Bây giờ chúng ta có được tất cả yếu tố cần thiết để có thể khôi phục lại những quy luật phát sinh tính cách An Nam. Trong phạm vi mục tiêu này chúng ta sẽ lần lượt xem xét ba tính năng tinh thần chính: cảm xúc, ý chí, trí tuệ.
I. Cảm xúc
Khi đề cập đến ảnh hưởng môi trường vật chất, chúng ta đã bàn kỹ về khía cạnh cảm giác của người An Nam. Nhưng chúng ta cũng mới chỉ xem xét nó theo quan điểm sinh lý, trong mối quan hệ của nó với thể tạng chủng tộc và khí hậu. Chúng ta còn phải nghiên cứu nó trong những dạng thức cao hơn, những tình cảm, cái cùng với cảm giác phối nên tính cách, nếu như ta có thể nói như vậy.
Sự tiến hóa tình cảm có liên kết chặt chẽ với sự tiến hóa trí tuệ. Duy nhất, chỉ trong các phương pháp phân tích, cần thiết cho mọi nghiên cứu tâm lý, chúng ta mới tách ra những yếu tố vốn dĩ luôn kết hợp với nhau trong tự nhiên.
Mỗi tình cảm, như chúng ta biết, đòi hỏi phải có trước đó một ý tưởng mấu chốt cấu thành nên cơ sở của nó, “Bất kỳ tình cảm nào cũng che giấu một biểu hiện tinh thần, hình tượng hoặc ý tưởng.”[94] Do đó, sự tưởng tượng tái hiện, nghĩa là, khả năng khơi gợi một ấn tượng đã từng được cảm nhận, tạo nên một ảnh hưởng chủ đạo lên cảm xúc của não. Bằng tác động mạnh hay yếu nó sẽ in dấu lên tình cảm với lực mạnh hay nhẹ, theo hướng này hay hướng khác.
Điều này bổ sung đầy đủ cho lời giải thích mà chúng tôi đã đưa ra ở trên, về sự bình tĩnh của người An Nam, về sự thanh thản của họ khi đối mặt với cái chết. Những gì E. Boutmy nói về người Anh có thể ứng hợp ở đây: “Họ không mong che giấu bằng sự kích động tăng tốc, bằng những cảnh sống động một viên đạn sượt qua trước mặt kèm âm thanh vút qua, rồi xương gãy, những cơn đau nhức nhối, như người Pháp[95].” Chúng ta cũng có thể nói về sự lặng lẽ này như những gì Dugald-Stewart đã nói về sự hèn nhát: “Đó là một căn bệnh của trí tưởng tượng.”
Không nghi ngờ gì nữa, đó cũng là nguyên nhân góp phần gây nên sự vắng mặt gần như hoàn toàn cái cảm giác ngượng ngùng và thiếu lòng vị tha nơi người An Nam: cảnh tượng một người khỏa thân không hề khơi dậy nơi họ bất cứ ý tưởng xấu nào, họ không thể đồng cảm với nỗi đau hay sự thống khổ của người khác.
Trong mối liên hệ này, cần lưu ý rằng, một cách tổng quát, tất cả tình cảm của người An Nam đều mang dấu ấn của sự vị kỷ thuần túy nhất. Không có một chút nhiệt tình hào phóng hay lòng nhân từ rộng lượng nào; trái tim thì đanh cứng, cằn cỗi, khô khốc. “Trái tim của bạn ngày càng nhỏ bé”, một triết gia nào đó từng nói. Nhờ vào câu châm ngôn tương tự, tình yêu cao thượng lại trở thành nhục dục tầm thường; tình cảm con cái dành cho cha mẹ chỉ là đạo hiếu.
Tóm lại, không thể khởi được những ý tưởng quá trừu tượng, trí óc của họ chỉ có thể hoạt động trước những sự vật có thực, người An Nam không có khả năng cảm nhận những tình cảm quá phức tạp.
