Tuyển tập truyện ngắn John Updike

Lượt đọc: 32 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Ly thân

❊ ❊ ❊

John Updike

Dịch giả: Viên Hồng Canh

Thời tiết rất đẹp, nắng vàng rực rỡ. Suốt cả tháng sáu, những ngày nắng đẹp trời lại như đang đối nghịch với tâm trạng đau khổ của vợ chồng nhà Maples. Cuộc trò chuyện của họ tựa như những con côn trùng đang ngoe nguẩy trong những tia nắng vàng và dưới những tầng lá xanh dày đặc, chẳng ai hay biết. Lúc này, bóng dáng họ thì thầm đầy bi thương trở thành vết nhơ duy nhất giữa thiên nhiên. Thông thường vào mùa này hàng năm, da họ đã sớm rám nắng, thế nhưng nay khi đi đón cô con gái cả sau một năm ở Anh trở về, họ lại xanh xao y hệt con bé, chỉ là Judith đang choáng váng bởi sự ồn ào náo nhiệt của quê hương dưới nắng gắt nên không hề nhận ra điều đó. Họ cũng không nói ngay cho con bé biết nguyên do, để tránh làm mất hứng đứa con gái vừa mới trở về nhà. Trong những lúc uống cà phê, cocktail hay rượu mùi cam, một phương án được đưa ra trong những cuộc đối thoại nhạt nhẽo là đợi thêm vài ngày nữa, để con bé hồi phục sau sự mệt mỏi do lệch múi giờ. Chính những cuộc trò chuyện trong hoàn cảnh như vậy đã thúc đẩy họ hình thành ý định chia tay, mà chẳng hề để ý rằng bên ngoài khung cửa sổ đang đóng kín, mặt đất đang trải qua sự đổi thay vạn vật của mỗi năm. Richard vốn định khởi hành vào dịp lễ Phục sinh, nhưng Joan lại kiên quyết đợi cả bốn đứa con cùng về nhà, khi đó mọi kỳ thi đã kết thúc, lễ tốt nghiệp cũng đã tham dự xong, lại có những trò vui mới mẻ của mùa hè an ủi chúng. Thế là Richard đành chịu đựng, mang theo tâm trạng nửa là từ ái, nửa là sợ hãi để sửa lưới chắn côn trùng, mài lưỡi máy cắt cỏ, rồi lại san phẳng, đầm chặt sân tennis mới.

Sân tennis trải đất sét sau mùa đông đầu tiên đã trở nên lồi lõm, gió thổi bay lớp bề mặt màu đỏ. Nhiều năm trước, vợ chồng nhà Maples đã nhìn ra từ bạn bè của mình rằng, ly hôn thường đi kèm với các công trình sửa chữa nhà cửa quy mô lớn, nó giống như nỗ lực cuối cùng của cuộc hôn nhân để tồn tại. Cuộc khủng hoảng hôn nhân nghiêm trọng nhất mà họ gặp phải chính là dưới lớp bụi trong căn bếp đang sửa chữa, trong những đường ống chì trơ trọi. Thế nhưng, mùa hè năm ngoái họ không hề nhận ra rằng sự thay đổi này chẳng phải điềm lành, trái lại còn tưởng rằng hành động vội vàng này sẽ tăng thêm vài phần không khí lễ hội, và mối nhân duyên của họ có thể khiến mảnh đất này trở nên xinh đẹp hơn trong những lúc trà dư tửu hậu. Khi đó, chiếc máy ủi màu vàng nhạt vui vẻ chạy tới chạy lui trên sườn đồi đầy cỏ dại và hoa cúc, san phẳng nó thành một cao nguyên bùn lầy, sau đó một đám thanh niên tết tóc lại đến cào phẳng, đầm chặt. Mùa xuân năm sau, mỗi buổi sáng khi Richard ra ngoài tản bộ, anh đều có cảm giác bị trượt xuống, giống như một đầu giường nằm bị ai đó nâng lên. Anh phát hiện ra bầu không khí mà sân tennis trơ trọi (lưới và dây căng vẫn cuộn lại để trong kho) tạo ra hoàn toàn trùng khớp với tâm trạng bi thương có căn nguyên của chính mình: vài con chó đùa nghịch trên sân vào mùa băng tan, nước tuyết tan chảy tạo thành những con suối nhỏ xói mòn thành từng rãnh sâu, thế là những nắm đất sét được đắp lên nhân tạo cứ thế bị nước cuốn trôi vào những cái rãnh, cái hố đó, chắc chắn sẽ tiếp diễn một cách thuận lý thành chương. Trong thâm tâm bế tắc, Richard thầm mong ngày đó đừng bao giờ đến.

Giờ đây ngày đó đã đến. Đó là một ngày thứ Sáu, Judith đã thích nghi trở lại với cuộc sống quê nhà, bốn đứa con cuối cùng cũng tụ họp đông đủ trước khi việc làm thêm, trại hè và các cuộc ghé thăm lại khiến chúng mỗi đứa một nơi. Joan cho rằng nên nói riêng với từng đứa, còn Richard lại muốn nói rõ với chúng một lần ngay tại bàn ăn. Joan nói: "Em nghĩ chỉ đưa ra một lời giải thích là đang trốn tránh. Chúng sẽ cãi vã, đùa nghịch lẫn nhau chứ không thể tập trung được. Anh biết đấy, chúng là những cá thể độc lập, không phải là vật cản tập thể trên con đường tìm kiếm tự do của anh."

