
“Không. Tôi không còn nó nữa.”
Vetch quay sang nhìn chàng như định hỏi một câu, nhưng anh im lặng và không nói gì, mãi đến khi chỉ còn hai người ngồi với nhau bên lò sưởi bằng đá trong nhà Vetch.
Mặc dù là pháp sư chính của toàn bộ đảo Iffish, Vetch vẫn ở lại thành phố Ismay nhỏ bé này, nơi anh đã được sinh ra, cùng người em trai và cô em út của mình. Sinh thời, cha anh là một thương gia hàng hải khá sung túc, và ngôi nhà của họ rất rộng rãi, với những cây xà chắc khỏe, trong nhà bày biện sang trọng mà giản dị bằng các món đồ sành sứ, những tấm thảm dệt thượng hạng, những chiếc bình bằng đồng thau và thiếc, đặt trên những giá và tủ chạm trổ. Ở một góc gian phòng chính có dựng một cây đàn hạc xứ Taon lớn, còn ở góc khác là chiếc khung thêu cao khảm ngà của Yarrow. Ở nơi này, Vetch vừa là một pháp sư hùng mạnh vừa là ông chủ trong ngôi nhà của riêng mình, mặc dù anh vẫn chất phác và lặng lẽ như trước. Trong nhà cũng có vài người hầu đã có tuổi, một chú bé vui tươi, và cô bé Yarrow nhanh nhẹn và khẽ khàng chẳng khác nào một con cá nhỏ. Cô đem bữa tối đến cho hai người bạn, ăn cùng họ, lắng nghe họ nói chuyện, rồi sau đó lẳng lặng đi về phòng mình. Mọi thứ ở đây đều vững chãi, chắc chắn, yên bình; và Ged, sau khi đưa mắt nhìn quanh căn phòng bập bùng ánh lửa, liền nói: “Người ta phải được sống như thế này mới đúng,” và thở dài.
“Ờ, đây chỉ là một cách sống thôi,” Vetch nói. “Còn nhiều cách sống khác nữa. Giờ thì, anh bạn, hãy kể cho tôi nghe những gì đã xảy ra với cậu từ khi chúng ta chia tay nhau hai năm trước. Và cho tôi biết cuộc hành trình mà cậu đang thực hiện là gì, bởi vì tôi thấy rõ rằng lần này cậu sẽ không ở lại với chúng tôi lâu.”
Ged kể cho anh nghe, và khi chàng kể xong thì Vetch ngồi suy ngẫm một hồi lâu. Rồi anh nói: “Tôi sẽ đi với cậu, Ged ạ.”
“Không.”
“Tôi nghĩ là tôi sẽ đi cùng cậu.”
“Không, Estarriol ạ. Đây không phải là sứ mệnh của anh hay lời nguyền với anh. Tôi đã bắt đầu chuyến đi khủng khiếp này một mình, tôi sẽ kết thúc nó một mình, tôi không muốn ai phải chịu đựng nó cả - nhất là anh, người đã cố ngăn tôi khỏi hành động xấu xa ấy ngay từ đầu, Estarriol...”
“Lúc nào đầu óc cậu cũng bị chi phối bởi lòng kiêu hãnh,” anh bạn của chàng mỉm cười nói, như thể họ đang nói về một việc không liên quan gì lắm đến cả hai người. “Nhưng cậu hãy thử nghĩ mà xem: đây là sứ mệnh của cậu, đúng vậy, nhưng nếu cậu thất bại, thì chẳng phải nên có một người khác để có thể đem lời cảnh báo đến Archipelago hay sao? Bởi vì khi đó chắc hẳn con quái vật bóng đen đã mạnh hơn nhiều, đáng sợ hơn nhiều. Còn nếu cậu đánh bại được nó, thì chẳng phải nên có một người khác để kể lại câu chuyện đó quanh Archipelago này hay sao, để Chiến công ấy được người người biết đến và ca ngợi chứ? Tôi biết tôi không giúp gì được cho cậu: nhưng tôi vẫn nghĩ rằng tôi nên đi cùng cậu.”
