Tâm Lý Dân Tộc An Nam

Lượt đọc: 77 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương I
tiến hóa lịch sử

❊ ❊ ❊

Nếu người ta muốn phán xét dân tộc An Nam chỉ qua lịch sử của họ, theo như trong biên niên sử, một truyện kể đơn giản gồm các sự kiện nổi bật của mỗi triều đại, kèm theo những liệt kê khô khan các sự kiện biệt lập liên quan đến các hành vi thay vì đời sống của quốc gia, thì người ta sẽ đi đến lầm lẫn một cách tréo ngoe. Đối với một người nghe chưa hề hay biết gì, bức tranh về những cuộc đấu tranh nội bộ, các cuộc chiến tranh tàn khốc và bất tận khuấy đảo An Nam từ gốc rễ xa xôi nhất gợi lên ý tưởng rằng họ là một dân tộc hiếu chiến, dễ nổi giận, đói khát độc lập, ham muốn chinh phục.

Truyền thuyết thuật rằng vào lúc khởi thủy, những phân tranh giữa các bộ lạc hoặc các tiểu vương quốc đã thúc đẩy tạo nên quốc gia Giao Chỉ. Chính sự phân tranh giữa tộc trưởng của hai tộc Ba Thục và Văn Lang, mà kết quả là Văn Lang thất bại, đưa đến sự hợp nhất của hai nhóm dưới tên chung là Âu Lạc, và như vậy làm cho An Nam bước đầu thống nhất.

Năm 232 TCN, cuộc xâm lược đầu tiên của Trung Hoa; triều đại của Triệu Đà, vị tướng chiến thắng; các thủ lãnh quân sự An Nam cố gắng nổi dậy, nhưng những nỗ lực của họ vô hiệu vì không biết cách đối địch kẻ thù. Toàn bộ vùng lãnh thổ của người Giao Chỉ bị cai trị và trở thành các quận của Trung Hoa.

Vào năm 40, cuộc nổi dậy của Trưng Trắc bị đàn áp nặng nề. Năm 544[108], người An Nam giành lại độc lập, nhưng các cuộc phân tranh nội bộ ngay lập tức xảy ra sau đó, nội chiến nổ ra, theo hướng có lợi cho Trung Hoa tái lập sự thống trị (602).

Năm 687[109] và năm 722[110], hàng loạt cuộc nổi dậy chống Trung Hoa tiếp tục nổ ra xen kẽ những cuộc chiến đẫm máu chống hải tặc Champa (399-420). Cuối cùng vào năm 968[111], các thủ lĩnh bản địa, lợi dụng những rối loạn xáo động ở Trung Hoa, đã giành lấy quyền lực thực sự. Nhưng với sự độc lập này, An Nam vẫn chưa yên bình trở lại được. Cha Viện phụ Launay đã viết[112]: “Khi đó vương quốc xảy ra cảnh tượng đau buồn, như một thân thể hoang tàn; có lẽ, do những phân tranh nội bộ, đất nước sẽ trở lại dưới sự thống trị của Trung Hoa, nếu một người[113], với tài chính trị khéo léo đồng thời là chiến binh dũng cảm không thành công trong việc chiếm lấy ngai vàng và lập nên triều đại An Nam đầu tiên của thời hiện đại.”

Đến cuối thế kỷ X, quân đội Trung Hoa lại xâm chiếm An Nam và bị vị vua mới đẩy lùi[114]; người này, mặt khác, trong mười lăm năm liên tiếp, lo việc chinh phục các địa phương khác nhau, nổi dậy dưới quyển các thủ lãnh đầy tham vọng.

Lợi dụng những rối loạn nội bộ này, Champa đến cướp phá bờ biển An Nam; cuộc chiến mới (1030-1046) kết thúc bằng sự thất bại của Champa. Hai năm sau, một cuộc viễn chinh cần thiết được thực hiện đánh lại Ai Lao, một xứ sở nổi dậy chống lại chính quyền của các vị vua An Nam. Ai Lao bị cai trị. Năm 1060, lại nổ ra chiến tranh với Champa, kết cuộc Champa nhượng lại An Nam ba tỉnh[115].

