Như trong câu chuyện về lịch sử đất nước An Nam, chúng ta đã có thể thấy được những đặc điểm nổi bật của dân tộc An Nam, vì vậy cũng có thể, thông qua nghiên cứu ngôn ngữ, văn học, nghệ thuật, khoa học, kỹ nghệ của dân tộc này mà nắm bắt sâu sắc hơn biểu hiện cấu trúc tinh thần của nó. Chúng ta sẽ thấy một lần nữa sự thấp kém về bản chất.
I. Kỹ nghệ thương mại và nông nghiệp
Do đó, cần phải nhận ra rằng kỹ nghệ An Nam, ví dụ, liên quan đến quần áo và nhà ở, không ở mức quá tiên tiến.
Người Bắc kỳ nghèo, để tránh lạnh hoặc mưa họ đểu chỉ mặc một kiểu đồ rất sơ sài gồm lá cọ khâu lại với nhau.
Đám dân cư chen chúc trên bờ sông hoặc kênh rạch, sống trên bè hoặc trong những ngôi nhà đơn sơ làm bằng tre, hoặc nhà sàn ngay trên nước, hoặc đất, trên nền đất nện.
Những ngôi nhà gạch, không lợp lá, hầu như không được cư dân nông thôn biết đến, mà chỉ có ở những người giàu sống ở các thành phố lớn, nơi có thể được gọi là thành phố ở An Nam.
Nghề đi biển cũng vẫn còn ở mức phôi thai. Người An Nam dùng những chiếc thuyền tre đan được phủ lớp trét để đánh cá hoặc vận chuyển buôn bán. Những chiếc thuyền con này, được gọi là tam bản (sampan), ở giữa có một buồng thấp và hẹp nơi gia đình lái thuyền chen chúc; khung vỏ và dây thừng bằng tre; những cánh buồm là những tấm bạt đơn giản; tóm lại, toàn cảnh khá nghèo khổ.
Hầu hết các công cụ mà thợ thủ công An Nam sử dụng đều kém tinh xảo; nó chỉ cho phép làm công việc thô mộc, luôn được hoàn thành ở mức không hoàn hảo. Do đó các vật dụng sản xuất bằng phương tiện đó có dấu ấn đậm nét thô sơ.
Trong số các công cụ lao động nổi tiếng nhất, đặc trưng nhất cho mức độ tiến bộ kỹ nghệ của người An Nam là xe kiệu hai bánh, xe đẩy, xe thô sơ có bánh xe - bằng gỗ, hình tròn, tạo thành từ một vành bánh dạng đĩa cùng nhiều bộ phận khác được ghép với nhau bằng những thanh ngang - và chày giã gạo như cái xuất hiện trong một bức ảnh minh họa ở trang sau.
Ngay cả trong lĩnh vực nông nghiệp, ở An Nam cũng như ở Trung Hoa, nghề quốc gia vẫn còn như ở thời kỳ cách đây hàng ngàn năm. Người dân chưa bao giờ có ý nghĩ thay đổi cây trồng - cơ bản vẫn chỉ là lúa gạo - để có được thực phẩm phong phú và tốt hơn cho sức khỏe.
Các quy trình vẫn sơ khai; việc đốt rừng vẫn được thực hiện, dù chỉ ở vùng cao, để lấy những khoảnh đất nhỏ làm nơi gieo hạt.
Thiết bị làm việc đơn giản; cái cày cũng như xuồng được làm bằng gỗ.
Tuy nhiên, cho dù thường chỉ được người dân quan tâm ở mức lãnh cảm, nông nghiệp là cái mang đến cho Đông Dương sự phát triển đáng ngưỡng mộ như ta đã biết. Việc nông là cái cần thiết duy nhất, là nhu cầu sống duy nhất góp phần cho kết quả này. Người An Nam chỉ làm việc nghiêm túc vì nhu cầu của họ mà nhu cầu này lại không có nhiều.

Những người thợ đang giã gạo bằng chày trong một nhà máy xay lúa ở Chợ Lớn.
Điều này, dường như, giải thích sự vắng mặt gần như hoàn toàn của kỹ nghệ và thương mại của người An Nam bản địa[125]. Làm sao để chế tác tốt bàn ghế hoặc dụng cụ, may mặc quần áo khéo léo, người ta có thể bỏ qua điều đó; cho nên, người An Nam không sở hữu nhiều thứ.
Nếu người Trung Hoa, những người cũng ít tự hài lòng, sở hữu một ngành kỹ nghệ và thương mại rất phát triển, thì điều này đặc biệt là do dân số vô cùng đông đảo. Thực tế, hầu như chỉ có các khu vực đô thị lớn - như Quảng Châu, Thượng Hải, Bắc Kinh - hội tụ các nhà kỹ nghệ và thương mại, sản phẩm tự nhiên của sự cạnh tranh lớn, cuộc đấu tranh khắc nghiệt để tồn tại. Ở đất nước mênh mông mà họ sinh sống, trái lại, người An Nam giữ sự thoải mái; mỗi gia đình sở hữu một cánh đồng và kiếm đủ để sống. Ngoài ra có rất ít hoặc không có thành phố nào ở An Nam, vì chúng ta không thể gọi đó là các thành phố - Sài Gòn, Hà Nội, Hải Phòng hoặc Chợ Lớn - vốn chỉ có tầm quan trọng đối với sự hiện diện của người châu Âu hoặc Trung Hoa.
Giới kỹ nghệ An Nam khiêm tốn bằng lòng với việc trao đổi phục vụ nhu cầu địa phương các sản phẩm tự nhiên đất đai; họ không bao giờ mượn nguyên liệu thô ở nước ngoài. Làm thế nào có thể khác đi? Ngoại thương không tồn tại[126].