Trước những lời lẽ khẩn khoản như vậy, Ged không thể từ chối người bạn của mình được, nhưng chàng nói: “Lẽ ra tôi không nên ở lại đây hôm nay. Tôi biết như vậy, thế nhưng tôi đã ở lại.”
“Các pháp sư không tình cờ gặp nhau đâu, anh bạn ạ,” Vetch nói. “Dù sao thì tôi cũng đã ở bên cậu khi cuộc hành trình của cậu mới bắt đầu, như cậu đã nói đấy. Vì vậy tôi có đi theo cậu đến cuối con đường thì cũng là điều hợp lý thôi.” Anh cho thêm một cành củi vào đống lửa, và họ ngồi ngắm ngọn lửa bập bùng một hồi lâu.
“Có một người tôi chưa hề được biết tin tức gì kể từ cái đêm đó trên Đồi Roke, và tôi không có lòng dạ nào để hỏi han về hắn ở Trường: tôi muốn nói đến Jasper.”
“Hắn đã không đạt được cây quyền trượng pháp sư. Chính trong mùa hè năm ấy hắn đã rời trường và đi đến Đảo O để trở thành phù thủy trong cung điện của vị Lãnh chúa ở O-tokne. Còn sau đó hắn ra sao thì tôi không biết.”
Một lần nữa họ lại chìm vào im lặng, ngắm nhìn ngọn lửa và tận hưởng (vì đó là một đêm đông hết sức buốt giá) hơi ấm tỏa trên mặt và chân trong khi họ ngồi bên mép lò lửa, bàn chân gần như chạm vào đống than.
Cuối cùng Ged hạ giọng lên tiếng: “Có một điều tôi lo sợ, Estarriol ạ. Tôi sẽ càng lo sợ về nó hơn nếu anh đi cùng tôi. Khi ở trên đảo Bàn Tay, chỗ ngõ cụt của con lạch tôi đã tấn công con quái vật bóng đen, nó nằm trong tầm tay của tôi và tôi đã túm lấy nó - cố bắt được nó. Nhưng chẳng có gì cho tôi cầm nắm cả. Tôi không thể đánh bại nó. Nó bỏ chạy, tôi đuổi theo. Nhưng điều đó có thể xảy ra một lần nữa, nhiều lần nữa. Tôi không có quyền lực gì để chống lại con quái vật ấy. Có thể ở đoạn kết của cuộc hành trình này sẽ không có cái chết hay chiến thắng; không có gì để ca ngợi; không có kết thúc nào hết. Có lẽ tôi sẽ phải bỏ cả đời mình chạy từ đại dương này sang đại dương kia, từ hòn đảo này sang hòn đảo kia, trong một cuộc hành trình hão huyền vô tận đuổi theo một cái bóng.”
“Thôi đi!” Vetch nói, đưa bàn tay trái lên làm một cử chỉ xua đi những điềm gở chàng vừa nhắc đến. Bất kể những ý nghĩ rầu rĩ của mình, Ged vẫn không thể không cười trước cử chỉ ấy, vì đó là một bùa phép của đám trẻ con hơn là của một pháp sư; và ở Vetch luôn luôn có sự ngây thơ của người dân quê như vậy. Tuy nhiên anh cũng là một người sắc sảo, khôn ngoan và đi thẳng vào cốt lõi của vấn đề. Anh nói: “Đó là một ý nghĩ buồn nản quá, và tôi tin rằng cậu đã lầm. Tôi đoán rằng một điều tôi đã thấy khởi đầu thì tôi cũng có thể thấy được kết thúc. Bằng một cách nào đó cậu sẽ biết được bản chất của con quái vật đó, sẽ biết được nó là gì và sẽ bắt được nó, trói buộc nó, đánh bại nó. Mặc dù đó là một câu hỏi rất khó trả lời: nó là cái gì... Có một điều khiến tôi lo ngại và không hiểu nổi. Dường như con quái vật ấy giờ đang đi lại trong hình thù của cậu, hoặc ít ra là nó đang giả dạng cậu, như họ đã nhìn thấy trên Vemish và như tôi đã nhìn thấy ở Iffish này vậy. Tại sao nó lại làm được như vậy, tại sao nó lại làm như vậy, và tại sao nó không làm như vậy khi ở Archipelago?”
