Khương Ly dốc lòng nghiên cứu dược thạch, song vẫn không tìm ra manh mối. Nàng lại đi khắp các cửa hàng cổ ngoạn Phật bảo lớn nhỏ trong thành Trường An, hỏi từ danh sư đến thợ giỏi, từ thương nhân lão luyện đến tiểu lại bán hàng rong, nhưng chẳng một ai nhận ra thứ bột trắng kia là gì, thậm chí chưa từng nghe có lệ “trong Phật châu lại tàng dị vật”.
Đến ngày mười một tháng tư, đã bảy ngày kể từ khi Bạch Kính Chi gặp nạn, Khương Ly vẫn chưa tìm ra lối thoát.
Chiều hôm ấy, nàng ngồi bên cửa sổ, dưới ánh dương hạ rực rỡ, chậm rãi phân tách lớp bột trắng trong dược điển. Hoài Tịch vội vã bước lên lầu, thưa:
“Cô nương, Ngu cô nương đến rồi, đang chờ dưới nhà!”
Bên ngoài nắng chang chang, hơi nóng đầu hạ đã có phần bỏng rát. Nghe nói Ngu Tử Đồng tới, Khương Ly bất giác tim khẽ siết, lập tức buông đồ vật trong tay, nhanh bước xuống lầu.
Ngu Tử Đồng đang ngồi ở sảnh tầng một uống trà, thấy nàng xuống liền nói:
“May mà ngươi có ở nhà!”
Khương Ly bước tới gần:
“Sao vậy? Có chuyện gì gấp chăng?”
Trong phòng không có người ngoài, Ngu Tử Đồng hạ giọng nói:
“Ta tới tìm ngươi vì chuyện Túy Hoan Lâu. Vụ của Ninh Quắc ở Đại Lý tự có chút manh mối nào chưa?”
Khương Ly khẽ giật mình:
“Mấy hôm nay ta chưa tới Đại Lý tự, không rõ tiến triển. Nhưng sao ngươi lại đến Túy Hoan Lâu?”
Ngu Tử Đồng bất đắc dĩ đáp:
“Lần trước nghe chuyện Ninh Quắc, ta nghĩ thế nào cũng chẳng tin hắn lại hại cô nương Liên Tinh kia. Gần đây Đăng Tiên Cực Lạc Lâu mở đại hội tuyển hoa khôi, náo nhiệt đến cực điểm. Túy Hoan Lâu tuy không bằng Tiên Lâu, nhưng cũng đưa hai đầu bài tham dự. Ta vừa muốn xem náo nhiệt, vừa muốn dò xem trong Túy Hoan Lâu có điều chi khả nghi, bèn tới đó hai lần.”
Khương Ly vừa lo vừa buồn cười:
“Ngu đại nhân của ngươi mà biết con gái cứ lui tới chốn thanh lâu, chẳng phải nổi giận sao?”
Thời Đại Chu phong tục đã cởi mở, nữ tử giả trang nam phục ra vào hoa phường không hiếm, song với những nhà danh gia nề nếp, chuyện ấy vẫn kiêng kị lắm.
Ngu Tử Đồng chớp mắt:
“Không để phụ thân biết là được. Năm ngoái Tây Bắc tuyết tai, đầu xuân Lương quốc phía bắc lại ngấp nghé gây biến, Binh Bộ bận tối tăm mặt mũi, ông ấy chẳng rảnh quản ta. Thôi thôi, nói chính sự đi. Ta đến Túy Hoan Lâu hai lần, đặc biệt tra hỏi về Liên Tinh cô nương, quả nhiên phát hiện điều kỳ quái. Trước tiên, Liên Tinh vốn là người của Đăng Tiên Cực Lạc Lâu!”
Nghe đến đây, tim Khương Ly bỗng thắt lại:
“Nàng là người cũ của Tiên Lâu?”
Ngu Tử Đồng gật đầu:
“Đúng thế. Ngươi cũng biết sáu năm trước Tiên Lâu từng xảy ra đại hỏa, cháy suốt ba ngày ba đêm, toàn lâu hóa tro tàn. Chủ phía sau Tiên Lâu là Quảng Lăng Thẩm thị, lần ấy Thẩm gia cũng tổn thất nặng nề, nên không lập tức tái dựng. Gái hát, nô tỳ trong lâu đều phải tự tìm sinh kế — Liên Tinh chính khi đó chuyển sang Túy Hoan Lâu.”
