Tính cách một dân tộc là kết quả đồng thời của hai nguyên nhân: thể chất sinh lý của dân tộc đó và sự thích ứng của họ với các môi trường khác nhau.
Chúng ta đã nghiên cứu cái đầu tiên trong hai yếu tố đó: chủng tộc; bây giờ, đối với quá trình hình thành tính cách người An Nam, còn phải xác định cái nào là phần chịu ảnh hưởng từ nhiều mặt của các yếu tố như khí hậu, hình thế và địa chất, giáo dục, v.v.
I. Môi trường vật lý
Tác động khí hậu lên bản sắc quốc gia thường bị phóng đại; những phẩm chất hoặc khuyết điểm yếu kém nhất của một dân tộc đôi khi được lý giải quy cho duy nhất ảnh hưởng này.
Đừng cho nó quan trọng đến như vậy, mà phải biết nhận định nó thật rõ.
Trong một quốc gia văn minh, tác động của môi trường vật chất, bị đối trọng mạnh mẽ bởi những ảnh hưởng rất nhiều cũng như đa dạng của môi trường xã hội hay trí tuệ, còn lại gần như bằng không; tuy nhiên, ở một dân tộc khởi đầu tiến hóa, nó góp phần lớn trong việc định hình khí chất chung, sau đó di truyền và tạo thành với thể chất sinh lý của chủng tộc một nền tảng gần như không thay đổi của bản sắc quốc gia.
Đông Dương, một vùng lãnh thổ rộng lớn trải dài hơn mười lăm kinh độ, có khí hậu tại các vùng không giống nhau. Trong khi Nam kỳ nằm trong khu vực nóng như thiêu đốt, thì Bắc kỳ lại có khí hậu bán nhiệt đới.
Tuy vậy, sự phân bố các mùa có vẻ giống nhau ở cả hai xứ: mùa khô kéo dài từ tháng Mười hoặc tháng Mười một đến tháng Ba hay tháng Tư, và mùa mưa từ tháng Tư hoặc tháng Năm đến tháng Chín hoặc tháng Mười.
Nhiệt độ trung bình ở Nam kỳ khoảng 27°C; đôi khi tăng lên đến 35°C hoặc 36°C trong mùa khô và không bao giờ giảm xuống dưới 18°C. Do đó, nóng nực gần như hằng định.
Độ ẩm khá cao; độ ẩm trung bình là 84°C; vũ lượng kế cho thấy lượng mưa trung bình nhiều nhất là lm60, nhiều hơn gần gấp ba lần so với ở Pháp, nơi đạt được khoảng 0m65.
Những điều kiện khí hậu này khiến Nam kỳ trở thành nơi không tốt cho sức khỏe. Đất lúc nào cũng rất ẩm ướt, thường bị ngập lụt, phủ kín là những đám cây cối um tùm, sinh sôi dưới tác động của cái nóng, những lam chướng độc hại thúc đẩy sự sinh sôi của tất cả các loại bệnh tật: kiết lỵ, tiêu chảy, sốt rét, tả, đậu mùa, v.v.
Khí hậu Bắc kỳ nói chung khá hơn: nóng nực quá mức trong mùa mưa (nhiệt kế có khi đo được đến 39-40°C), mùa khô tương đối mát mẻ, khi đó nhiệt độ xuống đến 8°C thậm chí có khi là 7°C. Nhưng sự ẩm thấp lên đến cực độ; lượng mưa trung bình hằng năm là lm80, cao hơn 20cm so với Nam kỳ. Trong suốt mùa nóng khi mà lượng nước vô cùng dồi dào, vùng châu thổ này biến thành một đầm lầy thực sự; và nếu, vào mùa khô, ở những tháng Mười hai, tháng Giêng và tháng Hai, dù không có những cơn bão lớn thì bầu trời vẫn phủ khắp những đám mây xám để rồi trút xuống một màn nước mỏng: mưa phùn.
Tóm lại, chúng ta có thể nhận định được khí hậu của Đông Dương: nóng nực và ẩm thấp quá mức.
Vậy thì, nếu trước đây hai yếu tố này từng có thể ảnh hưởng lớn lên tổ tiên của những người An Nam, khi đó mới di cư từ vùng lạnh hơn xuống và không thích nghi được, thì ngày nay, trái lại, chúng không thể làm chuyển hóa những chủng người này nữa, vốn đã thích nghi với môi trường và đề kháng tốt hơn với tác động bên ngoài.
Vì chính môi trường này đã bắt đầu thay đổi kể từ đó; các điều kiện sống trở nên tốt hơn, nơi những đầm lầy từng ứ đọng ngày nay là những ruộng lúa xanh rờn; bệnh sốt rét lúc này không còn nghiêm trọng nữa ở những nơi nó từng gây những thảm họa nặng nề[69].
Đó là những gì tôi vừa trình bày ở trên đây khi nói rằng trong một quốc gia văn minh, ảnh hưởng vật lý của môi trường được đối trọng bởi những ảnh hưởng xã hội. Sau khi tác động lên con người, thiên nhiên, đến lượt nó, chịu ảnh hưởng của xã hội, mà theo câu nói của Auguste Comte[70], là được “xã hội hóa” theo cách nào đó.
Do đó, nếu chúng ta nghiên cứu ở đây các điều kiện khí hậu của Đông Dương, tất nhiên các tác động tức thì của chúng không là gì đối với cư dân hiện nay. Trong những trình bày trên đây, tất nhiên các quan sát tâm lý chỉ ứng với những người An Nam hiện đại, chúng ta chỉ tập trung vào biểu hiện kết quả của những tác động ban đầu, xảy ra qua quá trình rất lâu dài, và dần dần theo thời gian, trên cơ thể của những người Giao Chỉ cổ đại và các kết quả này, theo con đường di truyền, ngày nay đã trở thành những đặc tính hằng định của chủng tộc.