Tại mọi thời điểm, An Nam chịu ảnh hưởng từ Trung Hoa; điều này được bảo lưu như một lợi nhuận của quyền bá chủ, quyền thương mại độc quyền với An Nam; nhưng Trung Hoa sử dụng quyền này chủ yếu để chống lại các mối quan hệ của người được bảo hộ với các quốc gia khác.
“Theo Luật, mỗi lần một con tàu ‘mang theo cống phẩm’ của một quốc gia nước ngoài cập cảng, những người đến gặp để mua hàng hóa nước ngoài trước khi chính quyền cảnh báo và không chờ đợi nó được kiểm soát, cũng như những người sẽ chịu trách nhiệm bán hoặc mua hàng cấm cho người nước ngoài, tất cả sẽ được gửi đến phục vụ ở vùng biên viễn” (Điều 205).
Cũng trong cùng điều luật này có các mục cấm xuất khẩu ngựa, động vật có sừng, sắt, lụa, v.v.
Do đó, trước cuộc chinh phục của người Pháp, ảnh hưởng của Trung Hoa đã đóng cửa tất cả các cảng biển An Nam trước hoạt động xuất, nhập khẩu.
Hơn nữa, phải thừa nhận rằng người An Nam, bất kể là ai đi nữa, ít có năng khiếu buôn bán, và về mặt này, họ khác biệt với dân tộc anh em của mình, người Thiên triều. Vả lại, sự khác biệt này không là gì hơn một sự thật hiển nhiên.
Trung Hoa, một đất nước vô cùng rộng lớn, có khí hậu khác nhau (ở từng vùng) đảm bảo sự đa dạng của sản phẩm, có nhiều đường thủy và dễ lưu thông, được tạo thành bởi cấu hình duy nhất, một nơi rất thuận lợi cho giao dịch thương mại. Do đó, ảnh hưởng của môi trường vật chất làm phát triển một bản năng con buôn nhất định nơi người Trung Hoa.
Ở An Nam, bố cục về mặt địa lý ít thuận lợi hơn. Những châu thổ giàu có của Nam kỳ và Bắc kỳ giao lưu rất khó khăn với nhau - mất gần mười ngày giong thuyền trên biển, khiến cho sự tách biệt và biển thường là cái gì đó ghê gớm ở những vùng này. Ngoài ra, khí hậu gần giống nhau ở hai khu vực này nên đã làm hạn chế tính đa dạng văn hóa.
Trên đây là các lý do làm giảm cơ hội giao thương và hậu quả là không dùng được những kỹ năng mà ở trong những hoàn cảnh khác thì biết đâu đã được sử dụng.
Trong mọi trường hợp, chúng ta phải ghi nhận thêm một lần nữa, người An Nam về cơ bản thiếu tính năng động. Thú thật, từ cái nhìn hướng vào những gì mà chúng tôi quan tâm, tình trạng này còn chưa gây ra những bất tiện thật nghiêm trọng. Nếu An Nam không hưởng được thịnh vượng kinh tế đáng kể - dĩ nhiên, như chúng ta thường nghe thấy, là hãy bỏ qua sự can thiệp của Pháp - nếu không có các ngành kỹ nghệ lớn, ngoại thương phát triển, thì ít nhất là hầu hết cư dân có cuộc sống tương đối dễ chịu. Trong xã hội này, nơi hiếm trường hợp có tài sản lớn, chế độ khống chế sự sở hữu ở quy mô nhỏ cung cấp cho mỗi người những gì cần thiết cho bản thân; nhu cầu giàu có không được cảm nhận sâu sắc. Người An Nam sống, giống như người được gọi là hiền nhân, trong một sự tầm thường vui vẻ.
II. Ngôn ngữ, chữ viết, văn chương, kịch nghệ
“Bình thường” là từ chúng ta thường sẽ phải dùng đến trong nghiên cứu tâm lý này. Bình thường là tinh thần phát minh của người An Nam: bình thường nơi ngành kỹ nghệ xoàng xĩnh cũng như ngôn ngữ của nó.
Ngôn ngữ An Nam, bởi đặc điểm chung, rất gần với ngôn ngữ Trung Hoa. Giống như tiếng Hoa, đơn âm tiết, đa âm điệu; giống như tiếng Hoa, sử dụng những từ bất biến, không chủ từ biến tố, không biến cách hoặc chia thì; nghĩa của từ thì luôn luôn cụ thể, đặc biệt, gần như không bao giờ trừu tượng, tổng quát.
Sự tương hợp này trong tinh thần của hai ngôn ngữ tạo thành một luận chứng bổ sung ủng hộ cho sự đồng nhất về mặt nguồn gốc của hai nhóm chủng tộc da vàng này.
Thực vậy, không nên cho rằng sự hình thành phương ngữ An Nam hiện tại được thực hiện dưới ảnh hưởng chuyên nhất và trực tiếp của tiếng Hoa. Chắc chắn có một phần quan trọng các từ tiếng Hoa trong ngôn ngữ An Nam, nhưng lại là phần tồn tại đã lâu trước khi người Giao Chỉ bị phụ thuộc. Theo biên niên sử, người Giao Chỉ vốn đã có một ngôn ngữ riêng cần phải được dịch ra trước Triều đình Đế quốc[127].
Vẫn còn, trong ngôn ngữ An Nam hiện tại, có nhiều từ: tên của số, họ hàng, cây cối, công cụ, riêng biệt cho chủng tộc và không thể chuyển sang ngôn ngữ Trung Hoa. Vậy, phải thừa nhận rằng chính sự tương hợp của cấu trúc tinh thần đã tạo ra một loại sóng đôi trong những cách diễn đạt ngôn ngữ ở hai dân tộc.