Tuy nhiên, Trung Hoa không từ bỏ việc thu phục lại chư hầu cũ; vào cuối thế kỷ XI[116], họ gửi đi một đội quân và bị đẩy lui lần thứ nhất; Hoàng đế Trung Hoa bấy giờ quyết định liên minh với người Champa và Campuchia, nhưng bất chấp liên minh đáng gờm này, An Nam vẫn chiến thắng.

Kế đó là một thế kỷ yên bình và thịnh vượng, chỉ gặp rắc rối bởi hai cuộc viễn chinh nhưng đều thành công, một là chống lại quân Trung Hoa xâm nhập và tàn phá một phần biên giới An Nam, hai là chống hải tặc Champa.

Vào giữa thế kỷ XIII, làn sóng xâm lược kinh hoàng của người Mông Cổ đã tấn công các thành trì An Nam nhiều lần. Hốt Tất Liệt hung bạo chỉ rút lui sau ba thất bại liên tiếp[117].

Những cuộc chiến tranh đẫm máu này làm cạn kiệt vương quốc, và, bên cạnh những nguy cơ bên ngoài, cũng cần phải đàn áp sự bất hòa liên tục trong chính nội bộ: chiến tranh với Ai Lao, những nổi loạn mang tính địa phương, vào năm 1290; năm 1296, một cuộc chiến tương tự cũng tại địa phương đó; năm 1341, năm 1346, các cuộc chinh phạt với cùng mục tiêu. Chưa kể, vào năm 1337 còn phải trừng phạt Mọi Ngưu háu[118]- kẻ đã từ chối cống nạp và tiến hành xâm lấn các vùng biên giới.

Tuy nhiên Champa không chịu yên; năm 1350, họ tiến hành cuộc chiến đánh lại người An Nam và bị đẩy lùi; nhưng, vào năm 1375, quân đội Champa làm cho người An Nam chịu một thất bại đẫm máu. Cuộc chiến dai dẳng giữa hai vương quốc bị gián đoạn một thời gian vì các binh lính đều kiệt quệ, rồi tiếp tục lại vài năm sau đó; sau khi chịu những thất bại tiêu hao, người An Nam vẫn ấn định chiến thắng chung cuộc (1390).

Năm 1405, một cuộc viễn chinh khác đánh Champa được thực hiện, nhưng kém may mắn hơn. Người Champa yêu cầu giúp đỡ từ phía Trung Hoa, và lần này liên minh chiếm thế thượng phong. An Nam lại rên xiết dưới sự cai trị Trung Hoa (1407). Song tình thế này không kéo dài. Năm 1427, người An Nam giành lại độc lập một lần sau chót (trước thế lực phương Bắc).

Nhưng hòa bình, cuối cùng có được, chỉ là bên ngoài. Bên trong, luôn phải đàn áp một số cuộc nổi dậy của các bộ lạc chư hầu; năm 1439, cuộc viễn chinh đánh Phục Lễ Châu; năm 1440, đánh Hà Tông Lai; năm 1441, đánh Thuận Mỗi Châu; sau đó, đánh Ai Lao (được ghi nhận là ba lần), và Lão Qua, một tiểu vương quốc ở phía bắc Bắc kỳ[119].

Sự nhu nhược của các vị vua tạo thuận lợi cho tham vọng của những người ngấp nghé ngôi vua. Trong khi đó chế độ quân chủ chuyên chế bạo ngược trở thành cái cớ cho các cuộc nổi dậy quần chúng, khủng khiếp nhất là những năm 1511 và 1516 và cứ thế dẫn đến sự suy tàn của nhà Lê. Đến năm 1527, một cuộc chính biến nữa đã đưa đến việc một người họ Mạc[120] tiếm quyền.

Từ đó trở đi, lịch sử An Nam bắt đầu một thời kỳ đen tối mà câu chuyện về các cuộc nội chiến hay ngoại bang xen vào không nhiều hơn so với những cuộc báo thù cá nhân và những âm mưu nội chính.

