CHỦNG TỘC
I. Mô tả chủng tộc
Người An Nam là một đại diện của chủng tộc da vàng, thuộc Đại chủng Á (Mongoloides)[30], có các nhánh chính là: họ Mông Cổ nói riêng, chiếm các vùng trung tâm châu Á; chủng Đột Quyết (Turc); nhánh lớn nhất, chủng Hán Hoa; và cuối cùng là các quần thể sống chủ yếu trên các sườn dốc dãy Himalaya được ông de Quatrefages[31] gọi là “Indo- Mongoles” (Cổ Mã Lai-Mông Cổ)[32]. Ở đâu đó giữa những nhánh sau cùng, các nhà nhân chủng học xếp vào nhóm dân tộc An Nam.
Một cách tổng quát, diện mạo người An Nam hiện tại, phần lớn có các nét chung của dân Mông Cổ: đầu rộng ngắn (brachycéphale); trán thấp và dô ra, gò má cao, mắt nhỏ xếch, mí trên bụp và nặng, lông mày thưa, vểnh lên về phía đuôi; mắt đen, mũi bẹt phần phía dưới, phình ra, rộng ở gốc; đôi tai cách xa, môi dày, tóc đen, cứng và suông, râu và ria mép thưa, chỉ mọc rậm khi vào tuổi trung niên.
Nét đặc trưng nhất của dung mạo này là “xương gò má rộng và cao, khiến cho khuôn mặt trông giống hình thoi hơn hình bầu dục”[33].
Da người An Nam thường có màu “xanh nhợt hoặc hơi vàng, đôi khi trắng đục”, tuy nhiên, sậm hơn ở những người sống ở miền Nam Đông Dương.
Nhiều người muốn quy sự khác biệt về màu da này đơn nhất về cho tác động của mặt trời, mà ở vùng nhiệt đới rõ là nóng như nung như đốt phần da phơi ra dưới nắng, làm da nâu thêm và do vậy trông càng nổi bật hơn; còn ý kiến của chúng tôi là, chúng ta hãy còn phải nhìn nhận thêm ảnh hưởng của việc lai với người Mã Lai.
Cái nôi của chủng tộc An Nam là Bắc kỳ và các vùng lân cận, ở đó tìm thấy những cá thể “thuần chủng” nhất có da nhạt màu nhất; ngược lại, người An Nam ở vùng Hạ Đàng Trong (la Basse- Cochinchine) quan hệ trực tiếp hơn với người Mã Lai hay người Chăm, nên chắc chắn đã biến đổi khi tiếp xúc với họ.
Tóm lại, có thể nói với hai ông Bouinais và Paulus[34] rằng làn da của người An Nam minh chứng một sự chuyển tiếp giữa người Mã Lai và người Hán Hoa; da sáng hơn người Mã Lai, đậm màu hơn người Hán Hoa.
Người An Nam thường không cao, chiều cao trung bình là lm60 ở nam và lm50 ở nữ. Hai chân, dù mảnh mai, nhưng khỏe; ở một số người, ngón chân cái choãi ra phía ngoài, cách khỏi các ngón chân còn lại. Lưng dài tương ứng với chân; vai và ngực hẹp, cổ tay cổ chân linh hoạt, bàn tay mảnh và thuôn. Toàn bộ cấu trúc giải phẫu tạo ấn tượng mảnh mai và yếu đuối. Thật hiếm khi thấy người An Nam béo phì; xương lộ ngay dưới da. Trọng lượng cơ thể trung bình là khoảng 55kg ở đàn ông và 45kg ở phụ nữ, như vậy nhẹ cân hơn so với các chủng tộc Âu.
Cơ lực của họ không đáng kể; một vật nặng phải mất hai người An Nam, đôi khi nhiều hơn, nâng lên một cách khó khăn, trong khi chỉ cần một người Âu là đã có thể dễ dàng mang đi. Điều làm chủng tộc An Nam khác với chủng tộc Hán Hoa là sự lực lưỡng. Sự kém về mặt thể chất ở người An Nam, không nghi ngờ gì, là kết quả do tác động kéo dài của kiểu khí hậu Đông Dương. Càng xuống vùng nắng nóng, tác động này càng rõ rệt hơn. Người Bắc kỳ không lực lưỡng bằng người miền Nam Trung Hoa, nhưng luôn cao lớn và mạnh mẽ hơn người dân ở Hạ Đàng Trong. Họ thường chỉ cao đến lm60 và đôi khi, nhưng hiếm, cao đến lm65. Ở Bắc kỳ, phụ nữ làm việc như đàn ông, thường làm nghề culi[35] mà phụ nữ Nam kỳ không có khả năng làm. Tương tự như vậy, thường thấy rằng culi-xe[36] Bắc kỳ chạy tốt hơn, chạy những chuyến dài hơn người Nam kỳ.
Bên cạnh đó, tuy có dáng vẻ yếu đuối nhưng người An Nam lại có một sức đề kháng đáng kể. Dưới khí hậu nóng bức, anh ta miệt mài lao nhọc và làm bằng chứng cho phẩm chất bền bỉ tuyệt vời. Có thể ở cả ngày ngoài ruộng, cúi mặt cấy lúa, lội bùn lên đến đầu gối, tiếp xúc với nền đất ẩm nóng hừng hực bốc lên và phả khủng khiếp vào người; hay cũng tương tự vậy ở trên thuyền tam bản, đầy nắng, gập người chèo thuyền hàng giờ liền. Có bao nhiêu người Âu có thể làm công việc khó nhọc của những người culi-xe, chạy hàng giờ với tốc độ mười hai cây số một giờ không mệt mỏi, chỉ có vài phút nghỉ ngơi để uống một tách trà hoặc ăn một bát cơm.