Khuynh hướng của họ chủ yếu vẫn hướng về gia đình, họ không thể vượt ra ngoài vòng giới hạn. Chắc hẳn tâm hồn người An Nam đã phải thụ nhận những ý niệm về tổ quốc và lòng nhân đạo để hiểu được tình huynh đệ và lòng yêu nước.
Tình thương yêu đồng loại, biểu hiện ở lòng trắc ẩn và bác ái, là những đức tính ít khi thấy hành xử ở An Nam. Không được có người nghèo ở xứ này, và trên thực tế không hề có. Mỗi gia đình phải tự chu cấp cho những nhu cầu của mình, mỗi làng xã phải lo liệu được cho người dân.
Khí hậu, đất đai màu mỡ, thể chất chủng tộc đã tạo điều kiện để xứ này áp dụng và duy trì một quy tắc như vậy. Người An Nam, nhẫn nại và thụ động, bằng lòng với sự thiếu thốn, nhưng hiếm khi ở trong tình trạng bần cùng; ngược lại, họ không bao giờ tránh khỏi hàng vạn nỗi khổ nhân sinh khác. Bệnh tật chủ yếu gây ra cho họ những tai ách nghiêm trọng, và đặc biệt vào lúc đó họ thể hiện tính ích kỷ thầm kín của mình. Lịch sử cho chúng ta biết rằng những nạn nhân của bệnh dịch hạch, những người phong cùi và tất cả những người không may mắc phải một căn bệnh truyền nhiễm nào đó, chỉ sau một thời gian ngắn, liền bị tàn nhẫn đuổi khỏi nhà, bị bỏ rơi ngoài đồng hoặc nhốt cách ly ngoài làng như súc vật. Chưa chắc một đô thị quan trọng ở Annam đã có “trại phong” chỉ vì nó có “trường thi”, tòa án, nhà tù hoặc đền chùa của riêng mình; chủ nghĩa vị kỷ có những đền đài của nó cũng như tôn giáo, trật tự và an ninh công cộng.
II. Ý chí
Nếu nét đặc trưng của tình cảm người An Nam là sự lãnh đạm, thì sự trơ ỳ hẳn phải là đặc trưng của ý chí xứ này.
Người An Nam ôn hòa và điềm tĩnh, có nghĩa là họ hiếm khi thể hiện sự thiếu kiên nhẫn và cũng không để bản thân nổi giận hoặc hung dữ bất chợt. Họ không đủ mạnh mẽ để bộc lộ như vậy.
Tuy nhiên, đức tính này, theo ghi nhận cụ thể của P. Bouillevaux[96], phần nhiều là kết quả của sự lãnh đạm hơn là tính cách ôn hòa thực sự. Đừng tin vào vẻ điềm tĩnh của người xứ này; dưới cái vỏ bề ngoài bình tĩnh, họ có thể đang nuôi dưỡng lòng căm thù xấu xa nhất, mối thù hận sâu cay nhất, mong muốn báo thù khăng khăng nhất.
Không thể nói thẳng thừng rằng người An Nam lười biếng; trái lại, họ siêng năng; rất ít người An Nam ăn không ngồi rồi; có điều, họ lao động một cách uể oải, đặc biệt là khi họ làm không phải do bị nhu cầu thúc bách hoặc không vì lợi riêng. Các kiều dân, thương nhân, kỹ nghệ gia, nói chung tất cả những ai phải thuê họ làm việc, dưới bất kỳ hình thức nào, đều quen thuộc với những điểm bất tiện của lực lượng lao động này.
Để thực hiện công việc thường chỉ cần đến một người châu Âu, thì ở đây phải cần ít nhất bốn “phu thợ”... và một giám sát viên. Trong các ngôi nhà của người Pháp, người ta luôn thấy, để phục vụ cho một hoặc hai người, ít nhất phải có ba người hầu: một “anh bồi” (người hầu phòng), một đầu bếp và một “phu kéo xe”. Sự phân công lao động giữa họ bị đẩy đến mức cực đoan. Một nhà báo hóm hỉnh viết, “mỗi cá nhân phát triển toàn vẹn sự phân công lao động của mình, nếu thử tráo vai và yêu cầu họ giúp nhau, và nhất là tưởng tượng ra chuyện có một người giúp việc giỏi có thể làm hết mọi việc, thì ngay cả quét nhà cũng không có ai lo đâu.”