Fouillé nói, “Những người Á châu, mà Hippocrate trước cả Montesquieu, đã ghi nhận đời sống bạc nhược, thường có tính khí cáu kỉnh, mệt mỏi do nóng nực; thiêu đốt bên trong quá mức nên không để lại chút sức lực dư thừa nào để dùng cho bên ngoài. Khí hậu quá nóng làm cho huyết dịch tuần hoàn quá nhanh, làm bài tiết nhiều chất thải hơn khiến cho cơ thể không được sạch sẽ trong khi gắng sức và lao động. Bằng sự kích thích tuần hoàn máu và làm tất cả lỗ chân lông mở ra, các dây thần kinh và da quá mẫn cảm. Bởi vậy, con người ta trở nên nhạy cảm hơn, và cùng với đó, cảm giác, trí tưởng tượng của họ cũng dễ bị kích động hơn. Cuối cùng, cái nóng vượt ngưỡng kết thúc bằng mệt mỏi cùng sự kiệt lực.” Điện áp không khí[71], độ ẩm, độ trong lành của nó cũng ảnh hưởng đến cơ thể. “Đặc biệt, tình trạng ẩm thấp tiếp tục còn gây bít lỗ chân lông trên da, làm chậm tuần hoàn cho khí sắc kém, giảm hoạt lực của hệ thống vận mạch, loại bỏ toàn bộ năng lượng cơ thể, làm suy giảm cảm giác và hoạt động tinh thần, nói một cách ngắn gọn, mở đường cho đặc điểm chậm chạp và ù lì thường thấy nơi tính khí lãnh đạm.”[72]
Những nhận xét công bằng, chính xác này hoàn toàn ứng hợp với tính tình người An Nam.
Tính ngang bướng của dân du mục Mông Cổ, tính thích gây gổ và bạo lực của người Mã Lai đáng lẽ được biểu hiện ở người An Nam do được di truyền từ hai nhóm đó, nhưng dưới tác động đáng kinh ngạc của khí hậu, lại hòa tan thành một bản chất dửng dưng, bình thản, đơn giản là thờ ơ.
Được xem là bằng chứng đầu tiên cho sự dửng dưng này, chúng ta có thể dẫn ra việc người An Nam, tuy là dân tộc có một nền văn minh tương đối cao, nhưng lại không có bất kỳ sự tiến bộ, sự tinh tế nào trong cách ăn uống. Quả thật cần phải quay trở lại lúc khởi nguyên, vào thời điểm khi con người, chỉ có rất ít nhu cầu, tập trung vào việc thỏa mãn tất cả những gì cấp thiết nhất: cơn đói, để tìm ra được khẩu vị tương tự của người châu Á. Chúng ta biết những món ăn nổi tiếng trong ẩm thực người An Nam hay người Trung Hoa như: những con đun dừa, trứng thối, v.v. Hầu như tất cả mọi thứ đều có thể ăn được: ếch, chuột, dơi, rắn, thịt, rau củ hoặc thực phẩm bị hư hỏng. Trong chợ, người bán có hai loại giá: một cho hàng tươi, cái còn lại, giá thấp hơn, cho những thứ đã được bày ra những ngày trước đó. Một miếng thịt lợn như vậy hôm nay thì giá mười hai xu[73], ngày mai sẽ không có giá cao hơn tám hay mười xu và chắc chắn vẫn có người mua.
Với những món ăn này, người An Nam sử dụng kèm những loại nước sốt vô cùng cay và có thành phần rất đặc biệt; phổ biến nhất là một loại gọi là “nước mắm” làm từ cá chất lớp lên nhau, để lên men rất lâu trong nước biển. Hương vị và mùi của hỗn hợp này rất kinh khủng đối với người Âu.
Hơn nữa, thiếu tinh tế về khẩu vị sinh ra một phẩm chất hiếm thấy ở (người Âu) chúng ta: sự tiết độ. Người An Nam, ít bị đòi hỏi bởi những thèm muốn tự nhiên, rất tiết độ. Họ hầu như chỉ ăn cơm, cá khô và rau củ; chỉ uống nước hoặc trà; hiếm khi uống rượu[74].
Sự dửng dưng của người An Nam còn thể hiện ở sự thiếu tiện nghi về nhà ở và trang phục.
Nhà thường dựng bằng tre và lợp tranh; tường là những “cái phên”[75]; vách ngăn bên trong là những tấm chiếu sơ sài, cửa ra vào chỉ khép hờ, không hề có cửa sổ, cũng không có thông hơi, khói tự thoát qua các kẽ hở giữa các tán lá tranh trên mái. Thấp và bí, quá hẹp cho một gia đình thường đông đúc, nhà dựng trên nền đất nện, luôn ẩm thấp, đôi khi ngập nước nếu ở gần rạch hoặc sông.
Chúng ta hãy xem thử liệu nơi nào có thể thiết kế một ngôi nhà như vậy để chống lại cái nóng, mưa, và đặc biệt chống lại được cái lạnh ở Bắc kỳ.
“Cái nhà” có khi được dựng trên một chiếc bè, ở rìa con sông để rồi bị cuốn đi mỗi lần nước lên.
Về phương diện nhà cửa nói chung, rất dễ nhận ra sự đơn sơ thể hiện ở nội thất bên trong; chỉ có một hoặc hai chiếc phản lớn, bằng gỗ, trải một tấm chiếu mỏng trên đó cho cả gia đình dùng, vừa là bàn ăn, là ghế lại vừa là giường; một vài cái đôn, một cái rương... và một chiếc quan tài, ở vị trí trang trọng, do những đứa con hiếu thảo tặng cho người cha.
Thêm một sự bẩn thỉu gớm ghiếc nữa đó là những con lợn hoặc gia cầm được thả rông, hoàn toàn tự do; một cái ao gần đó và cũng là hồ bơi, là nơi trồng cải xoong lẫn hố ủ phân... và bạn sẽ có một bức tranh gần chính xác về sự tiện nghi của người An Nam.
Ngay cả ở những người giàu có, kể ra cũng chỉ là thiểu số ở An Nam, họ cũng không quan tâm đến sự thoải mái. Nếu nhà được xây gạch và lợp ngói, đồ đạc trong nhà, mặc dù sang trọng quý giá, nhưng vẫn rất bất tiện, càng không thoải mái càng tốt. Chõng tre được thay thế bằng những tấm phản dày bằng gỗ quý, những cái đôn thay bằng những chiếc ghế dựa cứng và lớn với lưng ghế được chạm khắc tinh xảo, nhưng chỗ dựa ít êm ái sẽ gây khó chịu cho người Âu chúng ta. Ngay đến cái gối, gối dựa hình vuông hoặc hình trụ, làm bằng gỗ hoặc sứ, mà dường như được dùng để làm đau đầu thay vì để nghỉ ngơi.