Ngôn ngữ An Nam, giống như ngôn ngữ Trung Hoa, thể hiện hầu hết các khiếm khuyết phổ biến ở các ngôn ngữ nguyên thủy. Nghiêm trọng nhất trong số đó chắc chắn là sự thiếu khuyết nằm ở các từ đơn âm; người ta sẽ không đếm, trong tiếng Hoa, đến hơn bốn trăm năm mươi hoặc năm trăm. Sự nghèo nàn về ngôn từ đã được khắc phục bằng sự đa dạng của ngữ điệu. Các âm tiết giống nhau phát âm trên các dấu giọng khác nhau có nghĩa khác nhau. Ở đặc tính này, tiếng An Nam và tiếng Hoa gần giống các thổ ngữ của người da đen châu Phi. Ở Dahomey[128], tiếng “ba” được nhấn mạnh khác nhau có thể có nghĩa là “gậy”, có khi là “ngựa”, khi khác là “sấm sét”[129].

Bắc kỳ - Một cậu bé học viết chữ Nôm
Ở đây một lần nữa chúng ta tìm thấy nhược điểm không thể chữa được mà trí tuệ Á châu mắc phải. Sự nghèo nàn của ngôn ngữ biểu thị sự bần cùng của tư tưởng; ít ý, ít lời; và một lần nữa những từ hiếm này chỉ tạo thành những mô tả rất không hoàn hảo về các đối tượng mà chúng áp cho; nghĩa của chúng vẫn còn mơ hồ và thiếu chính xác.
Khi đứa trẻ, trong nghiên cứu của Taine[130], mở rộng từ “cola” (đối với chocolat) thành kẹo với hương vị tương tự và từ “em bé” với búp bê hoặc tượng nhỏ, và cứ tiếp tục tương tự như thế, tiếng Hoa và An Nam đã nhóm vào trong cùng một âm tất cả ý niệm có sự giống nhau nào đó giữa chúng, thậm chí xa vời. Và vì tâm trí luôn tiến lên một cách tự nhiên từ đơn giản đến phức tạp, từ cụ thể đến trừu tượng, họ đã sử dụng các thuật ngữ cụ thể để diễn tả sự trừu tượng: hoàng đế = thứ nhất = trên = cấp trên (Empereur = premier = au dessus = supérieur); cặp = mặt đối mặt = đối diện = trả lời (paire = vis-à-vis = mettre en face = répondre). Tương tự, trong tiếng An Nam, đại từ nhân xưng chỉ là biểu đạt phẩm cấp của người được gọi; từ này không như trong các ngôn ngữ châu Âu chúng ta, một hình dung từ trừu tượng; ngược lại, nó vẫn là một tên gọi cụ thể dành cho một cá nhân nào đó. “Tôi” - je, moi - nghĩa là người hầu, và chỉ được dùng bởi những người có cấp bậc thấp. “Tao” - je, moi - đối với cấp trên, có nghĩa là “chủ nhân”. “Ông”, “anh” - vous - đó nghĩa là “ngài”, “ông nội”, “anh cả”. “Em” - lui - “em trai”. Các từ dần mất đi nghĩa sơ khai và cùng với đó là tính chính xác nguyên thủy của chúng, chúng sẽ sớm chỉ là những thuật ngữ mơ hồ với nội hàm ngày càng rộng và không có giới hạn cố định nào.
Thêm nữa, sự mượn dạng lưng chừng của từ ngữ vốn đã đơn âm có thể trở nên khó nhận dạng bởi các phép biến đổi mới. Để bù đắp cho sự thiếu hụt ngôn ngữ, phải nắm tất cả cách sử dụng, sắp xếp xen kẽ danh từ, tính từ, đại từ hoặc động từ, tùy theo vị trí của từ trong câu, chứ không còn có diện mạo riêng lẫn tính cách xác định. Chữ đã trở thành biểu tượng; từ bấy giờ nó là ẩn ngữ[131].
Xu hướng biểu tượng cường điệu này là tự nhiên đối với tinh thần Á châu cũng như lý luận và phân tích là tự nhiên đối với tinh thẩn Âu châu.
Chính phép ẩn dụ và so sánh đóng vai trò tiên quyết trong việc hình thành các từ tiếng Hoa và tiếng An Nam; được tạo thành không phải trên lý lẽ mà trên ví dụ, chúng trở thành một ngôn ngữ tuyệt đối quy nạp, trong đó không thể đặt ra vấn đề phân định danh từ, tính từ, đại từ hoặc động từ. Ngữ pháp không tổn tại. Cú pháp phải đảm nhận luôn vai trò của ngữ pháp[132].
Các từ đều tồn tại ở dạng “cụm từ” (mots-phrases), trong đó ý tưởng chính được nêu ra, các ý tưởng phụ chỉ là ngụ ý. Tất cả các mối tương quan, tất cả các từ đệm thêm vào làm rõ ràng sự diễn tả, làm mềm mại và mạnh mẽ, đều bị chối bỏ như thể là vô dụng. Ngôn ngữ sau đó có thể đạt đến một sự súc tích riêng biệt, nhưng cũng khó hiểu[133]. Humboldt viết, “không để ý nhiều đến bản chất ngôn ngữ cho phép, những nét chữ và sắc thái diễn tả thêm vào suy nghĩ, đưa ra những ý tưởng và nghệ thuật bao gồm việc sắp xếp ngay lúc đó chữ này bên cạnh chữ khác để sự tương hợp và đối lập của nó không chỉ được cảm thấy và nhận biết, nhưng họ đánh vào tâm trí bằng một lực mới, đẩy nó theo đuổi và thuận theo hiện tại cho những mối quan hệ tương hỗ. Từ đó sinh ra một thú vui rõ ràng độc lập với chính nền tảng lý luận và có thể được gọi là trí tuệ vì nó chỉ phụ thuộc vào hình thức và trật tự của ý tưởng[134].”