Đoạn trước nói bằng giọng bình đạm, rồi Ngu Tử Đồng bỗng hạ giọng trầm lại:
“Nàng ta được nâng đỡ hai năm, từng là hoa khôi Túy Hoan Lâu. Nhưng hai năm trước mắc bệnh, dần bị lạnh nhạt. Về sau quen biết với Phùng Tranh, hắn gần như thành khách duy nhất của nàng. Như ngươi nói, sau khi Phùng Tranh gặp chuyện, bệnh nàng liền nặng hẳn. Song khác với kết quả điều tra của Đại Lý tự, ta nghe được rằng — nàng sớm biết Phùng Tranh đã hóa điên.”
Khương Ly nín thở:
“Sao lại nói thế?”
Ngu Tử Đồng đáp:
“Là cô nương tên Hương Phất kể. Nàng ấy vốn hiền lành, thỉnh thoảng qua hậu viện thăm nom Liên Tinh. Khi vụ án Đoạn Phối vừa được sáng tỏ, bên ngoài chỉ biết Phùng Tranh bị bắt, chưa hay hắn phát điên. Hương Phất đến an ủi Liên Tinh, nói tội hắn chưa luận xong, may ra còn chuyển cơ. Ai ngờ Liên Tinh lại buột miệng nói: ‘Người đã hóa điên rồi, còn có chuyển cơ gì nữa.’ Hương Phất kinh hãi hỏi nàng sao biết, Liên Tinh liền im bặt. Nàng ấy nghĩ Liên Tinh tuy đáng thương nhưng hẳn có đường riêng để dò tin. Sau bệnh Liên Tinh càng nặng, Hương Phất cũng không dám tới nữa.”
Ngu Tử Đồng dừng một thoáng rồi nói:
“Có lẽ Liên Tinh vì quá yêu Phùng Tranh, luôn tìm cách dò tin về hắn. Biết hắn vô vọng thoát tội, nàng liền tuyệt sinh. Người ta nói nàng trúng độc mà chết, nhưng ta nghi là tự tận.”
Khương Ly khẽ gật, “Ta cũng từng ngờ vậy. Nhưng nàng trúng độc Nguyệt trung sương, thứ ấy đâu dễ kiếm. Một kỹ nữ bệnh nặng, biết tìm ở đâu?”
Ngu Tử Đồng đáp:
“Hương Phất nói hai năm trước khi Liên Tinh vừa ngã bệnh, thân phận sa sút, từng tiếp đãi vài khách giang hồ. Có lẽ khi đó được ai đó tặng cho.”
Khương Ly trầm mặc. Nguyệt trung sương là kịch độc quý hiếm, trong giới võ lâm giá trị bằng ngọc. Dùng độc dược làm lễ vật, nghĩ thế nào cũng thấy quái dị.
“Nếu quả vậy, chứng cớ lại càng khó tìm.”
Ngu Tử Đồng tiếp lời:
“Nhưng nếu chứng minh được nhân chứng tiểu lại kia có điều mờ ám, chẳng phải sẽ giúp Ninh Quắc thoát tội sao? Hương Phất bảo, tiểu lại Bảo Nghiễn kia ở lâu có tình nhân — là cô nương tên Sương Nghê, mới mở mặt hai năm. Hôm qua nàng ấy lén nói với Hương Phất rằng Bảo Nghiễn đang tích bạc chuộc nàng, nhưng dặn không được tiết lộ. Nghĩ lại hôm ấy ta thấy hắn đi mua thuốc, chuyện này há chẳng đáng ngờ lắm ư?”
Khương Ly nghe vậy, trong lòng chấn động:
“Ngươi nói đúng. Đại Lý tự e là chưa biết chuyện này, ta sẽ đến báo, để họ điều tra kỹ.”
Ngu Tử Đồng thở phào:
“Thế thì chẳng công ta uổng phí mấy chuyến đi!”
Khương Ly nhìn nàng, dịu giọng:
“Ngươi vốn chẳng ưa Ninh Quắc, nay lại vì hắn mà dấn thân, ta thấy lo lắm. Việc này cứ giao Đại Lý tự xử lý, ngươi chớ can dự thêm.”
Ngu Tử Đồng hừ khẽ:
“Ta đâu phải vì Ninh Quắc, mà là vì Bạch Kính Chi! Người đang yên lành lại chết, bất kể ai là hung thủ, ta đều muốn biết rõ. Nếu chỉ là vụ Ninh Quắc thì thôi, nhưng thêm vụ Liên Tinh xen vào, chẳng phải càng rối hơn sao? Thôi được, ta chỉ đi nghe ngóng thôi, ngươi đừng nói với ai nhé!”
Khương Ly khẽ cười:
“Được, nhưng với Đại Lý tự, ta vẫn phải bẩm thật.”
Ngu Tử Đồng thở dài:
“Ý ngươi là Bùi Yến chứ gì? Thôi kệ, hắn miệng kín lắm. À phải, ngươi vẫn chưa kể, giảng y ở Thái y thự có thú vị không?”