Để xác định nguồn gốc của những ưu điểm thể chất này, cần phải tính một chút đến sự phát triển của hệ thần kinh ở người An Nam, về việc họ thiếu vắng cảm giác, và do đó, dửng dưng với đau đớn và lao lực. Tôi không nghĩ cần phải xem xét, như đôi khi ta vẫn nghe nói, đến ảnh hưởng di truyền được bảo tồn và truyền lại qua nhiều thế hệ, một di sản sức mạnh được thừa kế bởi tổ tiên Mông Cổ.
Chủng tộc An Nam sinh sản nhiều. Nhờ vào khả năng bành trướng mà họ có thể, trong một thời gian tương đối ngắn, chiếm đất một cách hoàn hảo trên một phần lớn bán đảo Đông Dương. Trong khi ở châu Âu, tần suất sinh của 100 phụ nữ đã lập gia đình dưới 50, ở Phổ là 29, ở Anh 26, ở Pháp 16, người ta tính rằng số lần sinh trên 100 phụ nữ An Nam, trong cùng điều kiện, lên tới khoảng 170. Như chúng ta sẽ thấy sau đây, việc thiếu vắng cảm giác về thịnh mãn, đất đai phì nhiêu, sự phân chia tài sản cực đoan, tổ chức gia đình và tín ngưỡng tôn giáo đóng vai trò quan trọng trong việc tăng đáng kể tỷ lệ sinh. Vậy, đây không phải chỉ là một nét đặc trưng của chủng tộc mà còn là ảnh hưởng chủ đạo của môi trường vật chất và xã hội đối với đối tượng này.
Dưới bầu khí hậu như thiêu đốt làm kích thích các dây thần kinh đến cùng kiệt, kích hoạt lưu thông máu và đốt cháy động vật, người An Nam trưởng thành sớm và già nhanh hơn những cư dân vùng ôn đới. Họ trông già sớm và hiếm khi sống thọ. Trong số 65.489 trường hợp tử vong trong năm 1900 ở người An Nam hoặc những người Á khác sống ở Nam kỳ, chỉ có 7.075 người chết trên 60 tuổi; tỷ lệ này tương đương ở năm 1901: 51.908 người chết, trong đó có 6.231 người chết trên 60 tuổi[37]. Như vậy, chỉ hơn một phần mười dân số An Nam sống đến tuổi 60; tỷ lệ này là tương đối thấp.

Người An Nam. Kiểu người Nam kỳ. © Ảnh từ bản gốc tiếng Pháp.
Ngoài ra, tuổi dậy thì đến rất sớm ở cư dân Đông Dương; lần kinh nguyệt đầu tiên, theo quan sát của bác sĩ Mondière, xảy ra ở nữ vào tuổi 12, và độ tuổi kết hôn là 16 tuổi 4 tháng. Do đó không phải là hiếm, nhất là trong các gia đình khá giả, các cuộc hôn nhân trong đó vợ chồng ăn ở với nhau kéo dài không tới ba mươi năm.
Việc thể chất phát triển sớm kết hợp với ảnh hưởng xấu của khí hậu làm tiêu hao nhanh chóng một con người; họ thành niên ở tuổi 13, làm cha ở tuổi 16, và thành một ông già ở tuổi 50, trừ một số ngoại lệ hiếm hoi.
Để kết thúc việc mô tả lướt qua về chủng tộc này, chúng ta phải cố gắng phác thảo tóm lại một tâm lý chung của các dân tộc thuộc chủng da vàng.
Ngay như quan điểm sinh lý học, các đặc điểm của những cư dân này hòa hợp trong một kiểu duy nhất, bất chấp sự khác biệt có vẻ như tách chúng ra, do đó theo quan điểm tâm lý học cũng tương tự vậy, chúng ta thấy ở mọi người những nét tính cách đồng nhất, cách suy nghĩ và hành động tương tự, khuynh hướng văn minh hóa đồng điệu.
Đây là một trong những tác động bình thường của di truyền. Thật vậy, phần lớn các nhà nhân chủng học[38] đều đồng ý về sự tổn tại một kết nối bất biến giữa sự di truyền cái giống nhau về thể chất và về tinh thần.
Nếu người ta thừa nhận rằng mức độ phát triển của các thùy não: trán, đỉnh và chẩm, được phản ánh ra bên ngoài dưới các dạng sọ tương ứng[39], chúng tôi đi đến kết luận rằng hai hộp sọ có tương tự nhau, ở hai cá nhân khác nhau, các dấu hiệu cho thấy cả hai có thể trạng trí tuệ gần như giống hệt.
Như đã nói, các chủng tộc da vàng nói chung có đầu ngắn (brachycéphale)[40].
Đương thời, các nhà sinh lý học cho rằng có thể khẳng định trí thông minh (con người) định khu ở thùy trán, nên việc kéo dài hoặc mở rộng bộ não, và tương ứng là kéo dài hộp sọ, cho thấy ở những cá thể hoặc ở các chủng tộc có ít hay nhiều năng lực trí tuệ lớn, nghị lực ý chí ít hay nhiều phần mạnh mẽ.
Loại đầu ngắn và đặc biệt là đầu ngắn da sạm, về mặt tinh thần, ứng với người “hòa bình, cần cù, tiết kiệm, thông minh, cẩn thận, không bỏ qua cơ hội, giỏi bắt chước, bảo thủ, nhưng không có sáng kiến. Gắn bó với quê cha đất tổ, tầm nhìn ngắn, nhu cầu đơn điệu, đầu óc thường ngày dễ nổi loạn. Dễ bị dẫn dắt, dễ yêu thương cả người cai trị mình[41], thiếu ý chí nghị lực, được phú cho đầu óc dễ chăn dắt, tinh thần “bầy đàn”.
