Xứ Hải Địa 1, Pháp Sư Xứ Hải Địa

Lượt đọc: 695 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
BIỂN ĐẠI HẢI
image

Giờ đây, bến cảng đã khuất khỏi tầm nhìn, và đôi mắt vẽ trên mũi thuyền Trông Xa , ướt sũng vì sóng biển, tiếp tục hướng về phía trước, về những vùng biển mênh mông và hoang vu hơn. Suốt hai ngày hai đêm, đôi bạn đi từ Iffish đến Đảo Soders, trải qua một trăm dặm đường trong tiết trời khắc nghiệt và cơn gió thổi ngược chiều. Họ ở lại bến cảng trong một khoảng thời gian ngắn ngủi, chỉ đủ lâu để đổ đầy nước vào chiếc bao da, và mua một tấm vải buồm trát nhựa đường để phủ lên các thứ đồ đạc của họ trên con thuyền không có mui, bảo vệ chúng khỏi mưa gió và nước biển. Lúc trước họ đã không tính đến chuyện này, vì một pháp sư thường chăm lo đến những tiện nghi nho nhỏ như vậy bằng pháp thuật, thứ pháp thuật thông thường và dễ dàng nhất, và quả thực, họ chẳng phải dùng nhiều pháp thuật cũng có thể lọc muối ra khỏi nước biển, như vậy sẽ không phải vướng víu mang theo một bao nước ngọt. Nhưng có vẻ như Ged không hề có ý định sử dụng pháp thuật của mình hay chịu để cho Vetch làm thế. Chàng chỉ nói: “Tốt hơn là chúng ta không sử dụng nó,” và người bạn của chàng cũng không thắc mắc hay phản đối gì. Bởi vì ngay khi ngọn gió thổi phồng tấm buồm trên thuyền của họ, cả hai đã cảm nhận được một điềm báo nặng nề, lạnh lẽo chẳng khác nào làn gió mùa đông kia. Bến tàu, cầu cảng, sự bình yên, an toàn, tất cả đã lùi lại sau lưng. Họ đã bỏ đi. Giờ đây họ đang làm một cuộc hành trình đầy rẫy hiểm nguy, và không hành động nào là vô nghĩa. Trên con đường họ đang đi, câu thần chú đơn giản nhất cũng có thể thay đổi mọi tình thế, xoay chuyển thế cân bằng của quyền lực và của sự diệt vong: vì giờ đây họ đang trên đường đến tâm điểm của sự cân bằng đó, đi đến nơi ánh sáng và bóng tối gặp nhau. Vì thế hai người không thốt ra một lời bất cẩn nào.

Khi họ lại giương buồm và men theo đường bờ biển của Soders, nơi những cánh đồng tuyết phủ trắng xóa nối liền với những rặng đồi mù sương, Ged lại hướng con thuyền về phía Nam, và giờ họ đang đi vào vùng nước nơi các thương nhân lớn xứ Archipelago không bao giờ đi đến, đường ranh giới ngoài cùng của miền Đông Hải.

Vetch không hề hỏi xem họ đang đi đâu, anh biết rằng Ged không đi theo lựa chọn mà chỉ lái con thuyền đến nơi chàng phải đến. Khi Đảo Soders trở nên nhỏ xíu và mờ dần sau lưng họ, với những con sóng rít lên đập vào mũi thuyền, và một vùng nước xám xịt trống trải mở rộng ra khắp xung quanh họ cho đến tận chân trời, Ged liền hỏi: “Trước mặt chúng ta có đất liền không?”

“Ở phía Nam Soders thì không. Còn ở phía Đông Nam thì cũng phải đi rất xa mới gặp vài hòn đảo: Pelimer, Kornay, Gosk và Astowell, nó còn được gọi là đảo Tận Cùng. Còn sau đó là biển Đại Hải.”

“Thế còn phía Tây Nam thì sao?”

“Có Rolameny, một trong bốn hòn đảo thuộc vùng Đông Hải chúng tôi, và xung quanh nó có mấy hòn đảo nhỏ; rồi không có gì nữa cho tới khi vào đến vùng Nam Hải: Rood và Toom, và đảo Tai mà chẳng người thường nào bén mảng tới.”

“Chúng ta thì có thể đấy,” Ged nói vẻ chua chát.

“Tôi nghĩ là không nên,” Vetch đáp, - “người ta bảo rằng đó là một nơi không lấy gì làm thú vị, đầy xương người và điềm gở. Các thủy thủ nói trên mặt nước quanh đảo Tai và đảo Sorr Thượng, có những ngôi sao không thể nhìn thấy được ở bất kỳ nơi nào khác, những ngôi sao chưa bao giờ được đặt tên.”

“Đúng vậy, một thủy thủ trên con tàu đưa tôi đến Roke đã nói về những hòn đảo ấy. Anh ta cũng kể chuyện về giống người Bè Mảng ở xa tít ngoài Biển Nam, họ chỉ lên đất liền mỗi năm một lần để đốn các thân gỗ lớn cho những chiếc bè của họ, và suốt những ngày còn lại trong năm họ trôi nổi theo các dòng chảy của đại dương, không lại gần bất kỳ hòn đảo nào. Tôi rất muốn được nhìn thấy một ngôi làng bè mảng ấy.”

“Tôi thì không,” Vetch toét miệng cười, “xin cứ trao cho tôi đất liền và người trên đất liền; biển cả cứ tự do nằm trên giường của nó, còn tôi nằm trên giường của tôi...”