Không nên quá đòi hỏi ở người An Nam bẩm sinh vô cảm quá mức. Khiếm khuyết này chắc chắn bắt nguồn từ những thiên hướng sinh lý di truyền mà ở một mức độ nhất định đã làm giảm bớt tính trách nhiệm của họ.
Đối với (người Pháp) chúng ta, sự lười biếng là một khiếm khuyết nghiêm trọng, vì chúng ta có đủ sự năng nổ để khắc phục khuynh hướng bạc nhược này. Ở người An Nam, trái lại, biếng nhác là một tình trạng bình thường; năng động, mới là điều bất thường. Ý chí cùn nhụt của họ chỉ có thể thể hiện theo một hướng: thụ động. Từ “năng nổ” của chúng ta không có từ tương đương trong ngôn ngữ của họ.
Sự kiên trì, năng động, sáng tạo, bao nhiêu là phẩm chất chưa được biết đến ở An Nam. Cha Bouillevaux nói, “người An Nam không kiên định. Họ bắt đầu vô cùng hăng hái một công việc hợp ý họ, họ khởi đầu tốt trong bất kỳ nghề nào; nhưng sau một vài tháng, nhiều nhất là vài năm, họ mệt mỏi, chán ghét, bỏ bê công việc và thường bỏ ngang nghề của mình, dù sau này vẫn phải làm tiếp khi nghèo đói. Người An Nam không có sự kiên trì, họ không thích quy tắc: họ thích hành sự tùy hứng, không nhất quán, không suy nghĩ thấu đáo.”[97]
Người thợ An Nam làm việc chỉ để sống, những nhu cầu của họ phải nói là rất ít. Khi họ vừa rủng rỉnh đủ để sống trong một thời gian, họ sẽ ngừng làm việc. Đừng thử trả công hậu hĩnh cho một thợ thủ công bản xứ để giữ anh ta lại; nếu anh ta dễ dàng kiếm được, trong một tuần, số tiền cần cho lượng thức ăn trong một tháng, vào ngày thứ tám, sau khi được trả tiền, người thợ của bạn sẽ không xuất hiện cho đến khi anh ta tiêu hết đồng cuối cùng.[98]
Ta dễ dàng hiểu ra rằng không nên yêu cầu những người như vậy lúc nào cũng đưa ra nhiều sáng kiến. Thế nên, chúng ta sẽ hiếm khi thấy họ có ý định doanh thương hoặc kỹ nghệ, vì để thành công, điều này đòi hỏi chất lượng trí tuệ, tổ chức và kinh tế cao. Không còn nghi ngờ gì nữa, đây là một trong những lý do chính tại sao các ngành thuộc lĩnh vực nhiều tính người này, ở Đông Dương, gần như hoàn toàn nằm trong tay người ngoại quốc: người Âu, người Hoa hoặc những người Á châu khác, v.v.
Người An Nam chỉ mong làm những nghề nghiệp đã được vẽ đường sẵn, ít gây ra cho họ những sự cố bất ngờ nhất, ít đòi hỏi những nỗ lực sáng tạo nhất. Đó là sự quan liêu trong tâm hồn. Tham vọng quyền lực và tình yêu đời thường khiến họ trở thành một quan chức bẩm sinh.
Ở đây chúng ta có thể khái quát hóa rằng người Á châu luôn đi trên cùng đường mòn, ngày càng dấn sâu và chưa bao giờ thử bước ra khỏi đó. Một định lệ đặt ra được thánh hóa; người Trung Hoa và An Nam thể hiện một sự tôn sùng thần thánh đối với truyền thống.

Nhà tranh trên bè Bắc kỳ. ©Raphael Moreau.