"Được rồi, được rồi. Anh đồng ý." Kế hoạch của Joan rất chu đáo. Tối hôm đó họ định tổ chức bữa tối chào mừng Judith như đã định từ lâu, ăn tôm hùm, uống champagne. Sau bữa tiệc, họ sẽ gọi con bé ra ngoài, đi đến cây cầu bắc qua con lạch nước mặn kia để nói chuyện, còn bắt con bé thề giữ bí mật, hệt như mười chín năm trước lúc này họ đang đẩy xe nôi đưa con bé dọc theo Fifth Avenue đến Washington Square. Tiếp đó là nói với Richard nhỏ. Thằng bé phải từ chỗ làm thêm chạy thẳng đến một buổi hòa nhạc rock ở Boston, nên thời gian nói chuyện được ấn định sau khi nó bắt tàu về tối đó hoặc trước khi đi làm vào sáng thứ Bảy. Nó mười bảy tuổi, là nhân viên bảo trì sân golf. Tiếp theo có thể nói với hai đứa nhỏ là John và Margaret vào buổi sáng hôm đó.

"Làm như vậy mọi chuyện sẽ rối tung lên," Richard nói.

"Anh có sắp xếp nào tốt hơn không? Như vậy anh có thể dùng thời gian còn lại của ngày thứ Bảy để trả lời những câu hỏi mà lũ trẻ có thể đặt ra, thu dọn hành lý, rồi bước vào cuộc hành trình tuyệt vời của anh."

"Không." Ý anh là anh không có sự sắp xếp nào tốt hơn, cũng đồng ý với phương án của cô, mặc dù anh cảm thấy trình tự này không thỏa đáng lắm, và cũng ẩn chứa ý đồ muốn nắm quyền kiểm soát cục diện, giống như danh sách dài những việc nhà cần làm của cô và những cuốn vở ghi chép lớp học dài dằng dặc của cô hồi họ mới quen nhau. Kế hoạch của cô biến hàng rào đứng trước mặt anh thành bốn bức tường sắc như lưỡi dao, phía bên kia bức tường được che đậy bằng một tấm màn mỏng.

Suốt cả mùa xuân, Richard lúc ẩn lúc hiện, đi lại giữa các lớp rào cản. Anh và Joan chính là một lớp rào cản mỏng manh giữa lũ trẻ và sự thật. Mỗi khoảnh khắc đều chia cắt quá khứ và tương lai sang hai bên, mà tương lai cũng bao hàm cả hiện tại khó tin này. Ngoài bốn bức tường sắc như lưỡi dao, một cuộc sống mới không thể đoán định đang chờ đợi anh. Trong đầu anh chứa đầy một bí mật, cùng một khuôn mặt trắng bệch, khuôn mặt này vừa kinh hoàng bất an lại vừa khiến người ta cảm thấy được an ủi, vừa xa lạ lại vừa thân thuộc, anh không muốn nước mắt làm ướt nó, nhưng anh cảm nhận được nước mắt như ánh nắng dồi dào nhấn chìm chính mình. Ý nghĩ này ám ảnh anh, khiến anh như bị ma nhập mà sửa sang mọi thứ trong nhà, thay lưới cửa sổ, dây treo cửa, bản lề và chốt cửa, hệt như một bậc thầy Houdini muốn sắp đặt mọi thứ ổn thỏa trước khi biến mất.

Còn cả khóa cửa nữa, anh phải thay khóa cửa cho cánh cửa ở hiên nhà có lắp rèm lưới. Cũng như nhiều việc khác, công việc này không dễ dàng như anh tưởng tượng. Chiếc khóa cũ bằng nhôm đã gỉ sét đến mức không thể mở được đã bị nhà sản xuất "chơi khăm", sau một thời gian liền không thể sử dụng. Việc tháo khóa cũ ra thì dễ dàng đến bất thường, nhưng cả ba cửa hàng kim khí đều không tìm thấy loại khóa nào có kích thước lỗ hổng lộ ra tương đương, vì vậy đành phải đục một cái lỗ khác, nhưng mũi khoan của anh quá nhỏ, cưa lại quá to, còn phải dùng một miếng gỗ để lấp cái lỗ cũ.

Đục của anh cùn, cưa thì gỉ sét, ngón tay cũng vì ngủ quá ít mà trở nên vụng về. Nắng đổ xuống, rải trên mảnh đất không ai chăm sóc ngoài hiên. Các bụi cây cần được cắt tỉa, sơn trên bức tường phía đón gió bắt đầu bong tróc từng mảng, sau khi anh đi nước mưa sẽ hắt vào, còn cả đủ loại côn trùng, những thứ mục nát và cái chết. Anh cố gắng khoan lỗ, chẻ những miếng gỗ nhỏ, lắng nghe sự chỉ dẫn khó hiểu của người khác, loay hoay với những linh kiện kim loại nhỏ bé, đồng thời mơ hồ cảm nhận được gia đình mình, tất cả những người thân sắp mất đi đang đi lại quanh mình.

