Khương Ly nóng lòng chờ tin của Ninh Quắc, song mấy ngày liền vẫn chẳng thấy động tĩnh.
Mãi đến hoàng hôn ngày mười tám tháng năm, chưa đợi được tin từ Ninh Quắc, nàng lại đón được Giản Tư Cần.
Tháng chín chính là thời điểm thu khoa năm nay, Giản Tư Cần dạo gần đây đóng cửa đọc sách, đã mấy ngày chưa ghé Tiết phủ. Việc hắn hôm nay đột nhiên đến khiến Khương Ly có phần kinh ngạc.
Sau khi mời hắn đến Doanh Nguyệt Lâu, vừa gặp mặt, Giản Tư Cần đã vội nói:
“Muội muội, mau chuẩn bị đi, ta đã đặt chỗ ở Tiên Lâu rồi, hôm nay chúng ta đi xem chọn hoa khôi! Ta đã gửi thiệp mời đến phủ của Ngu cô nương và Phó cô nương, cùng nhau náo nhiệt một phen. Vui xong mấy ngày này, sang tháng sáu ta sẽ đóng cửa chuyên tâm đọc sách, chẳng còn ra ngoài nữa đâu.”
Ngoài cửa sổ, ánh chiều loang đỏ chân trời, hơi nóng giữa hè đang dần tản đi. Khương Ly vốn cũng rảnh rỗi, bèn thuận ý đáp lời.
Khi ra khỏi phủ lên xe ngựa, Giản Tư Cần nói:
“Ta bị nhốt trong phủ lâu ngày sắp mốc rồi! Khi Túc vương gặp chuyện, mẫu thân không cho ta ra ngoài. Nghe nói dạo này trong triều ngoài triều gió mưa chập chờn, ngay cả bệ hạ cũng ngã bệnh?”
Khương Ly đáp:
“Bệ hạ vẫn là bệnh cũ, hai ngày nay chưa truyền ta nhập cung, ta cũng không rõ tường tận.”
Nói đến đây, nàng chợt nhớ lời Tề Khiêm, bèn hỏi:
“Phía nam thành có phải có một tòa Thiên Hương Lâu không?”
Giản Tư Cần ngạc nhiên:
“Sao muội biết? Quả thật có một Thiên Hương Lâu, địa vị dưới Đăng Tiên Cực Lạc Lâu, cùng với Túy Hoan Lâu đều không khác mấy. Muội còn nhớ bảng cài hoa không? Nay chỉ còn mười người, trong đó có một cô nương tên Thầm Chu, chính là người được chọn từ Thiên Hương Lâu đó.”
Khương Ly đã hiểu đại khái, chỉ khẽ nói:
“Nghe người khác nhắc qua.”
Giản Tư Cần đặt thiệp sớm, nên khi họ tới ngoài Đăng Tiên Cực Lạc Lâu, Ngu Tử Đồng và tỷ đệ Phó Vân Từ đã đến trước. Tỷ đệ Phó gia vẫn như thường, chỉ có Ngu Tử Đồng thần sắc nặng nề, mang vẻ muộn phiền.
Đêm mới buông, Đăng Tiên Cực Lạc Lâu đèn hoa rực rỡ, lầu các huyền ảo tựa tiên cảnh. Giữa tiếng tỳ bà sáo trúc ngân nga, mấy người bước vào đại sảnh tầng một. Khi ngẩng đầu nhìn lên lầu đèn cài hoa cao năm trượng, quả nhiên chỉ còn mười vị đứng trên bảng. Ánh mắt Khương Ly quét qua, người đứng đầu vẫn là Tuyết nương, còn cô nương Thầm Chu mà Giản Tư Cần nhắc đến đứng thứ sáu.
Giản Tư Cần nói:
“Năm nay, hoa khôi chắc chắn vẫn là Tuyết nương, đi thôi, lát nữa nàng ta sẽ ra gảy đàn, chúng ta lên lầu trên ngồi đi.”
Phó Vân Từ hỏi:
“Tuyết nương giỏi đàn sao?”
Giản Tư Cần cười:
“Nghe nói cầm kỳ thư họa không gì không thông, múa lại càng tuyệt kỹ.”
Phó Vân Hành cũng gật đầu:
“Gần đây nha môn bận túi bụi, thế mà cả ta cũng nghe tiếng nàng ta.”
Cả nhóm theo cầu thang lên nhã gian tầng hai. Vừa bước lên hành lang, chợt từ khúc ngoặt phía trước có mấy trung niên nam tử áo gấm đi ra, họ rẽ thẳng vào gian số Thiên tự Nhất hiệu.
Giản Tư Cần nhìn thấy, khẽ tặc lưỡi:
“Ngay cả Tô nhị gia cũng đến kìa!”
Phó Vân Hành vươn cổ ngó:
“Vị nào là Tô nhị gia?”
Giản Tư Cần chỉ người đàn ông gầy trong áo lam gấm Thục nói:
“Chính là kẻ gầy nhất kia.”
Mọi người nhìn theo, thấy người kia quả thật không phải gầy bình thường, mà là kiểu gầy bệnh, da bọc xương, trông đến thê lương.
“Đó là Tô nhị gia? Sao lại ra nông nỗi ấy?”
Phó Vân Hành kinh ngạc, Giản Tư Cần vội kéo hắn:
“Vào phòng rồi nói!”
Vào nhã gian an tọa, sau khi tiểu nhị dâng trà điểm tâm lui xuống, Giản Tư Cần mới nói:
“Vị Tô nhị gia ấy là gia chủ đời này của Quảng Lăng Tô thị. Trên hắn vốn có một huynh trưởng đã mất sớm. Nghe nói hơn mười năm trước hắn từng mắc trọng bệnh, sau chẳng biết vì sao lại khỏi, sống đến giờ. Chỉ là thân thể yếu, phải thường xuyên dùng thuốc, ăn uống kiêng kị đủ đường, nên mới ra dáng gầy gò như vậy.”
Khương Ly bưng chén trà, chậm rãi hỏi:
“Hắn từng mắc tâm tật sao?”
Giản Tư Cần hơi sửng sốt:
“Muội muội sao đoán được?”
Khương Ly mỉm cười:
“Ta thấy trán hắn nếp nhăn dày, sắc diện lại ửng đỏ, mí mắt khác người thường, nên đoán vậy thôi.”
Giản Tư Cần lắc đầu:
“Ta thật không biết hắn mắc bệnh gì, chỉ nghe thiên hạ đồn đãi. Dù sao Đăng Tiên Cực Lạc Lâu và Quảng Lăng Tô thị thanh danh đều lớn, lời bàn ra tán vào chẳng thiếu. Mà này, Ngu cô nương, sao nàng lại buồn bã thế?”
Nói nãy giờ, chỉ thấy Ngu Tử Đồng cúi đầu không nói, ai cũng nhận ra nàng chẳng mấy vui.
Giản Tư Cần vừa hỏi, nàng mới gượng cười đáp:
“Không có gì đâu.”
Phó Vân Từ khẽ vỗ tay nàng, nói thẳng:
“Chuyện của Túc vương có liên quan đến án cũ của hoàng thái tôn. Chúng ta vốn nghĩ Túc vương bị tra xét, án cũ của Quảng An bá phủ sẽ được lật lại minh oan. Nào ngờ tội của Túc vương là tội của Túc vương, còn tội của Quảng An bá vẫn chẳng giảm được mảy may. Nàng vì việc này mà buồn lòng.”
Khương Ly nghe vậy khẽ thở dài, an ủi:
“Chưa đến lúc cuối cùng, mọi sự vẫn còn chuyển vần. Đại Lý Tự và Hình bộ còn đang thu thập hồ sơ. Khi Hoài An quận vương gặp chuyện, cũng có một vị thái y bị oan uổng. Mười ba năm trôi qua, nay cuối cùng cũng sắp được rửa sạch rồi.”
Người mà Khương Ly nhắc đến chính là Minh Túc Thanh. Bao năm qua, Minh Huệ vẫn chờ đợi chân tướng được phơi bày. Tấu chiết xin tuyên xóa oan cho Minh Túc Thanh đã được Cảnh Đức đế chuẩn tấu, chẳng bao lâu nữa, oan khuất của ông sẽ được giải.