Ngôn ngữ biểu tượng này không khác gì một trò trí tuệ đơn giản mà chữ viết biểu ý sẽ làm cho tinh tế và thậm chí vô ích hơn.
Tiếng Hoa và An Nam không có bảng chữ cái: một phát minh như vậy tất nhiên phải cần đến tư duy phân tích. Thực tế, nó đòi hỏi một lượng đáng kể năng lực nhận xét để phân biệt, trong việc phát ra giọng nói, các nguyên âm và phụ âm, nghĩa là âm thanh và tiếng ồn. Người da vàng không có khả năng làm như vậy.
Chữ viết của họ, giống như ngôn ngữ của họ, vẫn còn ở mức tổng hợp; dấu hiệu thể hiện cùng lúc cả âm tiết và ý tưởng; chữ tượng hình trộn lẫn âm thanh và hình ảnh, như nó trộn lẫn ý nghĩ với biểu tượng cụ thể của nó.
Sự trừu tượng, để được tâm trí mê muội của họ nắm bắt, phải thể hiện ở dạng thức cảm, thực tế, có thể sờ thấy, nói bằng mắt nhiều hơn là trí tuệ. Khi muốn dịch ý tưởng về “ngày”, người ta đã ghép các chữ chỉ mặt trăng và mặt trời; chính là thông qua các nét đặc điểm của “nhân” (con người) mà ý tưởng “con người” được thể hiện.
Sự tổng hợp ấu trĩ này, được sinh ra bởi một trí tuệ thô sơ, đã hình thành nên một kiểu chữ viết sơ khai và tạo ra ở người châu Á một số thói quen tư duy tai hại. Hệ thống biểu ý tạo cho họ kiểu cách bộc lộ ý nghĩ dưới dạng cảm giác, cứng ngắc, tâm trí của họ tái tạo hình ảnh chứ không phải là suy tưởng hoặc sáng tạo thật sự. “Hình ảnh tinh thần”, như đôi khi người ta gọi tính năng cồng kềnh này, hơn thế nữa, là đặc trưng của tâm trí không cao, giản tiện[135]. Sự phát triển bất thường của trí nhớ thị giác và trí tưởng tượng có được từ việc học chữ Hán đã ngăn cản sự phát triển hoàn chỉnh của các năng lực trí tuệ khác. Thay vì giải thoát khỏi dạng trực quan để đạt đến ý tưởng thuần túy, tư tưởng thu lại trong phạm vi ký tự biểu ý, teo lại, hao mòn. Trí nhớ đã truất ngôi trí thông minh, chữ viết đóng băng tư tưởng.
Văn chương nào đã xuất phát từ tất cả điều này? Chúng tôi đang cố hình dung. Ở đây tôi không nói văn chương An Nam không tồn tại để ta có thể đề cập. Mà nói, người An Nam cảm thấy hài lòng với kinh điển Trung Hoa, phần lớn đủ cho nhu cầu trí tuệ của họ.
Nhưng văn chương Trung Hoa, cái đã định hình tinh thần An Nam, đã bị tiêm nhiễm và đóng khung nó ở dạng bất biến, nó là gì? Chính xác là gì?
Nó rộng lớn, không nghi ngờ gì; số lượng các tác phẩm của nó là phi thường; nhưng giá trị thì mỏng manh, giống như tâm trí không rộng lớn. Khéo léo loại bỏ thiên tài; kỹ năng, kỹ xảo, sự xảo trá của các con chữ làm chết cảm hứng.
Tất cả mọi thứ đều xoay quanh thư pháp, chơi chữ và điêu luyện. “Bất cứ khi nào một anh thư lấp đầy khuông với những đuôi vần và cho một nghĩa với các từ ‘lien’, ‘pien’, ‘tien’, nó kết thúc câu thơ, hoàng đế và triều đình choáng người phấn khích. Họ thét lên vì sung sướng. Đảo chữ, thơ chữ đầu, thơ nối kết, thơ đối và thơ ‘nghịch đảo’ được đặc biệt coi trọng; các ngón nghề kỹ xảo của những kẻ điên rồ phù phiếm mà châu Âu đã tống khứ khỏi văn chương như trò trẻ, ngây ngô và không xứng với những người nghiêm túc.”[136]
Trong khuôn khổ bó chặt, trong nhà tù ngột ngạt, tinh thần An Nam sầu thảm lay lắt, thiếu sức sống. Tất cả sự giàu có văn chương chứa trong một vài bài thơ hiếm hoi, đôi khi thể hiện một sự u sầu nhất định, nhưng luôn bị quy định bởi nhu cầu bản năng của thuyết vị lợi làm cho những tác phẩm hay nhất trở thành một bài giảng lạnh lùng về đạo đức hoặc một luận văn triết học nhàm chán.
Truyện thơ nổi tiếng nhất trong số này là Lục Vân Tiên. Câu chuyện kể về một anh hùng nhân dân có nhân cách cao thượng. Nhờ có phẩm chất đạo đức cao cả, anh đã thành công vượt qua mọi khó khăn, chinh phục mọi trở ngại và đạt đến vương quyền.[137]
Bút pháp kịch nghệ nói chung rất tầm thường, thêm vào đó nó thể hiện việc bắt chước Trung Hoa rõ rệt. Ông A. Landes nói[138], “đối với người An Nam cũng như đối với mẫu hình của họ, không có bút pháp đẹp nào mà không kèm với mơ hồ. Do đó, những ẩn dụ chiếm một vị trí quan trọng, và người ta không thể ảo tưởng nắm hết mọi điều trong các chữ nghĩa này, vì đôi khi chúng hòa lẫn một cách tự nhiên trong đó.”[139]
Thể loại, bởi sự súc tích, có vẻ phù hợp nhất với thiên khiếu ngôn ngữ của họ, hơn nữa đó còn là loại đã cào bằng thiên hướng tự nhiên ở người An Nam để “tối đa hóa” hành vi và tình yêu của họ bằng các khuôn khổ định sẵn ban phát cho suy nghĩ và mong muốn: đó là tục ngữ. Những câu tục ngữ xuất hiện rất nhiều ở An Nam, chúng ở nơi cửa miệng, được treo trên cửa và tường nhà.[140]
Một thể loại khác cũng rất phổ biến là ca dao; tuy nhiên, giá trị của loại này rất kém, dạng thức các bài hát luôn khá thô.