Trên thực tế, gần như đó là các nét tâm lý nổi trội của người da vàng. Tuy nhiên, vẫn nên chỉ ra thêm sự thiếu vắng khả năng mẫn cảm của họ khiến họ vô cảm, không cảm thông với nỗi đau, cứng rắn đến khắc nghiệt nhưng đôi khi cũng nhẫn tâm đến độc ác. Điềm tĩnh, ít bị kích động, họ có thể lạnh lùng làm những điều tàn bạo tồi tệ nhất. Nhưng chúng ta phải nhấn mạnh chính yếu vào sự tầm thường của lối tư duy đặc biệt thực tế nơi họ; nói trắng ra, nhạy bén chỉ với một sự phát triển gò bó. Ở họ, trí tưởng tượng hãy còn nghèo nàn, hẳn nhiên là hệ quả của tính dửng dưng, cả về thể xác và đạo đức. “Trí tưởng mộ đạo, lòng sốt sắng, nhiệt thành cháy rực ở những người Ả Rập, Iran, Slave, không bao giờ đánh thức sự vô cảm mà sưởi ấm cái lạnh nhạt của người Đột Quyết (Turc), Mông Cổ và Mãn Châu. Tôn giáo thích hợp nhất với sự tĩnh mịch của họ chắc chắn là Phật giáo. Họ là Phật tử theo lẽ tự nhiên bởi chính nếp suy nghĩ của họ, không cần phải cố gắng gì.”[42] Và thậm chí Phật giáo còn không được họ tiếp thu nếu (tôn giáo này) không chấp nhận trải qua, trong vô thức, những điều chỉnh ngầm sao cho phù hợp với thói quen tư duy, những tín ngưỡng ban sơ của họ.
Tóm lại, tính dửng dưng, bình thản, vô cảm, tàn ác lạnh lùng và vô thức, thiếu trí tưởng tượng, trí tuệ trung bình là tổng hòa làm nên tâm hồn của chủng người da vàng. Sự thực, những đặc điểm tiêu biểu này không rõ nét, giống hệt nhau trong tất cả những nhóm người Đại chủng Á (Mongoloides), có khi giảm khi tăng, bởi những ảnh hưởng khác nhau mà các dân tộc chủng da vàng đã phải chịu: khí hậu, hòa huyết, v.v. Nhưng như sẽ thấy sau này, chúng tôi luôn khám phá ra sự tồn tại nào đó của những bẩm tính nguyên thủy này mà từ đó có thể làm nảy sinh những khuynh hướng mới.
Nếu có thể nói rằng trong quần thể các dân tộc Mông Cổ cùng biểu thị một vẻ giống nhau nào đó, thì chúng ta vẫn phải nhìn nhận rằng có sự khác nhau giữa các nhóm qua các tính cách khác biệt rõ rệt. Thuật ngữ “chủng Mông Cổ” thường được sử dụng để chỉ một số đông các dân tộc và quốc gia rất khác nhau (người Tây Tạng, Miến Điện, Xiêm, Trung Quốc, Nhật Bản, Tartar, Kyrgyz, Buryat, Tungus, Samoièdes, Phần Lan, V.V.), trên thực tế không gợi lên ý niệm về một kiểu người cụ thể, đã được tuyệt đối xác định và thực sự tồn tại, mà là một hình dung về một kiểu người tưởng tượng, tổng hợp, có tính hợp chung tất cả điểm tương đồng có trong các quốc gia hay dân tộc này. Sự thật, nó không bao hàm ý niệm về một sự hợp nhất chủng tộc, nhưng đúng hơn, như anh em nhà Reclus nói[43], đó là cách nói chỉ sự thâm nhập lẫn nhau thời cổ đại[44].
Dân tộc An Nam được ông de Quatrefages phân loại và xếp vào trong số “Người Indo-Mongol” cùng với người Miến Điện và người Xiêm. Những cư dân này hiển hiện, theo quan điểm về sọ học, các đặc điểm giống hệt nhau; thực sự cả ba thuộc nhóm Đầu ngắn (brachycéphale). Đặc điểm này phân biệt rõ với người Trung Hoa phía Bắc, nhóm Đầu dài (dolichocéphale) với số đo bề ngang hộp sọ trung bình khoảng 76,60 (theo Quatrefages). Chỉ số này ở những người An Nam dao động giữa 83 (Broca) và 85 (Pruner-Bey).
Nhưng cho dẫu đã có các quan sát này, theo quan điểm nhân chủng học, ta cũng không nên kết luận rằng người An Nam gần gũi với người Xiêm và Miến Điện hơn người Hán Hoa. Ngược lại, với người Hán Hoa họ có những mối quan hệ không thể bàn cãi và riêng nhất mà đến nay chưa bao giờ nhận được giải thích chính xác nào. Chúng tôi không có ý định giải quyết vấn để này, nhưng điều quan trọng là vì lợi ích của nghiên cứu nên chúng tôi tạm dừng một lúc để xem xét nó xét trên một trong những khía cạnh đặc thù: đó là quan điểm về nguồn gốc của chính người An Nam.
II. Nguồn gốc dân tộc
Người An Nam, theo lịch sử của họ, có nguồn gốc từ miền Nam Trung Hoa. Cha Legrand de la Liraye nhận định “vào thời kỳ đó, khi mà hàng trăm gia đình người Hoa chiếm đóng tỉnh Thiểm Tây, tức là, trong thời gian trước Abraham[45] hai hay ba thế kỷ (2400 đến 2225 trước Công nguyên [TCN]), bốn bộ lạc man rợ chiếm vùng biên giới của Đế quốc[46]. Ở phía nam[47] là tộc người Giao Chỉ[48].” Đó là tộc được dân An Nam khẳng định là tổ tiên của họ.
Nhưng liệu bộ tộc này có nguồn gốc từ xứ sở họ đã chiếm đóng vào thời điểm lịch sử đó? Điều này ít có khả năng. Có lẽ cần tìm kiếm sâu hơn nữa dấu tích của những cư dân đầu tiên ở khu vực này trong các nhóm người sống ở rừng núi: Thái, Mán, Mèo, Lôlô, v.v. mà tính đến bây giờ còn chiếm giữ hầu hết dãy núi Trường Sơn, và trong các bộ tộc miền núi Vân Nam, Quảng Tây và Quảng Đông: Lôlô, Dao và Miêu tộc (Miao-Tzès).