Ngu Tử Đồng khẽ lắc đầu:
“Thật chẳng dễ dàng. Nhiều luận thuyết y đạo chẳng có bằng cứ, đợi quan lại tra xét thì mịt mờ khó định. Bạch Kính Chi cũng là bị bức đến đường cùng mới liều mạng. Ai, ta hối hận vì không theo đường y thuật với đường đường cô cô, nếu ta hiểu được những lối vòng vo trong nghề, giờ đây cũng có thể lên tiếng.”
Phó Vân Từ khuyên:
“Đã mấy năm rồi, chẳng gấp ở mấy ngày nay. Hơn nữa còn có A Linh giúp đỡ, nếu có tin tức gì, nàng ấy ắt sẽ nói. Bùi thế tử cũng đâu thể làm ngơ.”
Nghe lời ấy, Giản Tư Cần và Phó Vân Hành cũng phụ họa an ủi, khiến Ngu Tử Đồng vốn chẳng phải người đa sầu đa cảm, chỉ chốc lát đã mỉm cười trở lại.
Lúc này, Phó Vân Hành cảm khái nói:
“Năm nay Trường An quả thật chẳng yên, mấy ngày gần đây Kim Ngô Vệ án vụ chồng chất. Đợi mà xem, ta cứ có linh cảm năm nay còn xảy ra chuyện lớn nữa.”
Ngu Tử Đồng khẽ động tâm:
“Kim Ngô Vệ có án gì thế? Chẳng phải lại bắt người của Thương Lang Các đấy chứ?”
Ngu Tử Đồng vẫn canh cánh trong lòng chuyện của Thẩm Độ, nhất là sau lần gặp thoáng qua ở núi Minh Hoa, nàng vẫn âm thầm dò la tung tích của hắn.
Phó Vân Hành xua tay:
“Bắt tà đạo là việc của Củng Vệ ty, không dính đến chỗ ta. Chỉ là tháng trước có hai đứa trẻ mất tích, phụ mẫu chúng báo quan, báo đến cả nha môn Kinh Kỳ. Kinh Kỳ nhân thủ thiếu, bèn nhờ chúng ta hỗ trợ. Đúng lúc ta rảnh vụ, nên án ấy giao cho ta. Suốt tháng nay ta chạy ngoài đường, người cũng đen đi một vòng rồi.”
Ngu Tử Đồng hoảng hốt:
“Là bọn buôn người bắt đi sao?”
Phó Vân Hành thở dài:
“Án đến tay ta, tra đã hơn nửa tháng, chắc hẳn đúng là bọn buôn người. Trời thương, hai đứa bé ấy một đứa mắc bệnh về mắt, một đứa bẩm sinh điếc, chẳng biết bọn kia bắt những đứa như thế để làm gì — bán cũng chẳng được giá. Hai đứa đều mới bảy tuổi, lại bệnh tật yếu ớt, muốn chạy trốn cũng chẳng thể.”
Mọi người nghe mà lòng run rẩy. Khương Ly cũng thấy lạ, liền hỏi:
“Sao bọn buôn người lại làm chuyện như thế…”
Lời còn chưa dứt, một khúc đàn thanh linh trong trẻo vang lên. Giản Tư Cần lập tức bật dậy, lao ra hiên:
“Là Tuyết nương! Nàng ta đang gảy khúc ‘Xuân Giang Hoa Nguyệt Khúc’, mau ra nghe đi!”
Từ hiên lầu, có thể trông thấy sân khấu chính giữa — lối bày y như đêm diễn ảo thuật trước. Tuyết nương là người Đăng Tiên Cực Lạc Lâu hết mực lăng xê trong năm nay, khách bình thường không dễ được nghe nàng tấu đàn.
Khương Ly cũng bước ra theo, nàng vốn chẳng tinh thông âm luật, chỉ thấy tiếng đàn uyển chuyển, réo rắt dễ nghe, nhưng chẳng phân biệt được chỗ cao minh. Đứng bên lan can, nàng chỉ nhìn thân ảnh uyển chuyển của Tuyết nương.
Tuyết nương trạc mười bảy mười tám tuổi, vận váy gấm thêu tuyết sắc, tôn lên khí chất thanh lệ thoát tục. Lúc này nàng vẫn che mặt bằng một tấm sa tuyết, nửa ẩn nửa hiện, để lộ ngũ quan thanh tú, cốt tướng đoan nghiêm, từng nét mày môi đều toát lên vẻ huyền hoặc khó lường.
“Sao lại còn che mặt?” Phó Vân Hành kinh ngạc hỏi.
Giản Tư Cần cười đáp:
“Đó là chiêu trò của Tiên Lâu thôi. Khi hoa khôi được chọn ra, người đầu tiên được thấy dung nhan nàng ta chỉ e phải ném ra cả ngàn vàng đấy!”
Phó Vân Hành gãi đầu:
“Nghe thì hay thật, nhưng ta cũng chẳng thấy có gì xuất chúng lắm.”
Trong đám người, chỉ có Giản Tư Cần và Phó Vân Từ là am tường cầm đạo. Giản Tư Cần nghe đến mê mẩn, đang định giảng giải vài câu thì bỗng nghe bên ngoài vang lên một tràng kêu la chói tai——
Mọi người đều giật mình. Phó Vân Hành vội quay người mở cửa, chạy ra nhìn xuống đại sảnh tầng một, liền kinh hãi thốt:
“Sao lại là Củng Vệ ty? Chuyện gì thế này?”
Khương Ly cũng vội theo ra, đứng ở bậc thang tầng hai nhìn xuống. Quả nhiên thấy trong đại sảnh có hơn mười người mặc công phục tiến vào, dẫn đầu chính là Ninh Quắc và Lục Trừng Trạch.
“Ninh công tử! Lục đại nhân! Có chuyện gì vậy?”
Tiếng động quá lớn khiến khách khứa tầng một nhốn nháo, tiếng nhạc cũng im bặt. Chưởng quầy Tô Toàn nghe tin liền vội vàng từ hậu đường bước ra, chắp tay nói:
“Hai vị đại nhân giá lâm mà tiểu nhân không kịp nghênh đón, thật thất lễ. Có gì cứ từ từ nói, sao lại ồn ào thế này?”
Ninh Quắc lạnh giọng:
“Triệu Khải Trung ở đâu?”
Tô Toàn cười gượng:
“Hắn hai ngày nay cáo bệnh nghỉ, không có trong lâu. Hai vị đại nhân, rốt cuộc có chuyện chi vậy?”
Lục Trừng Trạch đưa mắt nhìn quanh tầng tầng lầu các, thản nhiên nói:
“Có vẻ tối nay các ngươi chẳng làm ăn gì được đâu. Người đâu! Lục soát kỹ từng gian một cho ta!”
Sắc mặt Tô Toàn lập tức biến hẳn:
“Ôi chao các đại nhân ơi! Sao lại kinh động lớn thế? Có gì chẳng nói được tử tế sao? Lần trước vụ của Đoạn thế tử, việc buôn bán của chúng tôi đã chịu tổn thất nặng nề, giờ thật chẳng chịu nổi thêm nữa…”
Lục Trừng Trạch cắt lời, lạnh lùng đáp:
“Củng Vệ ty phụng chỉ hành sự, nếu muốn cầu tình, chi bằng ngươi đến trước mặt bệ hạ mà nói!”
Lời vừa dứt, bọn võ vệ của Củng Vệ ty đã theo cầu thang tràn lên tầng hai. Trong lúc ấy, ánh mắt Ninh Quắc quét quanh, vừa chạm vào Khương Ly liền khựng lại, hắn thoáng kinh ngạc, rồi bước nhanh lên.
Giản Tư Cần trố mắt:
“Sao lại rước họa đến Củng Vệ ty nữa? Đăng Tiên Cực Lạc Lâu năm nay đúng là phạm thái tuế rồi!”
Chỉ chốc lát, Ninh Quắc đã lên đến nơi. Hắn nhìn đám người trước mặt, hỏi:
“Các người sao lại ở đây?”
Khương Ly đáp:
“Bọn ta chỉ đến xem chọn hoa khôi thôi. Các người là vì chuyện gì?”
Lục Trừng Trạch cũng theo lên, thấy Khương Ly liền chắp tay:
“Tiết cô nương, trong Đăng Tiên Cực Lạc Lâu e rằng có kẻ dính dáng đến tà đạo. Hôm nay khúc đàn này e chẳng nghe tiếp được nữa. Giờ cũng đã muộn, các vị nên về sớm thì hơn.”
Khương Ly cả kinh:
“Có người liên quan đến tà đạo ư?”