Năm 1531, cuộc nổi dậy đầu tiên của những người phò Lê (chống nhà Mạc); từ 1540 đến 1546, chiến tranh lại tiếp tục giữa họ Lê, ở phía nam và Mạc, ở phía bắc. Năm 1551, phe nhà Lê chiếm Bắc kỳ và cuộc chiến vẫn tiếp tục không hề bị gián đoạn gì cho đến năm 1561, bất chấp những thay đổi chủ quyền. Những người phò Lê chiến thắng: cuộc nội chiến tiếp tục trong chí ít hai mươi bảy năm sau đó, kết thúc vào năm 1593 với sự phục hồi chung cuộc của nhà Lê. Một cuộc viễn chinh cuối cùng nhưng cần thiết vào năm 1596 chống lại nhà Mạc; sau đó là gần một thế kỷ không chiến tranh[121]; để rồi sau hàng loạt xung đột, vào năm 1677 phe họ Mạc chính thức thất bại, tuy vậy tàn dư và những nỗ lực chống trả của họ còn kéo dài đến năm 1692, nhưng mọi nỗ lực đó đều vô hiệu. Như vậy là, cuộc nổi dậy và thời cát cứ của nhà Mạc, tổng cộng, kéo dài hơn một trăm năm mươi năm.

Tuy nhiên, vẫn còn những cuộc kình địch khác, với những tham vọng khác không được thỏa mãn, gây ra những rối loạn mới. Nếu nói rằng tính đến lúc này, các vị vua đã không còn thực sự tự mình cai trị vương quốc nữa, thì đó là sự thật; dưới trào nhà Lê về sau này đã hình thành một thiết chế mới. Đó là Vua không còn cai trị nữa mà chỉ ngồi trên ngai; thế sự tập trung trong tay của một nhân vật đứng đầu triều đình, Chúa. Họ Nguyễn, tổng trấn các tỉnh miền Nam An Nam (tương ứng vùng Đàng Trong), tạo nên thế độc lập bằng cách hình thành nên một loại công quốc. Chỉ thuộc quyền Vua chứ không theo Chúa (là họ Trịnh), họ Nguyễn kích động sự thù nghịch từ phía họ Trịnh, vốn đã không bằng lòng khi thấy những kẻ được phong hầu lớn này thoát khỏi quyền lực của mình. Các cuộc chiến tranh nhuốm máu vương quốc trong suốt hai thế kỷ (1600-1802) chỉ kết thúc vào ngày họ Nguyễn giành chiến thắng chung cuộc, cùng lúc dẹp được thế lực của Trịnh và Lê.

Chúng ta đang ở ngưỡng cửa của lịch sử đương đại; bây giờ thì xin có thể kể chi tiết hơn về một loạt cuộc chiến tranh như cuộc chiến chống Xiêm, những cuộc nổi dậy khủng khiếp như cuộc nổi dậy của Tây Sơn, những cuộc chinh phạt nổi tiếng như cuộc chinh phạt các tỉnh Campuchia. Tuy nhiên, khái luận lịch sử ngắn vừa đưa ra là đủ minh họa cho điều chúng ta đang theo đuổi ở đây.

Nhất thiết phải dựa vào chuỗi vận động đầy ắp sự kiện và chi tiết mà lịch sử hé lộ - về cuộc sống đầy biến cố, bạo lực và tàn ác này - thì mới có thể kết luận về tính cách dễ kích động, bản năng hiếu chiến của dân tộc An Nam[122].

Người An Nam có tinh thần chiến đấu không hơn người Trung Hoa; họ yêu hòa bình một cách tự nhiên, đôi khi đến mức nhút nhát. Phải quăng họ vào các cuộc chiến triền miên để gây nên âm hưởng vào quá khứ của họ, một sự kết hợp lạ lùng và mạnh mẽ của hoàn cảnh độc lập với ý muốn của họ.