“Tôi ước gì mình có thể đến thăm tất cả thành bang xứ Archipelago,” Ged nói, tay nắm sợi thừng buộc tấm buồm, mắt ngắm nhìn mặt biển xám mênh mông, không một bóng thuyền trước mặt. “Havnor ở trung tâm thế giới, Éa nơi các huyền thoại ra đời, và Shelieth với các Suối Nước trên đảo Way; tất cả các thành phố và hòn đảo hùng vĩ ấy. Và cả những hòn đảo nhỏ nữa, những hòn đảo kỳ lạ ở vùng biển Ngoại Đảo ấy. Ước gì tôi có thể giương buồm đi thẳng đến Hang Rồng ở phía Tây. Hay đi về phía Bắc, giữa những tảng băng trôi, đến tận vùng Hogen. Có người nói đó là một vùng đất vĩ đại hơn toàn bộ xứ Archipelago, lại có người nói ở đó chỉ toàn các vỉa đá ngầm, núi non và băng giá. Không ai biết rõ cả. Tôi rất muốn được nhìn thấy loài cá voi ở vùng biển Bắc... Nhưng tôi không thể. Tôi phải đi tới nơi tôi buộc phải đến, quay lưng lại với những bờ biển rực sáng. Tôi đã sống quá vội vã, và giờ tôi chẳng còn lại chút thời gian nào nữa. Tôi đã đem mọi ánh sáng, mọi thành bang và mọi hòn đảo xa xôi ra đánh đổi lấy một chút quyền lực hão huyền, đánh đổi lấy một cái bóng, lấy đêm tối.” Và thế là, giống như các pháp sư khác, Ged chuyển mọi nỗi khiếp sợ, mọi sự hối tiếc của mình vào một bài ca, một bài bi ca ngắn, dở dang, không phải chỉ để cho riêng chàng; và Vetch đáp lại bằng mấy câu ca của người anh hùng trong bài ca Chiến Công của Erreth-Akbe : “Ôi, ước gì ta được nhìn thấy lò lửa rực sáng của thế gian một lần nữa, những ngọn tháp trắng của Havnor...”

Cứ thế họ đi tiếp trên con đường hẹp, ngang qua những vùng biển tiêu điều. Cả ngày hôm đó họ chỉ nhìn thấy một đàn cá bạc bơi về phía Nam, nhưng không có một con cá heo nào nhảy lên giỡn sóng, cũng không một con hải âu, một con vẹt biển hay một con hải yến nào cất cánh làm cho bầu trời xám đỡ phần đơn điệu. Khi phương Đông tối sầm lại và phương Tây đỏ rực lên dưới ánh hoàng hôn, Vetch lấy thức ăn ra chia cho Ged và nói: “Đây là phần rượu mùi cuối cùng đấy. Tôi nâng cốc cảm ơn người đã chu đáo chất lên thuyền cả một thùng phòng khi chúng ta thấy khát trong tiết trời lạnh lẽo này: cô em gái Yarrow của tôi.”

Nghe vậy, Ged liền quên đi những ý nghĩ u sầu của mình, thôi không nhìn đăm đăm ra biển nữa, và chàng cũng nâng cốc cảm ơn Yarrow, có lẽ còn nhiệt tình hơn cả Vetch nữa. Ý nghĩ về cô bé khiến chàng nhớ lại vẻ trang nghiêm chín chắn mà vẫn hết sức ngây ngô trẻ con của cô. Cô không giống với bất kỳ người nào chàng từng biết. (Mà chàng đã biết cô bé nào khác cơ chứ? Nhưng chàng không hề nghĩ đến điều này). “Cô bé giống như một con cá nhỏ, một con cá tuế 12 , bơi lội trong một dòng suối trong veo vậy,” chàng nói, “- không có gì tự vệ, nhưng cũng không ai bắt được.”

Nghe vậy, Vetch nhìn thẳng vào chàng và mỉm cười. “Cậu đúng là pháp sư bẩm sinh,” anh nói. “Tên thật của con bé là Kest đấy.” Ged biết rõ trong Cổ Ngữ, kest có nghĩa là cá tuế; và điều này khiến chàng vui sướng đến tận đáy lòng. Nhưng một lát sau, chàng hạ giọng nói: “Lẽ ra anh không nên cho tôi biết tên thật của cô bé.”

Nhưng Vetch, vốn đã không tiết lộ bí mật ấy một cách bất cẩn, đáp lại: “Với cậu, tên của con bé cũng được bảo vệ an toàn như tên của tôi vậy. Và hơn nữa, không cần tôi nói thì cậu cũng đã biết được rồi kia mà...”

Màu đỏ ở phương Tây đã biến thành màu xám tro, rồi màu xám tro lại biến thành màu đen. Toàn bộ mặt biển lẫn bầu trời đều tối mịt. Ged nằm duỗi dài dưới lòng thuyền, quấn mình trong chiếc áo choàng bằng len và lông thú, chuẩn bị đi ngủ. Vetch, tay giữ sợi thừng buộc buồm, thì khe khẽ ngâm nga bài Chiến Công của Enlad , kể về vị Bạch pháp sư Morred đã rời khỏi Havnor trên con thuyền dài không có mái chèo của mình, và khi đến đảo Soléa đã nhìn thấy nàng Elfarran trong vườn quả đang nở rộ hoa mùa xuân. Ged ngủ thiếp đi trước khi bài hát đi đến đoạn kết bi thảm của cuộc tình của họ, cái chết của Morred, cảnh điêu tàn của Enlad, làn sóng biển dữ dội và mênh mông đã nhận chìm khu vườn quả của đảo Soléa. Đến khoảng nửa đêm chàng thức dậy và canh gác trong khi Vetch ngủ. Con thuyền nhỏ lướt nhanh trên mặt biển bập bềnh sóng vỗ, được ngọn gió mạnh thổi căng buồm nên cứ thế lao đi trong bóng tối của màn đêm. Nhưng bầu trời u ám đã quang dần, và trước lúc bình minh, một mảnh trăng hiện ra giữa những đám mây rìa nâu, tỏa một thứ ánh sáng yếu ớt xuống mặt biển.

“Chị Hằng đã khuyết dần trong bóng tối,” Vetch lẩm bẩm, anh đã thức giấc lúc bình minh, khi ngọn gió lạnh buốt dịu đi một chút. Ged ngẩng lên nhìn vầng trăng lưỡi liềm trắng bạc trên mặt biển nhợt nhạt phía Đông, nhưng không nói gì. Tuần trăng non đầu tiên xuất hiện sau lễ hội Hồi Dương được gọi là Dã Nguyệt, và là ngày đối lập với ngày Nguyệt Hội và lễ Trường Vũ vào mùa hè. Đối với những người lữ hành và người ốm, quãng thời gian này hết sức xui xẻo; thiếu niên không được làm lễ đặt tên vào tuần Dã Nguyệt, không bài Anh hùng ca nào được hát, không ai mài gươm hay dao kéo, không ai thề thốt điều gì. Đó là cái trục hắc ám trong năm, chỉ toàn tai ương và những điều xấu xa.