Vậy Giao Chỉ là từ đâu ra? Có lẽ từ cùng một vùng với các cư dân Mông Cổ khác.
Các giả định địa lý mạnh mẽ chứng thực ý kiến này. Nhóm da vàng, hậu duệ, theo hầu hết các nhà nhân chủng học, của những tộc người từ khối núi trung tâm châu Á, đã bị đẩy di cư về phía biển, nghĩa là về phía khí hậu ôn hòa hơn, bởi những biến đổi liên tiếp xảy ra trên bề mặt địa cầu.
“Khi các hồ ở Trung Á khô cạn và sa mạc lấn chiếm các vùng đất canh tác, cư dân bị đẩy về các xứ sở phía tây, ở đó họ đã liên tục thiết lập quan hệ với những người Chaldéen, người Hindu, người Ba Tư, đi xuống vùng Hoàng Thổ (Hang-Tou, nghĩa là đất vàng)[49], mang theo cùng những kiến thức kỹ nghệ của mình. Mỗi lưu vực sông đã trở thành một con đường cho những cư dân nông nghiệp.[50]"
Như vậy, dòng di cư tựu trung được chia thành nhiều nhánh; mỗi nhóm cư dân này đi theo lưu vực của một trong những con sông lớn châu Á: Hoàng Hà, Dương Tử Giang, Tây Giang, v.v. Mỗi bộ phận lập nghiệp ở xứ sở mà con đường sông xuôi theo đã mở ra cho nó; mỗi nhóm thích nghi với môi trường mới và do đó trải qua những biến đổi sâu sắc tạo thành sự khác biệt hiện nay giữa các chủng Mông Cổ khác nhau (Tartar, Mãn, Hán như đã nói, V.V.). Trong khi các nhánh của sông Vàng (Hoàng Hà) và sông Xanh (Dương Tử) phát triển nhanh chóng, trong một xứ sở giàu có biệt lệ, dưới một vùng trời ôn đới, chỉ bị chiếm cứ bởi một vài bộ tộc thổ dân dễ bị đẩy lùi, thì những nhánh phía nam, đi theo con đường của Tây Giang, đến một xứ sở khắc nghiệt, trập trùng đồi núi, với khí hậu nhiệt đới đã ảnh hưởng lên sự phát triển của họ trong một thời gian khá dài. Mặt khác, sự hiện diện của các bộ tộc bản địa ngoan cường, không thể thay đổi tập tính[51], làm mất một thời gian dài đấu tranh, đã ngăn cản việc vươn dậy của nền văn minh mà chủng tộc mang trong đó.
Vậy, rất dễ hiểu rằng những dân cư miền Nam thô kệch từ lâu bị người Trung Hoa văn minh coi như man rợ và đối xử như kẻ thù, dù là trong thực tế họ phân nhánh từ cùng một nguồn gốc và sở hữu một vốn tín ngưỡng chung với người An Nam mà thời gian đã không thể xóa[52].

Người Hoa. Kiểu người Quảng Đông. © Ảnh từ bản gốc tiếng Pháp.
Vả lại, người ta giải thích rằng những quần thể này, quá yêu thích nền tự chủ và tha thiết độc lập, qua biết bao thăng trầm đã có thể bảo tồn tính cách, đặc điểm, phong tục và ngôn ngữ vốn từ trước nhiều khả năng đã thẩm thấu được nền văn minh mà những người chinh phục mang đến. Nền văn minh này, dường như áp đặt lên họ chỉ bằng vũ lực, song lại được tiếp nhận một cách tự nguyện, qua sự cảm tình mà theo đó nó đáp lại các khát vọng ẩn giấu và những niềm tin sâu kín nhất của tâm hồn An Nam, và trùng hợp với những niềm tin khởi từ nguồn cội chung, một quê hương chung.
Mối liên hệ huyết thống còn trực hệ hơn nữa giữa người An Nam và cư dân ở miền Nam Trung Hoa. Người Quảng Đông khác rất nhiều, nhất là về phương diện khí chất, với người Hoa ở vùng trung tâm và miền Bắc của Đế quốc[53]; nhưng họ lại gần gũi với kiểu người An Nam, do đó biểu hiện một loại chuyển tiếp giữa người An Nam và người Trung Hoa. Các dân cư miền Nam Trung Hoa, Quảng Đông và Phúc Kiến nói riêng, có hình dáng mảnh mai hơn, tay chân gầy hơn, da sẫm màu hơn, khí chất sôi nổi hơn người Hoa miền Bắc. Những khác biệt này, được giải thích một cách tự nhiên là do ảnh hưởng khí hậu, tạo nên đích xác những đặc điểm thường thấy của người An Nam nói chung, và đặc biệt là với cư dân đương thời ở Bắc kỳ. Sự giống nhau sẽ gây nhiều án tượng hơn nếu người Trung Hoa giữ lại kiểu tóc và trang phục thời trước của họ, vốn khá giống với những người mà chúng ta đang bảo hộ. Ta biết rằng ở Trung Hoa lệ cạo đầu và tết bím tóc mới du nhập gần đây[54].
Sự tương đồng giữa người miền Nam Thiên triều và người An Nam không gói gọn duy chỉ ở khía cạnh bên ngoài: nó vẫn được tiếp nối ở một số khía cạnh về ngôn ngữ[55], tính cách và thói quen.
Giống như người Bắc kỳ, người Quảng Đông vui vẻ, ồn ào, đôi khi dí dỏm; như thể họ có những thói quen sông nước hiếm khi thấy được ở các dân tộc khác; toàn bộ ngôi làng hình thành trên các dòng sông, và người dân đặc biệt sinh hoạt, sống, làm việc và chết ở đó.