Đặc điểm tính cách đó là yếu tố chính trong sự chậm tiến hóa của các dân tộc này và trong sự cố định của các thiết chế cùng phong tục. Ông Ch. Letourneau viết[99], “các nghi lễ thần thánh đã giết chết toàn bộ sự tưởng tượng...; kể từ khi mọi thứ được phân loại, sắp xếp, việc tìm kiếm cái mới trở thành bất kính, chỉ cần học hỏi từ cái cũ mà thôi.” Và điều này rất phù hợp với tính khí người Á châu, đến nỗi ta có thể thấy thuyết phục rằng nó được sinh ra chính vì cái kia.
Một khí chất lờ đờ, một tính cách yếu đuối và hời hợt không cho phép con người thẳng thắn chống lại những ảnh hưởng ngoại lai. Người An Nam nhẫn nhục chịu đựng, không hề có bất kỳ ý định phản kháng nào. Do đó, họ vô cùng e sợ quyền lực! Thậm chí còn quá sức quỵ lụy trước người nắm quyền thấp nhất: dập đầu xuống đất liên tục, chắp tay van xin, sau đó, khoanh tay trước ngực, mọi biểu hiện nơi phong thái đó gợi lên sự tầm thường.
Những tục lệ khúm núm này, dĩ nhiên, được áp đặt bởi chế độ chuyên quyền từ rất lâu đời đã thống trị họ; nhưng họ cũng tuyệt nhiên sẵn lòng chấp nhận chúng; họ tự nguyện cúi đầu dưới ách thống trị linh thiêng mà họ vẫn còn giữ những dấu ấn không thể xóa nhòa.
Sự khúm núm của họ không chỉ dành cho các quan lại, các đại diện của vương quyền; mà còn được thể hiện trong cuộc sống thường ngày nơi nó đã tạo ra sự lịch thiệp tinh tế.
Trong trò chuyện, những tên gọi từ bậc thấp đến bậc cao luôn thể hiện chính xác mức độ tôn kính mà người ta thể hiện với người đối diện. Người lớn tuổi nhất hoặc cao quý nhất gọi con hoặc em với những người trẻ hơn hoặc cấp thấp hơn, đáp lại những người này dùng cách xưng hô theo danh xưng ông, anh, chú, anh cả.
Sự lễ độ này - đôi khi quá mức, mặc dù ở mức độ thấp hơn so với người Trung Hoa - “gần như đã thành bẩm sinh thông qua di truyền” và rõ ràng che giấu phía sau một sự giả hình. Có thể cảm thấy được điều này khi quan sát cách cư xử của người An Nam (bấy giờ) với người châu Âu. Sự lễ độ tinh tế nguyên thủy của người bản xứ, hơi quá mức thực tế, bị thay đổi kể từ khi chúng ta đặt chân lên An Nam; sự thay đổi tự nhiên diễn ra theo hướng tệ hơn.
Người An Nam có tâm hồn trẻ con, nên hiếm khi trông chờ họ có sự cải thiện hợp lý. Dùng đến lý lẽ để yêu cầu họ tự sửa chữa hoàn toàn vô ích. Chúng tôi đã cố gắng, có lẽ trong vô thức, giúp họ thấm nhuần lòng tự tôn; nhưng chúng tôi chỉ thành công trong việc khiến họ trở nên ngạo mạn và thiếu tôn trọng sự quan tâm của chúng tôi.