Ba ngày sau khi rời khỏi Soders, bám theo các loài chim biển và lớp rong rêu trên bờ, họ đến được Pelimer, hòn đảo nhỏ nhô lên khỏi mặt biển xám dữ dội. Người dân ở đó cũng nói tiếng Hardic, nhưng với ngữ điệu riêng, ngay cả Vetch cũng thấy lạ tai. Hai chàng trai lên bờ để lấy nước ngọt và nghỉ ngơi một chút trên đất liền, xa khỏi biển khơi. Mới đầu dân đảo chào đón họ một cách tò mò và kinh ngạc. Trên thành bang lớn nhất trên đảo có một vị phù thủy, nhưng ông ta hơi dở người. Ông ta chỉ toàn nói đến một con mãng xà khổng lồ đang gặm nhấm nền móng của Pelimer, nên chẳng mấy chốc hòn đảo sẽ trôi nổi tựa như một con thuyền bị cắt dây buộc, và sẽ tuột khỏi rìa trái đất. Lúc đầu ông ta cũng lịch sự chào hai chàng pháp sư trẻ tuổi, nhưng khi bắt đầu nói về con mãng xà, ông ta liền đưa mắt liếc nhìn Ged: và rồi ông ta bỗng gào thét, quát tháo họ ngay giữa phố, gọi họ là do thám và thuộc hạ của con Hải Xà. Sau đó thì người dân đảo Pelimer đều nghiêm khắc nhìn hai người, vì mặc dù điên rồ, ông ta vẫn là phù thủy của họ. Vậy là Ged và Vetch không ở lại lâu, mà lên đường ngay trước khi trời tối, tiếp tục hướng về phía Đông Nam.

Trong những ngày đêm lênh đênh trên biển ấy, Ged không hề nhắc đến con quái vật bóng đen hay nói về cuộc hành trình của mình; lần duy nhất Vetch hỏi một câu liên quan đến điều này là khi họ đang đi mỗi lúc một xa hơn khỏi những hòn đảo được biết đến trên Hải Địa - “Cậu có chắc chắn không?” - Và Ged chỉ đáp lại: “Thỏi sắt có biết chắc viên đá nam châm nằm ở phía nào hay không?” Vetch gật đầu và họ lại đi tiếp, không ai nói thêm lời nào nữa. Nhưng thỉnh thoảng họ lại nói đến các pháp thuật và phương kế mà những pháp sư thuở xưa đã dùng để biết được cái tên bị giấu kín của các vật và các quyền năng xấu xa: Nereger xứ Paln biết được danh tính của tên Pháp sư Hắc Ám nhờ nghe lỏm được loài rồng nói chuyện với nhau ra sao, và Morred nhìn thấy tên kẻ thù của mình được viết nên bằng những hạt mưa rơi xuống đám bụi trên bãi chiến trường ở Đồng bằng Enlad như thế nào. Họ nói về các phép tìm kiếm, những lời thần chú, và những Câu hỏi phải Trả lời mà chỉ có thầy Kiến Thiết trên đảo Roke mới hỏi được. Nhưng thường thường Ged lại kết thúc mọi cuộc bàn luận bằng cách lẩm bẩm mấy từ mà Ogion đã nói với chàng trên sườn Núi Gont vào một ngày thu cách đây lâu lắm rồi: “Để lắng nghe, người ta phải biết im lặng...” Và rồi chàng im bặt, trầm ngâm suy nghĩ hàng giờ liền, mắt đăm đăm nhìn ra mặt biển trước mũi thuyền. Đôi khi Vetch cảm thấy như bạn mình đã nhìn xuyên qua những con sóng, qua những dặm đường và những ngày dài mờ xám trong tương lai, để thấy được vật họ đang bám theo và kết cục mờ mịt của cuộc hành trình của họ.

Họ đi qua giữa Kornay và Gosk trong thời tiết rất xấu, đầy mưa và sương mù đến nỗi không thấy được đất liền, và chỉ biết mình đã đi qua hai hòn đảo đó khi ngày hôm sau họ nhìn thấy trước mặt một hòn đảo với những vách đá cao vút, nhọn hoắt, xung quanh là từng bầy hải âu đang lượn vòng, tiếng rít ầm ĩ của chúng vang vọng khắp mặt biển. Vetch nói: “Xem ra đó là đảo Astowell rồi. Hòn đảo Tận Cùng. Trên bản đồ thì ở phía Đông và phía Nam của nó không còn mảnh đất nào khác cả.”

“Nhưng những người sống ở đó có thể biết đến những mảnh đất ở xa hơn,” Ged trả lời.

“Sao cậu lại nói thế?” Vetch hỏi, vì giọng Ged có vẻ lo sợ; và chàng ngập ngừng thốt ra một câu trả lời kỳ lạ. “Không phải ở đó,” chàng lẩm bẩm, nhìn không chớp về đảo Astowell trước mặt, nhìn vượt qua nó, hoặc xuyên qua nó. - “Không phải ở đó. Không phải trên biển. Không phải trên biển mà là trên đất liền: nhưng là ở đâu? Phía trước những con suối đổ ra biển rộng, phía trước của nguồn cội, đằng sau cánh cổng ánh sáng...”

Rồi chàng im bặt, và khi chàng lại lên tiếng thì giọng chàng đã trở lại bình thường, như thể vừa thoát khỏi một bùa mê hay một cảnh mộng nào đó mà chàng không nhớ rõ.

Bến cảng của Astowell, một cửa sông ở giữa hai đỉnh núi đá, nằm trên bờ biển phía Bắc hòn đảo, mọi căn lều trong thành đều hướng về phía Bắc hoặc phía Tây; như thể toàn bộ hòn đảo, mặc dù ở rất xa, vẫn đang cố quay mặt về phía Hải Địa, về phía con người.