Judith ngồi trên hiên, như một nàng công chúa trở về từ nơi lưu đày. Con bé kể chuyện đầy sống động cho mọi người nghe: tình hình thiếu hụt xăng dầu ra sao, bom ở nhà ga tàu điện ngầm làm người ta sợ chết khiếp thế nào, những công nhân Pakistan đã tán tỉnh con bé ra sao trên đường đến trường múa, lúc đó con bé buộc phải đi ngang qua họ. Joan đi lại, ra vào trong nhà. Cô cố tỏ ra bình tĩnh, còn khen ngợi Richard làm việc sửa khóa rất tốt, như thể đây chỉ là một việc trong danh sách dài những việc nhà mà hai người cùng chia sẻ, chứ không phải lần cuối cùng. Có lúc cậu con trai út húc vào cánh cửa lưới lung lay, khiến người cha vụng về dùng búa gõ, dùng đục đục, trong tai Richard mỗi tiếng động đều như một tiếng nấc nghẹn. Cô con gái út đêm qua tham gia một buổi trò chuyện thâu đêm của hội con gái, lúc này đang ngủ say trên chiếc võng ngoài hiên, những tiếng động ồn ào chẳng hề ảnh hưởng đến con bé. Nó ngủ say, khuôn mặt ửng hồng, vẻ ngoài vô cùng thư thái. Thời gian giống như ánh nắng, vô tình kéo dài về phía trước, dần dần đã đến lúc hoàng hôn buông xuống. Hôm nay là một trong những ngày dài nhất trong năm. Con lắc đồng hồ vẫn tích tắc chạy. Công việc đã xong. Anh rót một ly đồ uống, vừa uống trên hiên vừa nghe con gái nói chuyện. Con bé đang nói: "Mất điện cũng rất ấm áp, đến lúc tệ nhất tất cả các cửa hàng thịt và tiệm bánh đều phải thắp nến để kinh doanh. Mọi người đều rất dũng cảm, rất ngầu. Nhưng đọc báo từ đây thì tình hình có vẻ tệ hơn nhiều: người ta xếp hàng đổ xăng thì bắn giết lẫn nhau, ai cũng đang chịu rét."

Richard hỏi: "Con còn muốn ở lại Anh vĩnh viễn không?" Vĩnh viễn, khái niệm này giờ đây đã trở thành hiện thực đang tiến gần đến bên anh, đè nén, cào xé cổ họng anh.

"Không ạ," Judith quay khuôn mặt trái xoan lại thú nhận. Đôi mắt con bé vẫn phân cách xa nhau như thời thơ ấu, nhưng khuôn miệng lại ẩm ướt, đầy đặn, ra dáng người lớn. "Con lúc đó chỉ vội vã muốn về nhà thôi, con là người Mỹ mà." Con bé đã trưởng thành thành một người phụ nữ. Họ đã nuôi dạy nó, anh và Joan cùng trải qua bao khó khăn mới nuôi lớn được một trong bốn đứa con này, những đứa còn lại vẫn phải tốn thêm tâm huyết. Thế nhưng vừa nghĩ đến việc phải nói chuyện này cho Judith nghe là anh không chịu nổi, anh không khỏi nhớ lại hình dáng nó thời thơ ấu: nó kẹp giữa hai người, ba người nắm tay nhau cùng đi về phía cây cầu đó. Richard không thể kìm nén được những giọt nước mắt sắp trào ra trên mặt nữa, anh ngồi xuống bàn tiệc chúc mừng con gái trở về, cổ họng thắt lại từng đợt. Champagne và tôm hùm dường như đại diện cho những khoảng thời gian tươi đẹp, anh nhìn chằm chằm vào những thứ này, ngậm nước mắt mà thưởng thức chúng. Anh chớp mắt nuốt những thứ trong miệng, giọng khàn đặc kể một câu chuyện cười về việc dị ứng phấn hoa gây viêm mắt. Tuy nhiên nước mắt vẫn không ngừng trào ra, không phải xuất phát từ một lỗ hổng nào đó có thể bịt lại, mà xuất phát từ một vết rò rỉ trên một lớp màng, những dòng suối nhỏ trong vắt chảy mãi không dứt, cuối cùng sẽ hội tụ thành một vùng lớn. Nước mắt anh đã trở thành một rào cản ngăn cách anh với gia đình, anh không còn nhìn thấy khuôn mặt họ nữa, cũng không còn nhìn thấy bữa tiệc mà mọi người lần cuối cùng giả vờ như không có chuyện gì xảy ra này, anh là lần cuối cùng ngồi tại bàn ăn này với tư cách là người cha. Vừa gõ vào lưng tôm hùm, những giọt nước mắt đã lăn dài trên sống mũi, nhấp một ngụm champagne cũng có vị mặn của nước mắt. Cổ họng cũng đau nhói, như thể bị thứ gì đó túm lấy. Anh đã không thể tự chủ được nữa.

Lũ trẻ giả vờ như không nhìn thấy Richard rơi lệ. Judith ngồi bên tay phải anh châm một điếu thuốc, ngửa đầu nhìn chằm chằm vào những vòng khói thuốc đầy mạnh mẽ, quá đỗi già dặn do chính mình nhả ra.

Phía bên kia, John chăm chú cúi đầu lóc thịt từ những chiếc chân và đuôi tôm hùm còn sót lại để ăn. Joan ngồi ở đầu bàn bên kia liếc nhìn anh đầy kinh ngạc, cô không trách anh, nhưng trong thoáng chốc khuôn mặt lại biến dạng vì đau khổ, đây vừa là truyền đạt ý hiểu, vừa là ngưỡng mộ thủ pháp cao minh mà anh đã sử dụng. Margaret ngồi giữa họ đã mười ba tuổi, hơn nữa trông còn lớn hơn so với bạn bè đồng trang lứa, nên không còn ai gọi con bé là "Đậu Nhỏ" nữa. Nó nhìn chằm chằm vào cha qua những chuỗi nước mắt trong suốt của ông, giống như đang nhìn một món đồ nào đó trong tủ kính cửa hàng mà nó khao khát có được, trong mắt nó bây giờ ông là một đống mảnh vỡ pha lê, cũng là một chuỗi ký ức.