Ninh Quắc liếc Lục Trừng Trạch, hạ thấp giọng nói:
“Còn nhớ Liên Tinh chứ? Nàng ta bảy năm trước vốn là người của Đăng Tiên Cực Lạc Lâu. Lần này chúng ta lần theo dấu vết của nàng, phát hiện nhiều năm qua nàng vẫn qua lại với mấy người cũ của Tiên Lâu. Trước khi chết, kẻ quản sự hiện nay của lâu — một người tên Triệu Khải Trung — còn đến thăm nàng. Hai ngày nay ta điều tra, phát hiện hắn có nhiều hành vi dị thường.”
Lời còn chưa dứt, từ gian Thiên tự Nhất hiệu bên cạnh, Tô nhị gia cùng đám người của hắn cũng bước ra. Chưởng quầy Tô Toàn vừa trấn an khách, vừa vội vã lên lầu bẩm báo.
Nghe xong, Tô nhị gia – tên thật là Tô Tử Thận, tuổi đã ngoài bốn mươi – liền đi đến trước mặt Ninh Quắc và Lục Trừng Trạch, nói:
“Hai vị đại nhân muốn lục soát, chúng ta tự nhiên sẽ phối hợp. Chỉ xin đừng kinh động đến khách quý. Tô Toàn, mau sắp xếp xe ngựa cho các vị khách, ngày khác ta đích thân đến tạ lỗi.”
Khoảng cách gần như vậy, Khương Ly càng thêm xác nhận phán đoán của mình — Tô Tử Thận quả thực mang tật nơi tâm mạch, sắc diện cùng khí huyết đều chẳng bình thường.
Thấy Tô nhị gia thái độ hòa hoãn, Ninh Quắc và Lục Trừng Trạch cũng thu liễm giận dữ. Tô nhị gia dặn lại Tô Toàn lo liệu, rồi quay sang mời mấy vị khách trong nhã gian đi theo cầu thang phía tây mà lui ra sau viện.
Vài người họ vừa mới rời khỏi, chợt từ tầng ba trên cao vang lên hai tiếng quát khẽ, kế đó là tiếng binh khí va chạm loảng xoảng!
Sắc mặt Ninh Quắc và Lục Trừng Trạch đồng thời biến đổi, lập tức dẫn người xông lên. Không lâu sau, trên lầu vọng xuống từng tràng kêu sợ hãi, tiếp đó mấy gã khách nam áo gấm lảo đảo chạy xuống cầu thang.
Người đi đầu vừa thở hổn hển vừa hét:
“Giết người rồi! Mau chạy——”
Khách trên tầng hai vốn đã chán nản và sợ hãi, giờ nghe vậy thì càng hoảng loạn, chen chúc chạy xuống. Có kẻ vì sợ quá mà lăn cả xuống bậc thang, tiếng kêu la hỗn loạn vang khắp lầu.
Giản Tư Cần hoảng hốt nói:
“Thật là đại loạn rồi… chúng ta cũng mau đi thôi!”
Khương Ly gật đầu. Mấy người chậm hai bước, cũng chuẩn bị xuống, nhưng chưa kịp tới thang thì trên lầu đột nhiên vọng xuống mấy tiếng hét chói tai — trong đó có một tiếng “Công tử!” vang dội nhất.
Khương Ly lập tức dừng chân:
“Là giọng Xích Tiêu!”
Phó Vân Hành ngơ ngác:
“Xích Tiêu là ai?”
“Là thân tùy của Ninh Quắc.” – Khương Ly đáp, đồng thời cảm thấy dự cảm chẳng lành. Nghe trên lầu hỗn loạn, thấy thang không có người canh, nàng liền vén váy chạy lên tầng ba. Ngu Tử Đồng ngẩn ra một thoáng rồi cũng vội theo sau.
Tầng ba của Đăng Tiên Cực Lạc Lâu là nơi bọn kỹ nữ cư trú, là khu tiếp khách kín đáo, khách thường không được tự tiện vào. Hơn nữa, kết cấu lầu các này vốn cổ quái, cầu thang lên trên vừa hẹp vừa quanh co.
Khương Ly bước nhanh như gió, tay nắm váy, tim đập dồn dập. Bỗng một cơn đau nhói ập đến giữa trán — ánh đèn rực rỡ của hành lang trước mắt bỗng chồng khít với ký ức về hành lang đen thẳm sáu năm trước…
Tim nàng đập thình thịch như trống trận. Vừa lên tới tầng ba, chân chưa kịp đứng vững đã thấy vệt máu loang dài trên sàn gỗ.
Bảy tám cô nương phấn y diễm lệ, mặt tái nhợt, đứng nép bên cửa, hãi hùng nhìn về phía cầu thang lên tầng bốn. Khương Ly không dừng lại, tiếp tục chạy lên theo hướng đó.
Tiếng bước chân gấp gáp hòa cùng tiếng tim đập, hai bên tai ù vang, mồ hôi lạnh thấm ướt lòng bàn tay. Ánh đèn nơi hành lang méo mó như ảo mộng, càng khiến nàng thêm nôn nao.
rừng truyện chấm com
rừng truyện chấm com
“Tiết cô nương! Mau xem công tử nhà ta——!”
Vừa lên đến tầng bốn, tiếng kêu của Xích Tiêu như kéo nàng thoát khỏi cơn mê. Khương Ly ngẩng lên, thấy ngay Ninh Quắc đang tựa người bên lan can, bả vai trái đẫm máu, sắc mặt trắng bệch. Hắn nghiến răng, mắt vẫn dán chặt về phía cầu thang lên tầng năm, hét lớn:
“Lục Trừng Trạch! Nếu để hắn thoát, ta quyết không tha cho ngươi!”
Nói xong, hắn thở gấp mấy hơi, rồi mới nhìn sang Khương Ly, nở nụ cười gượng:
“Sao nàng lại lên đây?”
Thấy máu trên vai hắn chảy không ngừng, Khương Ly lập tức bước tới:
“Xảy ra chuyện gì?”
Ninh Quắc đau đến nhe răng trợn mắt, song thấy nàng đến lại cố tỏ vẻ bình tĩnh:
“Chỉ là một tên tiểu tặc thôi… nhìn yếu ớt, ta sơ ý nên bị đâm trúng… hừ…”
Khương Ly vội vén áo hắn ra, chỉ thấy vết thương sâu đến tận xương, máu đỏ thẫm. Nàng nói nhanh:
“Vết thương nặng đấy, đừng cử động. Xích Tiêu, mau xuống lấy thuốc trị thương, trong lâu chắc có chuẩn bị.”
Xích Tiêu lập tức chạy đi. Ninh Quắc mệt lả, ngồi phịch xuống bậc thang. Ngẩng đầu thấy sắc mặt Khương Ly tái nhợt, mồ hôi lấm tấm trên trán, hắn bèn cười khẽ:
“Nàng đừng sợ, đừng lo, chỉ là vết thương nhỏ thôi, không đáng gì cả.”
Khương Ly: “…”
Vừa lúc ấy, Ngu Tử Đồng cùng mấy người khác cũng chạy lên, thấy tình cảnh liền hô nhỏ:
“Sao lại ra nông nỗi thế này? Các ngươi đông người như vậy, sao chỉ mình ngươi bị thương? Công phu học uổng cả rồi à?”
Ninh Quắc vốn đang cố chịu, nghe thế thì mặt đỏ tía tai, nhưng chưa kịp nói, Ngu Tử Đồng đã rút khăn lụa, ấn mạnh lên vết thương hắn để cầm máu.
“Á——!” Ninh Quắc rít lên, “Ngươi cố ý phải không?!”
Ngu Tử Đồng bực mà bật cười:
“Ta tốt bụng giúp ngươi cầm máu, sao lại nói ta cố ý? Hay công tử nhà Ninh đại nhân chỉ biết nhỏ nhen như thế thôi?”
Ninh Quắc đau đến run người, lại tức đến nghẹn lời. Khương Ly đành chen vào:
“Được rồi, đừng đấu khẩu nữa, vết thương của ngươi nặng thật đấy.”
Nói chưa dứt, Tô Toàn dẫn theo một tiểu nhị vội vã chạy tới, vừa thấy cảnh liền kêu lên:
“Ôi chao, Ninh công tử bị thương rồi ư! Mau, đây là kim sang dược thượng hạng! Ninh công tử, thật xin lỗi, ta đâu biết tên Triệu Khải Trung vẫn còn trong lâu, trời ơi——”
Khương Ly nhận lấy thuốc, Ngu Tử Đồng cũng phụ giúp. Ninh Quắc mồ hôi đầm đìa, nghiến răng nói:
“Tô chưởng quầy, nếu ta phát hiện trong lâu của ngươi còn chứa yêu nhân quỷ quái, ngươi chờ mà gặp ta!”