Kịch nghệ ở An Nam xuất hiện khá là gần đầy, hầu như du nhập nhờ người Trung Hoa; phải nhắc lại là rất khác xa sân khấu châu Âu của chúng ta. Nó vẫn còn trong giai đoạn sơ khai khi múa vũ bộ điệu, âm nhạc và thơ ca vẫn còn lẫn lộn.
Vì vậy, chúng ta không mong thấy được trong các vở kịch của sân khấu An Nam hoặc Trung Hoa những hành động liên tục, khéo léo xâu chuỗi; còn ít phân tích tính cách hoặc nghiên cứu tập tục. Thông thường, không có tổng phổ kịch, thiếu những cảnh mạch lạc nối tiếp nhau bởi các trích đoạn dài về đạo đức hoặc triết học, giữa các tiếng hét loạn đả và các bài hát. Những cảnh này đôi khi theo một chủ nghĩa tự nhiên hoàn toàn; ngược lại lúc khác, họ đạt đến sự phóng túng điên rồ nhất: hiện hình thần diệu, hồn ma, thăng biến huyền bí, đó là những cách thông thường được các tác giả kịch dùng đến.

Bắc kỳ, Hà Nội - Các diễn viên kịch. © P. Dieulehls, ảnh xuất bản năm 1892
Người ta thấy xuất hiện ở đó sở thích tự nhiên của người An Nam nở rộ hoàn toàn, phi thực tế và ước lệ. Chính kịch An Nam, giống như chính kịch Trung Hoa, tuồng thiên về thần tiên hơn là chính kịch. Maurice Courant nói, “người châu Âu chỉ có thể thấy sự chuyển đổi cảm xúc của con người trong một âm điệu mới lạ... Mũ và áo giáp vàng, những chiếc lông dài lắc lư trên đầu của các chiến binh, tua viển ngọc trai trên trán của phụ nữ, khuôn mặt của một số diễn viên được vẽ và hóa trang một cách tuyệt vời, quần áo sáng bóng và lạ thường, lúc chậm rãi, lúc vội vã, không bao giờ tự nhiên, âm lượng với tông rất cao hoặc rất thấp, những giai điệu được hát với giọng kim sắc nét, âm nhạc cuồng nộ không ngừng, tất cả bộ máy quy ước này có một hình ảnh kỳ lạ và tuyệt vời.”[141]
III. Nghệ thuật và khoa học
Hầu hết các nỗ lực nghệ thuật của người An Nam vẫn còn thấp kém, rất ít trường hợp hoàn toàn thoát khỏi các hình thức sơ khai. Sự hoàn hảo của giác quan, sự nhạy cảm cực độ là những phẩm chất cẩn thiết cho mọi nghệ sĩ; đó chính xác là những điều thiếu ở người Á nói chung. Thiếu thăng hoa cảm xúc và kém tưởng tượng sáng tạo có thể thấy trong tất cả biểu hiện nghệ thuật An Nam hoặc Trung Hoa.
Gần như tất cả người An Nam đều biết chơi một nhạc cụ nào đó, nếu anh ta không phải là một anh lái đò nghèo hay một nông dân chất phác, chỉ cần sở hữu một cây vĩ cầm hay sáo là anh ta đã biết tạo ra thanh âm làm mê say những lúc giải trí. Nhưng sở thích sống động này chưa bao giờ được hoàn thiện, vì vậy không thể nói rằng họ tạo ra, nói cho đúng, những kiệt tác.
Tác phẩm của các nhà soạn nhạc An Nam chỉ là một vài bài hát bình dân, không phải không lôi cuốn, đó là sự thật, nhưng điệu thức của nó, không ngừng lặp đi lặp lại, thường không phong phú. Âm nhạc vẫn có vai trò trong các buổi biểu diễn kịch, nhưng nó hay lẫn với âm thanh và không giống với nghệ thuật mà chúng ta biết ở châu Âu.
Không như âm nhạc, kiến trúc, điêu khắc và hội họa thực sự có phát triển.
Tác phẩm điêu khắc chỉ tồn tại vài họa tiết trang trí, luôn giống nhau, sao chép thành nhàm chán, truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, không có nghĩa còn nguyên bản, được mượn từ Trung Hoa hoặc Nhật Bản. Vẫn còn nhiều vị Phật hoặc các thần linh, bằng gỗ, đá hoặc đồng, ít nhiều tái tạo hoàn hảo của hai hoặc ba nguyên mẫu bất biến, một mình đại diện cho hầu hết bức tượng của người An Nam.
Bao nhiêu con rồng quái dị, chủ đề trang trí xuất sắc ở Viễn Đông, cho thấy sự mềm dẻo đáng kinh ngạc trong các nếp gấp và đường lượn sóng ma mị, chừng ấy các nhân vật theo phong cách của nhà điêu khắc, bày ra, trong tư thế của chúng, sự cứng nhắc kém tự nhiên, nặng nề thiếu thanh thoát.