Người dân ở đó vừa phấn khích vừa hoang mang khi thấy hai người lạ, vì vào thời gian này trong năm không có con thuyền nào xuất hiện trên vùng biển quanh Astowell. Cánh phụ nữ ở lại trong những căn lều bằng phên liếp, ghé mắt nhìn qua khe cửa, giữ đàn con núp sau váy mình, sợ hãi lùi vào bóng tối của căn lều khi hai người lạ từ bãi biển đi lên. Những người đàn ông, gầy gò, ăn mặc phong phanh không đủ để chống lạnh, quây lại thành một vòng tròn nghiêm nghị quanh Vetch và Ged, mỗi người đều cầm một cây rìu bằng đá hoặc một con dao bằng vỏ ốc. Nhưng một khi nỗi e ngại của họ đã qua, họ liền vui vẻ đón chào hai chàng trai lạ mặt, và hỏi không ngừng. Rất hiếm khi có một con thuyền nào cập bến ở hòn đảo của họ, ngay cả thuyền từ Soders hay Rolameny cũng không, họ không có gì để đổi lấy đồ đồng hay những thứ công cụ khác; họ thậm chí còn không có cả gỗ. Thuyền của họ đều là thuyền thúng đan bằng sậy, và phải là một thủy thủ can đảm thì mới dám đi đến Gosk hay Kornay trên một con thuyền như vậy. Họ sống đơn độc ở nơi này, bên rìa của mọi tấm bản đồ. Họ không có phù thủy hay pháp sư, và hình như họ cũng không nhận ra những cây quyền trượng của hai vị pháp sư trẻ tuổi là gì, mà chỉ trầm trồ vì chúng được làm từ một vật liệu quý hiếm, gỗ. Vị tù trưởng hay Trưởng lão của họ rất già, và ông là người duy nhất trên đảo từng gặp một người sinh trưởng ở Archipelago. Chính vì thế mà đối với họ, Ged quả là một kỳ quan; đám đàn ông dẫn những đứa con nhỏ của họ đến để ngắm nhìn chàng trai người Archipelago, để khi về già chúng có cái mà nhớ đến chàng. Họ chưa bao giờ nghe nói đến đảo Gont, mà chỉ biết đến Havnor và Éa, nên đã tưởng chàng là một Lãnh chúa Havnor. Chàng cố hết sức để trả lời những câu hỏi của họ về thành phố với những tòa tháp trắng mà chính chàng cũng chưa bao giờ nhìn thấy đó. Nhưng buổi tối ấy càng kéo dài thì chàng càng thấy nóng ruột hơn, và cuối cùng, khi họ đang ngồi quanh đống lửa ở gian nhà chính, trong hơi ấm nặng mùi của những bánh phân dê và những bó đậu chổi, thứ chất đốt duy nhất trên đảo, chàng liền hỏi đám đàn ông trong làng: “Ở phía Đông hòn đảo của các vị có vùng đất nào khác không?”

Tất cả đều im lặng, kẻ thì cười, người thì nghiêm mặt lại.

Vị Trưởng lão đáp: “Chỉ có biển thôi.”

“Không có hòn đảo nào khác ư?”

“Đây là đảo Tận Cùng. Không còn hòn đảo nào khác nằm sau đảo chúng tôi nữa. Không còn gì khác ngoài biển khơi, cho đến tận cùng trái đất.”

“Những người này rất thông thái, cha ạ,” một người trẻ hơn nói, “họ là những người đi biển, những nhà du hành. Có lẽ họ biết một vùng đất mà chúng ta không biết.”

“Không còn hòn đảo nào ở phía Đông vùng đất này,” ông già nhắc lại, nhìn Ged một lúc lâu, rồi không nói gì với chàng nữa.

Đêm đó hai người bạn ngủ lại trong gian nhà ấm áp đầy hơi khói. Trước rạng đông, Ged đánh thức anh bạn của mình, thì thầm: “Estarriol, dậy đi. Chúng ta không thể ở lại đây được nữa, phải đi thôi.”

“Sao lại đi sớm thế?” Vetch hỏi, giọng vẫn còn ngái ngủ.

“Không sớm đâu - đã muộn rồi. Tôi đã quá chậm chạp khi đuổi theo nó. Nó đã tìm được cách để trốn thoát, và đẩy tôi vào đường cùng. Không thể để nó chạy thoát được, vì tôi phải bám theo nó cho dù nó có đi xa đến đâu. Nếu để mất dấu nó thì tôi cũng để mất luôn bản thân mình.”

“Chúng ta sẽ đi về đâu để đuổi theo nó?”

“Phía Đông. Dậy đi. Tôi đã đổ đầy nước vào bao rồi.”

Vậy là họ rời khỏi gian nhà khi chưa người dân nào thức dậy, ngoại trừ một đứa bé sơ sinh đang khóc trong bóng tối của một căn lều nào đó, rồi lại im lặng. Dưới ánh sao mờ nhạt, họ tìm đường xuống cửa sông, tháo dây buộc thuyền Trông Xa ra khỏi ụ đá nơi nó neo lại, và đẩy nó ra mặt biển tối sẫm. Vậy là họ lại lên đường về phía Đông, rời khỏi Astowell đi vào biển Đại Hải, trong ngày đầu tiên của tuần Dã Nguyệt, trước khi mặt trời mọc.

Ngày hôm đó, bầu trời khá quang đãng. Gió thổi từ phía Đông Bắc, lạnh cóng và rất mạnh, nhưng Ged đã nổi lên một ngọn gió thần: pháp thuật đầu tiên chàng thực hiện kể từ khi rời khỏi đảo Bàn Tay. Họ đi rất nhanh về phía Đông. Con thuyền tròng trành trước những làn sóng lớn ngầu bọt, lấp lánh ánh mặt trời, nhưng nó gan dạ tiến tới đúng như người ngư dân đóng nên nó đã hứa, tiến theo ngọn gió thần chẳng khác nào một con thuyền được phù phép trên đảo Roke.

Cả sáng hôm đó Ged không nói một lời, chỉ cất tiếng để giữ vững sức mạnh của cơn gió thần hay bùa phép trên tấm buồm, còn Vetch thì nằm ở đuôi thuyền ngủ bù, mặc dù anh cũng có vẻ lo lắng. Đến trưa, họ lấy đồ ra ăn. Ged dè sẻn chia ra một ít thức ăn, và phần thức ăn ấy cũng rất đơn sơ, hai người lặng lẽ nhai phần cá muối khô và bánh mì của mình, không nói một lời.

Suốt buổi chiều họ lướt sóng về phía Đông, không rẽ sang hướng nào khác, cũng không hề đi chậm lại. Ged chỉ phá vỡ sự im lặng một lần, khi chàng hỏi: “Anh đồng tình với những người nghĩ rằng bên ngoài biển Đại Hải chỉ là đại dương trơ trọi không đất liền, hay với những người tưởng tượng rằng phía bên kia thế giới vẫn còn những xứ Archipelago khác, hay những hòn đảo rộng lớn khác, chưa hề được khám phá?”

“Vào lúc này thì,” Vetch đáp, “tôi đồng ý với những người nghĩ rằng trái đất chỉ có một phía, và kẻ nào đi quá xa thì sẽ rơi khỏi mép thế gian.”