“Họ bảo rằng, Ở Tứ Hải mọi quy luật đều biến đổi .”
“Phải, một câu châm ngôn rất đúng, tôi có thể đảm bảo với cậu. Có những lời thần chú rất hiệu nghiệm tôi đã được học ở Roke nhưng đến đây lại chẳng còn tác dụng gì, hoặc hỏng hết cả; và ở đây cũng có những lời thần chú mà tôi chưa bao giờ được học ở Roke. Mọi mảnh đất đều có quyền lực của riêng mình, và càng đi xa khỏi vùng Nội địa thì càng khó đoán được những quyền lực đó, hay chúng được điều khiển ra sao. Nhưng tôi không nghĩ đó là thứ duy nhất đã gây ra sự thay đổi này trong con quái vật bóng đen.”
“Tôi cũng không nghĩ vậy. Tôi cho rằng khi tôi không còn chạy trốn khỏi nó nữa mà quay sang săn đuổi nó, sự thay đổi trong ý chí của tôi đã khiến nó có hình thù, mặc dù cũng chính điều đó khiến nó không thể hút được sức lực của tôi. Mọi hành động của tôi đều được phản chiếu lại trong nó; nó là sinh vật do tôi tạo ra.”
“Khi ở trên đảo Osskil nó đã gọi tên cậu và khiến cậu không dùng pháp thuật chống lại nó được. Tại sao khi ở đảo Bàn Tay nó lại không làm vậy nữa?”
“Tôi không biết. Có lẽ nó chỉ có đủ sức để cất tiếng nói nhờ vào sự yếu đuối của bản thân tôi. Dường như nó đã nói bằng chính cái lưỡi của tôi: nếu không thì sao nó lại biết tên tôi? Sao nó lại biết được tên tôi? Tôi đã vắt óc nghĩ mãi về điều đó trong những ngày lang thang trên mặt biển kể từ khi rời khỏi Gont, và tôi không thể tìm được một câu trả lời. Có lẽ nó không thể nói được trong hình thù của riêng nó, hay khi nó không có hình thù gì, mà chỉ nói bằng cái lưỡi đi mượn của một tên âm binh mà thôi. Tôi không biết nữa.”
“Nếu thế thì cậu phải coi chừng kẻo nó lại biến thành âm binh một lần nữa.”
“Tôi nghĩ rằng,” Ged đáp, xòe tay ra bên trên đống than hồng như thể chàng cảm thấy một hơi lạnh trỗi dậy từ bên trong chàng, “tôi nghĩ chuyện đó sẽ không xảy ra nữa đâu. Giờ nó đã bị trói buộc vào tôi, cũng như tôi bị trói buộc với nó. Nó không thể rời xa tôi để bắt lấy bất cứ người nào khác rồi hút hết mọi ý chí và sức sống của người đó, như nó đã làm với Skiorh. Nó có thể có được tôi. Nếu tôi lại yếu lòng, tìm cách bỏ chạy, tìm cách phá vỡ mối liên kết giữa tôi và nó, thì nó sẽ có được tôi. Thế nhưng, khi tôi vận mọi sức lực túm chặt lấy nó, thì nó lại chỉ còn là không khí, và biến khỏi tay tôi... Và nó sẽ lại chạy khỏi tôi một lần nữa, nhưng nó sẽ không bao giờ thực sự trốn thoát được, bởi vì tôi sẽ luôn tìm thấy nó. Tôi đã bị ràng buộc với con quái vật xấu xa khủng khiếp đó, và sẽ bị ràng buộc vào nó vĩnh viễn, trừ phi tôi có thể biết được điều giúp tôi điều khiển nó: tên của nó.”