Qua những tính cách di truyền và nhờ vào sự giàu có tự nhiên của đất đai xứ sở, người An Nam được chọn, giống như người Trung Hoa, để làm nên một dân tộc nông nghiệp yêu chuộng hòa bình. Tuy nhiên, lịch sử không cho phép họ đi theo mẫu hình Trung Hoa.

Đế quốc Trung tâm, trên thực tế, ngược lại với An Nam, hưởng được một sự yên bình tương đối. Đã tách rời với phần còn lại của châu Á bởi các biên giới tự nhiên, hơn nữa họ còn tạo được các loại biên giới mới, một vành đai “các quốc gia đệm” ngăn chặn các cuộc xâm lược và xâm nhập vào trung tâm đất nước. Khi đó, An Nam, phải triều cống cho Trung Hoa khi không còn trực tiếp bị cai trị, chính xác cấu thành nên một trong những quốc gia đệm này. Họ đóng vai một cách chu đáo. Theo bản chất, họ chấp nhận một cuộc sống sóng gió trái ngược với thói quen hòa bình của mình.

Mặt khác, những định mệnh địa lý đã đẩy họ vào con đường mà chỉ xét riêng tính cách thì không bao giờ họ chịu tham gia.

An Nam, hoặc những gì trước đây được hiểu bởi từ ngữ này: Nam kỳ, Bắc kỳ và An Nam, tạo thành một bộ phận địa lý xác định; giới hạn tự nhiên của nó là núi và biển.

Dãy núi là bộ xương khổng lồ của khu vực rộng lớn này, cái khung mạnh mẽ trong sự hợp nhất và hỗ trợ của các bộ phận khác nhau, đó là lý do tồn tại thiết chế của họ. Dãy Trường Sơn được so sánh với một chữ s khổng lổ, vòng trên khép kín Bắc kỳ và vòng phía dưới phong tỏa Nam kỳ, chi phối toàn bộ thủy chế địa lý của Đông Dương thuộc Pháp. Ở phía bắc, mềm mại xuôi xuống để ra biển, là con sông Hồng vĩ đại mang phù sa dần dần lấp đầy những vùng trũng mà nó đi qua. Ở phía nam, (dãy Trường Sơn) khai sinh ra sông Đồng Nai, giao qua sông Mê Kông hùng vĩ, và rồi làm đầy hạ lưu của nó phần nước chứa đầy phù sa. Ở khu vực trung tâm, những con dốc đứng, bao phủ bởi rừng rậm, khiến cho thế nước trút thành thác và đổ nhanh theo hướng ra biển, nhưng lại hiếm khi ra được vì dòng nước bị những cồn cát chặn lại và làm hình thành nên vô số đầm phá rộng mênh mông.

Như vậy, xứ sở được cấu thành từ sự xuất hiện của hai đồng bằng rộng lớn, ẩm thấp và màu mỡ, nối kết nhau bằng một “hành lang” dài, hẹp và hiểm trở.

Chính tại đồng bằng Bắc kỳ, chủng tộc An Nam đã phát triển. Không gian nhanh chóng trở nên chật chội vì dân cư ngày càng chen chúc nhau, tràn kín vùng đất và đòi hỏi phải tìm lối thoát. Chỉ có hai cửa đột phá mở ra trên bức tường thành khủng khiếp vây chặt Bắc kỳ: thứ nhất, phía Trung Hoa; phía khác, xuống phía nam: hành lang. Trung Hoa quá mạnh để nghĩ đến việc xâm lấn, lối phía nam là cách cứu rỗi duy nhất, giải pháp độc nhất cho phép thoát khỏi tình trạng bóp nghẹt này. Đó là căn nguyên dẫn các cuộc chiến trứ danh với Champa.

Hai dân tộc gặp nhau trên dải đất hẹp mà thủy triều biển đánh vào dưới chân dãy núi Đông Dương, tất nhiên sẽ tham gia cuộc chiến, nếu một trong hai cảm thấy, tại một thời điểm nhất định, cần phải mở rộng; và, ngay vì lý do chật hẹp của vùng lãnh thổ tranh chấp, cuộc chiến chỉ có thể kết thúc bằng sự hủy diệt dứt khoát của quốc gia yếu hơn, chứ không phải bởi một thỏa thuận hay phân chia hòa bình. Người An Nam chiếm thế thượng phong, hoàn toàn chiến thắng đến nỗi giờ chỉ còn lại một ít phế tích của vương quốc Champa.