Ở đây chúng ta lại thấy sự bất lực trong trí tưởng tượng của người An Nam ở giới hạn thực tế, ở việc nhận rõ nó giữa ảo ảnh và ước lệ. Nặng thêm bởi khiếm khuyết trí tuệ này, sự ấu trĩ thiếu hoàn hảo trong kỹ thuật tạo ra những hình tượng dang dở, dị dạng.
Trong nghệ thuật An Nam, văn chương hoặc nghệ thuật tạo hình, không có trung gian giữa chủ nghĩa hiện thực thô sơ và chủ nghĩa lý tưởng điên cuồng nhất. Người nghệ sĩ muốn sao chép thì tự nhiên bắt chước mù quáng, tái tạo một cách vô tình vẻ đẹp và sự xấu xí của nó, tiếp cận sát nhất với chân lý hoặc cái mà họ tin là chân lý, với sự giống nhau, chính xác đến từng chi tiết. Nhưng ngay khi họ từ bỏ khuôn mẫu của mình, họ dấn thân đắm mình vào xu hướng tượng trưng đồng bóng nhất. Họ không bao giờ biết cách tạo ra sự thỏa hiệp giữa thiên nhiên và lý tưởng, cái mới thực sự là nghệ thuật.
Cái nhu cầu đối với sự chính xác này, bao gồm việc tưởng tượng các vật thể đúng như chúng hiện hữu, đại diện cho chúng hoàn toàn, trong tất cả dáng vẻ cùng một lúc, trong một từ, sự bất lực trong việc tự giải thoát khỏi thực tế vật chất, trong số những hiệu ứng khác, dừng lại gần như hoàn toàn sự phát triển của nghệ thuật họa hình. Họa sĩ An Nam không bao giờ có bất kỳ khái niệm nào về phối cảnh. Tất cả các vật hiện lên y hệt nhau khi nhìn từ cùng một góc, cùng một ánh sáng, với cùng bề nổi, ở cùng một khoảng cách, trên cùng một mặt phẳng. Kết quả là một sự phi thực hiếm có, tuy nhiên lại đỡ chỏi với kiểu đầu óc Á châu hơn là những biến dạng theo sự thay đổi góc độ mà các vật thể phải chịu dưới hiệu ứng phối cảnh của chúng ta (người châu Âu).

Làm tranh ở An Nam.
Họa sĩ cũng không biết làm thế nào để phối màu theo các sắc độ khác nhau để tạo khối lập thể, sự tương quan giữa màu sắc, các thiết kế bố cục khác nhau; họ bỏ qua nghệ thuật phối hợp màu sắc hài hòa tinh tế; họ thích những tông màu nhạt và rực rỡ, những sự đối lập dữ dội.
Kiến trúc cũng ít tiến bộ. Điều này dễ hiểu ở một đất nước mà hầu hết các ngôi nhà vẫn được xây dựng bằng tre. Chỉ có những ngôi đền và cung điện được xây dựng bằng gạch. Hơn nữa, họ tái tạo, trong đường lối chung, dạng ngôi nhà mái lá, không có trần, cửa sổ và thường không có tầng lầu.
Đồng nhất là quy tắc; ai nhìn thấy một ngôi chùa An Nam xem như đã thấy tất cả; hoàng cung tự nó không khác với mô hình chung. Tuy nhiên sự đơn điệu này đôi khi được sửa chữa bởi sự phong phú của các trang trí bên ngoài; mái nhà và mặt tiền được trang trí bằng thạch cao hoặc bằng đá, và các cột chống bằng gỗ đôi khi được chạm khắc khéo léo.
Một ngành nghệ thuật hưng thịnh ở An Nam vài thế kỷ trước là đồ đồng, có lẽ được du nhập từ Trung Hoa. Người An Nam sớm cho thấy mình là những người sáng tạo rất khéo léo; lư hương, bình lễ, những chiếc chuông được chạm khắc tinh xảo, những tượng Phật khổng lồ vẫn được tìm thấy ngày nay ở chùa, cho thấy sự hoàn hảo tương đối mà nghệ thuật này đạt được, song ngày nay đã gần như biến mất. Đương thời hiếm thấy được các lư hương hay các pháp khí bằng đồng khác, dù không hoàn hảo, để nhớ lại ngành kỹ nghệ tuyệt chủng này.
Gốm sứ cũng một thời rạng danh ở đất nước An Nam. “Men Lam” của Huế và “gốm men rạn” của nó vẫn nổi tiếng, cũng như những tranh vẽ men sứ.
Nhưng trong tất cả các ngành kỹ nghệ nghệ thuật, ngày nay chỉ còn lại ký ức. Hầu như luôn được sinh ra dưới ảnh hưởng nước ngoài, nghệ thuật Đông Dương, ngay khi trở thành của chính họ, liền tàn lụi hoặc biến mất hoàn toàn.

Lăng mộ Thoại Ngọc Hầu ở Châu Đốc.
Để được hoàn thiện, hãy nói thêm rằng người An Nam còn biết đến nghệ thuật sơn mài, khảm xà cừ, bên cạnh đó, họ còn là những thợ thêu tỉ mỉ, thợ kim hoàn kiên nhẫn và khéo léo; nhưng thêm nữa, trong mọi thứ họ luôn thể hiện cùng một thói quen, cùng một sự lười biếng, cùng một thiếu sót. Sự thờ ơ, không có sáng kiến, không có tinh thần sáng chế, họ chưa bao giờ là người sáng tạo. Họ có thể làm được dưới một sự chỉ dẫn thông minh để biết cách bắt chước sao cho gần như hoàn hảo. Họ có tài năng nhất định, nhưng không bao giờ là thiên tài.