Anh bạn của chàng trầm ngâm hỏi: “Các vật trong vùng tử địa có tên không?”
“Tổng pháp sư Gensher đã nói là không. Còn thầy Ogion của tôi lại nói khác.”
“ Các pháp sư chẳng bao giờ đồng tình với nhau ,” Vetch trích dẫn một câu nói, kèm theo một nụ cười mỉm thoáng nét rầu rĩ.
“Người phụ nữ nô lệ của Quyền Pháp Cổ trên đảo Osskil thề rằng Viên đá thần sẽ cho tôi biết tên của bóng đen, nhưng tôi không tin vào điều đó. Tuy nhiên còn có một con rồng đã định đem cái tên của con quái vật bóng đen ra đánh đổi lấy cái tên của chính nó, hòng thoát khỏi tay tôi; và tôi đã nghĩ rằng có thể loài rồng đủ khôn ngoan để biết được những điều mà các pháp sư vẫn tranh cãi với nhau.”
“Khôn ngoan, nhưng không tử tế. Nhưng đó là con rồng nào vậy? Cậu không kể cho tôi nghe là sau khi chúng ta từ biệt nhau, cậu lại còn nói chuyện với cả rồng nữa cơ đấy.”
Đêm đó họ thức rất khuya để trò chuyện, và mặc dù họ luôn nhắc đến câu hỏi hóc búa và cay nghiệt về những gì đang chờ đợi Ged ở phía trước, nhưng niềm vui họ cảm thấy khi được gặp lại nhau đã át hết tất cả; vì tình bạn của họ hết sức sâu sắc và bền vững, không hề bị thay đổi bởi thời gian hay số mệnh. Sáng hôm sau Ged thức dậy dưới mái nhà của bạn mình, và khi vẫn còn mơ màng, chàng cảm thấy yên ổn như thể đang được ở một nơi không có con quái vật nào có thể đến làm hại chàng. Suốt ngày hôm đó, chút cảm giác bình yên mơ màng ấy vẫn vương vấn trong tâm trí chàng, và chàng đón nhận nó, không phải như một điềm lành, mà như một món quà. Đối với chàng, dường như khi rời khỏi ngôi nhà này, chàng cũng sẽ rời khỏi nơi ẩn náu cuối cùng mà chàng còn biết đến, và chừng nào giấc mơ ngắn ngủi này còn tiếp diễn thì chàng vẫn còn cảm thấy hạnh phúc.
Vì vẫn còn mấy công việc phải lo trước khi rời khỏi Iffish, Vetch đã cùng chú bé học việc của mình đi đến các làng khác trên đảo. Ged ở lại với Yarrow và anh trai của cô, tên là Murre 9 , lớn hơn cô nhưng ít tuổi hơn Vetch. Dường như Murre vẫn chưa hơn gì một cậu bé, vì cậu không có tài năng cũng không có thứ tai họa nào do quyền pháp gây ra, và cậu chưa từng đặt chân đến bất cứ nơi nào khác ngoài Iffish, Tok và Holp, và cuộc sống của cậu rất dễ dàng, thoải mái. Ged ngắm nhìn cậu một cách tò mò, thoáng chút ghen tỵ, và cậu cũng nhìn Ged với đúng cái vẻ đó: cả hai đều cảm thấy thật lạ lùng khi họ lại khác nhau đến thế trong khi họ đều mười chín tuổi như nhau. Ged kinh ngạc khi thấy một chàng trai có thể sống mười chín năm vô tư lự đến vậy. Khi nhìn gương mặt bảnh bao, vui vẻ của Murre, chàng cảm thấy mình thật xấu xí, thô thiển, mà không hề hay biết rằng Murre đang ghen tỵ với chàng, ghen tỵ với cả những vết sẹo trên mặt chàng, tưởng chúng là dấu vết của những chiếc móng vuốt rồng, và coi đó là dấu hiệu của một người anh hùng thực sự.