1870-1889 - Nội thất dinh Đốc phủ Đỗ Hữu Phương (còn gọi Tổng đốc Phương) ở Chợ Lớn.©Aurélien Pestel (1855 - 1897)
“Sự khúm núm và quỳ lạy khiến chúng ta, những người châu Âu, cảm thấy thương hại”, các ông Bouinais và Paulus nói, “trong cuộc viễn chinh của Garnier, một thủy thủ đã ngăn cản cảnh đó xảy ra khắp quanh mình và dạy cho người Bắc kỳ lối chào quân sự.” Tác giả thêm vào, “Chúng tôi thích nét độc đáo của người lính không rõ tên tuổi này; điều đó cho thấy anh ta có ý thức về nhân phẩm.”[100] “Nét độc đáo” của lối chào quân sự này đã lan truyền trước tiên trong số những người lính hoặc vệ binh bản xứ của chúng ta và rồi đến cả các gia nhân. Cử chỉ đơn giản này miễn xá cho họ tất cả các biểu hiện tôn kính khác, mà vẫn cho phép chúng ta giữ thái độ lịch sự nghiêm túc nhất với họ. Thế rồi, được giải thoát khỏi mọi ràng buộc, tình cảm thật họ thể hiện với chúng ta hiện ra: nếu không phải hận thù thì chí ít cũng là ác cảm một cách vô thức với chủng tộc chúng ta. Do đó, họ tự nhiên trở nên xấc xược và thô lỗ, không phải theo nghĩa mà chúng ta hiểu về từ này, nhưng với ý nghĩa trong một vài hành động của họ mà chúng ta không đánh giá hết được. Chẳng hạn, một người Bắc kỳ không bao giờ được xuất hiện trước cấp trên mà không đội khăn xếp, một sơ suất như vậy thể hiện sự thiếu lễ độ nghiêm trọng.
Cũng như khi họ đã chấp nhận sự chuyên chế của nhà vua và sự chuyên quyền của các quan lại bằng thái độ cam chịu đáng ngưỡng mộ, họ đã tự ràng buộc mình không một chút khó khăn vào các yêu cầu nghi lễ quy định rất nghiêm ngặt những chi tiết nhỏ nhặt nhất trong cuộc sống của họ, cũng như thế họ để cho bản thân bị cuốn theo những khuynh hướng tự nhiên, không hề cố gắng chống lại dù chỉ với một kháng cự yếu nhất, không có được chút nỗ lực ý chí nào để phản kháng và đi ngược lại dòng chảy của dục vọng.
Con người về bản chất là không tốt, trái với điều mà người Pháp thế kỷ XVIII đã từng tin tưởng sâu sắc, cũng như những gì mà người châu Á lạc quan hằng nương cậy; hành vi của họ, khi nó không được lý trí soi dẫn và không được ý chí kiên định và luôn công bằng quyết định, sẽ bị ảnh hưởng bởi các yếu tố vạn năng khác.
Taine[101] từng nói, “Chủ nhân con người là khí chất, còn những nhu cầu cơ thể, bản năng động vật, tiền định di truyền, trí tưởng tượng, dục vọng nói chung chế ngự chúng ta, đặc biệt là lợi ích cá nhân hoặc lợi ích gia đình, giai cấp, đảng phái. Chúng ta sẽ tự lừa dối bản thân nghiêm trọng nếu tin rằng con người bẩm sinh là tốt đẹp, khoan dung, thân thiện hoặc ít nhất là hiền lành, dễ bảo, nhanh chóng biết tuân theo lợi ích xã hội hoặc lợi ích của người khác. Có nhiều và rất nhiều người phó mặc cho chính bản thân họ, điều này sẽ chỉ gây tác hại.”
Những “yếu tố bẩm sinh” nêu trên gây ảnh hưởng mạnh mẽ và đáng kể lên người dân An Nam mà không điều gì khác giảm bớt được. Dục vọng chiếm hữu tâm hồn họ, bắt họ phải thực hiện ý tưởng điên rồ, điều khiển họ theo ý thích. Sự dâm dục, tàn bạo, kiêu ngạo, đam mê cờ bạc cùng xuất hiện trong con người họ.
May mắn thay, những dục vọng này là thoáng qua, không dai dẳng. Chúng bộc phát một cách bất ngờ và mạnh mẽ đến mức khiến hệ thống thần kinh bị xáo trộn đáng kể, bị kiệt sức nhanh chóng, ý chí suy sụp, trong khi bản thân nó quá yếu đuối, không thể vượt qua được. Vì vậy, cùng một nguyên do: thiếu nghị lực ngoan cường, thúc đẩy sự mất kiểm soát và góp phần hủy diệt họ.