Ged không hề mỉm cười; chàng không còn lòng dạ nào để cười đùa nữa. “Ai mà biết được người ta có thể gặp được những gì ở ngoài kia? Chúng ta thì không thể rồi, vì chúng ta luôn men theo bờ biển và đất liền.”

“Nhiều người đã ra đi để tìm hiểu, nhưng họ không bao giờ quay về nữa. Và cũng chưa có con tàu nào đến với chúng ta từ những vùng đất mà chúng ta không biết cả.”

Ged không đáp lại.

Suốt cả ngày và đêm đó, con thuyền được ngọn gió thần mạnh mẽ đẩy tới phía Đông, vượt qua những đợt sóng cồn khổng lồ của đại dương. Ged canh gác từ lúc mặt trời lặn cho đến tận bình minh, bởi vì trong bóng tối, sức mạnh đang lôi kéo hay thôi thúc chàng lại càng mạnh hơn. Chàng luôn luôn nhìn về phía trước, mặc dù trong đêm tối không trăng, chàng cũng chẳng thấy được rõ hơn hai con mắt vẽ trên mũi thuyền đui mù. Sáng hôm sau, khuôn mặt sạm nâu của chàng bạc đi vì mệt mỏi, và người chàng lạnh cứng đến nỗi gần như không thể nằm thẳng ra để nghỉ ngơi. Chàng thì thào: “Giữ cho cơn gió thần thổi từ phía Tây tới nhé, Estarriol,” rồi ngủ thiếp đi.

Mặt trời không tỏa nắng, và một cơn mưa từ phía Đông Bắc kéo đến đổ rào rào lên mũi thuyền. Đó không phải là một cơn bão, mà chỉ là cơn mưa và thứ gió lạnh lẽo, dai dẳng của mùa đông. Chẳng mấy chốc mọi thứ trên con thuyền không mui đều ướt sũng, bất chấp đã được phủ bằng tấm vải buồm họ mua; và Vetch cảm thấy như mình cũng ướt đến tận xương; còn Ged thì khẽ rùng mình trong giấc ngủ. Có lẽ vì thương bạn, và cũng vì bản thân mình nữa, Vetch liền tìm cách đẩy tránh sang một bên ngọn gió tàn nhẫn đang thổi không ngừng, phả mưa lên người họ. Nhưng mặc dù anh vẫn giữ được cơn gió thần thổi đều đặn và đúng hướng như Ged đã dặn, khả năng điều khiển thời tiết của anh chẳng có tác dụng gì mấy ở một nơi cách xa đất liền như thế này, và cơn gió của biển Đại Hải không hề nghe theo mệnh lệnh của anh.

Khi ấy, một nỗi sợ hãi bỗng xâm chiếm Vetch, vì anh bắt đầu tự hỏi không biết anh và Ged sẽ còn lại bao nhiêu quyền pháp, nếu họ cứ tiếp tục đi mãi, rời xa khỏi những hòn đảo có người ở như thế này.

Đêm đó Ged lại thức canh chừng, và suốt đêm chàng đưa con thuyền về phía Đông. Đến sáng cơn gió thường đã dịu bớt chút ít, và mặt trời tỏa ánh nắng lúc ẩn lúc hiện; nhưng những đợt sóng dồi dâng lên cao đến nỗi thuyền Trông Xa phải nghiêng đi và trèo qua từng con sóng như thể chúng là những ngọn đồi, rồi bám vào đỉnh sóng và đột ngột nhào xuống, để rồi lại trèo lên con sóng tiếp theo, tiếp theo, tiếp theo nữa, mãi mãi không bao giờ dừng lại.

Đến tối ngày hôm ấy, Vetch lên tiếng, phá vỡ sự im lặng kéo dài. “Anh bạn,” anh nói, “một lần cậu đã nói như thể cậu biết chắc chúng ta sẽ tìm được đất liền. Tôi không bao giờ nghi ngờ quyết định của cậu ngoại trừ lần này, bởi vì nó có thể là một âm mưu, một cái bẫy đánh lừa cậu, khiến cậu bám theo, nhử cậu đến một nơi xa xôi trên biển, một nơi chưa người nào đến được. Sức mạnh của chúng ta có thể thay đổi và yếu đi trên những vùng biển xa lạ này. Và một bóng đen thì lại không bao giờ biết mệt, hay đói, hay bị chết đuối.”

Họ đang ngồi cạnh nhau trên tấm ván bắc ngang thuyền, thế nhưng giờ Ged lại nhìn anh như thể có cả một vực thẳm rộng hoác chắn giữa họ vậy. Mắt chàng đầy vẻ lo âu, và một lúc lâu chàng vẫn không trả lời.

Mãi sau chàng mới nói: “Chúng ta đang đến gần hơn rồi, Estarriol ạ.”

Nghe những lời ấy, anh bạn của chàng biết rằng chàng nói thật. Điều đó khiến anh sợ hãi. Nhưng anh chỉ đặt tay lên vai Ged và nói: “Thế thì tốt; rất tốt.”

Đêm đó Ged lại thức canh gác, bởi vì chàng không chợp mắt nổi trong bóng tối. Sang đến ngày thứ ba, chàng vẫn không ngủ. Họ tiếp tục vượt biển nhanh đến kinh hoàng, không hề dừng lại, và Vetch kinh ngạc khi thấy Ged vẫn còn đủ sức để giữ vững cơn gió thần suốt từ giờ này sang giờ khác như thế, trên biển Đại Hải này, trong khi chính anh thì lại cảm thấy mọi quyền pháp của mình đã yếu hẳn đi, mất hết phương hướng. Và họ vẫn đi tiếp, cho đến khi Vetch thấy dường như những gì Ged nói sẽ trở thành sự thật, và họ đang vượt qua mọi cội nguồn của biển khơi, đi về phía Đông, đi qua cánh cổng của ánh sáng. Ged vẫn đang ngồi ở mũi thuyền như mọi khi, mắt nhìn về phía trước. Nhưng giờ chàng không còn dõi theo mặt biển nữa, hay đúng hơn là không dõi theo mặt biển mà Vetch nhìn thấy, một vùng nước nhấp nhô sóng, hoang vắng, kéo dài đến tận đường chân trời. Đôi mắt của Ged lại nhìn thấy một mảng tối phủ lên bầu trời và mặt biển xám như một tấm mạng, mảng tối đó đang lớn dần, tấm mạng đó đang dày lên. Vetch không nhìn thấy gì hết, chỉ khi nhìn vào gương mặt của người bạn mình thì trong thoáng chốc anh mới thấy được bóng đen đó. Họ vẫn đi tiếp, đi tiếp. Và mặc dù họ đang ở cùng trên một con thuyền, được đẩy bởi cùng một ngọn gió, dường như Vetch thì vẫn đi về phía Đông trên mặt biển của thế gian, trong khi Ged một mình tiến vào một lãnh địa nơi không có phương Đông hay phương Tây, không có hoàng hôn hay bình minh, không có ngôi sao nào mọc hay lặn.