Nhà lợp bằng tranh ở Bắc kỳ. ©Raphaël Moreau
Với chuyện quần áo, người An Nam thể hiện cùng một thái độ coi thường đối với chính bản thân họ. Mặt trời như thiêu như đốt, nóng hừng hực, mưa xối xả, rồi cái lạnh ẩm của Bắc kỳ hiếm khi khiến họ phải cởi bỏ hoặc mặc thêm một bộ quần áo. Những gì họ thường mặc là: một chiếc quần thụng và một chiếc váy hoặc một chiếc áo khoác cột bên sườn; tất cả đều bằng vải mỏng.
Vào mùa đông ở Bắc kỳ, trong khi người Âu mặc quần áo bằng nỉ cùng áo khoác dài, ta lại thấy những “phu thợ” lội chân trần trong bùn, lạnh thấu tủy xương, run lẩy bẩy, nhưng vẫn luôn chỉ mặc độc một “cái áo” vải.
Sự thờ ơ như vậy dành cho chính con người họ tất nhiên dẫn đến môi trường sống bẩn thỉu. Chúng ta đã có được cảnh tượng khá kinh tởm về nhà ở, hình ảnh bề ngoài cá nhân còn khó chấp nhận hơn. Họ không thay hoặc gần như không bao giờ cởi quần áo ra, ngay cả vào ban đêm; quần áo được mặc đến khi hoàn toàn sờn rách. Người dân ở đây thường mặc vải nâu, nâu đỏ đậm, nhuộm bằng củ nâu, rất bền và không sợ ố bẩn hoặc bám bụi đất. Đối với người dân An Nam thì nên giặt quần áo càng ít càng tốt, nếp này tạo thành một sự tiện lợi đáng giá. Như vậy, khi những bộ đồ bỏ đi thì chỉ còn là miếng giẻ rách hôi thối! Vào những ngày lễ, người dân hài lòng diện những bộ đồ lễ hội, rực rỡ và được cất giữ cẩn thận; còn những đồ kể trên, bẩn thỉu và rách rưới, họ mặc hằng ngày.
Những đứa trẻ nhỏ phải sống trong tình trạng bẩn thỉu đến đau lòng. Lúc nào cũng lăn lóc giữa bụi bặm, bùn hoặc phân, không bao giờ được mẹ tắm rửa cho, chúng luôn phủ đầy lớp vảy ghê tởm hay “phủ một lớp cáu bẩn dày cộm”[76].
Bản thân phụ nữ, dù không quá xấu, nhưng không bao giờ gây được thu hút nơi mắt nhìn. Dưới đây là phác họa thành công, tái hiện rất chân thực ấn tượng cảm nhận của hầu hết người Âu khi hai bên gặp nhau: “Các cô ấy thường có khuôn mặt tròn mà các nhà thơ Trung Hoa so sánh đầy cảm hứng với trăng tròn. Mái tóc đen và óng mượt được ép sát vào trán bằng dải khăn; đôi mắt đen đầy dịu dàng và mang nét ngây thơ hoang dại của đôi mắt nai; mũi tròn, hơi hếch, giữ cho khuôn mặt một dung mạo trẻ con; không bao giờ kiều diễm, họ gây rung cảm bởi sự ngây thơ và dễ mến, chỉ cần không mở miệng là được. Ngay khi họ phô hàm răng hư do nhai trầu và đều nhau nhuộm đen hạt huyền, mọi luồng quyến rũ biến mất: than thay cho những hạt ngọc trai, người ta chỉ thấy tuyền màu đen tối như thể một lỗ lớn há ra, thay vì ánh ngọc trai lấp lánh giữa đôi môi hồng, nó làm mất hết thiện cảm và đào sâu giữa hai dân tộc một khoảng cách mà tôi nghĩ khó lòng vượt qua được trong tình yêu.”[77].
Bức tranh chúng ta vừa phác thảo về gia đình và nội thất của người An Nam không hề nói quá; thật không may, mọi sự đúng là như vậy. Tuy nhiên, phải thừa nhận rằng dưới tác động của chúng ta, tình trạng vệ sinh được cải thiện rõ rệt. Nhưng vẫn còn nhiều việc phải làm, và sẽ còn rất dài trong những nội dung tới đây là bản mô tả của chúng tôi, một sự tái dựng trung thành với thực tại.
Hơn nữa, bức tranh không phải chỉ chứa những điều u tối: nhìn dưới góc độ nào đó, nó vẫn cho thấy những viễn cảnh tươi sáng.
Nếu cảm xúc của người An Nam, bị cùn nhụt kéo dài bởi khí hậu khắc nghiệt, làm họ quá tiết độ nên khó lòng tìm kiếm sự sung túc và khiến họ trở nên lười biếng, bỏ bẵng đi những phẩm cách ẩn giấu của họ, thì trái lại, nó tạo ra ở họ một năng lực ấn tượng: sức chịu đựng.
Tôi vừa kể ở phần trước ví dụ về những “phu kéo xe” có thể chạy một hơi những cuốc xe từ hai mươi lăm đến ba mươi cây số, với tốc độ nhanh và bền bỉ; tôi cũng đã mô tả họ như thế nào dưới bầu trời mùa đông Bắc kỳ, đôi chân trần và quần áo mỏng manh, răng đánh lập cập, nhưng chai lì với cái lạnh, và chờ làm ấm lại sau mỗi đợt chạy; tôi cũng đã kể về công việc lao nhọc mà người nông dân phải nai lưng ra làm để đảm bảo ruộng lúa tươi tốt; sự chịu đựng ở người chèo thuyền, khom lưng hàng giờ liền trên thuyền. Và tôi vẫn có thể kể thêm ở đây nhiều câu chuyện, nhiều giai thoại chứng thực cho những quan sát trước đó: các cuộc phẫu thuật, họ chịu đựng không rên rỉ, không khóc than; những lần sinh nở diễn ra không hề có giúp đỡ, chăm sóc, và đáng kinh ngạc là bà mẹ hầu như không cần phải ngưng hoàn toàn những công việc thường ngày bởi biến cố này.