Lịch sử của vương quốc An Nam, với những cuộc nổi dậy liên tiếp chống ngoại xâm, có thể đòi hỏi người dân An Nam phải có một ý chí vững chắc và tràn đầy nghị lực, nếu không, họ dường như sẽ không thể giành lại độc lập và chiến thắng kẻ khổng lồ Trung Hoa sau một chuỗi đấu tranh dài hàng trăm năm. Chúng tôi sẽ chỉ ra trong chương tiếp theo rằng những cuộc nổi dậy này chỉ là những đợt bột phát mãnh liệt và ngắn ngủi, phần nhiều thể hiện một sự bốc đồng của tuổi trẻ hơn là một ý chí trưởng thành, mạnh mẽ và kiên định.
Cờ bạc, như chúng tôi đã nói, là cám dỗ không thể cưỡng lại đối với người An Nam. Có những quan sát ghi nhận rằng ở Trung Hoa (khi nói về người An Nam thường cần nhớ rằng họ có một nửa là người Trung Hoa) có những người không còn gì để mất, thí những ngón tay của mình và chặt chúng một cách dứt khoát khi thua tiền[102].

Giường (phản, sập) An Nam. © Ảnh từ bản gốc tiếng Pháp.
Tôi không biết liệu người An Nam có bao giờ mê đắm vào trò may rủi này hay không, nhưng điều tôi có thể khẳng định đó là họ hoàn toàn có thể mất cả một cơ nghiệp không dễ gì tích cóp được chỉ trong vài giờ. Hơn nữa, chính quyền Pháp đã phải cấm đánh bạc ở Đông Dương; bộ luật ban hành dưới thời Gia Long đưa ra những hình phạt nghiêm khắc cho các con bạc, những người bị bắt quả tang phải chịu tới tám mươi gậy.
Nhưng dục vọng chế ngự người An Nam, cái thỏa mãn hoàn toàn, trọn vẹn nhất những khuynh hướng biếng nhác, ù lì, lờ đờ, mơ mộng hão huyền... đó là thuốc phiện. Thuốc phiện, đó là sự thư thái hoàn toàn, là sự thư giãn làm giảm bớt những cơn mệt mỏi kéo dài, đó là trạng thái mà tất cả cảm giác đều biến mất, là sự hủy diệt cơ thể một cách ngọt ngào. Đó còn là giấc mơ vui vẻ và yên bình, là sự tách rời với tất cả mọi thứ trên thế giới này, là hạnh phúc trọn vẹn, là sự hờ hững đến tột cùng. Đó là sự từ bỏ mọi ý chí, mọi nhân phẩm, mọi nghị lực; đó là hiện thực của lý tưởng tiêu cực của người Á châu: không còn cảm giác, không còn đấu tranh, không còn ý muốn!... chỉ còn mơ mộng!
Như những dẫn chứng vừa nêu, chúng ta xác định được căn nguyên của xu hướng thoái chí thường xuyên này, ánh lên từ nội tâm người An Nam, cho phép chúng ta hiểu sâu hơn điều bí ẩn và khám phá ra những uẩn khúc đầy kinh ngạc bị bỏ qua trước đây.
Rõ ràng, chúng ta có thể làm sáng tỏ nguồn gốc sâu kín và xa xưa của một niềm tin cố hữu trong tất cả các chủng tộc Á châu: thuyết định mệnh; và của một tình cảm tự nhiên đã lưu lại một tính cách đặc biệt như vậy vào quan niệm tôn giáo của chủng tộc da vàng: lòng khoan dung. Để giảm bớt những chán chường và mệt mỏi trong việc chống lại những chướng ngại có thể xảy ra, thuyết định mệnh, đối với An Nam, là một lý do đơn giản cho sự trơ lì của họ. Nói đúng ra, nó đã không trở thành một học thuyết rõ ràng như của những người Hồi giáo; nhưng chỉ với chút tình cảm mơ hồ, thì không có gì thực tế hơn.