Đang ngồi ở mũi thuyền, Ged đột nhiên đứng bật dậy và cất tiếng nói to, Ngọn gió thần ngừng thổi. Thuyền Trông Xa đứng sững lại, chồm lên và lao xuống đợt sóng lớn như một mẩu gỗ vụn. Mặc dù cơn gió thường vẫn đang thổi mạnh từ phía Bắc đến, tấm buồm nâu lại rũ xuống, không hề nhúc nhích. Và thế là con thuyền trôi bập bềnh trên sóng, chậm rãi, lắc lư, nhưng không đi về đâu cả.

Ged bảo: “Hãy hạ buồm xuống,” và Vetch vội vã làm theo, trong khi Ged tháo dây buộc mái chèo, hạ chúng xuống và gò lưng chèo.

Vetch chỉ nhìn thấy những con sóng nối đuôi nhau kéo dài hút tầm mắt, và không hiểu tại sao họ lại phải dùng mái chèo; nhưng anh chỉ im lặng chờ đợi, và dần dần nhận ra rằng gió đang dịu đi và làn sóng đang yếu dần. Con thuyền không còn chồm lên ngụp xuống nữa, cho đến khi dường như chỉ có nhịp chèo mạnh mẽ của Ged đẩy nó tới trước, trên một vùng nước gần như im lìm tựa mặt biển nơi một cái vịnh bao quanh bởi đất liền vậy. Và mặc dù Vetch không thấy được những gì Ged thấy khi chàng ngoảnh lại qua vai để nhìn về phía trước con thuyền, giữa các nhịp chèo - mặc dù Vetch không thể nhìn thấy những con dốc thẳm tối bên dưới những chòm sao không bao giờ dịch chuyển, cặp mắt pháp sư của anh cũng bắt đầu nhìn thấy một mảng tối hiện ra giữa các con sóng khắp xung quanh con thuyền, và thấy những con sóng cồn hạ xuống thấp dần, đờ đẫn như thể chúng đang bị cát chặn lại.

Nếu đó là một ảo ảnh do pháp thuật tạo nên thì phải là một pháp thuật vĩ đại quá sức tưởng tượng mới có thể khiến biển Đại Hải trở thành đất liền như vậy. Cố trấn tĩnh và thu hết can đảm, Vetch đọc lời thần chú Tiết lộ, tìm kiếm giữa những câu chú mà anh đang chậm chạp thốt ra xem có ảo ảnh nào rung động hay biến đổi trên đáy biển sâu thẳm đang cạn dần và nâng cao lên kia không. Nhưng chẳng có gì cả. Có lẽ lời thần chú ấy không có tác dụng ở đây, mặc dù nó chỉ ảnh hưởng đến những gì anh nhìn thấy chứ không ảnh hưởng đến bùa phép đang diễn ra quanh họ. Hay có lẽ không có ảo ảnh nào cả, mà quả thực là họ đang đi đến chỗ tận cùng trái đất.

Không chú ý tới mọi thứ quanh mình, Ged vẫn chèo tiếp, dù đã chậm hơn, vẫn liên tục nhìn qua vai mình, tìm đường giữa những eo biển, các bãi cát ngầm và những vũng cạn mà chỉ một mình chàng nhìn thấy. Con thuyền rung lên bần bật khi phần đuôi bị kéo lê trên mặt nước. Dưới đuôi thuyền là đáy biển sâu mênh mông, ấy vậy mà nó vẫn bị mắc cạn. Ged kéo hai mái chèo lên khiến chúng kêu lọc cọc, tiếng động ấy thật khủng khiếp bởi vì khắp xung quanh không có một âm thanh nào khác. Mọi âm thanh của biển, gió, ván gỗ, vải buồm, đều đã biến mất, chìm vào sự yên tĩnh thăm thẳm, có lẽ chưa bao giờ bị phá vỡ. Con thuyền đứng yên. Không có một hơi gió. Biển cả đã biến thành một bãi cát mờ tối, phẳng lì. Không có gì chuyển động trên bầu trời tối đen hay trên mặt đất khô cằn, hư ảo trải dài hút tầm mắt về phía bóng tối đang đặc lại xung quanh con thuyền.

Ged đứng dậy, nắm chặt cây quyền trượng của mình, và nhẹ nhàng bước qua mạn thuyền. Vetch tưởng sẽ thấy chàng ngã nhào và chìm xuống biển, vùng biển chắc chắn đang nằm đó, bên dưới tấm màn mờ mịt, khô khốc đang che phủ bầu trời, mặt nước và ánh sáng. Nhưng không còn biển xung quanh họ nữa. Ged bước đi, rời xa khỏi con thuyền. Lớp cát tối in hằn dấu chân chàng mỗi khi chàng bước tới, và khẽ lạo xạo dưới chân chàng.

Cây quyền trượng của chàng bắt đầu tỏa sáng, không phải với ngọn lửa lân tinh mà với một quầng sáng trắng rực rỡ, nó nhanh chóng trở nên chói lòa đến nỗi các ngón tay của chàng đỏ lên khi nắm phải cây gỗ sáng chói.

Chàng bước tới trước, rời xa con thuyền, nhưng không đi về hướng nào cả. Ở đây không có phương hướng nào hết, không có hướng Bắc hay hướng Nam, hướng Đông hay hướng Tây, chỉ có phía trước và phía sau mà thôi.

Đối với Vetch, khi anh nhìn theo Ged, ánh sáng trên cây quyền trượng của chàng giống như một ngôi sao lớn đang chậm rãi di chuyển qua bóng tối. Và bóng tối xung quanh nó trở nên dày đặc hơn, tối đen hơn, như đang tụ lại với nhau. Ged, mắt vẫn luôn nhìn về phía trước, cũng nhìn thấy điều này nhờ có ánh sáng của cây quyền trượng. Và một lát sau, chàng nhìn thấy ở rìa bên ngoài lờ mờ của quầng sáng, một bóng đen đang tiến qua bãi cát đi về phía chàng.