Tô Toàn suýt khóc:
“Công tử tha cho ta, lâu này mới xây lại hơn năm, từ khi Đoạn thế tử xảy ra chuyện, nửa năm buôn bán đã tiêu tan. Nay bọn ta chỉ dám dè dặt sống, nào dám giấu giếm yêu tà gì đâu! Triệu Khải Trung vốn người cũ, do thiếu người nên ta mới gọi về. Nếu biết hắn có tật, dù chết cũng chẳng dám dùng!”
Ninh Quắc hừ lạnh:
“Túc vương cũng mất rồi, còn đâu Đoạn thế tử nữa!”
Tô Toàn vội tát bốp lên mặt mình:
“Là lỗi của ta, lỗi của ta! Miệng quen nói rồi… ý ta là Đoạn Phối, hắn xảy ra chuyện, chúng ta khốn khổ không ít, nào dám rước thêm họa!”
Đúng lúc đó, trên lầu lại vọng tiếng ồn. Mọi người ngẩng lên, chỉ thấy Lục Trừng Trạch áp giải một nam nhân trung niên gầy gò xuống — chính là kẻ họ muốn bắt, Triệu Khải Trung.
Người kia có thân thủ không tệ, sau một phen giằng co mới bị bắt. Lúc này, mặt hắn bầm tím, bên má còn vết máu, vậy mà khi thấy Ninh Quắc bị thương vì chính tay mình, hắn lại nhếch môi cười dữ tợn, trong mắt không hề có chút sợ hãi.
Lục Trừng Trạch liếc qua vết thương trên vai Ninh Quắc, nói:
“Người ta ta mang về thẩm trước, ngươi về phủ nghỉ đi.”
Vết thương đã được băng bó sơ, Ninh Quắc nghe vậy bèn chống tay lên lan can, cố đứng dậy:
“Ngươi thẩm? Dựa vào đâu? Đây là người do ta tra được, ta phải tự mình hỏi cung! Ngươi ở lại tiếp tục lục soát tòa lâu này đi.”
Khương Ly chau mày:
“Vết thương thế kia, ngươi còn đi được sao?”
Ninh Quắc khẽ hừ:
“Không chết được đâu.”
Xích Tiêu biết hắn đã quyết ý, đành vội đỡ lấy. Ninh Quắc đi được hai bước lại ngoái đầu, nói:
“Vài ngày nữa, A tỷ sẽ cho mời nàng nhập cung khám bệnh cho Tuyên Thành quận vương, về chuyện trước kia, nàng ấy sẽ đích thân hỏi.”
Câu nói ấy nghe thì bình thường, nhưng ngụ ý sâu xa. Người ngoài nghe không ra, song Khương Ly khẽ gật đầu. Ninh Quắc liền không quay lại nữa, cùng Xích Tiêu rời khỏi. Triệu Khải Trung bị áp giải xuống, Lục Trừng Trạch dẫn người tiếp tục lục soát toàn bộ trong ngoài Đăng Tiên Cực Lạc Lâu.
Tô Toàn lúc này dâng lên khăn lụa sạch, Khương Ly lau tay rồi nhìn về hướng tầng năm, hỏi:
“Tô chưởng quầy, tầng năm của tòa lâu này bố trí có giống tầng bốn không?”
Tô Toàn hơi sững:
“Khác đôi chút, thiếu hai gian tây – đông. Cô nương hỏi để làm gì?”
Khương Ly lắc đầu, không đáp, rồi cùng mọi người xuống lầu.
Ngu Tử Đồng vừa đi vừa nói:
“Không ngờ Ninh Quắc cũng là tay gan lì thật, liệu hắn có ngất giữa đường không? Bao nhiêu người mà cũng để bị tập kích, đúng là hoa quyền tú cước!”
Phó Vân Từ khẽ trách:
“Thôi nào, để yên cho hắn chút mặt mũi đi.”
Ngu Tử Đồng hừ một tiếng:
“Người kia dám phản kháng đến thế, chẳng phải rõ ràng là người của tà đạo sao?”
Phó Vân Hành nói:
“Dẫu không phải tà đạo thì chắc cũng có tật giật mình. Bằng không, sao lại liều mạng như thế? Nhưng rồi hắn cũng chẳng dễ chịu đâu — đại lao Củng Vệ ty đâu phải chỗ dễ vào.”
Nói chuyện đến đây, mấy người đã ra khỏi Đăng Tiên Cực Lạc Lâu. Vốn định đi thưởng vui, lại gặp cảnh huyết quang, khiến Giản Tư Cần vô cùng tiếc rẻ. Giờ đã khuya, ai nấy cáo biệt rồi về phủ.
Khi xe ngựa họ Tiết lăn bánh, Khương Ly khẽ xoa trán, sắc mặt lộ vẻ mệt mỏi.
Hoài Tịch ngồi bên nhìn ra liền nói nhỏ:
“Cô nương, phải chăng lại nhớ ra điều gì? Nô tỳ thấy mặt người xanh cả rồi. Cái vị Ninh công tử ấy đúng là đa tình, cứ tưởng người lo lắng cho hắn kia.”
Khương Ly nhắm mắt, giọng thấp trầm:
“Ta chợt nhớ tới tình cảnh ngày ta bước vào Đăng Tiên Cực Lạc Lâu năm ấy…”
Cảnh trước mắt hòa cùng ký ức bảy năm trước — mọi hình ảnh mờ nhạt dần rõ rệt.
“Bảy năm nay ta vẫn luôn tự suy xét, cố nhớ xem trước khi gặp nạn ta đã chạm mặt những ai, có điều chi bất thường. Nhưng nghĩ mãi, ngoài Lâm Hà, ta vẫn không nghĩ ra kẻ thứ hai có thể ra tay. Thế nhưng, vì sao lại là hắn? Lâm Hà dường như chẳng biết mình bị điều tra, dù có biết, cũng không có lý do gì hại ta…”
Hoài Tịch nói:
“Có thể là vì sợ người phát hiện ra hắn chính là kẻ khiến Đông cung nhiễm dịch? Thấy cô nương theo dõi, hắn liền giết người diệt khẩu, thậm chí có khi hắn không hề biết người là ai.”
Khương Ly khẽ lắc đầu:
“Không giống như thế…”
Nàng day trán, trầm tư chốc lát, rồi bỗng mở mắt, giọng khẽ mà lạnh:
“Giờ nghĩ lại, ta có cảm giác… hắn cố ý dẫn ta lên lầu. Hắn sớm biết sẽ có trận hỏa hoạn đó.”
Hoài Tịch thất kinh:
“Hắn cố tình hãm hại cô nương? Nhưng vì cớ gì chứ?”
Khương Ly cười khổ:
“Ta không rõ. Có lẽ vì ta vướng bận chuyện này quá lâu, mà chẳng có chứng cứ, nên suy nghĩ có phần cực đoan. Nhưng cảm giác khi ta theo tiếng động mà lên lầu vừa rồi… quá giống năm ấy rồi.”
Năm đó biến cố đến quá đột ngột. Sau nửa năm hôn mê, Khương Ly đã quên mất bao chi tiết. Dẫu giờ ký ức dần trở lại, nàng vẫn không hiểu nổi — rốt cuộc là ai muốn lấy mạng mình.
Nàng hít sâu một hơi, khẽ nói:
“Cứ đợi gặp Ninh nương nương đã.”
Khương Ly muốn biết Ninh Dao rốt cuộc định làm gì. Mãi đến ngày hai mươi hai tháng năm, nàng mới nhận được tin triệu kiến — lý do vẫn là mời vào cung khám bệnh cho Tuyên Thành quận vương Lý Cẩn.
Vào Đông cung, trước tiên nàng đến Cảnh Nghi cung thăm Tiết Lan Thời, biết rằng y lệnh hôm nay là để khám cho quận vương. Tiết Lan Thời hiện mang thai, nét mặt hiền hòa, coi việc ấy như cầu phúc cho thai nhi.
Đến Cảnh Hòa cung, ở cửa có Tố Ngọc và Ninh Quắc đón tiếp.
Khương Ly liếc nhìn vai trái hắn:
“Vết thương thế nào rồi?”