Thế nhưng sau đó khi mọi người đang rửa bát, dọn dẹp vỏ tôm hùm trong bếp, người đặt câu hỏi cho Joan lại không phải là con bé mà là John. "Tại sao bố lại khóc?"

Richard nghe thấy câu hỏi của con nhưng không nghe thấy câu trả lời hạ thấp giọng của Joan. Tiếp đó anh nghe thấy Đậu Nhỏ khóc "Ư—không, không mà!" Tiếng kêu này có chút giả tạo, như thể người khóc đã sớm lường trước được cục diện này sẽ xảy ra.

John bê một chậu salad quay lại bàn, gật đầu với cha, đôi môi khẽ cử động một cách bí ẩn, không thành tiếng nói: "Mẹ nói rồi."

"Nói gì?" Richard gần như điên cuồng hỏi lớn.

Thằng bé ngồi xuống trước, dường như muốn làm tấm gương bình tĩnh để trách cứ người cha đang tâm thần bất định. Nó nói khẽ: "Chuyện ly thân ạ."

Joan và Margaret quay lại. Trong thị giác vặn vẹo của Richard, thân hình đứa trẻ này trở nên như bị thu nhỏ lại, hơn nữa còn thở phào nhẹ nhõm, vì con quỷ cuối cùng cũng lộ diện.

Những người ngồi quanh bàn ăn đã cách xa nhau từ lúc nào. Anh hét lên với Joan: "Em biết, em đã biết từ lâu..." Cổ họng anh thắt lại, không thể nói hết những lời muốn nói.

Anh nghe thấy Joan như đang nói từ nơi rất xa, giọng điệu bình thản, hợp lý, kể lại những lời mà họ đã chuẩn bị từ lâu: đây chỉ là sự ly thân ngắn hạn trong mùa hè này, là một cuộc thử nghiệm. Cô và bố đều cho rằng như vậy có lợi cho cả hai người, họ cần không gian và thời gian để suy nghĩ, họ yêu nhau nhưng không biết tại sao không thể khiến đối phương hạnh phúc hơn.

Judith bắt chước giọng điệu bình thản của mẹ mình để nói chuyện, nhưng vì tuổi trẻ nên giọng con bé lúc cao lúc thấp, nghe cũng quá lạnh lùng. "Con nghĩ như vậy thật ngốc nghếch. Hai người nên ở cùng nhau hoặc là ly hôn đi."

Tiếng khóc của Richard như con sóng đạt đến đỉnh điểm rồi đổ xuống, cuồn cuộn mãnh liệt, giờ đây lại bị một trận ồn ào khác nhấn chìm. Bóng dáng John vốn rất kín đáo bỗng trở nên cao lớn hơn bên bàn ăn. Có lẽ việc em gái biết chuyện này trước đã khiến thằng bé không vui. "Tại sao hai người không nói cho chúng con biết?" nó lớn tiếng chất vấn, giọng nói vang dội đó nghe không giống của nó chút nào. "Hai người nên nói cho chúng con biết hai người sống với nhau không ổn."

Richard giật mình, cố gắng nặn ra lời từ trong nước mắt. "Chúng ta sống với nhau rất tốt. Vấn đề nằm ở chỗ đó, chúng ta lại không nhận ra—" Chúng ta không còn yêu nhau nữa là điều anh muốn nói mà không nói ra, anh không thể nói tiếp được nữa.

Joan thay anh nói hết bằng cách của mình: "Nhưng chúng ta luôn đặc biệt yêu thương các con."

Lời này không thể xoa dịu sự tức giận của John, nó gầm lên: "Hai người quan tâm cái gì đến chúng con chứ? Chúng con chỉ là những món đồ chơi nhỏ mà hai người sở hữu thôi." Các chị em nó cười ha hả, khiến nó cũng không nhịn được mà cười theo, nghe vừa cứng nhắc vừa buồn cười: "Ha ha ha ha". Richard và Joan đồng thời nhận ra đứa trẻ này đã say, nó uống quá nhiều champagne mở ra để chúc mừng Judith trở về. John cảm thấy nó phải chiếm một vị trí gây chú ý, liền lấy một điếu thuốc từ bao thuốc của Judith nhét vào miệng, ngậm lệch ở môi dưới, nheo mắt nhìn như một tên cướp.

Richard hét lên với nó: "Các con không phải là những món đồ chơi nhỏ chúng ta sở hữu, các con là tất cả những gì chúng ta có. Nhưng các con đã lớn rồi, hoặc là gần như đã lớn rồi."

John đang quẹt diêm, nó không đưa lửa vào điếu thuốc, mà giơ que diêm đang cháy trước mặt mẹ, càng đưa lại gần, muốn cô giúp thổi tắt lửa. (Mọi người chưa từng thấy nó hút thuốc, "ngoan" luôn là cách nó thể hiện sự khác biệt của mình.) Tiếp đó nó đốt cả bao diêm, chỉ nghe tiếng xèo một cái, một ngọn đuốc sáng lên, nó giơ trước mặt mẹ. Nước mắt như một lăng kính làm vặn vẹo thị giác của Richard, trong mắt anh đâu đâu cũng là lửa, thậm chí không phân biệt được lửa đã bị dập tắt như thế nào. Anh nghe thấy Margaret nói "Được rồi, đừng làm trò nữa", nhìn thấy phản ứng của John là trước tiên bẻ đôi điếu thuốc, rồi nhét nó vào miệng nhai. Nó còn thè lưỡi cho em gái xem những sợi thuốc lá bị nhai nát.