Dòng người cuộn chảy, bằng cách nào đó bị chặn giữa biển cả khắc nghiệt và dãy núi hiểm trở, kinh khủng, quyến rũ, trập trùng. Bị giam cầm trong không gian sống chật hẹp, không thể tự do hiện thực hóa tiềm năng bành trướng của mình, dân tộc An Nam phải dấn vào bạo lực nhiều hơn - biểu hiện nghị lực của kẻ tuyệt vọng - theo cách duy nhất có thể. Đó là vấn đề sống hay chết đối với họ. Mặt khác, Champa không thể cứ thế lui dần biên giới của mình mà không tự đi đến diệt vong.

Từ đây, ta hiểu rằng một cuộc chiến có động lực khởi từ mối quan tâm nguyên thủy - sự tồn tại - hiện hình với đúng nỗi cay đắng mà lịch sử tiết lộ cho chúng ta; mỗi khoảnh khắc yếu đi nơi một trong hai đối thủ là cơ hội được kẻ còn lại lập tức lợi dụng.

Những cuộc chiến như vậy không nhất thiết mang ngầm ý rằng những dân tộc tham chiến có tính cách thiết yếu dũng mãnh và nóng nảy. Nói đúng ra, nghị lực của kẻ tuyệt vọng không hẳn là nghị lực thực sự. Thực tế, người An Nam để mình bị dẫn dắt bởi sự thúc đẩy nội tại của định mệnh; vai trò của họ hầu như mang tính bị động. Trong các cuộc chiến tranh với Champa, họ hầu như chỉ có ý định tự vệ; hiếm khi chủ động tấn công.

Image

Cuộc sống trên đồng - giã gạo, xay lúa. © P. Dieuletils

Image

Thuyền tam bản trên một con kênh ở Sài Gòn, Nam kỳ. © Émile Gsell, ảnh chụp năm 1888

Tương tự, qua vạn thăng trầm tồn tại, nếu có thể bảo tồn đến một mức độ nhất định bản sắc, ngôn ngữ, phong tục và tập quán của mình sao cho được gần như nguyên vẹn, thì đó không phải là nhờ năng lực tự nhiên của chủng tộc mà họ phải có; đó chẳng qua là sự tuân phục thụ động theo những ảnh hưởng bên ngoài.

Nếu bức tường của dãy Trường Sơn không được dựng lên, giống như một rào cản không thể xuyên thủng, giữa họ với cư dân Aryan ở Ấn Độ, những người trấn phục trên phần còn lại bên cạnh bán đảo Đông Dương, điều gì sẽ xảy ra với chủng tộc và nền văn minh của họ?

Và chính nền văn minh này, ai nắm giữ phần lớn? Nếu không phải từ Trung Hoa, mà họ còn mang nợ đến cả chính sự hiện hữu của mình. Thực sự, có thể họ đã chống lại những người Chăm đáng gờm nếu họ không buộc phải tổ chức bản thân sao cho mạnh mẽ trước những kẻ xâm lược phương Bắc?

Các cuộc chiến tranh với bên ngoài đã khiến người An Nam phải chịu đựng nhiều hơn ý muốn. Những cuộc chinh phục, họ không thực hiện vi mục đích vinh quang vô ích, mà chỉ được thúc đẩy bởi họ thấy cần thiết, bởi nhu cầu sống. Dưới những ảnh hưởng khác, các cuộc xâm lược của họ về cơ bản diễn ra một cách hòa bình, vì ngày nay vẫn còn sự chiếm đóng tiếp tục trên các xứ dân tộc thiểu số[123].

Các cuộc nội chiến, những vần xoay qua các triều đại bộc lộ sự suy thoái quyền lực, các cuộc biến động giết hại lẫn nhau mô phỏng cuộc sống, khi đó chúng là dấu hiệu chắc chắn của một cái chết cận kề; khác xa với việc khẳng định sức sống mạnh mẽ của tổ chức, chúng là triệu chứng của sự phân rã, giải thể.