Ninh Quắc mỉm cười:
“Tốt hơn nhiều rồi. Mời vào, A tỷ đang đợi.”
Trong tiền điện Cảnh Hòa cung, Ninh Dao vận cung phục nguyệt sắc, đứng bên cửa sổ, ánh sáng chiếu lên dung nhan tĩnh tạc.
Khương Ly hành lễ. Ninh Dao bảo nàng ngồi, nói:
“Bản cung đã xem kỹ quyển hồ sơ cô nương dâng lên. Bao năm nay, bản cung cũng đọc nhiều y thư, tự thấy cô nương nói có lý.”
Nghe vậy, Khương Ly khẽ thở phào. Nhưng Ninh Dao lại tiếp:
“Chỉ có điều, có một điểm bản cung vẫn chưa hiểu. Dù Túc vương hạ độc chưa đủ giết chết Dực nhi, thì việc Quảng An bá châm sai huyệt lại là điều bao người chứng thực. Vì sao cô nương lại cho rằng, châm pháp ấy cũng không thể gây chết người? Thậm chí… cô nương cho rằng Quảng An bá, cũng như Minh thái y, đều là người bị oan?”
Túc vương đã bị xử tội nhiều ngày, từ khi xem qua bản tấu của Khương Ly, Ninh Dao suy nghĩ rất nhiều. Việc Minh Túc Thanh chịu oan, nàng đương nhiên đã biết rõ.
Thấy Ninh Dao nghiêm túc như vậy, Khương Ly lại càng nhìn thấy một tia hy vọng.
Khương Ly nói:
“Nương nương, vị Quảng An bá năm đó vốn là Thái y lệnh, mà Phục Hy cửu châm chính là tuyệt học gia truyền của phủ ông ấy. Với người như thế, thần nữ thật khó tin ông ta lại có thể phạm sai sót trong châm pháp mà dẫn đến mất mạng cho người bệnh. Tất nhiên, sự việc nào cũng có ngoại lệ. Chính vì thế, thần nữ mới muốn diện kiến nương nương. Đến nay, không ai hiểu rõ tình trạng bệnh của Tiểu điện hạ hơn nương nương cả. Nếu thật còn người khác từng động tay, tất sẽ có dấu vết để lại.”
Ninh Dao trầm giọng:
“Năm ấy ta vốn không hiểu y lý, bệnh tình của Dực nhi đều có ghi chép trong hồ sơ, nhưng… trận hỏa hoạn ấy đã đốt sạch tất cả. Thật ra đây cũng chính là nguyên do ta muốn gặp cô nương hôm nay.”
Ninh Dao dừng một thoáng rồi nói tiếp:
“Du Chi từng nói, Bùi thế tử cũng hoài nghi trận hỏa đó có điều lạ. Kỳ thực, năm đó ta nào có không nghi? Nhưng khi Cấm quân tra xuống lại không phát hiện gì, ta chỉ đành cho là tai nạn. Những ngày qua, ta ngầm cho người tìm hiểu thêm, song cảnh vật đã đổi, chẳng còn dấu vết nào. Tuy vậy, nghi ngờ trong lòng ta vẫn chưa một ngày phai nhạt.”
Nói đến đây, giọng Ninh Dao trở nên kiên quyết:
“Đã thế, dù có sợ nhìn lại quá khứ đau lòng, là mẫu thân của Dực nhi, ta cũng phải truy đến cùng. Cô nương muốn hỏi điều gì, cứ hỏi.”
Khương Ly gật đầu:
“Bệnh tình của Tiểu điện hạ khi ấy chuyển biến ra sao?”
Ninh Dao trầm mặc một lúc, rồi khẽ nói:
“Năm ấy, dịch bệnh vào Đông cung vào cuối tháng chín. Ban đầu chỉ vài võ vệ phát sốt, sau không hiểu sao Dực nhi cũng phát nhiệt không lui. Lúc đó ta đã thấy bất ổn. Chẳng mấy ngày sau, Dực nhi bắt đầu ớn lạnh, đau đầu, nôn mửa — xác định là đã nhiễm dịch.”
“Lúc đầu do Dược tàng cục phụ trách điều trị, nhưng bệnh của Dực nhi đến dữ dội, thuốc không khống chế được, Phụ hoàng bèn lệnh Thượng dược cục cùng Thái y thự đồng chẩn. Như vậy, có đến bảy tám vị thái y thay phiên cứu trị.”
“Đến đầu tháng chạp, bệnh dịch tạm lui, không còn phát nhiệt nữa. Nhưng di chứng lại nặng nhẹ thất thường. Ta còn nhớ rõ — con bị đau vùng thượng vị, hai chân sưng phù, hay ợ ngược, tim đập gấp, mồ hôi nhiều, ăn uống khó khăn, đêm thì khó ngủ. Mỗi khi thiếp ngủ, con thường kêu ngực như bị đá đè, giật mình tỉnh giấc, mồ hôi ướt đẫm. Mấy vị thái y không dám chậm trễ, ngày đêm thay nhau canh chừng. Mãi đến đầu tháng chạp, bệnh tình mới tạm ổn.”
“Khi ấy, Dực nhi đã có thể ngủ, chỉ còn yếu dạ dày, đổ mồ hôi nhiều, tinh thần suy nhược, nhưng đã không còn nguy hiểm. Ta còn nghĩ, nếu cứ vậy trị tiếp, chắc trước đêm trừ tịch sẽ khỏe tám, chín phần rồi…”
Nói đến đây, giọng Ninh Dao nghẹn lại:
“Nhưng đến giữa tháng chạp, bệnh lại tái phát. Khi đó ta không hiểu, nay nghĩ lại, hẳn là do Lý Doãn (Túc vương) hạ độc. Dực nhi lại xuất hiện chứng ngạt thở, tức ngực, hồi hộp, ngũ tạng đau từng cơn mà không rõ nguyên nhân. Thái y đều thấy khó xử. Nhưng ta nhớ rõ, đến khoảng hai mươi bốn tháng chạp, bệnh tình Dực nhi lại đỡ hẳn. Hôm ấy trời đổ tuyết to, Dực nhi nhiều ngày không ra ngoài, ta còn dắt nó ra sân chơi tuyết một lát. Nào ngờ, đó lại là lần cuối cùng Dực nhi bước ra khỏi điện.”
Khương Ly vội hỏi:
“Vậy sao bệnh tình lại đột nhiên chuyển nặng?”
Ninh Dao siết chặt tay:
“Từ ngày hai mươi lăm, tinh thần Dực nhi dần suy sụp. Đến đêm hai mươi chín, Dực nhi nôn hai lần, ta ôm lấy thì thấy tay chân con run rẩy, tựa như bị lạnh, nhưng thân lại đổ mồ hôi như tắm, ướt cả áo ngủ, sắc mặt đỏ ửng. Ta thấy khác lạ, lập tức gọi thái y đến. Bọn họ châm cứu, cho thuốc, tạm thời có vẻ khá hơn, nhưng sang trưa ba mươi, Dực nhi lại mê man, tỉnh tỉnh mê mê. Khi ấy ta vẫn không ngờ nó sẽ chết. Đến hoàng hôn, Dực nhi lại nôn dữ, chẳng bao lâu liền hôn mê. Thái y bắt mạch, nói tim mạch suy yếu, ngũ tạng tổn thương, không thể cứu vãn. Ta chỉ biết trơ mắt nhìn Dực nhi trút hơi thở cuối cùng…”
Ninh Dao nhắm mắt, hít sâu rồi mở ra, giọng khàn đi:
“Thuốc của Dực nhi mỗi ngày đều có người thử, chẳng ai có dấu hiệu trúng độc. Tra đi tra lại, chỉ có việc Quảng An bá thay đổi châm pháp thất thường, không theo quy tắc. Lúc ấy có thái y cho rằng ông ta phạm sai, ông ta có giải thích, nhưng họ không chấp nhận. Hơn nữa, ông có một nghĩa nữ, từng học y với Hoàng hậu nương nương, nàng ta cũng biết Phục Hy cửu châm, lời nàng ta làm chứng càng khiến mọi người tin rằng ông ta châm sai. Cuối cùng, tội danh liền đổ hết lên đầu ông ấy.”
Khương Ly im lặng, trong ngực chợt nặng trĩu. Một lát sau, nàng nói khẽ:
“Đã tra kỹ, hẳn thuốc dùng không sai. Nếu có người khác hạ thủ, vậy chỉ có thể là loại độc ngấm lâu, giấu kỹ như thứ mà Túc vương đã dùng. Nương nương, người có nhớ trong cung khi ấy, bên cạnh Tiểu điện hạ có ai từng có biểu hiện bất thường không?”