Đối với sự khoan dung thường được những người Viễn Đông ngưỡng mộ, đó cũng chỉ là kết quả của cùng một nguyên nhân: căm ghét nỗ lực thể chất hoặc tinh thần. Đối địch với khó khăn - điều mà họ cố gắng lấn tránh, không chinh phục - người An Nam không bao giờ truyền đạo. Chưa bao giờ có ý niệm truyền bá tín ngưỡng của chính mình, chưa bao giờ họ có cơ hội kháng cự lại đức tin của dân tộc khác[103].
III. Trí tuệ
Viễn Đông, xứ sở ngập tràn ánh nắng, dưới bầu trời chói chang và xanh thẳm này, sự vật nổi bật trên chân trời quá rõ ràng sắc nét, trong bầu khí ẩm thấp, nóng bức này, nơi điện áp hằng định, những ảnh hưởng nhận được sắc buốt, thi thoảng đau xé. Lặp đi lặp lại, làm các dây thần kinh vốn bị kích thích cao độ và trở nên kiệt quệ, chỉ còn truyền đi được những cảm giác yếu ớt, tạo nên những hình ảnh nhạt nhòa lưỡng lự. Ý chí, cũng dần mất đi, chỉ có thể tác động yếu ớt cố gợi các hình ảnh, gộp chúng lại, để hình thành những phán đoán[104].
Do đó, trí tưởng tượng tái hiện, ý nói đến khả năng gợi lại một ấn tượng từng nhận được, điều còn ngây thơ trễ nải ở người An Nam[105]. Chúng tôi có giải thích về trạng thái tâm trí riêng biệt này của họ. Bất cứ ai từng sống dù chỉ một lần giữa những người Á châu có thể vẫn còn điên đầu với mâu thuẫn dường như tồn tại giữa đầy những điều bịa đặt giả định bởi những mê tín tôn giáo hoặc truyền thuyết lịch sử của họ, và sự tưởng tượng nghèo nàn được thể hiện trong thơ ca, văn học, nghệ thuật và khoa học sơ khai của họ. Dường như những sản phẩm khác nhau này là biểu hiện của hai trí tuệ khác biệt.
Chuyên gia tâm lý Guyau giải thích, “trí tưởng tượng quá mức ấu trĩ, như những người nguyên thủy, phụ thuộc nhiều vào nhận thức có chút không rõ ràng, tùy ý, dễ dàng biến đổi. Người ta thấy bất cứ thứ gì họ muốn mơ hồ hệt như hình dáng mây...”[106] Như trẻ con, người An Nam, một dân tộc đúng là trẻ, mặt khác được trời phú cho một trí tưởng tượng tái hiện tầm thường, vụng về gói ghém cảm giác của họ, định rõ đường biên của những hình tượng phát sinh từ chiều sâu ký ức; như thể họ sống trong ảo tưởng, vô định, “không phân biệt hay nhận thức được bất cứ điều gì rõ ràng, mơ mộng về mọi thứ”.
Những giấc mơ, những truyền thuyết phi thường đại diện cho lịch sử; những giấc mơ, triết lý cực đoan, chính trị thần quyền kỳ quặc có nguyên tắc dựa trên tính bản thiện của con người; những giấc mơ, mà nghệ thuật dị hình ở những đường nét tay chân không thực tế và đầy hư ảo, cưỡi lên những con rồng quái dị; mơ nữa, mơ mãi, những ảo ảnh bất tận! Ảo ảnh của chính quyền gia trưởng, của nhà nước gia tộc, ảo ảnh về nghi thức, những nghi lễ thánh thiêng; ảo ảnh về huấn thị trong ký ức; ảo ảnh về giáo dục, về lễ độ giả hình; ảo ảnh khắp mọi nơi; toàn là hư cấu!