Mới đầu nó không có hình thù gì, nhưng khi lại gần hơn nó bắt đầu có hình người. Trông nó giống như một ông già, tóc bạc, nét mặt nghiêm khắc, bước về phía Ged; nhưng khi Ged vừa nhận ra trong hình người ấy có nét của cha chàng, người thợ đồng, thì chàng thấy nó không còn là một ông già nữa mà là một chàng trai trẻ. Đó là Jasper: nó có khuôn mặt trẻ trung, đẹp đẽ mà xấc xược của Jasper, chiếc áo choàng xám cài ghim bạc của Jasper, bước chân kiêu ngạo của Jasper. Qua khoảng không giữa hai người, y ném cho Ged một cái nhìn đầy căm ghét. Ged không hề dừng bước, nhưng đi chậm lại, và khi tới gần chàng giơ cây quyền trượng lên cao hơn một chút. Nó tỏa sáng hơn, và dưới ánh sáng ấy, hình dạng của Jasper biến mất khỏi bóng đen đang tiến lại, và nó biến thành Pechvarry. Nhưng khuôn mặt của Pechvarry sưng húp và xanh nhợt như mặt người chết trôi, và bác giơ tay ra một cách kỳ lạ như thể đang vẫy chàng lại gần. Ged vẫn không dừng lại mà tiếp tục bước tới, mặc dù bây giờ họ chỉ còn cách nhau vài thước. Thế rồi bóng đen đang đối mặt với chàng bỗng biến đổi hoàn toàn, trải rộng ra hai bên như thể đang xòe ra một cặp cánh mỏng tang, rồi nó co rúm lại, phồng lên, rồi lại thu nhỏ một lần nữa. Ged thoáng thấy trong đó bộ mặt trắng bệch của Skiorh, rồi thấy một cặp mắt mờ đục, đăm đăm không chớp, rồi đột nhiên một khuôn mặt đáng sợ mà chàng chưa bao giờ nhìn thấy hiện ra, không biết là mặt người hay mặt quái vật, với cái miệng méo mó và đôi mắt như hai cái hố đen sâu hoắm, trống trơn.

Ged liền giơ cao cây quyền trượng, và ánh sáng của nó càng tỏa ra rực rỡ đến chói mắt, một ánh sáng vĩ đại, trắng lóa đến nỗi nó chiếu xuyên qua và đẩy lùi cả bóng tối ngàn đời ấy. Dưới ánh sáng đó, mọi hình dạng của con người liền biến khỏi bóng đen đang tiến về phía Ged, như rắn lột xác. Nó co lại, trở thành một vật rúm ró, đen sì, bò trên cát với bốn cái chân có móng vuốt. Nhưng nó vẫn tiến tới trước, một cái mõm dị dạng không mũi miệng, không tai mắt, hếch lên nhìn chàng. Đúng lúc chàng và con quái vật gặp nhau, nó trở nên đen thẳm trong ánh sáng thần kỳ sáng rực đang tỏa ra xung quanh, và nó đứng thẳng lên. Trong im lặng, chàng trai và bóng đen đứng mặt đối mặt, và cả hai cùng dừng lại.

Cất tiếng thật to và dõng dạc, phá vỡ sự yên tĩnh cổ xưa ấy, Ged gọi tên bóng đen, và cùng lúc đó bóng đen cũng cất tiếng mà không cần miệng hay lưỡi, cùng gọi một cái tên: “Ged.” Và hai giọng nói ấy là một.

Ged vươn tay ra, ném cây quyền trượng của mình xuống, và tóm lấy bóng đen của mình, tóm lấy cái phần đen tối trong con người mình, nó cũng đang vươn về phía chàng. Ánh sáng và bóng tối gặp nhau, hòa vào với nhau, và biến thành một.

Nhưng đối với Vetch đang đứng trên bãi cát đằng xa và kinh hoàng nhìn xuyên qua cảnh tranh tối tranh sáng, dường như Ged đang bị đánh bại, vì anh thấy ánh sáng rực rỡ kia mờ dần, yếu đi. Nỗi giận dữ và tuyệt vọng trào lên trong lòng, anh liền nhảy ra khỏi thuyền để trợ giúp người bạn của mình hay để chết cùng với bạn, và chạy về phía đốm sáng nhỏ xíu yếu ớt trong bóng chiều trống rỗng của vùng đất khô cằn đó. Nhưng cát sụt xuống dưới chân anh, và anh vùng vẫy như bị rơi vào một hố cát lún hay một luồng nước chảy dữ dội: cho đến khi một tiếng động lớn vỡ ra, ánh sáng ban ngày lại tỏa rạng, cái lạnh của mùa đông lại buốt giá, và anh thấy vị mặn chát của nước biển trong miệng, và nhận ra thế giới đã trở lại như cũ, và mình đang vật lộn giữa biển khơi, biển khơi đích thực, sinh động, vừa bất ngờ hiện ra.

Gần đó, con thuyền đang lắc lư trên làn sóng xám, trống không. Vetch không thấy gì khác trên mặt nước; những ngọn sóng đập liên hồi vào mắt khiến anh không nhìn rõ nổi. Dù không phải là người bơi giỏi, anh vẫn cố sức đập nước bơi về phía con thuyền, và đu mình trèo lên. Vừa ho sặc sụa, vừa cố vắt nước đang nhỏ xuống từ mái tóc, anh tuyệt vọng nhìn quanh mà không biết phải nhìn về đâu. Mãi một lúc sau anh mới thấy một vật tối sẫm bập bềnh giữa những con sóng, cách con thuyền một quãng xa, ở nơi lúc trước còn là bãi cát mà giờ đã trở lại thành mặt biển dữ dội. Vetch liền chộp lấy hai mái chèo và vội vã chèo đến chỗ bạn mình, rồi túm được hai tay Ged và vừa đỡ vừa kéo chàng lên thuyền.