Khả năng chịu đựng này, theo góc nhìn thể chất, có tác động tốt về mặt tinh thần: người An Nam rất can đảm, nhưng không như kiểu chúng ta [người Pháp hay người châu Âu] thường nghe nói, bởi đối với chúng ta biểu hiện đó đôi khi đồng nghĩa với sự táo bạo, mạo hiểm hoặc liều lĩnh. Những người lính An Nam thường chạy trốn trước chúng ta; tuy vậy, nếu họ được tập luyện, lãnh đạo, hỗ trợ tốt, họ sẽ thể hiện những kỹ năng chống lửa đạn đáng ngưỡng mộ, cũng như những gì họ đã thể hiện trong chiến dịch sau cùng với Trung Hoa. Thoạt đầu, dường như rất khó để dung hòa biểu hiện hèn nhát rành rành và lòng can đảm bẩm sinh này. Ở người An Nam, can đảm có tính thụ động: họ biết chịu đựng nỗi đau, chịu đựng cái chết mà không hề run sợ, nhưng chỉ khi điều đó dường như là không thể tránh khỏi đối với họ và sau khi họ đã cố hết sức để thoát khỏi nó.
Thực ra, người An Nam sống rất an phận, và với sức cam chịu phi thường họ chịu đựng những trận đòn tàn khốc nhất của số phận. Không gì có thể làm xáo trộn sự bình tĩnh không hề lay chuyển của họ: kể cả có trút lên họ những nhục hình, như một vài tác giả báo cáo, cả những sự cố bất ngờ hoặc không may. Một ngày nọ, tôi thấy một quan huyện được chủ tỉnh gọi lên vì một vụ việc hành chính, trả lời các câu hỏi ông ta đặt ra suốt gần một giờ, một cách bình tĩnh, chính xác, không hề tỏ ra thiếu kiên nhẫn, rồi lặng lẽ chờ đợi, ở cách xa đó, cấp trên của anh ta, đang tất bật với những bản hỏi cung khác và đột nhiên chú ý đến sự hiện diện kéo dài của anh, mời anh nói, cuối cùng anh khai bằng một giọng đều đều, gần như vô cảm, đôi mắt hạ xuống, vẻ mặt thản nhiên, hai tay đan chéo với thái độ tôn trọng và trang nghiêm, rằng đêm trước anh bị ăn trộm mất bốn trăm đồng (đáng giá một gia tài ở An Nam) và tất cả những gì anh từng sở hữu ngoài nó: của cải hoặc trang sức. Anh gửi đơn khiếu nại thủ phạm, nhưng anh đã làm như vậy mà không hề nổi nóng, anh nói chậm rãi bằng những từ ngữ cẩn trọng, mô tả tỉ mỉ các tình tiết phạm tội của tên tội phạm, không bỏ sót một chi tiết nào... chỉ trừ một chuyện mà anh nêu ra ngay trước khi ngừng nói, anh làm giống như thể anh chợt nhớ ra nó, rằng nó là một việc anh đã quên và không hề quan trọng: “Tôi chưa nói với ông, thưa ngài Công sứ, rằng những tên trộm ngoài đó ra còn đầu độc tất cả gà vịt, chó và hai con ngựa của tôi.”
Hãy thử đặt vào vị trí nạn nhân của người An Nam này một kiểu dân Pháp cùng chịu một biến cố như vậy, và bạn sẽ nhận ra sự khác biệt.
Nhận định tương tự, sự điềm tĩnh là một phẩm chất không cần phải bàn cãi; đó là bình tĩnh, nhanh trí khi đối mặt với nguy hiểm, làm chủ được bản thân, những cơn giận và những ham muốn; nói tóm lại, đó là biểu hiện cao nhất của phẩm giá con người.
Nhưng đó lại là mặt trái của sự việc. Cũng con người đó, thản nhiên trước sự bất hạnh của chính mình, sẽ thờ ơ trước bất hạnh của người khác. Người An Nam không xót thương thấu hiểu; hơn thế nữa, anh ta tàn nhẫn.
Để nhận ra sự man rợ bẩm tính này, ta phải đọc trong Bộ luật (Gia Long) bản mô tả các hình phạt mà người bị kết án phải chịu, và để xem với nhận thức nào, chúng được áp dụng tinh vi ra sao.
Và đầu tiên, phạt roi. Hình phạt này rất đau đớn: “Nhục hình này khác nhau về cường độ tùy theo khả năng của người thi hành. Cây roi dùng để đánh chỉ ở một phần ba chiều dài của nó, lực đập mạnh, roi phải đánh đúng một chỗ, roi thứ ba thường gây chảy máu. Bốn mươi roi liên tiếp có thể giết chết tù nhân. Vậy nên, họ thường đánh hai mươi roi; họ đổ thêm nước muối vào vết thương để kẻ bị kết án vào lại nhà giam suốt hai mươi bốn hoặc bốn mươi tám giờ, cuối cùng hắn ta nhận tiếp hai mươi roi mới, và cứ tiếp tục như thế...”[78]
Tử hình có nhiều hình thức, mức độ kinh khủng tăng dần từng bậc: thắt cổ, chém đầu, voi giày, cái chết từ từ[79]. Thắt cổ được thực hiện bằng sợi dây thừng mảnh, rất dài, quấn một hoặc hai lần quanh cổ tù nhân, người này đứng thẳng, được gắn chặt vào một cái cột. Hai người phụ nắm lấy hai đầu của sợi dây và kéo từ từ, càng ngày càng mạnh, mỗi người một bên; vòng dây siết lại, tù nhân nghẹt thở: sợi dây được nới lỏng ra một chút, kẻ khốn khổ lấy lại hơi và người hành quyết chuẩn bị bắt đầu hành hình lại, ngưng lại một lần nữa nếu cái chết dường như đến quá nhanh. Đôi khi, giữa những lần hành hình, người bị kết án được cho uống một ít thuốc bổ để khiến anh ta khỏe hơn, và do đó kéo dài cảnh tượng ghê rợn này. Có khi, với cùng một mục đích nhưng ít gặp hơn, người hành hình nhóm một bếp lò dưới chân kẻ chịu tội.
Voi giày, dành riêng cho người phụ nữ ngoại tình, tức là đầu bị nghiền nát dưới chân con thú to lớn; chém đầu, bằng cách sử dụng một thanh kiếm thường bị sứt mẻ, cũng không kém phần tàn bạo.