Nhưng sự thừa thãi của trí tưởng này - vượt ra ngoài phạm vi của cuộc sống đời thường - lại không đạt đến đỉnh cao của nghệ thuật và suy tưởng tư biện. Sự phong phú bề ngoài này chứa đựng một sự nghèo nàn trí tuệ thực sự, một điểm yếu không thể chối cãi của những tính năng tiêu biểu, những nguyên nhân trực tiếp làm mất đi thuộc tính sáng tạo của trí tưởng tượng.
Khiếm khuyết này của trí não đã làm tê liệt sự vươn lên của tư tưởng. “Chúng ta không thể suy nghĩ mà không có hình ảnh,” Aristote đã nói. Làm thế nào người An Nam có thể rút ra những ý tưởng cụ thể và đa dạng từ những hình ảnh hiếm hoi và không nhất quán? Chắc chắn họ không thể làm điều đó.
Ngôn ngữ toàn là những biểu tượng và các từ mang nghĩa mơ hồ chính là bằng chứng; văn chương, triết lý, đạo đức ít cao nhã, do cảm hứng phàm tục và khuynh hướng vô cùng thực tế của họ. Quan niệm tôn giáo, năng lực khoa học yếu kém chứng tỏ một trí tuệ nghèo nàn. Nhưng trên tất cả, đó là nhờ chữ viết biểu ý giúp chúng ta hiểu thấu hơn sự kém cỏi nơi tinh thần An Nam đang tìm cách thoát khỏi các hình thức vật chất của ý tưởng để đạt đến sự trừu tượng, đến tư duy trong sáng. Tôi không biết phải làm gì tốt hơn việc trình bày lại ở đây, trong chủ đề này, đúng một trang và đầy lịch sự, của ông André Bellessort, cho thấy ảnh hưởng của chữ Hán đối với nền văn minh của các dân tộc đã áp dụng chúng.
“Những ký tự được cho là biểu ý này thể hiện rõ sự thiếu ý tưởng phong phú, linh hoạt, sống động, với tương quan vô tận, chúng biểu thị đối tượng bất động, không thay đổi; chúng hạn chế, chết cứng. Tâm trí không thể rộng mở, cũng không lọc ra những nghĩa cụ thể. Chúng chỉ tái hiện những cảm giác, chỉ khơi gợi những ý tưởng cụ thể và quá phân định để khai mở sự tự do. Những học trò, cho đến khi 15 hoặc 16 tuổi, học cách viết nét thanh nét đậm bằng đầu cọ của mình, ngoài việc vận dụng quá mức trí nhớ, họ còn có thói quen bắt suy nghĩ của mình đi theo những khuôn mẫu hạn hẹp và cố định. Họ làm nô lệ cho từ ngữ của họ, trong khi từ ngữ của chúng ta là những tôi tớ trung thành và mau mắn với chúng ta. Khi tôi nhìn các thanh thiếu niên, khuỷu tay lơ lửng trên không, bút lông thẳng đứng, vẽ những nét thanh đậm, những dấu hiệu bí hiểm, họ điểm thêm những nét chấm sổ, đối với tôi họ dường như đang gọt giũa kiểu cách cho những chiếc lồng nhỏ nơi ý tưởng chết mòn và hóa đá.”[107]
Người An Nam, giống như người Trung Hoa, chưa bao giờ có thể chịu uốn mình theo thói quen tư duy trừu tượng. Chiều hướng thực tế cốt yếu đã đi vào tâm trí của họ. Những ý tưởng trừu tượng, tổng quát đã dừng phát triển; họ nhanh chóng húc phải bức vách của chiếc lồng nhỏ bé nơi chữ viết giam hãm họ; không thể đạt đến đỉnh cao tuyệt đối, họ lê lết thảm hại giữa hiện thực cụ thể.
Trí tuệ của người châu Á không có khả năng thích ứng với đòi hỏi của những ý tưởng thuần túy, tự bằng lòng với việc nắm bắt và biểu đạt những tương quan đơn giản, thực tế, do đó sẽ đạt đến một sự khéo léo nhất định mang dấu ấn đặc trưng, có điều mọi thiên tài đều bị loại bỏ.