Ninh Dao lắc đầu:
“Người hầu nhiều, nhưng được ở bên Dực nhi hằng ngày chỉ có ta và Tố Ngọc. Thức ăn nước uống đều có người nếm trước, không ai có cơ hội ra tay.”
Nói đến đây, Ninh Dao chợt nhớ:
“À, còn một người — Trịnh Văn Tịch, tỷ tỷ của Trịnh Lương Viên. Năm ấy nàng rất được điện hạ yêu mến, cũng rất khéo xử sự, có lòng thân cận với ta, mà cũng thật tâm thương Dực nhi. Thời gian đó nàng giúp ta không ít. Vì ghi nhớ ân tình ấy, về sau ta mới đối đãi tốt hơn với muội muội nàng.”
Khương Ly hỏi nhanh:
“Nàng ấy giúp nương nương những việc gì?”
Ninh Dao thở dài:
“Nàng còn trẻ, tính hoạt bát, thường đến trò chuyện, chọc Dực nhi vui. Đôi khi cũng giúp bưng nước, nhưng biết quy củ, chưa từng mang đồ ăn từ điện của mình. Nàng còn học qua thuật xoa bóp, hai tay mềm như nước, Dực nhi bị sưng chân, đều nhờ nàng mỗi ngày đến xoa bóp cho lưu thông khí huyết.”
Nghe vậy, Khương Ly hơi giảm nghi ngờ.
Ninh Dao hiếm khi nhắc chuyện cũ, giờ nói đến Trịnh Văn Tịch, giọng nàng lộ vẻ thương cảm:
“Đối với Văn Tịch, ta đến nay vẫn mang nỗi áy náy. Dực nhi mất, ta bệnh nặng, chẳng ngờ nàng ấy lại mắc bệnh khi thu dọn di vật cho Dực nhi. Khi đó ta đang nằm liệt, đến phút cuối cũng chẳng được gặp nàng ấy lần nào.”
Khương Ly nghi hoặc:
“Thu dọn di vật sao lại lây bệnh được?”
Ninh Dao ngẩn ngơ, rồi khẽ lắc đầu:
“Bệnh đến rất nhanh. Khi ấy trong Đông cung đã không còn dịch nhân. Nghĩ tới nghĩ lui… chỉ có thể là vì chuyện ấy mà thôi.”
rừng truyện chấm com
rừng truyện chấm com
“Tiết cô nương! Mau xem công tử nhà ta——!”
Vừa lên đến tầng bốn, tiếng kêu của Xích Tiêu như kéo nàng thoát khỏi cơn mê. Khương Ly ngẩng lên, thấy ngay Ninh Quắc đang tựa người bên lan can, bả vai trái đẫm máu, sắc mặt trắng bệch. Hắn nghiến răng, mắt vẫn dán chặt về phía cầu thang lên tầng năm, hét lớn:
“Lục Trừng Trạch! Nếu để hắn thoát, ta quyết không tha cho ngươi!”
Nói xong, hắn thở gấp mấy hơi, rồi mới nhìn sang Khương Ly, nở nụ cười gượng:
“Sao nàng lại lên đây?”
Thấy máu trên vai hắn chảy không ngừng, Khương Ly lập tức bước tới:
“Xảy ra chuyện gì?”
Ninh Quắc đau đến nhe răng trợn mắt, song thấy nàng đến lại cố tỏ vẻ bình tĩnh:
“Chỉ là một tên tiểu tặc thôi… nhìn yếu ớt, ta sơ ý nên bị đâm trúng… hừ…”
Khương Ly vội vén áo hắn ra, chỉ thấy vết thương sâu đến tận xương, máu đỏ thẫm. Nàng nói nhanh:
“Vết thương nặng đấy, đừng cử động. Xích Tiêu, mau xuống lấy thuốc trị thương, trong lâu chắc có chuẩn bị.”
Xích Tiêu lập tức chạy đi. Ninh Quắc mệt lả, ngồi phịch xuống bậc thang. Ngẩng đầu thấy sắc mặt Khương Ly tái nhợt, mồ hôi lấm tấm trên trán, hắn bèn cười khẽ:
“Nàng đừng sợ, đừng lo, chỉ là vết thương nhỏ thôi, không đáng gì cả.”
Khương Ly: “…”
Vừa lúc ấy, Ngu Tử Đồng cùng mấy người khác cũng chạy lên, thấy tình cảnh liền hô nhỏ:
“Sao lại ra nông nỗi thế này? Các ngươi đông người như vậy, sao chỉ mình ngươi bị thương? Công phu học uổng cả rồi à?”
Ninh Quắc vốn đang cố chịu, nghe thế thì mặt đỏ tía tai, nhưng chưa kịp nói, Ngu Tử Đồng đã rút khăn lụa, ấn mạnh lên vết thương hắn để cầm máu.
“Á——!” Ninh Quắc rít lên, “Ngươi cố ý phải không?!”
Ngu Tử Đồng bực mà bật cười:
“Ta tốt bụng giúp ngươi cầm máu, sao lại nói ta cố ý? Hay công tử nhà Ninh đại nhân chỉ biết nhỏ nhen như thế thôi?”
Ninh Quắc đau đến run người, lại tức đến nghẹn lời. Khương Ly đành chen vào:
“Được rồi, đừng đấu khẩu nữa, vết thương của ngươi nặng thật đấy.”
Nói chưa dứt, Tô Toàn dẫn theo một tiểu nhị vội vã chạy tới, vừa thấy cảnh liền kêu lên:
“Ôi chao, Ninh công tử bị thương rồi ư! Mau, đây là kim sang dược thượng hạng! Ninh công tử, thật xin lỗi, ta đâu biết tên Triệu Khải Trung vẫn còn trong lâu, trời ơi——”
Khương Ly nhận lấy thuốc, Ngu Tử Đồng cũng phụ giúp. Ninh Quắc mồ hôi đầm đìa, nghiến răng nói:
“Tô chưởng quầy, nếu ta phát hiện trong lâu của ngươi còn chứa yêu nhân quỷ quái, ngươi chờ mà gặp ta!”
Tô Toàn suýt khóc:
“Công tử tha cho ta, lâu này mới xây lại hơn năm, từ khi Đoạn thế tử xảy ra chuyện, nửa năm buôn bán đã tiêu tan. Nay bọn ta chỉ dám dè dặt sống, nào dám giấu giếm yêu tà gì đâu! Triệu Khải Trung vốn người cũ, do thiếu người nên ta mới gọi về. Nếu biết hắn có tật, dù chết cũng chẳng dám dùng!”
Ninh Quắc hừ lạnh:
“Túc vương cũng mất rồi, còn đâu Đoạn thế tử nữa!”
Tô Toàn vội tát bốp lên mặt mình:
“Là lỗi của ta, lỗi của ta! Miệng quen nói rồi… ý ta là Đoạn Phối, hắn xảy ra chuyện, chúng ta khốn khổ không ít, nào dám rước thêm họa!”
Đúng lúc đó, trên lầu lại vọng tiếng ồn. Mọi người ngẩng lên, chỉ thấy Lục Trừng Trạch áp giải một nam nhân trung niên gầy gò xuống — chính là kẻ họ muốn bắt, Triệu Khải Trung.
Người kia có thân thủ không tệ, sau một phen giằng co mới bị bắt. Lúc này, mặt hắn bầm tím, bên má còn vết máu, vậy mà khi thấy Ninh Quắc bị thương vì chính tay mình, hắn lại nhếch môi cười dữ tợn, trong mắt không hề có chút sợ hãi.
Lục Trừng Trạch liếc qua vết thương trên vai Ninh Quắc, nói:
“Người ta ta mang về thẩm trước, ngươi về phủ nghỉ đi.”
Vết thương đã được băng bó sơ, Ninh Quắc nghe vậy bèn chống tay lên lan can, cố đứng dậy:
“Ngươi thẩm? Dựa vào đâu? Đây là người do ta tra được, ta phải tự mình hỏi cung! Ngươi ở lại tiếp tục lục soát tòa lâu này đi.”
Khương Ly chau mày:
“Vết thương thế kia, ngươi còn đi được sao?”
Ninh Quắc khẽ hừ:
“Không chết được đâu.”