Cuối cùng chúng ta sẽ nói gì về sự phát triển khoa học ở người An Nam? Liệu chúng ta có thể dùng danh xưng khoa học cho những trò lừa đảo không? Những màn chiêm tinh học, thuật gọi hồn hay y thuật phù thủy? Những thứ có thể gọi cách khác là chuyện hoang đường hay điều ngụy tạo, khi những tuyển tập truyền thuyết trở thành lịch sử hoặc một mớ điều mê tín dị đoan nhưng lại trở thành lời giải thích cho thế giới tự nhiên? Người An Nam thì phải chấp nhận, họ yêu thích nghiên cứu và nghiên cứu lâu dài; đó là công việc kiên nhẫn và tỉ mỉ nhưng khuyết đi ý thức phê phán, thiếu đi trí tưởng tượng sáng tạo và tinh thần khoa học. Đối với họ, trí nhớ là tất cả trí thông minh; khoa học chỉ là uyên bác, triết học chỉ là thể thức.
Vào năm 1875, tác giả của một Tổng quan về các tập tục và phong tục của vương quốc An Nam đã viết rằng: “Có Nho sĩ và quan chức thậm chí còn không biết Thiên triều ở đâu. Họ tính có mười tám vương quốc trên khắp mặt đất, và phần còn lại là sào huyệt của cường đạo và hải tặc. Bấy giờ, mười tám vương quốc này là mười tám tỉnh của Đế quốc, mà họ có biết ít nhiều lịch sử nhưng không quan tâm đến vị trí tương ứng... Đối với lịch sử của đất nước họ, thuần là truyền thống; không có chứng tích văn bản...” Còn trong biên niên sử thì có đoạn: “Đối với pháp luật học, có mười hai tập luật của Trung Hoa, người ta không biết bình luận về nó; người dân không được phép tiếp cận và các quan lại hiếm khi đọc chúng.”
Trở lại với tác giả ở trên: “Nho gia, trên thực tế, không biết về các định luật nhiều hơn là trẻ em, các nghệ nhân và những người lao động của đất nước ông. Ông thấy trong các kinh sách nói rằng có một chất lỏng tối cao; có hai yếu tố ‘Âm’ và ‘Dương’, một là hoạt động và sức mạnh, cái còn lại là sự yên tĩnh, yếu đuối và trơ ỳ, rằng hai yếu tố hợp nhất với nhau đã tạo ra vạn vật, thông thường nó biến thành năm yếu tố: thủy, hỏa, mộc, kim, thổ (nước, lửa, gỗ, kim loại và đất), và đó cũng chính là năm hành tinh; rằng có ba loại quan hệ biểu thị trật tự xã hội (tam cương) và ba thiên thể vĩ đại: mặt trời, mặt trăng và trái đất; có bốn phương và bốn mùa; ngũ thường: năm hành vi (ứng với năm loại quan hệ với năm đối tượng): của nhà vua, thần dân, chồng và cha mẹ, anh lớn và em nhỏ, bạn bè; rằng có sáu mạch chính và sáu khoảng thời gian (lục giáp); bảy “hợp” hoặc hòa hợp: đông, tây, bắc, nam, trên, dưới, giữa; tám đơn vị âm lịch; chín trật của phẩm tước (cửu phẩm), mười tám vương quốc và hai mươi tám chòm sao; bên cạnh đó, ông tìm thấy một số châm ngôn thông thái và trật tự đúng cho một xã hội; chỉ vậy thôi.”
Chúng ta đã nói rằng từ đâu mà phần nào sinh ra sự thấp kém của nghệ thuật và khoa học An Nam: một sự thấp kém tương ứng với tâm trí, một khiếm khuyết trí tuệ cơ bản.
Nhưng nguyên nhân này không một mình nó tạo nên tác động. Nó được hỗ trợ bởi một ảnh hưởng toàn năng, là tôn giáo. Chúng ta có thể nói một cách hợp tình hợp lý rằng chính tôn giáo đã tạo ra nghệ thuật An Nam, đã truyền cảm hứng cho các họa sĩ, nhà điêu khắc, kiến trúc sư... Nhưng chúng ta cũng phải công nhận rằng nó đã góp phần lớn vào việc chấm dứt sự phát triển nghệ thuật và khoa học, cả ở Trung Hoa và An Nam.

Bắc kỳ, Hà Nội - Thợ mộc và thợ điêu khắc. © P. Dieuletfls, xuất bản năm 1892
Nghệ thuật, ở người da vàng, ban đầu, và phần lớn, chỉ là một biểu hiện đặc biệt của tình cảm tôn giáo, một sự tôn kính được thể hiện thành thần thánh. Đó là bởi vì điều này, ngay từ đầu, đã tuân theo các quy tắc hạn hẹp và nghi thức bất di bất dịch. Bản tính rõ ràng thiêng liêng của nó độc chiếm tất cả tự do, toàn bộ cảm hứng cá nhân. Ban đầu, một phong cách ước lệ, một chủ nghĩa biểu tượng cố chấp, áp đặt lên các nghệ sĩ, buộc họ phải liên tục lặp lại cùng một chủ đề, cùng một hình dạng động vật linh thiêng, phượng hoàng, rùa, rồng hoặc kỳ lân; văn tự biểu ý của chữ viết cổ Trung Hoa; mái nhà đình uốn cong để xua đuổi những thần linh xấu.
Tinh thần tư biện cũng bị chặn ngay khi nó bắt đầu khởi sắc; đạt đến một mức độ trưởng thành nhất định, ở giai đoạn khởi thủy nơi khoa học và tôn giáo, lý luận khoa học và niềm tin mê tín là một, nó đột nhiên ngừng tự hoàn thiện. Các nghi thức nhốt họ vào một cái lưới bó chặt của các quy định nghiêm ngặt. Khoa học và nghệ thuật có nguồn gốc thần thánh, vậy thì đến phiên nó vì đã trở thành thánh thiêng nên có thể sửa đổi chúng, làm cho chúng tiến bộ.