Vì vậy mà hai chàng trai có phần ngượng ngùng khi ở cạnh nhau, nhưng về phần Yarrow thì cô bé đã nhanh chóng quên đi nỗi sợ hãi của mình đối với Ged khi cô được ở trong căn nhà của riêng mình, do mình làm chủ. Chàng rất hòa nhã với cô bé, và cô luôn miệng hỏi chàng, bởi vì Vetch không chịu nói gì cho cô biết cả, cô giải thích như vậy. Suốt hai ngày Ged ở lại đó, cô bận bịu nướng bánh mì cho họ đem theo, gói ghém thịt, cá khô và các thức ăn khác để chất lên thuyền, cho đến khi Ged bảo cô hãy dừng lại, vì chàng không định đi thẳng một mạch đến Selidor.
“Selidor là ở đâu ạ?”
“Ở xa tít ngoài vùng Tây Hải, ở đó rồng nhan nhản, đông như kiến cỏ 10 vậy.”
“Nếu vậy thì các anh nên ở lại Đông Hải, ở đây rồng cũng chỉ nhỏ như kiến 11 thôi. Thịt cho các anh đem theo đây; anh có chắc chừng ấy là đủ không? Này, em không hiểu nổi: anh và anh trai em đều là các pháp sư hùng mạnh, chỉ cần phẩy tay một cái và đọc một lời thần chú là xong. Sao các anh lại vẫn phải chịu đói nhỉ? Khi đến giờ ăn mà anh đang ở trên biển, sao anh không gọi Bánh nhân thịt ! và bánh nhân thịt sẽ hiện ra cho anh ăn?”
“Ờ, chúng tôi có thể làm vậy. Nhưng chúng tôi không muốn đánh chén lời nói của mình, như người ta thường nói đấy. Bánh nhân thịt ! dù sao cũng chỉ là một lời nói mà thôi... Chúng tôi có thể làm cho nó có mùi thơm, có vị ngon, thậm chí làm cho mình no nữa, nhưng nó vẫn chỉ là một lời nói. Nó đánh lừa dạ dày và không đem lại cho người đói chút sức lực nào cả.”
“Nếu thế thì các pháp sư không phải là đầu bếp rồi,” Murre xen vào, cậu đang ngồi phía bên kia lò lửa, đối diện với Ged, và khắc một chiếc nắp hộp bằng gỗ tốt; cậu làm nghề mộc, nhưng không phải là một chú thợ nhiệt tình cho lắm.
“Nhưng than ôi, các đầu bếp cũng không phải là pháp sư,” Yarrow nói, cô bé đang quỳ xuống để xem mẻ bánh cuối cùng đặt trong lòng lò bằng gạch đã chín chưa. “Nhưng em vẫn không hiểu, Chim Cắt ạ. Em đã nhìn thấy anh trai của em, thậm chí cả cậu học việc của anh ấy, thắp sáng một nơi tối tăm chỉ bằng một lời nói, và ánh sáng tỏa ra thực sự, chói lòa, không phải là một lời nói, mà là một ánh sáng soi đường cho anh!”
“Đúng thế,” Ged trả lời. “Ánh sáng là sức mạnh. Một sức mạnh vĩ đại mà nhờ nó chúng ta tồn tại, nhưng nó lại tồn tại ngay cả khi chúng ta không cần đến nó, tồn tại mà không phụ thuộc vào cái gì hết. Ánh sáng của mặt trời và của các vì sao là thời gian, và thời gian chính là ánh sáng. Sự sống chỉ tồn tại dưới ánh sáng, trong ngày, tháng và năm. Ở chỗ tối, ta có thể gọi ánh sáng đến bằng tên của nó. - Nhưng thường thường, khi một pháp sư gọi tên một vật gì đó, để nó hiện ra, thì đó là một điều khác hẳn, bởi vì vị pháp sư đó không gọi đến một quyền năng mạnh hơn bản thân mình, và những gì hiện ra chỉ là ảo ảnh mà thôi. Để triệu tập một vật không hề có ở đó, gọi nó bằng tên thật của nó, là một pháp thuật hết sức cao cường, không thể đem ra sử dụng một cách tùy tiện được. Không thể dùng nó chỉ để xoa dịu cơn đói. Yarrow, con rồng của em đã ăn vụng một cái bánh rồi kìa.”