“Các giáo sĩ kể lại với chúng tôi rằng, trong cuộc hành quyết (1839), một tân tòng trẻ tuổi tên Michel Mi, khi sắp đi đến cái chết mà không hề sợ hãi, đao phủ nói với cậu ta: ‘Đưa tao năm quan và tao sẽ chặt đầu mày chỉ bằng một nhát kiếm, không khiến mày phải chịu đau khổ.’”[80]
Nhưng trong tất cả những kiểu chết đó, cái được gọi là “cái chết từ từ” là đáng sợ nhất. “Bao gồm việc xẻo thịt cơ thể thành từng miếng nhỏ, đến khi hoàn toàn trơ xương; ngay sau đó, với đàn ông, bộ phận sinh dục bị cắt đi; đối với phụ nữ, những bộ phận này được phủ bằng một miếng vải; họ mổ bụng và lấy ruột ra cho đến khi đối tượng chết hẳn. Sau đó, họ cắt bỏ các chi, cắt các khớp và đập nát xương.”[81]
Có người từng cho rằng, một cách chắc chắn, nếu bị thấm nhuần lý luận phi nhân đạo mà dựa vào đó cơ quan lập pháp tiến hành thiết lập các bậc hình phạt kế tiếp khác nhau, thì họ cũng sẽ nghĩ rằng đó tự nhiên không phải là sự tàn ác, kể cả sự hiếu kỳ về máu và những cực hình, và do vậy đã đưa vào luật pháp An Nam nhiều kiểu tử hình, tra vấn và vô vàn kiểu tra tấn.[82]
Họ nói với chúng tôi, luật pháp cố gắng làm cho giá trị của hình phạt phù hợp với mức độ của lỗi lầm; nhưng liệu “lý luận phi nhân đạo” này có đủ sức biện minh cho những tưởng tượng tàn ác làm nhà lập pháp thích thú; liệu nó có biện giải cho những hành vi xấu xa và dữ tợn thường được thực hiện bởi những kẻ hành quyết?[83]
Phải thừa nhận rằng sâu thẳm trong tâm hồn người An Nam luôn tồn tại một ký ức xưa cũ, xa xăm và mờ mịt, nhưng đôi khi nó hiện lên những tiếng vọng dữ dội và bất chợt, về các tập quán tổ tiên. Các chiến binh Mông Cổ hung hãn và những tên cướp biển Mã Lai liều lĩnh đã để lại trong tâm tính con cháu của họ một mầm mống hung ác, được một mặt trời nhiệt đới đánh thức dưới làn hơi ẩm ướt và nóng bỏng.
Ảnh hưởng của khí hậu khắc nghiệt không chỉ lưu dấu vết nơi cảm xúc; nó có tác động trở lại, hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp, đến ý chí và trí tuệ. Sự suy nhược đáng kể của cơ thể bởi tác động của sức nóng và độ ẩm hoặc do thiếu thức ăn, biểu lộ qua tình trạng đờ đẫn không cưỡng được, qua sự ngại ngần thực hiện bất kỳ nỗ lực nhọc nhằn nào, bất kể là về thể chất hay trí tuệ.
Do đó, chúng ta sẽ thấy rằng người An Nam nổi bật không phải bởi phẩm chất năng lượng tiên phong, cũng không phải bởi sức mạnh tưởng tượng hay thăng tiến tinh thần.
Tuy nhiên, bất chấp những bất lực không thể chối cãi này, họ vui hưởng một đặc ân vô giá. Đó là một trong số ít những dân tộc sở hữu tính khí hài hòa, nơi tất cả mọi khả năng đều cân bằng. Thật vậy, người ta không thể nói rằng họ là một người “nhạy cảm”, một người “trí tuệ” hay một người “có ý chí”, bởi vì ở họ, cả thần kinh lẫn não bộ đều không chiếm ưu trội. Hệ thống thần kinh, hệ thống cơ bắp và hệ thống huyết dịch đều hợp nhất, nhưng ở một mức đặc biệt thấp: máu lưu thông chậm, thần kinh kiệt quệ và cơ bắp không còn chút sức bật nào.
Vậy nên, nếu có thể nói rằng người An Nam vô cảm và lãnh đạm, không có nhiều nhu cầu to lớn và không có mong ước thực sự nào, và vì những lý do đó là một dân tộc hạnh phúc, ít nhất sẽ phải nói thêm rằng điểm chính yếu trong sự hạnh phúc của họ là tiêu cực và rất ít ham muốn.
II. Môi trường con người
Cho đến nay, trong số các yếu tố đã góp phần hình thành tính cách dân tộc An Nam, chúng ta chỉ xem xét các nguyên nhân thể chất. Vẫn còn một yếu tố không kém phần quan trọng mà chúng ta chưa xem xét, nhưng ảnh hưởng của nó chủ yếu là lên luân lý đạo đức; ý tôi là: con người.

Người An Nam trong bữa ăn. ©Raphaël Moreau và đồng sự
Chúng tôi đã nhận thấy rằng người An Nam chứa trong huyết quản của mình một phần khá lớn dòng máu Hán Hoa và Mã Lai; những sự lai tạp thừa kế này làm thay đổi đáng kể thể chất sinh lý nguyên thủy, đã để lại trong cấu tạo tinh thần của họ những dấu ấn còn sâu thẳm hơn.
Do đó, cần phải có một kiến thức đầy đủ về tâm hồn người An Nam, trước tiên là nghiên cứu, ít nhất là trong những nét thiết yếu của họ, tâm lý học Hán Hoa và Mã Lai.
Từ các nhóm khác nhau tạo nên Đại chủng Á, nhóm Hán Hoa chắc chắn là nhóm phức tạp nhất, là nhóm khó toát ra diện mạo đặc thù nhất.
Theo quan điểm nhân chủng học, cư dân ở các tỉnh khác nhau của Trung Hoa thể hiện rất khác nhau về mặt phẩm chất tinh thần.
Ở miền Nam, họ ngang bướng, độc lập hơn so với miền Bắc; họ có nhiều sáng kiến hơn, sẵn sàng giao dịch và dễ chấp nhận di cư. Một nghị lực nhất định, một sự năng động rất lớn, thậm chí táo bạo, đặc trưng hóa và phân biệt họ với những người Hoa miền Bắc, vốn điềm tĩnh hơn, bình thản hơn, nhưng có lẽ cũng văn minh hơn.