Joan đang nói chuyện với anh, nói đạo lý, đạo lý tuôn ra như suối, nhưng anh không hiểu nổi.

"Đã nói chuyện vài năm rồi... các con phải giúp chúng ta... bố và mẹ đều muốn..." John vừa nghe vừa cẩn thận nhét một tờ giấy ăn vào lá rau trong salad, dùng giấy và lá xà lách làm thành một quả cầu, rồi ném vào miệng, sau đó nhìn quanh, đợi mọi người cười. Không ai cười. Judith nói: "Anh cũng nên ra dáng người lớn một chút đi." Nói xong con bé nhả ra một làn khói xanh.

Richard đứng dậy rời khỏi bàn ăn trầm uất, đưa John ra ngoài. Ánh sáng trong nhà đã tối đi, nhưng bên ngoài vẫn còn rất sáng, đúng vào những ngày mùa hè sáng dài đêm ngắn. Hai cha con đều cười ha hả, Richard bảo John nhổ lá rau, giấy và thuốc lá trong miệng ra bãi cỏ. Anh nắm tay John, đây là một bàn tay vuông vắn, thô ráp, mặc dù mềm nhũn nhưng vẫn là bàn tay của một người đàn ông, nó nắm chặt lấy tay Richard. Họ cùng nhau băng qua sân tennis đi đến cánh đồng, trên những luống đất máy ủi vừa san phẳng không lâu điểm xuyết những khóm hoa cúc. Họ băng qua sân tennis và một khoảng đất bằng phẳng nơi cả gia đình từng chơi bóng chày, nơi đó sừng sững một gò đất nhỏ xanh mướt, nổi bật dưới ánh hoàng hôn. Mỗi cái cây ngọn cỏ đều có thể phân biệt rõ ràng, thật giống như hoa văn vẽ trên giấy da.

Richard khóc lóc kể lể: "Bố rất buồn, thực sự rất buồn. Con là người duy nhất trong nhà đã giúp bố làm tất cả những việc vặt quái quỷ đó."

Đã rơi lệ, đã uống champagne, John giờ đây không kiêng dè gì mà nức nở: "Chẳng phải chỉ vì chuyện hai người ly thân, cả năm nay của con đều không thuận lợi. Con ghét ngôi trường đó, ở đó con chẳng kết bạn được với ai, ông giáo viên lịch sử đó là một thằng cặn bã."

Họ ngồi trên đỉnh đồi nhỏ, nước mắt khiến họ run lên vì xúc động, nhưng trong lòng lại ấm áp, cách nói chuyện cũng trôi chảy hơn. Richard cố gắng tập trung chủ đề vào năm tháng bi thương của đứa trẻ, chẳng hạn như những ngày Chủ nhật bài tập nhiều vô kể, những ngày cuối tuần trôi qua bằng cách làm mô hình máy bay trong phòng riêng, lúc đó cha mẹ nó lại đang thì thầm to nhỏ dưới lầu về chuyện ly thân. Richard nghĩ họ thật ích kỷ, thật chậm chạp làm sao. Anh cảm thấy mình bây giờ nhạy cảm hơn, liền nói với con trai: "Chúng ta sẽ cân nhắc chuyện cho con chuyển trường. Cuộc đời quá ngắn ngủi, không nên sống những ngày khổ sở nữa."

Họ nói về tất cả những chủ đề có thể nghĩ ra, không muốn kết thúc cuộc trò chuyện ngay lúc này, thế là lại nói về chuyện ở trường và cái sân tennis này, suy đoán xem liệu nó có thể trở nên tốt đẹp như mùa hè đầu tiên hay không. Họ đi qua kiểm tra một lượt, nhấn vài cái móc sắt buộc dây lưới xuống đất. Có lẽ là muốn khắc sâu ấn tượng về khoảnh khắc này, Richard không chút giả tạo đưa con đến nơi có phong cảnh đẹp nhất trên cánh đồng, từ đây có thể nhìn thấy dòng sông màu sắt xanh, vùng đầm lầy xanh mướt, những hòn đảo nhỏ rải rác khắp nơi, đổ những cái bóng nhẹ nhàng trong ánh sáng mờ nhạt, và những bãi cát trắng nhỏ xíu ở phía xa.

Anh nói: "Con nhìn kìa, nó vẫn đẹp như vậy, ngày mai phong cảnh vẫn như cũ."

"Con biết ạ," John nói một cách thiếu kiên nhẫn. Khoảnh khắc đó đã trở thành quá khứ.

Khi họ trở về nhà, những người khác đã uống cạn champagne. Họ lại mở một loại rượu vang trắng, vẫn ngồi quanh bàn, ba người phụ nữ đang tán gẫu. Vị trí Joan ngồi đã trở thành vị trí của người đứng đầu gia đình. Cô quay đầu nhìn anh, trên mặt không có vết nước mắt, hỏi: "Không sao chứ?"

"Chúng ta không sao," Richard nói. Bữa tiệc gia đình tiếp tục diễn ra khi anh không có mặt, điều này vừa khiến anh khó chịu vừa khiến anh cảm thấy nhẹ nhõm hơn một chút.

Nằm trên giường, Joan giải thích: "Em không khóc nổi, em nghĩ đó là vì mùa xuân năm nay em đã khóc quá nhiều rồi. Như vậy thật không công bằng. Đây là ý của anh, nhưng anh làm cứ như thể em muốn đá anh ra ngoài vậy."

Richard nói: "Xin lỗi. Anh không kiểm soát được. Anh muốn nhịn, nhưng cứ không làm được."