Những sự trùng hợp đáng chú ý như vậy không thể không đập vào mắt các nhà quan sát có chủ ý; một vài người ghi nhận chúng[56] và đưa lý giải nhằm củng cố cho giả định cho rằng các cư dân này có cùng nguồn gốc dân tộc.
Cấu hình địa lý của xứ sở, trước hết, cung cấp một lập luận mạnh mẽ ủng hộ giả thuyết này: các thung lũng song song của sông Hồng và sông Tây, cùng bắt nguồn từ Vân Nam, thông với nhau qua những hẻm núi tự nhiên và thực sự, vì lý do này, mà có thể tiếp nhận ở mỗi bên một nhánh người di cư xuất xứ từ cùng một nguồn.
Tuy nhiên, không thể phủ nhận, đặc biệt là từ quan điểm sinh lý học, sự tồn tại khác biệt lớn giữa kiểu người An Nam và kiểu người miền Nam Trung Hoa.
Một cách tổng quát, kiểu người miền Nam Trung Hoa thừa hưởng một thể tạng cứng cáp hơn, khí chất mạnh mẽ hơn, sức lực cơ bắp mạnh hơn người An Nam; đồng thời họ có vóc dáng cao hơn.
Từ quan điểm đạo đức cũng thể hiện, và phải thừa nhận rằng, nhiều điểm không giống nhau.
Liệu phản biện này có là nghiêm trọng và phá hủy giả thuyết của chúng ta? Chúng tôi không cho là vậy.
Sự khác biệt đáng kể bộc lộ qua việc so sánh hai kiểu người cho ta lời giải thích tự nhiên ở hai khía cạnh: một là quy luật tự nhiên, ảnh hưởng của môi trường; hai là quy luật xã hội, ảnh hưởng của sự giao phối.
Trong khi hệ quả của sự thích nghi bên dưới bầu trời Đông Dương đã tạo ra ở người An Nam một sự suy biến, người Quảng Đông vẫn tự duy trì trong một vùng khí hậu ôn đới hoặc bán nhiệt đới, khí hậu cho phép họ bảo tồn sức sống nguyên thủy.
Mặt khác, như đã nói, họ đã tiếp xúc liên tục và trực tiếp hơn với chủng tộc Hán Hoa nên mang đậm nét chủng tộc của những người chiến thắng, với cấu tạo thể chất, chắc chắn mạnh mẽ hơn, đã ảnh hưởng một cách may mắn lên sự lai tạo. Trái lại, đất nước An Nam, bị cô lập, cách xa trung tâm Trung Hoa, được bảo vệ theo một cách nào đó bởi vùng đệm của xứ Quảng Đông (l’État Cantonais), tránh khỏi sự đồng hóa gần như hoàn toàn. Ngoài ra, chịu số phận địa lý - với vùng phía nam là các dải đồng bằng hẹp mà họ buộc phải xâm chiếm vì nhu cầu dân số ngày một tăng - nên đất nước An Nam không chỉ chịu ảnh hưởng lớn từ phía Trung Hoa: thực tế, họ đã thấy trước mặt sự hiện diện của chủng tộc Mã Lai, mà việc tiếp xúc đã cho ra kết quả là làm nổi bật sự khác biệt giữa những đặc điểm An Nam và Hán Hoa.
III. Người Giao Chỉ
Trước khi nghiên cứu những ảnh hưởng khác nhau đã góp phần hình thành kiểu người An Nam, phải thừa nhận là chúng ta nên dừng lại một chút để hướng cái nhìn vào những người Giao Chỉ cổ đại đã thiết lập nên nền tảng hòa trộn chủng tộc mà “sản phẩm” là cái ta đang muốn phân tích.
Xứ sở mà người Giao Chỉ cư ngụ, đó là khu vực miền núi tương ứng với Bắc kỳ, Vân Nam, Quảng Tây và Quảng Đông ngày nay[57], một ngàn năm trước đương nhiên không y hệt như xứ sở chúng ta biết đương thời. Khi xưa, châu thổ sông Cái (sông Hồng) vừa mới hình thành và, không còn nghi ngờ gì nữa, có biển bao quanh dưới chân những triền đồi, với các đĩa địa chất nối tiếp nhau nâng cao dần lên đến tận cao nguyên Tây Tạng.[58]
Vùng cao này ngày nay vẫn cực kỳ nguy hiểm; cư dân vùng đồng bằng vẫn từ chối vào đó, nói rằng đó là “vùng nước độc”. Hình thành nên từ những thung lũng hẹp và sâu, những lòng chảo rộng và bằng phẳng, từ một khối núi hỗn độn nơi nguồn nước tốt thường rất khó kiếm, bao phủ bởi những khu rừng rậm mà bùn tro cây lá bị chôn vùi dưới lòng đất trong nhiều thế kỷ sinh ra dưới tác động của ẩm thấp và sức nóng bốc lên của những phát xạ độc hại, con người sống bên cạnh những con thú hoang dã, đây là một môi trường sống đặc biệt không lành mạnh, bất lợi cho sự phát triển của một chủng tộc.
Vậy, chúng ta có thể đồng tình với Luro[59] rằng những người Giao Chỉ không cường tráng, dù điều này không xác quyết lắm. Ở một xứ sở “bao phủ bởi rừng rậm dày đặc”, nơi “cái nóng mùa hè sinh bệnh dịch nguy hại”, sự tồn tại của họ thật khốn khổ. Họ là những kẻ man rợ thực sự đã cạo tóc, xăm mình và sống gần như hoàn toàn bằng săn bắn và câu cá. Cha Viện phụ Launay cho biết[60], vũ khí của họ gồm cung tên và giáo mác, đầu mũi tên đôi khi bằng sắt hoặc gỗ được trui qua lửa.