Lịch sử của dân tộc An Nam về bản chất là sự thể hiện bản sắc dân tộc. Chúng ta luôn tìm thấy cùng một sự thụ động, một ý chí bùng nổ và thiếu ổn định, nhưng cũng có cùng sức chịu đựng, và đôi khi thêm vào đó cái chủ nghĩa anh hùng. Các cuộc nổi dậy chống lại sự thống trị của ngoại bang, chỉ với lý do ách sách nhiễu và khắc nghiệt của các tổng trấn Trung Hoa, là biểu hiện của sự tức giận bột phát và bạo động, không phải khởi từ ý chí lạnh lùng và nỗ lực tỉ mỉ, kiên trì. Quá nhiều mưu toan thất bại để có được một thành công!

Về việc này, ở đây tôi muốn phá vỡ huyền thoại phổ biến về sự tồn tại của chủ nghĩa yêu nước An Nam.

Ở An Nam, tình huynh đệ, nảy nở dưới ảnh hưởng xã hội của thị tộc, hiếm khi lan rộng đến một phạm vi lớn hơn phạm vi làng xã; người An Nam, nói cách riêng, không có ý tưởng về tổ quốc, về tình đoàn kết dân tộc.

Trên tất cả, họ hận thù sâu sắc với người nước ngoài có thể lấy đi tín ngưỡng, phong tục và thiết chế của họ. Cho dù là người Trung Hoa hay người Âu châu xâm chiếm đẩt nước của họ, thì chịu sự chỉ huy nhân danh một chủ tể nào đó cũng được, đều không quan trọng, miễn là tôn giáo, luật pháp và thói quen của họ được tôn trọng.

Là một dân tộc nông nghiệp, họ dành thời gian cho đất đai; sống trong nghèo nàn, làm ra bao nhiêu, một cách khó nhọc, đều được tiêu thụ toàn bộ; họ cũng không quan tâm đến các vấn đề của nhà nước, miễn là nó cho phép họ kiếm sống, thờ cúng tổ tiên, yên bình tổ chức các lễ hội tôn giáo.

Những rối loạn nội bộ từ lâu đã khuấy động vương quốc, nhưng hoàn toàn không làm nó cạn kiệt, gợi thấy sự thờ ơ lãnh đạm của người dân xứ này, những khán giả bình thản trước các cuộc tranh giành mà chỉ các quan lại tham gia.

Họ cũng bộc lộ ý thức về chủ nghĩa vị kỷ tạo thành nền tảng của bản sắc An Nam. Sự đoàn kết, trong một khoảnh khắc được thực hiện để đánh đuổi ngoại bang, nhanh chóng tan rã ngay sau khi chiến thắng, mỗi nhà lãnh đạo nuôi dưỡng ý nghĩ thầm kín để rút từ sự nghiệp chung lợi ích riêng cho mình. Theo cách tương tự, một tỉnh bị xâm chiếm, toàn bộ quốc gia sẽ không nổi dậy. Nhưng các khuôn phép trái ý y hệt nhau được áp dụng trong cả nước sẽ khơi dậy trong mỗi gia đình, ở mỗi làng xã, có thể ở mỗi tỉnh, những sự phản kháng tương tự, những yêu sách giống nhau, một sự tức giận chung. Một nhiệt huyết chung, họ sẽ không quan tâm. Mỗi nhóm chỉ tham gia ngay khi chính nó bị tấn công.

Ai nói: cộng đồng tình cảm, không nghi ngờ gì cũng sẽ nói: đoàn kết tinh thần. Nhưng liệu sự đoàn kết tinh thần, nhất là khi nó chỉ nằm trong những biểu hiện của một sự ích kỷ đồng lõa, liệu có là đủ để thay thế tình yêu đất nước?


Nguồn: TVE 4U
Được bạn:Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 28 tháng 5 năm 2026

« Lùi
Tiến »