Xích Tiêu biết hắn đã quyết ý, đành vội đỡ lấy. Ninh Quắc đi được hai bước lại ngoái đầu, nói:
“Vài ngày nữa, A tỷ sẽ cho mời nàng nhập cung khám bệnh cho Tuyên Thành quận vương, về chuyện trước kia, nàng ấy sẽ đích thân hỏi.”
Câu nói ấy nghe thì bình thường, nhưng ngụ ý sâu xa. Người ngoài nghe không ra, song Khương Ly khẽ gật đầu. Ninh Quắc liền không quay lại nữa, cùng Xích Tiêu rời khỏi. Triệu Khải Trung bị áp giải xuống, Lục Trừng Trạch dẫn người tiếp tục lục soát toàn bộ trong ngoài Đăng Tiên Cực Lạc Lâu.
Tô Toàn lúc này dâng lên khăn lụa sạch, Khương Ly lau tay rồi nhìn về hướng tầng năm, hỏi:
“Tô chưởng quầy, tầng năm của tòa lâu này bố trí có giống tầng bốn không?”
Tô Toàn hơi sững:
“Khác đôi chút, thiếu hai gian tây – đông. Cô nương hỏi để làm gì?”
Khương Ly lắc đầu, không đáp, rồi cùng mọi người xuống lầu.
Ngu Tử Đồng vừa đi vừa nói:
“Không ngờ Ninh Quắc cũng là tay gan lì thật, liệu hắn có ngất giữa đường không? Bao nhiêu người mà cũng để bị tập kích, đúng là hoa quyền tú cước!”
Phó Vân Từ khẽ trách:
“Thôi nào, để yên cho hắn chút mặt mũi đi.”
Ngu Tử Đồng hừ một tiếng:
“Người kia dám phản kháng đến thế, chẳng phải rõ ràng là người của tà đạo sao?”
Phó Vân Hành nói:
“Dẫu không phải tà đạo thì chắc cũng có tật giật mình. Bằng không, sao lại liều mạng như thế? Nhưng rồi hắn cũng chẳng dễ chịu đâu — đại lao Củng Vệ ty đâu phải chỗ dễ vào.”
Nói chuyện đến đây, mấy người đã ra khỏi Đăng Tiên Cực Lạc Lâu. Vốn định đi thưởng vui, lại gặp cảnh huyết quang, khiến Giản Tư Cần vô cùng tiếc rẻ. Giờ đã khuya, ai nấy cáo biệt rồi về phủ.
Khi xe ngựa họ Tiết lăn bánh, Khương Ly khẽ xoa trán, sắc mặt lộ vẻ mệt mỏi.
Hoài Tịch ngồi bên nhìn ra liền nói nhỏ:
“Cô nương, phải chăng lại nhớ ra điều gì? Nô tỳ thấy mặt người xanh cả rồi. Cái vị Ninh công tử ấy đúng là đa tình, cứ tưởng người lo lắng cho hắn kia.”
Khương Ly nhắm mắt, giọng thấp trầm:
“Ta chợt nhớ tới tình cảnh ngày ta bước vào Đăng Tiên Cực Lạc Lâu năm ấy…”
Cảnh trước mắt hòa cùng ký ức bảy năm trước — mọi hình ảnh mờ nhạt dần rõ rệt.
“Bảy năm nay ta vẫn luôn tự suy xét, cố nhớ xem trước khi gặp nạn ta đã chạm mặt những ai, có điều chi bất thường. Nhưng nghĩ mãi, ngoài Lâm Hà, ta vẫn không nghĩ ra kẻ thứ hai có thể ra tay. Thế nhưng, vì sao lại là hắn? Lâm Hà dường như chẳng biết mình bị điều tra, dù có biết, cũng không có lý do gì hại ta…”
Hoài Tịch nói:
“Có thể là vì sợ người phát hiện ra hắn chính là kẻ khiến Đông cung nhiễm dịch? Thấy cô nương theo dõi, hắn liền giết người diệt khẩu, thậm chí có khi hắn không hề biết người là ai.”
Khương Ly khẽ lắc đầu:
“Không giống như thế…”
Nàng day trán, trầm tư chốc lát, rồi bỗng mở mắt, giọng khẽ mà lạnh:
“Giờ nghĩ lại, ta có cảm giác… hắn cố ý dẫn ta lên lầu. Hắn sớm biết sẽ có trận hỏa hoạn đó.”
Hoài Tịch thất kinh:
“Hắn cố tình hãm hại cô nương? Nhưng vì cớ gì chứ?”
Khương Ly cười khổ:
“Ta không rõ. Có lẽ vì ta vướng bận chuyện này quá lâu, mà chẳng có chứng cứ, nên suy nghĩ có phần cực đoan. Nhưng cảm giác khi ta theo tiếng động mà lên lầu vừa rồi… quá giống năm ấy rồi.”
Năm đó biến cố đến quá đột ngột. Sau nửa năm hôn mê, Khương Ly đã quên mất bao chi tiết. Dẫu giờ ký ức dần trở lại, nàng vẫn không hiểu nổi — rốt cuộc là ai muốn lấy mạng mình.
Nàng hít sâu một hơi, khẽ nói:
“Cứ đợi gặp Ninh nương nương đã.”
Khương Ly muốn biết Ninh Dao rốt cuộc định làm gì. Mãi đến ngày hai mươi hai tháng năm, nàng mới nhận được tin triệu kiến — lý do vẫn là mời vào cung khám bệnh cho Tuyên Thành quận vương Lý Cẩn.
Vào Đông cung, trước tiên nàng đến Cảnh Nghi cung thăm Tiết Lan Thời, biết rằng y lệnh hôm nay là để khám cho quận vương. Tiết Lan Thời hiện mang thai, nét mặt hiền hòa, coi việc ấy như cầu phúc cho thai nhi.
Đến Cảnh Hòa cung, ở cửa có Tố Ngọc và Ninh Quắc đón tiếp.
Khương Ly liếc nhìn vai trái hắn:
“Vết thương thế nào rồi?”
Ninh Quắc mỉm cười:
“Tốt hơn nhiều rồi. Mời vào, A tỷ đang đợi.”
Trong tiền điện Cảnh Hòa cung, Ninh Dao vận cung phục nguyệt sắc, đứng bên cửa sổ, ánh sáng chiếu lên dung nhan tĩnh tạc.
Khương Ly hành lễ. Ninh Dao bảo nàng ngồi, nói:
“Bản cung đã xem kỹ quyển hồ sơ cô nương dâng lên. Bao năm nay, bản cung cũng đọc nhiều y thư, tự thấy cô nương nói có lý.”
Nghe vậy, Khương Ly khẽ thở phào. Nhưng Ninh Dao lại tiếp:
“Chỉ có điều, có một điểm bản cung vẫn chưa hiểu. Dù Túc vương hạ độc chưa đủ giết chết Dực nhi, thì việc Quảng An bá châm sai huyệt lại là điều bao người chứng thực. Vì sao cô nương lại cho rằng, châm pháp ấy cũng không thể gây chết người? Thậm chí… cô nương cho rằng Quảng An bá, cũng như Minh thái y, đều là người bị oan?”
Túc vương đã bị xử tội nhiều ngày, từ khi xem qua bản tấu của Khương Ly, Ninh Dao suy nghĩ rất nhiều. Việc Minh Túc Thanh chịu oan, nàng đương nhiên đã biết rõ.
Thấy Ninh Dao nghiêm túc như vậy, Khương Ly lại càng nhìn thấy một tia hy vọng.
Khương Ly nói:
“Nương nương, vị Quảng An bá năm đó vốn là Thái y lệnh, mà Phục Hy cửu châm chính là tuyệt học gia truyền của phủ ông ấy. Với người như thế, thần nữ thật khó tin ông ta lại có thể phạm sai sót trong châm pháp mà dẫn đến mất mạng cho người bệnh. Tất nhiên, sự việc nào cũng có ngoại lệ. Chính vì thế, thần nữ mới muốn diện kiến nương nương. Đến nay, không ai hiểu rõ tình trạng bệnh của Tiểu điện hạ hơn nương nương cả. Nếu thật còn người khác từng động tay, tất sẽ có dấu vết để lại.”
Ninh Dao trầm giọng:
“Năm ấy ta vốn không hiểu y lý, bệnh tình của Dực nhi đều có ghi chép trong hồ sơ, nhưng… trận hỏa hoạn ấy đã đốt sạch tất cả. Thật ra đây cũng chính là nguyên do ta muốn gặp cô nương hôm nay.”