Các thói quen và phong tục của một nhóm dân cư như vậy nhất thiết phải đơn giản và sơ khai.
Luro cho hay: “Truyền thuyết của người An Nam về thời cổ đại có nói rõ rằng người Giao (Chỉ) mê tín, họ có đền thờ, họ cúng súc vật để hiến tế cho những thần linh bất tử đại diện cho sức mạnh thiên nhiên...”[61]
Việc tự do quan hệ ở họ được xem là một vinh dự, và đã có lúc các nhà cai trị Trung Hoa phải cấm đoán nó.
Chế độ đa thê chắc chắn tồn tại, và thiết chế gia đình dựa trên nguyên tắc quyền lực gia trưởng tuyệt đối.
Những đặc điểm dân tộc khác nhau cho chúng ta thấy rằng người Giao Chỉ, trước cuộc chinh phạt của Trung Hoa, chỉ mới ở giai đoạn đầu của quá trình tiến hóa. Việc xem xét phẩm chất tinh thần của họ đều đưa đến một kết luận giống hệt nhau.
Các nhà sử học về đất nước An Nam, Legrand de la Liraye, Luro và Launay đều đồng ý công nhận ở tổ tiên người Giao (Chỉ) có tính hiếu khách và một tình yêu độc lập nhất định. Điều này chắc chắn là do ảnh hưởng ít nhiều của cộng đồng thị tộc, là sự kết tụ xã hội đầu tiên theo các nhà xã hội học.
Thành viên của thị tộc này, trong sự cô lập, chỉ có thể kháng cự yếu ớt với các cuộc tấn công của thú hoang dã hoặc các thị tộc lân cận, buộc phải đoàn kết cùng nỗ lực hòng giúp đỡ hỗ trợ lẫn nhau. Nhưng lòng tốt này đặc biệt ở chỗ nó chỉ hướng đến những thành viên cùng thị tộc. Tình cảm vị tha và chiếm hữu đó cùng một lúc làm nảy sinh hai khuynh hướng trái ngược nhau: “thân hữu với đồng đội, tàn bạo với người ngoài.”[62]
Người Giao Chỉ còn được miêu tả là “phù phiếm và kiêu căng”. Đây là hậu quả tự nhiên của tinh thần xã hội. Không thích sống riêng rẽ, quen ở giữa những thân hữu, con người dễ trở nên phù phiếm, chỉ muốn tham gia lúc thuận lợi, rất để tâm đến ý kiến thuận mình. Cảm giác này đặc biệt được phát triển ở những người nguyên thủy, ở các “dân tộc non trẻ” - vốn hay thích đồ trang sức, những vật rực rỡ có bề ngoài nổi bật - và đã nhiều lần được ghi nhận. Người An Nam hiện đại vẫn tồn lưu khuyết điểm này. Mọi người đều biết tình yêu của họ dành cho trang sức kim loại và lông chim, những chiếc váy xa-tanh bóng và những chiếc dù lớn.
Từ quan điểm chủ quan, Luro cho rằng người Giao (Chỉ) “nhẹ dạ, hay thay đổi và dễ nổi loạn”.
Lịch sử đầy sóng gió của họ, trên thực tế, cho thấy khao khát độc lập, nhưng lại đi kèm với tính không bền chí, chỉ hành động vì bộc phát bạo lực và rồi bị đứt đoạn.
Từ quan điểm chính trị, chúng tôi biết rất ít thứ liên quan đến cách tổ chức của những thị tộc Giao (Chỉ). Chúng tôi biết rõ nhất là họ được chia thành các bộ lạc với nhiều phân tranh được các bộ biên niên sử ghi chép lại. Chính vì không thể đoàn kết chống kẻ thù chung mà Giao Chỉ phải chịu ách thống trị của Trung Hoa.
Theo Cha Launay, “nguyên thủy người Giao Chỉ được chia thành các bộ lạc hoặc vương quốc nhỏ, đứng đầu là một tù trưởng với quyền lực có lẽ là do thừa kế. Nhà nước này đạt đến tình trạng trung gian nối tiếp giữa quân chủ chuyên chế và chế độ gia trưởng. Có lẽ giống như chế độ phong kiến của chúng ta (châu Âu)...
Khả năng lớn nhất là vào thời kỳ đó, quyền lực nhà vua phần nhiều hơn là trên danh nghĩa so với thực tế. Tuy nhiên, quyền lực tối cao tập trung chỉ trong một bàn tay này đã thiết lập một loại liên kết giữa tất cả bộ lạc và đem đến một sự gắn kết chính trị nhất định, nhưng rồi không đạt được nó, thậm chí cho đến nay, cho sự hợp nhất và tập trung hành chính mà sau này dưới sự thống trị Trung Hoa thì lại tạo ra được.”
Nhìn rộng ra, họ đích thực mang tính cách, tập tục và sự tổ chức của các cư dân An Nam đầu tiên. Thực sự, họ không biểu hiện bất cứ điều gì quá đặc biệt. Đây là những điều mà chúng ta ghi nhận ở tất cả các dân tộc nguyên thủy, vào buổi bình minh của các nền văn minh. Bái vật và mê tín, tự do quan hệ hoặc đa thê, quyền lực gia trưởng độc đoán, tinh thần xã hội và nền độc lập, đam mê bạo lực, đó là những biểu hiện xã hội đánh dấu khởi đầu toàn bộ quá trình tiến hóa của các dân tộc.
Tuy nhiên, cần lưu ý rằng sự tiến hóa này đặc biệt chậm ở người Giao Chỉ.
Đến từ một đất nước gần như ôn hòa, càng đến sát đường xích đạo hơn thì họ càng ít có cơ hội thích nghi; hơn nữa, khu vực nơi họ định cư khá độc địa, về mặt kinh tế thì chỉ cung cấp rất ít tài nguyên.
Do đó, giai đoạn thích nghi phải gian lao và làm chậm lại sự phát triển tuần tiến của chủng tộc trong mức độ nhất định.