Những khác biệt này được giải thích là do sự khác nhau về điều kiện khí hậu hoặc xã hội, dựa trên đó mà các phân nhóm Hán Hoa phát triển.
Tuy nhiên, không phải là không thể thiết lập được một bình quân chung về những phẩm chất và khuyết điểm của chủng tộc Hán Hoa. Thực tế, tất cả đều bắt nguồn từ những khuynh hướng cơ bản mà chúng ta đã chỉ ra là phổ biến đối với Đại chủng Á: sự nhạy cảm và trí tuệ ở mức trung bình, thụ động. Chịu nhiều ảnh hưởng khác nhau, nên họ đã phát triển khác nhau.
Đồng bằng Hoàng Hà rộng lớn, màu mỡ khiến dân du mục ngang bướng này định cư lại và tự biến mình thành những nông dân hiền hòa, những thương nhân khéo léo, những thợ thủ công tài tình, điềm tĩnh, trầm lặng, sợ chiến tranh và chuyện đăng lính.
Tuy nhiên, ở họ, sự tàn ác bẩm sinh không hề biến mất - chúng ta biết những cuộc tra tấn khủng khiếp xảy ra ở Trung Hoa đối với những người bị tử hình - từ sự hung bạo trước đây, tính hung dữ của họ trở thành lạnh lùng và toan tính. Vùng đất đã được chuẩn bị kỹ cho sự phát triển của một thiên hướng như vậy; ít mẫn cảm và khắc nghiệt với bản thân, người Hoa vẫn lãnh đạm với những đau khổ của người khác.
Sự điềm tĩnh điển hình này, hay một sự thiếu hụt cảm xúc, tạo nên cách cư xử tàn bạo và ích kỷ, vả lại, hàm chứa cả sự thoái chí, đưa đến thói an phận và quen nếp.
“Khi nghiên cứu Đế quốc Trung tâm từ bất cứ khía cạnh nào, người ta luôn tìm thấy ở đó những khởi đầu đẹp đẽ và đầy hứa hẹn, nhưng là những lời hứa đáng thất vọng (vì cuối cùng) đã không hề được thực hiện. Mọi thứ đã được thử thách nhưng chỉ từ quan điểm thực dụng và bất di bất dịch; để rồi tất cả đi vào bế tắc.”[84]
Người Trung Hoa biết rõ thuật in ấn và thuốc súng trước người châu Âu; nhưng không bao giờ những phát minh này ở họ có được sự phát triển như chúng ta đem đến cho chúng. Trong khi những khám phá này đã làm thay đổi thế giới châu Âu thời Trung cổ, người dân Thiên triều lại thờ ơ bỏ qua, không muốn và không biết tận dụng những yếu tố tiến bộ này.
Quay về quá khứ, thay vì chuẩn bị cho tương lai, họ tìm kiếm sự hoàn hảo trong chi tiết, trong sự hữu hạn vật chất. Ngành kỹ nghệ của họ đứng yên một chỗ, cũng như nền giáo dục đạo đức thô thiển của họ.
“Khổng Tử đưa ra các quy tắc chi li để giáo dục các bé trai, bé gái, thanh niên và người lớn. Ông đi đến mức quy định cách rửa tay và miệng, cách mặc quần dài, buộc giày, và ông chỉ cho phụ nữ cách họ nên ăn mặc và ướp hương cho tóc. Ngoài ra còn có các quy tắc của phép lịch sự và nghi thức cần tuân thủ giữa những người ngang hàng với nhau, những người bề trên và bề dưới. Đây có lẽ là cuốn sách đóng góp nhiều nhất cho việc đào tạo dân tộc Hán Hoa trong các mối quan hệ của họ và điều đó khiến họ trở nên văn minh nhất trong tất cả các dân tộc - và cũng là những người ít có khả năng học hỏi, cải thiện bản thân, kế tục nền giáo dục của thế giới.”[85]
Chính sự thiếu quan tâm về việc hoàn thiện, cùng với sự tách biệt mà Trung Hoa luôn cảm thấy hài lòng, giải thích rõ nhất cho sự chững lại của nền văn minh Trung Hoa trong quá trình phát triển tuần tự của nó.
Tuy nhiên, phải thừa nhận rằng tình trạng trì trệ kéo dài đó cũng là do sự thấp kém về trí tuệ của chủng tộc này. Rất đúng khi nói rằng sự tiến bộ là sản phẩm hiển nhiên của giáo dục, thế nhưng điều này chỉ đem đến tất cả thành quả ở một dân tộc thừa hưởng những phẩm chất trí tuệ tự nhiên cần thiết cho sự hoàn thiện chính dân tộc đó.
Vậy mà, những phẩm chất thiết yếu này gần như hoàn toàn thiếu vắng ở dân tộc Trung Hoa. Sự nhạy cảm ít phát triển, năng lực cùn nhụt - nếu không muốn nói là thiếu vắng - đó là những gì nâng đỡ cho trí tuệ Trung Hoa. Vì lẽ này, tức sự kém cỏi của những trụ cột, dân tộc này không bao giờ có thể đạt đến những thăng hoa cao cả; bất chấp một văn hóa lâu dài và tỉ mỉ, sự thật là họ thích ứng kém, họ không hề có đột phá nào để đáp ứng những nhu cầu của chính họ.
Nghèo nàn về cảm xúc và ý chí, người Trung Hoa cũng nghèo về trí tưởng tượng. Năng lực trừu tượng ở họ gần như hoàn toàn không có; đó là lý do tại sao các phương pháp của họ hoàn toàn tuân theo kinh nghiệm; họ không bao giờ biết rút ra các khái niệm khoa học ẩn giấu trong kinh nghiệm để nêu ra các định luật chung.