Ninh Dao dừng một thoáng rồi nói tiếp:
“Du Chi từng nói, Bùi thế tử cũng hoài nghi trận hỏa đó có điều lạ. Kỳ thực, năm đó ta nào có không nghi? Nhưng khi Cấm quân tra xuống lại không phát hiện gì, ta chỉ đành cho là tai nạn. Những ngày qua, ta ngầm cho người tìm hiểu thêm, song cảnh vật đã đổi, chẳng còn dấu vết nào. Tuy vậy, nghi ngờ trong lòng ta vẫn chưa một ngày phai nhạt.”
Nói đến đây, giọng Ninh Dao trở nên kiên quyết:
“Đã thế, dù có sợ nhìn lại quá khứ đau lòng, là mẫu thân của Dực nhi, ta cũng phải truy đến cùng. Cô nương muốn hỏi điều gì, cứ hỏi.”
Khương Ly gật đầu:
“Bệnh tình của Tiểu điện hạ khi ấy chuyển biến ra sao?”
Ninh Dao trầm mặc một lúc, rồi khẽ nói:
“Năm ấy, dịch bệnh vào Đông cung vào cuối tháng chín. Ban đầu chỉ vài võ vệ phát sốt, sau không hiểu sao Dực nhi cũng phát nhiệt không lui. Lúc đó ta đã thấy bất ổn. Chẳng mấy ngày sau, Dực nhi bắt đầu ớn lạnh, đau đầu, nôn mửa — xác định là đã nhiễm dịch.”
“Lúc đầu do Dược tàng cục phụ trách điều trị, nhưng bệnh của Dực nhi đến dữ dội, thuốc không khống chế được, Phụ hoàng bèn lệnh Thượng dược cục cùng Thái y thự đồng chẩn. Như vậy, có đến bảy tám vị thái y thay phiên cứu trị.”
“Đến đầu tháng chạp, bệnh dịch tạm lui, không còn phát nhiệt nữa. Nhưng di chứng lại nặng nhẹ thất thường. Ta còn nhớ rõ — con bị đau vùng thượng vị, hai chân sưng phù, hay ợ ngược, tim đập gấp, mồ hôi nhiều, ăn uống khó khăn, đêm thì khó ngủ. Mỗi khi thiếp ngủ, con thường kêu ngực như bị đá đè, giật mình tỉnh giấc, mồ hôi ướt đẫm. Mấy vị thái y không dám chậm trễ, ngày đêm thay nhau canh chừng. Mãi đến đầu tháng chạp, bệnh tình mới tạm ổn.”
“Khi ấy, Dực nhi đã có thể ngủ, chỉ còn yếu dạ dày, đổ mồ hôi nhiều, tinh thần suy nhược, nhưng đã không còn nguy hiểm. Ta còn nghĩ, nếu cứ vậy trị tiếp, chắc trước đêm trừ tịch sẽ khỏe tám, chín phần rồi…”
Nói đến đây, giọng Ninh Dao nghẹn lại:
“Nhưng đến giữa tháng chạp, bệnh lại tái phát. Khi đó ta không hiểu, nay nghĩ lại, hẳn là do Lý Doãn (Túc vương) hạ độc. Dực nhi lại xuất hiện chứng ngạt thở, tức ngực, hồi hộp, ngũ tạng đau từng cơn mà không rõ nguyên nhân. Thái y đều thấy khó xử. Nhưng ta nhớ rõ, đến khoảng hai mươi bốn tháng chạp, bệnh tình Dực nhi lại đỡ hẳn. Hôm ấy trời đổ tuyết to, Dực nhi nhiều ngày không ra ngoài, ta còn dắt nó ra sân chơi tuyết một lát. Nào ngờ, đó lại là lần cuối cùng Dực nhi bước ra khỏi điện.”
Khương Ly vội hỏi:
“Vậy sao bệnh tình lại đột nhiên chuyển nặng?”
Ninh Dao siết chặt tay:
“Từ ngày hai mươi lăm, tinh thần Dực nhi dần suy sụp. Đến đêm hai mươi chín, Dực nhi nôn hai lần, ta ôm lấy thì thấy tay chân con run rẩy, tựa như bị lạnh, nhưng thân lại đổ mồ hôi như tắm, ướt cả áo ngủ, sắc mặt đỏ ửng. Ta thấy khác lạ, lập tức gọi thái y đến. Bọn họ châm cứu, cho thuốc, tạm thời có vẻ khá hơn, nhưng sang trưa ba mươi, Dực nhi lại mê man, tỉnh tỉnh mê mê. Khi ấy ta vẫn không ngờ nó sẽ chết. Đến hoàng hôn, Dực nhi lại nôn dữ, chẳng bao lâu liền hôn mê. Thái y bắt mạch, nói tim mạch suy yếu, ngũ tạng tổn thương, không thể cứu vãn. Ta chỉ biết trơ mắt nhìn Dực nhi trút hơi thở cuối cùng…”
Ninh Dao nhắm mắt, hít sâu rồi mở ra, giọng khàn đi:
“Thuốc của Dực nhi mỗi ngày đều có người thử, chẳng ai có dấu hiệu trúng độc. Tra đi tra lại, chỉ có việc Quảng An bá thay đổi châm pháp thất thường, không theo quy tắc. Lúc ấy có thái y cho rằng ông ta phạm sai, ông ta có giải thích, nhưng họ không chấp nhận. Hơn nữa, ông có một nghĩa nữ, từng học y với Hoàng hậu nương nương, nàng ta cũng biết Phục Hy cửu châm, lời nàng ta làm chứng càng khiến mọi người tin rằng ông ta châm sai. Cuối cùng, tội danh liền đổ hết lên đầu ông ấy.”
Khương Ly im lặng, trong ngực chợt nặng trĩu. Một lát sau, nàng nói khẽ:
“Đã tra kỹ, hẳn thuốc dùng không sai. Nếu có người khác hạ thủ, vậy chỉ có thể là loại độc ngấm lâu, giấu kỹ như thứ mà Túc vương đã dùng. Nương nương, người có nhớ trong cung khi ấy, bên cạnh Tiểu điện hạ có ai từng có biểu hiện bất thường không?”
Ninh Dao lắc đầu:
“Người hầu nhiều, nhưng được ở bên Dực nhi hằng ngày chỉ có ta và Tố Ngọc. Thức ăn nước uống đều có người nếm trước, không ai có cơ hội ra tay.”
Nói đến đây, Ninh Dao chợt nhớ:
“À, còn một người — Trịnh Văn Tịch, tỷ tỷ của Trịnh Lương Viên. Năm ấy nàng rất được điện hạ yêu mến, cũng rất khéo xử sự, có lòng thân cận với ta, mà cũng thật tâm thương Dực nhi. Thời gian đó nàng giúp ta không ít. Vì ghi nhớ ân tình ấy, về sau ta mới đối đãi tốt hơn với muội muội nàng.”
Khương Ly hỏi nhanh:
“Nàng ấy giúp nương nương những việc gì?”
Ninh Dao thở dài:
“Nàng còn trẻ, tính hoạt bát, thường đến trò chuyện, chọc Dực nhi vui. Đôi khi cũng giúp bưng nước, nhưng biết quy củ, chưa từng mang đồ ăn từ điện của mình. Nàng còn học qua thuật xoa bóp, hai tay mềm như nước, Dực nhi bị sưng chân, đều nhờ nàng mỗi ngày đến xoa bóp cho lưu thông khí huyết.”
Nghe vậy, Khương Ly hơi giảm nghi ngờ.
Ninh Dao hiếm khi nhắc chuyện cũ, giờ nói đến Trịnh Văn Tịch, giọng nàng lộ vẻ thương cảm:
“Đối với Văn Tịch, ta đến nay vẫn mang nỗi áy náy. Dực nhi mất, ta bệnh nặng, chẳng ngờ nàng ấy lại mắc bệnh khi thu dọn di vật cho Dực nhi. Khi đó ta đang nằm liệt, đến phút cuối cũng chẳng được gặp nàng ấy lần nào.”
Khương Ly nghi hoặc:
“Thu dọn di vật sao lại lây bệnh được?”
Ninh Dao ngẩn ngơ, rồi khẽ lắc đầu:
“Bệnh đến rất nhanh. Khi ấy trong Đông cung đã không còn dịch nhân. Nghĩ tới nghĩ lui… chỉ có thể là vì chuyện ấy mà thôi.”