Yarrow mải lắng nghe Ged nói, nhìn chàng chăm chú đến nỗi cô không để ý thấy con rồng harrekki đã bò từ chỗ đậu ấm áp của nó trên cái móc treo chiếc ấm xuống mặt lò và chộp lấy một cái bánh mì to hơn cả người mình. Cô bé đặt con vật nhỏ xíu, thân đầy vẩy ấy lên đầu gối mình, bẻ vụn bánh cho nó ăn trong khi cô suy ngẫm về những điều Ged đã nói.
“Có nghĩa là anh sẽ không bao giờ triệu tập một cái bánh nhân thịt thực sự, vì anh không muốn phá vỡ cái mà anh trai em luôn nhắc đến - em không nhớ tên nó là gì...”
“Sự Cân Bằng,” Ged nghiêm trang trả lời, vì cô bé đang tỏ ra hết sức nghiêm túc.
“Đúng rồi. Nhưng, khi bị đắm thuyền, anh đã đi tiếp trên một con thuyền phần lớn được tạo thành bằng pháp thuật, và nó không hề bị rò rỉ. Nó có phải là một ảo ảnh không?”
“Nó có một phần là ảo ảnh, bởi vì tôi không muốn phải nhìn xuyên qua những cái lỗ to tướng trên thuyền của mình và thấy mặt biển, nên tôi đã vá lại chúng, vì vẻ bề ngoài thôi. Nhưng sức mạnh của con thuyền thì không phải là ảo ảnh, không phải sự triệu tập, mà được tạo ra bằng một loại pháp thuật khác, một lời thần chú trói buộc. Các tấm ván được ràng buộc thành một khối, một vật toàn vẹn, một con thuyền. Mà một con thuyền thì là gì, ngoài một vật không để nước rò rỉ vào trong?”
“Tôi dám cá là có khối con thuyền luôn luôn bị rò rỉ,” Murre xen vào.
“Ờ, con thuyền của tôi cũng bị rò rỉ, trừ phi tôi liên tục làm lại bùa phép đó.” Chàng cúi xuống từ chỗ ngồi ở góc của mình và nhặt một tấm bánh từ trong lòng lò lên, tung hứng nó trong tay mình. “Tôi cũng ăn trộm một cái bánh đây.”
“Anh sẽ bị bỏng thôi. Và khi anh đang chết đói trên những vùng biển hoang vu giữa các hòn đảo xa xôi, hãy nghĩ đến tấm bánh đó và nói, Than ôi! Nếu mình không ăn trộm cái bánh ấy thì giờ mình đã có nó để ăn rồi ! - em sẽ ăn cái bánh của anh trai em, để anh ấy cũng chết đói cùng với anh...”
“Và như vậy thì sự Cân Bằng sẽ được giữ vững,” Ged nói, trong khi cô bé nhặt một tấm bánh nóng hổi lên nhấm nháp; câu nói của chàng khiến cô bật cười và bị sặc. Nhưng rồi cô lấy lại vẻ nghiêm nghị và nói: “Ước gì em có thể hiểu được những gì anh vừa nói. Em ngốc quá.”
“Cô bé ạ,” Ged nói, “chính tôi mới không biết cách giải thích. Nếu chúng ta có nhiều thời gian hơn...”
“Chúng ta sẽ có nhiều thời gian hơn,” Yarrow nói. “Khi anh trai của em quay về nhà, anh sẽ đi cùng anh ấy, ít nhất là trong một thời gian, phải không?”
“Nếu có thể,” chàng nhẹ nhàng đáp.
Họ im lặng hồi lâu; rồi Yarrow hỏi, trong khi ngắm nhìn con harrekki trèo trở về chỗ đậu của nó: “Nói cho em biết một điều nữa thôi, nếu nó không phải là một bí mật: ngoài ánh sáng ra thì còn những quyền năng vĩ đại nào nữa?”