"Anh căn bản là không muốn nhịn. Anh thích như vậy. Anh đã làm theo ý mình, trút hết nỗi lòng với tất cả mọi người."

Anh thừa nhận: "Anh muốn làm rõ mọi chuyện càng sớm càng tốt. Lạy Chúa, lũ trẻ này thật tuyệt vời, có dũng khí, có cá tính." Sau khi John về nhà, nó loay hoay với mô hình máy bay trong phòng mình, còn liên tục gọi xuống lầu: "Con không sao. Không cần căng thẳng đâu." Richard nói tiếp với sự thoải mái sau khi trút được gánh nặng: "Chúng không bao giờ đặt câu hỏi về lý do chúng ta đưa ra. Không ai nghĩ đến chuyện còn có người thứ ba, ngay cả Judith cũng không nghĩ đến."

"Điều này thật sự rất cảm động," Joan nói.

Richard ôm cô một cái. "Em cũng rất tuyệt vời, khiến mọi người đều cảm thấy rất được an ủi. Cảm ơn em." Mang theo một sự tội lỗi, anh nhận ra mình không hề có cảm giác sắp ly thân với Joan.

Cô nhắc nhở anh: "Anh còn phải nói chuyện với Dickie nữa." Lời nói của cô giống như một ngọn núi đen kịt hiện ra trước mặt trong bóng tối, cái lạnh nó mang theo, sức nặng của nó đè thẳng vào ngực anh. Trong bốn đứa con, cậu con trai cả là người hiểu anh nhất, tâm đầu ý hợp với anh nhất. Vì vậy Joan không cần thiết phải nói thêm câu này: "Việc bẩn thỉu này em sẽ không làm thay anh đâu."

"Anh biết. Để anh làm. Em ngủ đi."

Vài phút sau, hơi thở của nàng chậm lại, nàng quên đi tất cả và chìm vào giấc ngủ sâu. Bây giờ là mười hai giờ kém mười lăm, chuyến tàu mà Dickie đi sau khi xem buổi hòa nhạc sẽ đến lúc một giờ mười bốn phút, thế là Richard vặn đồng hồ báo thức đến một giờ. Đã nhiều tuần nay anh ngủ rất tồi tệ. Thế nhưng, chỉ cần anh nhắm mắt lại, những cảnh tượng xuất hiện trong vài giờ qua lại hiện lên một cách chói mắt ngay trước tầm mắt—Judith nhả khói thuốc lên trần nhà với vẻ chán ghét, Bean im lặng trừng mắt nhìn anh, cùng với đám cây cỏ héo rũ vì nắng trên cánh đồng nơi anh và John nghỉ chân. Ngọn núi trước mắt đang di chuyển về phía anh, gần hơn, hòa làm một với anh; anh trở nên to lớn vô cùng, đầy sức nặng, nỗi đau trong cổ họng cũng không còn rõ rệt như trước nữa. Vợ anh ngủ rất say, tựa như đã bị ai đó sát hại ngay bên cạnh anh. Đôi mi nóng rực và những suy nghĩ hỗn loạn khiến anh bực bội, anh đứng dậy mặc quần áo, lúc này Joan tỉnh giấc, xoay người lại rồi lại muốn ngủ tiếp. Anh nói với cô: "Joan, nếu như anh có thể xóa bỏ những việc đã làm, anh sẽ làm."

Joan hỏi: "Anh sẽ bắt đầu từ đâu?" Không có điểm bắt đầu. Nhắc đến lòng can đảm, cô vẫn luôn cho anh lòng can đảm đó. Anh lần mò trong bóng tối, chân trần xỏ vào giày. Lũ trẻ phát ra tiếng ngáy trong phòng riêng, dưới lầu không có ai. Trong lúc hoảng loạn họ đã quên tắt đèn, anh tắt từng cái một, chỉ để lại đèn chùm trong bếp. Xe khởi động, ban đầu anh hy vọng tốt nhất là nó đừng nổ máy. Trên con đường được ánh trăng soi sáng, anh không gặp ai, ánh trăng sáng trong tựa như một người bạn đồng hành thuần khiết, nó lấp lánh trong đám cỏ bên đường, thoắt ẩn thoắt hiện trên gương chiếu hậu như kẻ bám đuôi lần theo dấu vết, cuối cùng biến mất dưới ánh đèn trên nóc xe anh. Trung tâm thị trấn, nơi vẫn còn người đi lại, lúc này trông có vẻ hơi kỳ quặc. Một viên cảnh sát trẻ vừa mới giặt quần áo tối qua đang ngồi trên bậc thềm ngân hàng cùng một đám trẻ mặc áo cộc tay. Đối diện nhà ga có vài quán bar vẫn còn mở cửa, đa số khách hàng là người trẻ tuổi, họ ra ra vào vào trong màn đêm ấm áp, tận hưởng làn không khí tươi mới của mùa hè. Từ những chiếc xe chạy qua bên cạnh vọng lại tiếng hò hét, dường như có vô số người đang trò chuyện. Richard đỗ xe ở đây, mệt mỏi tựa đầu vào ghế bên cạnh, trốn tránh sự ồn ào và ánh đèn gây lóa mắt. Cảnh tượng đó giống như một kẻ sát nhân trong bộ phim nào đó, lạnh lùng xuyên qua đám đông đang cuồng hoan để hoàn thành nhiệm vụ, chỉ là phim ảnh không thể hiển thị được cái mặt phẳng dốc đứng, có thể chạm tới mà bạn đang bám chặt lấy từ sâu thẳm trong lòng mình. Bạn không thể bò xuống thêm được nữa, nếu làm vậy chỉ có ngã mà thôi. Đệm ghế bằng sợi tổng hợp của xe bị khuôn mặt anh làm cho nóng hổi, anh ngửi thấy một mùi hương vani cổ xưa, mơ hồ có thể nhận ra.