Đó là sự khải hoàn nguy hại của truyền thống đối với lý trí, của tôn giáo đối với khoa học, của khuôn phép đối với tự do tư tưởng.
IV. Giáo huấn và giáo dục
Chiến thắng này là tai họa cho tinh thần châu Á. Được truyền bá bởi giáo dục, cảm giác tôn kính quá khứ đã thâm nhập sâu vào tâm hồn, cho họ một định hướng chết người, nhấn chìm họ vào một sự trơ ỳ không thể đảo ngược, vào một mê đắm không sao cưỡng được.
Bởi một sự phản tự nhiên, sự bất hoạt làm tê liệt tâm trí, và còn hạn chế phát triển năng lực tinh thần vốn đã bị giới hạn bởi sự thiếu hụt của ngôn ngữ và sự không hoàn hảo của chữ viết.
Ở An Nam, học vấn tính trên việc một người nắm bắt được bao nhiêu chữ biểu ý có thể và biết được bao nhiêu châm ngôn hay mẫu câu mượn từ các tác giả cổ đại, theo tương quan tỷ lệ thuận. Nếu hình dung được rằng để biết phép viết, một người phải biết ít nhất chín hoặc mười nghìn ký tự, với tổng số các nét lên đến hơn bốn mươi nghìn[142] (một thách thức với đa số người), đôi khi có những ký tự có đến mười sáu hoặc mười tám nét, thì chúng ta mới có thể biết được sự khó khăn mà người An Nam gặp phải trong việc định hình suy nghĩ, giao tiếp và truyền đạt cho người xung quanh.
Hơn nữa, nếu nghĩ rằng phong cách đẹp đẽ nằm trong việc sử dụng chuyên nhất và tất yếu của các từ, ngữ điệu và cách diễn đạt trích từ kinh điển xưa, chúng ta mới có thể nhận ra sự bất khả thi của việc người Nho sĩ thấy mình đạt đến nét độc đáo hoặc chỉ là chính xác.
Hầu như không thể dịch các tác phẩm triết học hoặc khoa học của chúng ta sang tiếng An Nam hoặc tiếng Trung Hoa; một ý tưởng trừu tượng như vậy, một từ mới và chưa biết, sẽ buộc phải dùng đến lối nói vòng vo và các cụm từ làm cho văn phong trở nên nặng nề, làm tổn hại đến sự tường minh và có thể đến cả nội hàm chung của văn bản.
Do đó, số lượng người được giáo dục bị hạn chế ở An Nam và bản thân nền học vấn xứ này vẫn còn thô sơ. Đây chắc chắn là một trong những nguyên nhân thiết yếu làm cho văn minh An Nam và Trung Hoa chững lại. Thực tế, làm thế nào các ý tưởng cơ bản có thể được thảo luận và do đó được đổi mới thường xuyên, ở một xứ sở mà người biết chữ chiếm một thiểu số nhỏ bé? Ở An Nam, các ý tưởng thâm nhập khó khăn vào đại chúng. Nếu, nói một cách tổng quát, người An Nam biết đọc và viết, ít nữa, họ chỉ biết những từ thiết yếu cho nghề nghiệp hoặc nhu cầu của mình: phần còn lại dửng dưng hoặc không thể tiếp cận được. Cũng hầu như không có văn học viết; ít sách vở, không báo chí; phát triển trí tuệ gần bằng không, tiến bộ là bất khả thi, tất cả đứng yên bất di bất dịch.
Bỏ bê việc cố gắng khắc phục tình trạng này, người Trung Hoa và An Nam làm nó trầm trọng hơn. Có thể tin rằng họ thích nhân lên những trở ngại, gây ra những bó buộc mới cho sự phát triển tinh thần.
Các chế định quan trường đặc biệt tạo ra những ảnh hưởng trầm trọng nhất, và ngăn chặn trong thời gian dài toàn bộ sự vươn lên của trí tuệ. Chúng tôi đã ghi nhận ở người An Nam cái sở thích với chức việc công. Nghề này thỏa mãn tình yêu quyền lực, phỉnh nịnh thiên hướng của họ, đưa đến sự trơ ỳ và phù hợp với sự thiếu sáng tạo của họ. Vì vậy, hầu hết những người An Nam thông minh hoặc giàu có đều khao khát quan trường. Sự khác biệt này chỉ có được sau nhiều cuộc thi và mức thông thái tăng dần, ở đó, như có thể được mong đợi, đòi hỏi trí nhớ của các thí sinh nhiều hơn trí thông minh. Từ xa xưa, bản chất của những kỳ thi này bao gồm các đề bài luận văn triết học, đạo đức hay tôn giáo, trong đó người ta yêu cầu thí sinh thể hiện sự uyên bác thay vì khoa học bài bản và thực sự. “Xem xét số lượng không đáng kể, sự mạnh mẽ của tính cách, cao thượng về đạo đức, lòng can đảm, sự công chính... họ đã thực hiện để đo lường giá trị của một con người theo mức độ rườm rà có thể chịu đựng của phạm vi ký ức” (Ch. Letourneau).
Những gì có thể được sinh ra sau nhiều thế kỷ, khi áp dụng khắc nghiệt một hệ thống như vậy? Một sự suy đổi đáng kể về trình độ trí tuệ và đạo đức, mọi tiến bộ vắng bóng, hóa thạch hoàn toàn. Không có nhà tư tưởng và không có giới phản biện, không có “nhóm người cao quý nói sự thật” này, An Nam, giống như Trung Hoa, bị giam cầm trong đống đổ nát của một nền văn minh già cỗi.