Mặt Ged đờ đẫn, mắt chàng ngây ra như không nhìn thấy gì, nhưng trên người chàng không có thương tích nào. Tay chàng vẫn nắm chặt cây quyền trượng bằng gỗ thủy tùng đen, mọi ánh sáng của nó đã tắt lịm, nhưng chàng không chịu buông nó ra. Chàng không thốt ra một lời nào. Kiệt sức, người ướt sũng, run rẩy, chàng nằm co rúm cạnh cột buồm, không hề đưa mắt nhìn Vetch trong khi anh giương buồm lên và quay thuyền lại để đón ngọn gió Đông Bắc. Chàng không nhìn thấy gì quanh mình mãi cho đến khi, thẳng trước mặt họ, trên bầu trời đang tối lại vì mặt trời đã lặn, giữa những dải mây dài hiện lên một quầng sáng xanh trong trẻo, vầng trăng non hiện ra: một vành trăng ngà mảnh dẻ phản chiếu lại ánh mặt trời, tỏa sáng lên mặt biển tối sẫm.

Ged ngẩng đầu lên và chăm chú nhìn vầng trăng lưỡi liềm rạng rỡ, xa xăm đó.

Chàng nhìn một lúc lâu, rồi bỗng đứng thẳng lên, hai tay giơ cây quyền trượng lên tựa như một chiến binh giơ cao thanh gươm của mình. Chàng nhìn xung quanh, ngắm bầu trời, mặt biển, tấm buồm nâu trên đầu mình, và khuôn mặt của người bạn.

“Estarriol,” chàng nói, “nhìn này, tất cả đã xong rồi. Tất cả đã kết thúc rồi.” Chàng cười to. “Vết thương đã lành,” chàng nói, “tôi đã toàn vẹn trở lại, tôi đã được tự do.” Rồi chàng cúi xuống, gục đầu vào hai cánh tay và khóc nức nở như một đứa trẻ.

Mãi cho đến tận lúc đó, Vetch vẫn ngắm nhìn chàng một cách sợ hãi, lo ngại, bởi vì anh không biết chuyện gì đã xảy ra trên vùng đất tăm tối đó. Anh không biết người đang ở trong thuyền với anh có phải là Ged hay không, và suốt mấy giờ đồng hồ, tay anh lăm lăm chiếc mỏ neo, sẵn sàng đập thủng ván thuyền và đánh chìm nó ngay giữa biển khơi, chứ không chịu đem con quái vật xấu xa mà anh sợ là đã chiếm lấy hình dạng của Ged về các bến cảng xứ Hải Địa. Giờ khi nhìn thấy bạn mình như vậy, và nghe tiếng nói của bạn, mọi nỗi ngờ vực của anh biến mất. Và anh cũng dần nhận ra sự thật rằng Ged không thắng hay bại, mà khi dùng tên của chính mình để đặt cho con quái vật bóng đen, kẻ tử thù trong mình, chàng đã trở nên toàn vẹn: một con người; khi người đó biết được bản chất thực sự, vẹn toàn của mình, thì sẽ không bao giờ bị lợi dụng hay điều khiển bởi bất kỳ quyền lực nào khác ngoài quyền lực của chính mình, và như vậy người ta sẽ sống cuộc đời của mình vì bản thân cuộc sống đó, chứ không phải để phục vụ những cảnh đổ nát, những nỗi đớn đau, những sự hằn thù, hay bóng tối. Trong Sự ra đời của Éa , bài ca cổ nhất trên đời, có đoạn: “Chỉ trong sự tĩnh lặng vô cùng, chỉ trong bóng tối mịt mùng, chỉ trong cuộc đời sắp tắt: cánh chim cắt mới cất lên rực sáng trên bầu trời trống trải mênh mang.” Vetch cất tiếng hát to bài ca ấy trong khi anh lái thuyền về phía Tây, xuôi theo ngọn gió lạnh của đêm đông đang thổi vào lưng họ, từ mặt biển Đại Hải bát ngát, mênh mông.

Phải mất tám ngày, rồi tám ngày nữa, họ mới thấy được đất liền. Rất nhiều lần họ phải dùng pháp thuật biến nước biển thành nước ngọt để đổ vào bao da; và họ cũng câu cá nữa, nhưng ngay cả khi dùng các bùa phép của ngư dân họ cũng không bắt được là bao, bởi vì những loài cá ở biển Đại Hải không biết tên thật của chúng và không hề để ý đến pháp thuật. Khi họ không còn gì để ăn nữa, ngoài mấy mẩu thịt xông khói, Ged nhớ lại câu nói của Yarrow khi chàng lấy tấm bánh mì trong lòng lò, rằng chàng sẽ hối tiếc hành động đó khi chàng bị đói trên biển; nhưng mặc dù bụng đói, ý nghĩ ấy vẫn khiến chàng vui sướng trong lòng. Bởi vì cô bé cũng đã nói rằng chàng và anh trai của cô sẽ quay trở về.

Ngọn gió thần đã đưa họ đi về phía Đông chỉ trong vòng ba ngày, nhưng họ phải mất mười sáu ngày để quay về hướng Tây. Chưa từng có ai đi ra biển Đại Hải xa đến thế mà vẫn quay trở về được, như hai chàng pháp sư trẻ tuổi Estarriol và Ged trong tuần Dã Nguyệt giữa mùa đông đó, trên con thuyền đánh cá không mui của họ. Họ không gặp cơn bão lớn nào, và vững vàng tiến lên phía trước nhờ có chiếc la bàn và ngôi sao Tolbegren, hơi chếch về phía Bắc so với con đường họ đi lúc đầu. Vì vậy họ không quay lại Astowell, chỉ đi qua Toly Thượng và Sneg mà không chú ý tới chúng, chỉ nhìn thấy dải bờ biển ở mũi đất phía Nam của đảo Koppish. Trên làn sóng họ thấy những vách núi đá vươn cao tựa như một pháo đài hùng mạnh. Các loài chim biển lượn vòng trên những đợt sóng vỗ bờ, kêu ầm ĩ, và làn khói bếp xanh xanh của các ngôi làng nhỏ tản mát theo gió.

Từ đó, chặng đường về Iffish không còn dài nữa. Họ cập bến Ismay vào một buổi tối yên tĩnh, ngay trước khi tuyết rơi. Họ buộc con thuyền Trông Xa lại, con thuyền đã đưa họ đến bờ biển của vùng tử địa rồi lại đưa họ trở về, và đi lên những con phố hẹp để đến căn nhà của vị pháp sư. Lòng nhẹ nhõm, thư thái, họ bước vào ánh lửa và hơi ấm dưới mái nhà; và Yarrow lao ra đón họ với một tiếng reo vui.

« Lùi
Tiến »