Còi tàu vang lên, anh ngẩng đầu dậy. Tàu đã đến đúng giờ, mà anh lại mong nó đến muộn. Thanh chắn an toàn hẹp hạ xuống, tiếng chuông báo hiệu tàu đang tiến vào sân ga vang lên lanh lảnh đầy vui vẻ. Một thân tàu khổng lồ trông như chiếc sáo đặt nằm ngang lắc lư rồi dừng lại hẳn, một đám thiếu niên ngái ngủ bước xuống, con trai anh cũng trong số đó. Nhìn thấy cha đến đón mình vào cái giờ chết tiệt này, Dickie không hề tỏ ra kinh ngạc. Nó cùng hai người bạn thong thả bước về phía chiếc xe, hai đứa trẻ kia đều cao lớn hơn nó. Nó chào cha một tiếng rồi ngồi vào ghế trước, thực hiện động tác nhanh nhẹn của kẻ đã rất mệt mỏi, coi như một biểu hiện của sự cảm kích. Bạn bè của nó ngồi ở phía sau. Richard rất hoan nghênh họ, như vậy anh sẽ phải đưa họ về nhà, cũng có thể trì hoãn cuộc trò chuyện này thêm vài phút.

Anh hỏi: "Buổi hòa nhạc thế nào?"

"Tuyệt lắm," một đứa trẻ ngồi ghế sau nói.

"Rất kích thích," đứa kia nói.

"Cũng được," Dickie nói. Bản tính nó không thích sự cực đoan, rất hiểu lý lẽ, thế nên sự phi lý trên thế gian này đã khiến nó đau đầu, đau dạ dày và buồn nôn ngay từ khi còn nhỏ. Đợi sau khi đưa người bạn thứ hai đến trước cửa ngôi nhà tối om của cậu ta, Dickie đột ngột nói: "Sốt cỏ khô làm mắt con đau chết đi được. Cả ngày hôm nay con cứ cắt cái loại cỏ trông có vẻ mềm mại đó!"

"Ở nhà còn loại thuốc nhỏ mắt đó không?"

"Hè năm ngoái dùng rồi, chẳng có tác dụng gì cả."

"Năm nay biết đâu lại có ích." Richard quay xe một vòng chữ U gấp gáp trên con phố vắng. Đường về nhà chỉ mất vài phút. Ngọn núi đó ở ngay đây, trong cổ họng anh. "Dickie," anh cất lời, và nhận thấy đứa trẻ đang nằm trên ghế dụi mắt bỗng trở nên căng thẳng ngay khi nghe giọng điệu không bình thường của anh. "Cha đến đón con không phải để làm con thoải mái hơn, mà vì cha và mẹ con có chuyện muốn nói với con, nhưng mấy ngày nay không dễ gì bắt gặp con. Đó là tin buồn."

"Vâng ạ." Lời đáp để cha nói tiếp thật mềm mỏng, nhưng lại bật ra khỏi miệng, như thể nhảy ra từ đầu một chiếc lò xo.

Richard vẫn luôn lo lắng mình sẽ lại rơi nước mắt, sẽ khóc không thành tiếng, nhưng giờ đây vẻ nam tính mà đứa trẻ thể hiện lại trở thành tấm gương cho anh, vừa mở miệng giọng điệu đã bình thản, không mang theo cảm xúc gì. "Đây là tin buồn, nhưng cũng chưa chắc đã là tin mang đến bất hạnh, ít nhất là đối với con. Nó sẽ không gây ra ảnh hưởng thực tế nào đến cuộc sống của con, nhưng chắc chắn sẽ liên quan đến đời sống tình cảm của con. Con vẫn cứ đi làm, đến tháng Chín lại quay lại trường học. Cha và mẹ con cảm thấy vô cùng tự hào vì con có thể đối mặt với cuộc sống một cách tích cực như vậy. Chúng ta không muốn điểm này có bất kỳ thay đổi nào."

"Dạ." Đứa trẻ hít một hơi nhẹ nhàng nói, cố gắng kiềm chế bản thân. Họ hiện đã rẽ vào góc đường, ngôi nhà thờ thường lui tới thấp thoáng hiện ra, tựa như một pháo đài đã bị san phẳng bên trong. Nhà của người phụ nữ mà Richard muốn cưới nằm ở phía bên kia bãi cỏ, đèn trong phòng ngủ của cô vẫn còn sáng.

Anh nói: "Cha và mẹ con quyết định ly thân, ngay trong mùa hè này. Nó không có hiệu lực pháp lý, chưa phải là ly hôn. Chúng ta muốn xem cảm giác thế nào. Đã mấy năm nay, chúng ta làm cho đối phương chưa đủ, không thể dốc toàn lực để khiến đối phương hạnh phúc. Con có nhận ra không?"

"Không ạ," đứa trẻ nói. Câu trả lời của nó chân thành mà không mang theo cảm xúc gì, giống như đang làm bài thi trắc nghiệm đúng sai.

Dùng sự thật để làm nền tảng, Richard an tâm tiếp tục trình bày chi tiết, gần như là đang nói nhảm. Anh nói về căn hộ anh thuê ở phía bên kia thành phố, có thể tìm thấy anh bất cứ lúc nào, nói về kế hoạch nghỉ dưỡng tách biệt, những lợi ích mà việc ly thân mang lại cho lũ trẻ, nói rằng điều này làm tăng sự linh hoạt, rồi lại nói về các hoạt động phong phú trong mùa hè. Dickie chăm chú nghe anh nói xong rồi hỏi: "Những người khác có biết không ạ?"