Tuy nhiên, điều không thể chối cãi là, người An Nam hiện đã hoàn toàn thích nghi; không nghi ngờ gì, kết quả này phải được quy cho sự lai tạo với nhiều dân tộc bản địa khác nhau[63] khi họ bắt đầu đến sinh sống.
Nếu những cuộc hôn phối này có tác động may mắn đối với người Giao Chỉ về góc độ sinh lý học, thì về góc độ xã hội lại khác. Một sự lai tạo với các bộ tộc nguyên thủy góp phần làm những kẻ xâm lấn bị giữ lại ở điều kiện thấp hơn.
Mặt khác, phải lưu ý rằng người nhập cư không phải lúc nào cũng có thể thu nhận các bộ lạc thổ dân, và phải đẩy hầu hết những người này trở lại vùng núi để chiếm giữ các vùng đất thấp, nhiều cá và màu mỡ của đồng bằng đang hình thành. Cuộc đấu tranh kéo dài và gay go; thực tế, thổ dân là những kẻ cường tráng đáng kinh ngạc, theo sự đánh giá qua các mẫu vật còn lại được tìm thấy ở phía bắc Bắc kỳ, Vân Nam, Quảng Tây và Quảng Đông; ngoài ra cho phép giả định rằng các bộ lạc của họ ở đó rất đông, nếu người ta xem xét sự đa dạng quá mức những phương ngữ mà cư dân rừng núi sống trong cùng các vùng này sử dụng[64].

Người Minh Hương: Người lai Hoa và An Nam. © Ảnh từ bản gốc tiếng Pháp.
Tất cả những khó khăn thích nghi và tồn tại có thể đã dẫn đến sự hủy diệt của những người Giao Chỉ nếu một ảnh hưởng bên ngoài mạnh mẽ không đến sớm để mang lại cho họ sự trợ giúp hữu ích. Chính cuộc chinh phạt của người Trung Hoa đã làm nên dân tộc An Nam ngày nay.
IV. Người Hoa và người Mã Lai
Hầu như không vượt qua các giai đoạn tiến hóa xã hội đầu tiên, các kỹ năng của họ vẫn chưa định hình, bản sắc ban cho gần như trơn láng và dễ bị sai sử, hệt như “tờ giấy trắng”, không có tinh lực thực sự và đồng nhất, không có khả năng chống lại các lực lượng có tổ chức, nhưng lại được phú cho, giống như tất cả người Mông Cổ, các kỹ năng đồng hóa đáng kể, những người Giao Chỉ biết rằng họ ở vào thế thuận lợi nhất để tiếp nhận dấu ấn văn minh của một dân tộc vượt trội.
Đó là vào năm 232 TCN, hoàng đế Trung Hoa Tần Thủy Hoàng đã đưa xuống An Nam hai đội quân, tổng cộng 800.000 lính, hợp thành từ tất cả những kẻ lang thang mà ông có thể tập hợp được. Dưới sự chỉ huy của tướng Triệu Đà, họ chiếm lấy vương quốc. Năm 40 xảy ra một cuộc nổi dậy (Trưng Trắc) nhằm rũ bỏ ách ngoại bang, kết quả duy nhất là đưa thêm vào xứ sở một đội quân Trung Hoa mới, và lần này kẻ chiến thắng quyết tâm thiết lập sự chiếm đóng vững chắc hơn.
Công cuộc thực dân quân sự này trở nên cần thiết bởi có nhiều mưu toan giành lại độc lập của người An Nam, xen kẽ với đó là những cuộc tái lập nền đô hộ của Trung Hoa, và nó chỉ kết thúc vào năm 968. Liên tiếp tình thế giằng co này kéo dài hơn mười thế kỷ.
Trong suốt một ngàn năm này, sự pha trộn của các dân tộc là không thể tránh khỏi và đã mang lại những thay đổi đáng kể trong cấu tạo thể chất của dân tộc bị trị. Chủng tộc Hán Hoa, như chúng ta biết, vô cùng mạnh mẽ và vượt trội trong việc lai tạo với các giống người khác là một thực tế được thừa nhận chung khắp. Sự nổi trội của kiểu người Hán Hoa chiếm ưu thế gần như không có ngoại lệ, và kiểu người này đôi khi có thể di truyền đến thế hệ thứ năm.[65]
Có một nguyên nhân khác khuyến khích việc lai tạo với người Hán Hoa ở An Nam. Nếu sự di cư của đàn ông đến An Nam được chính quyền đế quốc khuyến khích, thì việc di cư của phụ nữ bị cấm theo phong tục, và cho đến nay (đầu thế kỷ XX) vẫn là như vậy. Do đó, chỉ có người đàn ông Thiên triều giao phối với phụ nữ An Nam để sinh ra nhiều thế hệ lai; sau đó đến lượt mình, các thế hệ lai này lần lượt có những phối hợp mới trong xứ sở, đảm bảo kiểu người An Nam duy trì một số đặc tính chủng tộc Hán Hoa.
Kết quả của sự giao kết các chủng tộc này không phải là điều được kẻ xâm lược mong đợi.
Người An Nam, được ban cho các kỹ năng đồng hóa mạnh mẽ, nhưng mặt khác, như chúng ta đã nói, lại sớm đắm chìm trong nền văn minh Trung Hoa, và điều này tình cờ đã trả lời chúng ta về khuynh hướng bí ẩn của tâm hồn họ. Do đó, rồi cũng đến một ngày không còn phân biệt được gì giữa kẻ bị đồng hóa với những người đồng hóa. Hai yếu tố hợp nhất thành một sự hòa trộn mật thiết, được nhóm theo cùng một dân tộc, được hợp nhất bởi một cộng đồng lợi ích gần gũi, tạo thành một dân tộc mới, mạnh mẽ hơn, tổ chức tốt, văn minh hơn so với nhóm khởi nguồn của nó, và cũng là nhóm mang khao khát thoát ách của chủ nhân mà nó thụ nhận nền văn minh.