Không có khả năng tạo ra một lý tưởng nào khác ngoài hạnh phúc tức thời có thể đạt được, họ tự tạo nên một tôn giáo tích cực và dựng thiên đường trên mặt đất: “Họ nói, đừng mơ về một cuộc sống bên ngoài sự sống, vì bạn sẽ không tìm thấy được cuộc sống đó... Không có thế giới nào khác ngoài thế giới trong vũ trụ và không có cuộc đời nào khác cho loài người chúng ta ngoài cuộc đời trên mặt đất... Đó là trong một chuỗi những sự tái sinh mà con người thấy được, tùy theo tình trạng rèn luyện mà linh hồn của họ đã chịu vào kiếp trước, hình phạt hay phần thưởng của họ. Nếu họ đã tu tập và hoàn thiện nó, họ sẽ được tái sinh với những năng lực, thậm chí cả thể chất và thể xác, điều này sẽ khiến họ hạnh phúc dài lâu hay sẽ là một sự đảm bảo cho điều đó.”[86]
Đầu óc vô cùng cụ thể, thoát khỏi mọi bận tâm siêu hình, không mấy quen thuộc và ít có khuynh hướng cảm xúc tự nhiên bộc phát, họ tạo nên một tinh thần theo kiểu của riêng mình: vô cùng thực tế, đặc quyền vị lợi, nơi mà một tình cảm hơi nồng nhiệt và khoan dung chưa từng xuất hiện.
“Học thuyết đạo đức mà con người phải học hỏi, các quy tắc đạo đức mà họ phải tuân thủ, các nguyên tắc đạo đức sẽ khai sáng con đường của họ trong cuộc sống, không phải là suy diễn; chúng luôn có một mục đích thiết thực, mang tính gia đình và xã hội. Không phải vì một mục tiêu dài hay ngắn hạn, vì một hình phạt sẽ được nhận ở một thế giới khác, mà các nguyên tắc của đạo đức này sẽ phải được áp dụng, nhưng trái lại, là vì những hiệu quả ngay lập tức, ở ngay nơi họ được dạy và thực hành.”[87]
“Những gì bạn không muốn làm cho chính mình thì cũng đừng làm với những người khác”, triết gia Trung Hoa (Khổng Tử) khuyên nhủ. Nhưng theo quy tắc ứng xử này, với tinh thần hoàn toàn theo Ki-tô giáo, họ sẽ tuyên phạt cái gì? “Bằng cách cư xử như vậy, kể cả trong vương quốc lẫn gia đình bạn, sẽ không ai oán trách chống lại bạn.” Từ đỉnh cao của tinh thần không vụ lợi, chúng ta rơi vào một chủ nghĩa thực dụng thô thiển đầy ty tiện.
Từ những gì chúng ta hiện biết về chủng tộc Hán Hoa, về sức sống mãnh liệt, về tâm hồn gai góc và đầu óc hạn hẹp của họ, chúng ta có thể kết luận rằng, nếu chủng tộc An Nam, bằng cuộc hôn nhân với dân Thiên triều, đã được hưởng món hời lớn, theo quan điểm sinh lý và xã hội, những đặc tính chịu đựng và thích nghi mạnh mẽ, nhưng họ đã chỉ có thể hưởng, theo quan điểm đạo đức, những phẩm chất tương đối tầm thường.
Người Hoa, phải thừa nhận rằng, không thiếu sự can đảm cũng như sự khéo léo. “Trí tuệ của họ, như một nhà phê bình sáng suốt nói, chứa đựng sự tinh tế, các cơ quan của họ là sự khéo léo của lao động, có khả năng làm tất cả mọi thứ; họ có lý lẽ khéo léo, đầu óc lanh lợi tinh quái, một triết lý thực tế - lý lẽ của Panurge, tinh ranh của Falstaff, triết lý của Sancho[88].
... Họ tin rằng hai với hai là bốn, và họ đúng. Họ nghĩ rằng không làm gì thì an toàn và dễ chịu hơn là hành động, và họ không sai. Họ coi trọng sự lễ độ, và tôi đồng ý với họ. Họ nghĩ rằng người khôn ngoan thì không tạo ra quá nhiều ham muốn, tôi cũng nghĩ như họ luôn. Một cái chén tốt được làm ra, một chiếc đĩa được tạo dáng đẹp khiến họ say mê; một vật làm bằng sơn mài hào nhoáng được mạ vàng sẽ hấp dẫn họ. Tất cả điều này đều có thể dung thứ... Nhưng những suy nghĩ vượt trội, phân tích nghiêm túc, mong muốn tiến bộ, tất cả những đức hạnh ‘mã thượng nhất’ họ đều thiếu - như Rabelais nói. Họ không thể có được nó. Những chiếc đinh thép của họ đã đóng chặt họ vào thói quen và quá khứ.
Trải qua bốn ngàn năm lâu dài như vậy, không còn nghi ngờ gì nữa, vắng bóng trào lưu trí tuệ, hóa đá tư tưởng và tâm hồn trường cửu - Hỡi ôi! sống như thế nào đây?”[89]
Bây giờ chúng ta phải tự hỏi những đặc điểm đạo đức của chủng tộc Mã Lai là gì.
Thật khó để đưa ra một câu trả lời hoàn toàn thỏa đáng cho câu hỏi này. Thực tế, chủng tộc Mã Lai phát triển rất không đồng đều, một số đại diện của họ vẫn còn sống hoang dã. Do đó có thể hiểu rằng phải có một sự khác biệt đáng kể giữa những cư dân nguyên thủy này và những người, do những tiếp xúc khác nhau với thế giới, đã đạt được một mức độ văn minh nhất định.
Mặt khác, việc trải qua những ảnh hưởng khác nhau của Trung Hoa, Ấn Độ và Ả Rập, qua nhiều thế kỷ, đã tạo ra nơi người Mã Lai sự đa dạng về chủng loại, không còn sự tương đồng nào giữa các nhóm ngoài những nét chung nhất.
Và cũng phải nói thêm rằng người Mã Lai ngày nay là những tín đồ Hồi giáo, và tôn giáo này, được du nhập vào Sumatra vào khoảng thế kỷ XIII, đã cải biến khá nhiều tính cách của người Mã Lai cổ đại, cùng thời với người Giao Chỉ, mà duy chỉ có đề tài tâm lý của họ đưa chúng tôi vào nghiên cứu này.
Các bộ tộc Mã Lai còn hoang dã, chẳng hạn như những người Dayak ở Bornéo và Battak ở Sumatra, còn giữ những tập quán - ví dụ như tục ăn thịt người - thể hiện rõ một sự tàn bạo nguyên thủy ở họ. Lên thêm một vài vĩ độ, những tập tục man rợ này biến mất, nhưng một sự hung tàn lạnh lùng và có tính toán vẫn làm nền tảng tôi luyện tinh thần của chủng tộc.