"Biết."

"Họ phản ứng thế nào ạ?"

"Các cô gái rất bình tĩnh. John có chút không kiểm soát được bản thân, nó gào thét, hút một điếu thuốc, dùng khăn giấy làm một đĩa salad, còn nói với chúng ta rằng nó ghét trường học đến nhường nào."

Dickie khúc khích cười: "Thật sao ạ?"

"Phải, chuyện ở trường làm nó phiền lòng hơn cả mẹ và cha. Sau khi nó gào thét hết những chuyện đó ra, hình như nó thấy dễ chịu hơn."

"Thật sao ạ?" Nó lặp lại, đây là dấu hiệu đầu tiên cho thấy nó đã chết lặng.

"Là vậy đó, Dickie. Cha muốn nói với con một chuyện. Một tiếng đồng hồ vừa rồi chờ chuyến tàu con đi vào ga có lẽ là khoảnh khắc khó khăn nhất trong cuộc đời cha. Cha căm ghét phải làm thế này, cha hận. Cha của cha thà chết chứ không đời nào đối xử với cha như vậy." Nói xong những lời này anh cảm thấy nhẹ nhõm hơn nhiều, anh đã đẩy ngọn núi đó lên người đứa trẻ này. Họ đã về đến nhà, Dickie nhanh nhẹn xuống xe bước vào căn bếp sáng đèn, như một cái bóng. Richard gọi với theo sau lưng nó: "Có muốn uống một ly sữa hay gì đó không?"

"Không ạ, con cảm ơn."

"Có cần chúng ta gọi điện cho sân bóng vào ngày mai nói con bị ốm, không thể đi làm không?"

"Không ạ, con không sao cả." Lời này được nói ra ở cửa phòng nó, giọng rất thấp. Richard chăm chú chờ đợi tiếng nó cáu bẳn đập cửa, nhưng nó lại khép cửa nhẹ nhàng như mọi khi. Tiếng đóng cửa đó nghe thật lạnh lẽo.

Joan đã chìm vào giấc ngủ sâu đợt đầu, không dễ tỉnh lại. Richard đành phải nói lại lần nữa: "Anh đã nói với thằng bé rồi."

"Nó nói gì?"

"Chẳng nói gì cả. Em có thể vào chúc nó ngủ ngon không? Anh cầu xin em."

Cô đi ra, ngay cả áo choàng tắm cũng chưa khoác lên. Richard chậm rãi thay lại bộ đồ ngủ, đi vào sảnh. Dickie đã cởi quần, nằm trên giường, chiếc đồng hồ báo thức kiêm radio bên giường đứa trẻ đang phát nhạc khe khẽ. Đợi khi Joan đứng dậy, một luồng sáng không biết từ đâu chiếu tới, có lẽ là ánh trăng, phác họa đường nét cơ thể cô dưới lớp áo ngủ. Richard ngồi vào vị trí ấm áp mà cô vừa ngồi, chiếc đệm hẹp của đứa trẻ bị cô đè xuống một vết lõm.

Anh hỏi đứa trẻ: "Con muốn cứ để radio như vậy sao?"

"Nó vẫn luôn như vậy ạ."

"Nó không làm con không ngủ được sao? Cha thì sẽ không ngủ được đấy."

"Không ạ."

"Con buồn ngủ rồi?"

"Vâng."

"Được. Con vẫn muốn dậy đúng giờ để đi làm chứ? Đêm nay con ngủ muộn quá."

"Con muốn đi ạ."

Mùa đông sống trong trường nội trú, đứa trẻ này mới hiểu ra ngủ ít đi một chút người ta sẽ không chết. Thời thơ ấu, sau khi ngủ thiếp đi nó nằm bất động, mồ hôi đầm đìa, thường khiến người trông nom nó hoảng sợ. Đến thời thiếu niên, nó thường là người đầu tiên trong bốn đứa trẻ cởi quần, nằm lên giường. Ngày nay nó vẫn thường ngủ thiếp đi ngay khi đang xem tivi, duỗi dài đôi chân nâu đầy lông lá. "Được. Chàng trai tốt. Nghe này, Dickie, cha rất yêu con, đến tận bây giờ cha mới biết cha yêu con nhiều đến nhường nào. Dù kết quả của việc này thế nào, cha sẽ mãi mãi ở bên con. Thật đấy."

Richard cúi xuống hôn lên khuôn mặt mà anh cứ ngỡ nó sẽ né tránh, nào ngờ đứa con trai vạm vỡ quay người lại, áp khuôn mặt ướt đẫm lên người anh, hôn lên môi anh, y hệt như một người phụ nữ đầy đam mê. Bên tai cha, nó rên rỉ thốt ra một câu, chính là câu hỏi vô cùng quan trọng, liên quan đến tâm trí đó: "Tại sao?"

Tại sao. Đó là tiếng gió rít bất chợt, là lưỡi dao đã tuốt khỏi vỏ, là một cánh cửa đẩy ra giữa hư không. Khuôn mặt trắng bệch đó biến mất, còn bóng tối thì không có đặc điểm gì cả. Richard đã quên mất rốt cuộc là tại sao rồi.

[DeepSeek phụ dịch] ChuongId:1
Nguồn: Việt Nam Thư Quán
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 4 tháng 7 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của John Updike