Vậy, dù đã ra đời thì quốc gia An Nam hãy còn chưa biến chuyển đến tận cùng.
Sự mở rộng tiếp tục về phía nam đặt người An Nam vào tình trạng tiếp xúc với các dân tộc bản địa mới, trong đó có Mọi và Kha, không nghi ngờ gì, là những đại diện cuối cùng, cùng với một dân tộc thuộc chủng Mã Lai và nền văn minh Ấn Độ: người Chăm.
Có sự nghi ngờ sâu sắc về việc làm sao xác định được những người Mã Lai đã đến định cư ở Đông Dương vào thời nào.

Người Mã Lai. ©Ảnh từ bản gốc tiếng Pháp
Họ đến sinh sống trước hay sau cuộc xâm lấn của chủng da vàng (Mongol)? Có phải họ đến từ Java như giả định của đa số tác giả, hay ngược lại, từ lục địa như quan điểm của Bác sĩ Harmand, tác giả C. Buck, Bác sĩ Bordier và một số người viễn du khác? Giải quyết một vấn đề như vậy nằm ngoài phạm vi của nghiên cứu này. Trong tình trạng kiến thức hiện tại của chúng tôi, đưa ra câu trả lời cho những vấn đề khác nhau này là rất mạo hiểm.
Tuy nhiên, chắc chắn là trong những thế kỷ đầu tiên của kỷ nguyên chúng ta, (một phần) lãnh thổ hiện được gọi tên An Nam là trung tâm của vương quốc Mã Lai Champa[66], hình thành vào thế kỷ IX, từng là bá chủ trên bán đảo. Trong gần 1.200 năm, người An Nam và người Chăm đấu tranh và xung đột, luân phiên thu về chiến thắng và bại trận, kết cuộc là dân tộc Chăm bị đánh bại hoàn toàn. Các đại diện cuối cùng của nó nằm rải rác ở vài thung lũng nhỏ của An Nam và Campuchia, tính đến thời điểm đầu thế kỷ XX này thì có khoảng bốn mươi hoặc năm mươi ngàn người.
Dường như trong suốt cuộc tiếp xúc dài lâu này, hai chủng tộc đã cùng hòa nhập sâu đậm; thật vậy, sự hợp nhất dường như là lời giải thích hợp lý duy nhất có thể được đưa ra cho sự biến mất gần như hoàn toàn của dân tộc Chăm[67].
Chúng tôi ghi nhận một cách chắc chắn nơi người An Nam những nét rõ ràng của việc lai với nhóm dân cư Mã Lai, nhưng sự lai tạo này không có một ảnh hưởng quyết định chiếu theo quan điểm nhân học, như chúng tôi sẽ chỉ ra.
Người Mã Lai có làn da nâu, đôi khi sậm màu, đôi khi ngả sang màu đỏ hồng hào; tóc đen, tương đối mỏng; trán thấp, mắt to, lông mày cong và đậm; môi mỏng, mũi hơi tẹt, nhưng không lớn và bẹt ở phần hướng về chóp mũi như người An Nam. Dễ kích động, có cơ bắp, dẻo dai, thường là gầy, họ có dáng vẻ lực lưỡng hơn người An Nam vốn có chân tay mảnh khảnh. Nói chung họ cao lớn hơn người An Nam; chiều cao đôi khi đạt tới lm70. Tay chân và cổ tay cổ chân của họ rất khỏe; ngón chân cái tách ra khỏi các ngón chân khác, dấu hiệu rất đặc trưng của chủng tộc Mã Lai, được nhận thấy ở nhiều cá nhân thuộc chủng tộc An Nam.
Như đã nói, chúng ta có thể giả định rằng người Chăm, hay người Mã Lai xưa ở phía đông Đông Dương, không có nhiều sự pha trộn với người dân An Nam. Trên thực tế, tình cảm hận thù truyền kiếp đã chia cắt hai quốc gia không cho phép một sự hợp nhất hoàn toàn[68]. Chỉ trong những thời kỳ hòa bình tương đối ngắn, sự hòa nhập lẫn nhau có thể xảy ra. Người An Nam cũng chỉ vay mượn từ chủng tộc Mã Lai một ít tính cách đặc biệt. Chủ yếu họ có màu da tối hơn một chút, khác biệt với người miền Nam Trung Hoa. Người ta cũng thường gặp, nhưng không phải phổ biến, như thường muốn nói, ngón chân cái choãi ra, hơi cách với các ngón còn lại. Tuy nhiên, nếu đặc điểm sinh lý này không được duy trì rõ ràng đến hôm nay trong tất cả hậu duệ người Mã Lai ở An Nam, thì ít nhất cấu trúc bàn chân này nhìn chung, tại một thời điểm nhất định, kể cả ở người An Nam, không có ngoại lệ, biểu hiện ở thói quen nắm một số vật bằng chân, và hệ quả tất yếu là đặc điểm giải phẫu như đã chỉ ra ở trên.
Trên hết, cái mà chủng tộc An Nam có được từ dòng máu Mã Lai, dẫu yếu, đó là khả năng thích nghi cao hơn ở vùng nhiệt đới. Thực tế, cần lưu ý rằng môi trường sống bình thường của chủng tộc da vàng là trung tâm châu Á, nghĩa là vùng ôn đới, thường rất lạnh, có khí hậu trái ngược với An Nam và Hạ Đàng Trong. Đúng là, người da vàng là minh chứng cho những phẩm chất thích nghi tuyệt vời ở mọi loại điều kiện khí hậu; nhưng người An Nam, lần này, đặc biệt lâm vào hoàn cảnh rất tệ. Họ có thể đã không kháng cự nổi nếu không gặp người Mã Lai trên cuộc hành trình.