“Nó không phải là một bí mật. Tôi cho rằng mọi quyền năng đều bắt đầu và kết thúc ở cùng một điểm. Năm tháng và khoảng cách, sao trời và đèn nến, nước, gió và pháp thuật, kỹ năng ở bàn tay con người và sự thâm trầm trong một gốc cây: tất cả đều có cùng một nguồn cội. Tên của tôi, của em, tên thật của mặt trời, hay của một dòng suối, của một đứa trẻ chưa chào đời, đều là những âm tiết của một từ ngữ vĩ đại, được thốt lên hết sức chậm rãi bởi ánh sáng của các vì sao. Không còn một quyền năng nào khác cả. Không còn một cái tên nào khác.”
Con dao của Murre dừng lại trên miếng gỗ đang khắc dở, và cậu hỏi: “Thế còn cái chết thì sao?”
Cô bé lắng nghe, mái đầu đen nhánh cúi xuống.
“Để một từ được thốt ra,” Ged chậm rãi trả lời, “phải có sự im lặng. Trước và sau từ đó.” Rồi đột nhiên chàng đứng bật dậy và nói, “Tôi không có quyền nói về những điều này. Điều tôi cần nói ra thì tôi đã nói sai. Tốt hơn hết là tôi nên im lặng; tôi sẽ không nói gì nữa. Có lẽ không có quyền năng thực sự nào ngoài bóng tối.” Và chàng rời khỏi bếp lửa cùng căn bếp ấm cúng, khoác chiếc áo choàng lên và một mình bước ra ngoài phố, trong màn mưa phùn lạnh lẽo của mùa đông.
“Anh ấy đã bị nguyền rủa,” Murre nói, nhìn theo chàng vẻ gần như sợ hãi.
“Em nghĩ cuộc hành trình này của anh ấy sẽ dẫn anh ấy đến chỗ chết,” cô bé nói, “và anh ấy khiếp sợ điều đó, nhưng anh ấy vẫn đi tiếp.” Cô ngẩng đầu lên như thể đang nhìn thấy, qua ngọn lửa đỏ rực trong lò, đường đi của một con thuyền đơn độc lướt qua mặt biển mùa đông, và tiếp tục đi về những đại dương hoang vắng khác. Rồi nước mắt dâng đầy lên trong mắt cô bé, nhưng cô không nói gì.
Ngày hôm sau Vetch trở về nhà, và cáo từ các nhân sĩ của Ismay, họ không hề muốn để anh rời khỏi đó và ra khơi vào giữa tiết đông, theo đuổi một sứ mệnh hiểm nguy không phải là của anh nhưng dù có thể trách cứ anh, họ cũng không thể làm gì để ngăn cản anh. Mệt mỏi vì bị các bô lão càu nhàu, anh nói: “Bằng vào nguồn gốc, phong tục và bổn phận đối với các ngài, thì tôi là người của các ngài. Tôi là pháp sư của các ngài. Nhưng đã đến lúc các ngài nên nhớ rằng, mặc dù tôi là một đầy tớ, tôi không phải là đầy tớ của các ngài. Khi nào tôi có thể trở về thì tôi sẽ trở về: cho đến lúc đó thì xin từ biệt.”
Vào lúc bình minh, khi ánh sáng mờ xám ló lên trên mặt biển phía Đông, hai chàng trai rời khỏi bến cảng Ismay trên con thuyền Trông Xa , giương cánh buồm bằng vải dày màu nâu đón gió Bắc. Yarrow đứng trên cầu cảng nhìn theo họ, như vợ và chị em gái của các thủy thủ trên toàn xứ Hải Địa đứng nhìn theo chồng và anh em của họ ra biển, họ không vẫy chào hay gọi to, mà chỉ đứng yên trong những chiếc áo choàng có mũ trùm màu xám hoặc nâu, đứng trên bờ biển, hình bóng họ mỗi lúc một nhỏ dần khi đứng từ con thuyền nhìn lại, trong khi vùng biển ở giữa cứ mãi rộng ra thêm.