“Một du khách xưa, Nicola Conti, đã viết vào năm 1430, kể lại việc làm thế nào các quý tộc Mã Lai thử độ cứng của một thanh kiếm mới: ‘Không có dân tộc nào, ông nói, có thể sánh với người dân Java và Sumatra về độ tàn ác. Giết một người đối với họ chỉ là chuyện vặt vãnh và không làm họ phải bị trừng phạt. Nếu một trong số họ, mua một thanh kiếm mới, muốn thử nó, anh ta chỉ cần đâm vào ngực người đầu tiên anh gặp. Người qua đường kiểm tra vết thương và khen ngợi sự khéo léo của kẻ giết người nếu nhát đâm được thực hiện tốt.’[90]
Chúng tôi thấy một thông tin cùng loại trong tập quán nổi tiếng kể rằng: cuộc chạy đua của ‘kẻ bẩn thỉu’. Cái này ‘kết hợp tự sát với giết người, vì người chạy chết trong khi giết người khác’. Đây là cách mọi thứ diễn ra: một người, tuyệt vọng do một sự bất công đáng phẫn nộ hoặc do một nỗi bất hạnh nào đó, quyết định từ bỏ cuộc sống. Vậy thì anh ta bắt đầu nghiện thuốc phiện; thế rồi, ‘nghiền’ nó trong bàn tay, lúc đầu, anh ta nhảy xổ vào tất cả những người mà anh ta nghĩ rằng anh ta phải thưa kiện, đâm họ, sau đó chạy băng qua thị trấn, giết hoặc làm bị thương bất cứ ai có ý bắt giữ anh ta.”[91]
Bình thường, người Mã Lai trầm tính, có vẻ thản nhiên, rất ít khi cởi mở. Họ che giấu cảm xúc, cân nhắc trong hành động và lời nói, không bao giờ thẳng thắn thảo luận về một chủ đề nào.[92]
Hầu hết các tác giả đều đánh giá họ rất khắt khe, đã miêu tả cho chúng ta thấy rằng họ là những kẻ đạo đức giả, dối trá, ghen tuông một cách tàn nhẫn và độc ác.
Tuy nhiên, tầng lớp quý tộc lại lịch sự tinh tế, cái mà họ tiếp thu qua lễ nghi của người Trung Hoa. Ông J. Chailly-Bert[93] nói, “Sự lịch sự của họ không dễ gì hiểu được cho những ai chưa từng nhìn thấy họ. Nền dân chủ của chúng ta cách họ cả ngàn dặm; thế kỷ XVIII đã quá lý trí và ngạo mạn; chỉ duy thế kỷ XVII có hơi trang trọng, của vua Louis XIV và Hoàng hậu xứ Maintenon, đã biết một số điều vừa nghiêm túc và toàn bích. Đó không phải là một bộ trang phục bó sát, một mặt nạ quyến rũ, một lớp sơn móng bong tróc, mà ở bên trong và thực chất, thâm nhập vào từng cá nhân, xâm chiếm toàn bộ thực thể. Ngay cả khi buồn phiền, thiếu kiên nhẫn, bị hạ nhục, lo lắng, thậm chí đam mê, người đứng đầu ở Java vẫn không để vị khách của mình nhìn thấu điều đó; ông sẽ đợi cho đến lúc chỉ còn một mình để trở về với những nỗi đau hay niềm vui của ông.”
Cuối cùng, chúng ta hãy nói thêm rằng, bằng khả năng trí tuệ của họ, cái chỉ có thể phát triển hạn chế, người Mã Lai nằm trong số các chủng tộc mà chúng tôi thống nhất gọi là “trung bình”, nghĩa là hình thức trung gian giữa các chủng tộc hạ đẳng (người da đen) và các chủng tộc da trắng, được gọi là “thượng đẳng”.
Nếu chúng ta vẫn nói rằng người Mã Lai, sau khi lần lượt theo đạo Bà La Môn và đạo Phật thì cuối cùng lại trở thành các tín đồ Hồi giáo, mà hơn nữa họ còn chưa bao giờ tỏ vẻ rao giảng một cách điên cuồng bất kỳ chủ thuyết nào, chúng ta có thể kết luận - và kết luận này phù hợp với kinh nghiệm - rằng họ không quá mộ đạo, đạo đức của họ, mất đi chỗ dựa tôn giáo, còn thô sơ.
Đó là diện mạo chung của người Mã Lai đương đại. Tôi chỉ tập trung chỉ ra các đặc điểm nổi bật nhất của chủng tộc đó, nghĩa là những gì người ta tìm thấy không có ngoại lệ trong tất cả các đại diện hiện tại của họ, và những gì có thể biểu thị cho người Mã Lai cổ đại của vương quốc Champa.
Đặc biệt, chúng tôi thấy hình dung của những tên cướp biển liều lĩnh này rất thú vị khi có thể phác thảo lại chính xác hòng hiểu rõ nó đã ảnh hưởng như thế nào lên quốc gia An Nam. Thật không may, chúng tôi chỉ còn có phương tiện khám soát thực tế; như chúng tôi đã nói, người Mã Lai cổ đại gần như đã biến mất khỏi Đông Dương.
Tuy nhiên, điều cho phép giả định ở đây, đó là cư dân này - đôi khi quá hung tợn, quá mạnh mẽ, đến nỗi chúng tôi phải giả định họ thích mạo hiểm, băng qua biển cả trên những chiếc thuyền con, xâm chiếm vùng biển lân cận của bán đảo Đông Dương và các quần đảo xung quanh - như được tìm thấy trong các cuộc chiến bất tận, các câu chuyện được kể đầy trong biên niên sử của người An Nam, một việc tự nhiên đối với phẩm chất hiếu chiến đã phát triển nơi họ, ở mức độ cao, cùng sự nghị lực và tính can trường.
Đôi khi chúng ta thấy trong tâm hồn người An Nam những phản chiếu thoáng qua nhiệt huyết của sự quật cường này.
Thực sự, chỉ mỗi ảnh hưởng Trung Hoa không thể giải thích đầy đủ cho lịch sử đầy biến động - và quá lạ kỳ - của dân tộc An Nam.