Khương Ly nghe nàng nhắc đến Thái y thự, liền chấn chỉnh tinh thần, đáp qua loa vài câu. Hai người lại hàn huyên đôi chút, nhắc chuyện năm xưa Ngụy Giai cùng Ngu Thanh Lăng hành y cứu người, rồi thấy trời đã ngả chiều, Ngu Tử Đồng mới cáo từ rời đi.
Tiễn Ngu Tử Đồng đi thì đã gần tới giờ Dậu. Màn đêm dần buông, mây chiều chồng chất, Khương Ly đang định sai Trường Cung tới Đại Lý tự báo tin, thì Cát Tường từ ngoài viện vội vàng chạy vào:
“Đại tiểu thư, Bùi quốc công phủ có người đến, nói mời người qua phủ một chuyến.”
Khương Ly hỏi ngay:
“Là ai tới?”
“Là tiểu tư bên cạnh Thế tử Bùi công tử.”
Trong lòng nàng đã mơ hồ đoán được vài phần, liền cùng Hoài Tịch bước nhanh ra ngoại viện.
Vừa thấy Cửu Tư, hắn đã tiến lên thấp giọng nói:
“Cô nương, công tử đang chờ ở tư trạch phía nam thành.”
Đã chọn hẻm Bính Bút làm nơi gặp, tất nhiên là đã có tin tức từ Túc vương phủ cũ. Thấy trời sắp tối, Khương Ly không dám chậm trễ, lập tức lên xe, hướng nam mà đi.
Khi xe bắt đầu lăn bánh, Cửu Tư nói thêm:
“Cô nương, đã tìm được một nhà, phụ mẫu đứa nhỏ đều tới Trường An. Thập An sáng nay cũng đã trở về, hiện họ đang ở hẻm Bính Bút.”
Khương Ly gật nhẹ, lòng đã tính sẵn kế. Sau hai nén nhang, xe tới phủ họ Bùi thì trời đã đổ hoàng hôn.
Qua cổng, Bùi Yến đang chờ ngoài chính sảnh. Vừa thấy nàng, hắn liền bước nhanh tới nói:
“Mã Nguyên từng nhắc, phu thêTriển Dược đã đến, còn có quản sự Dương Bồi ở Lũng Châu. Thập An cũng đi tìm, nhưng nhà họ Dương nghe nói chuyện có liên quan đến cái chết của con năm xưa thì nói đó là chuyện đã qua, chẳng muốn truy cứu nữa. Kéo dài ba ngày liền, Thập An đành đưa phu thê họ Triển trở lại trước.”
Khương Ly đáp:
“Không sao, chỉ cần họ chịu phối hợp là được.”
Bùi Yến gật đầu:
“Họ nhiều năm không con, trong lòng vẫn mang khúc mắc, nghe nói có thể tra lại chân tướng, tự nhiên đồng ý. Họ đang nghỉ ở hậu viện, ta đã sai người mời tới.”
Khương Ly gật ý. Hai người vào trong sảnh chờ, chẳng mấy chốc, một đôi phu phụ trung niên ăn vận giản dị, sắc mặt mang vài phần rụt rè, được dẫn vào.
Thập An ở bên giới thiệu:
“Triển lão gia, Triển phu nhân, đây là công tử nhà ta, còn vị này là Tiết cô nương, danh y được công tử mời đến. Xin hai vị kể tường tận những gì còn nhớ, để công tử và cô nương có thể giúp phán định năm xưa rốt cuộc đã xảy ra chuyện gì. Còn các đơn thuốc kia, xin giao cho Tiết cô nương xem trước.”
Phu thê Triển gia nghe vậy vội cúi người hành lễ. Triển Dược lại lấy từ trong ngực ra hai tờ giấy ố vàng, cung kính dâng lên.
Ông chừng bốn mươi tuổi, dung mạo ngay ngắn, phu nhân Vu thị diện mạo thanh tú, khí độ ôn hòa. Cả hai ăn mặc chỉnh tề, có đeo chút vàng ngọc, trông ra sau khi rời Túc vương phủ vẫn sống khá ổn.
Ba tờ đơn thuốc viết tay, tổng cộng năm phương dược. Khương Ly đưa mắt nhìn qua, chỉ một chốc đã đọc hết, rồi hỏi:
“Đây là đơn thuốc năm xưa Trình đại phu kê cho hài tử?”
Triển Dược gật đầu:
“Phải, khi ấy con ta – Vĩnh nhi – bệnh chưa nặng, nào ngờ bị kéo lây. Mấy phương thuốc này là ta ngấm ngầm ghi nhớ, chắc không sai.”
Khương Ly khẽ gật:
“Xin kể lại tường tận mọi việc, càng chi tiết càng tốt.”
Triển Dược nhìn vợ, mắt chợt ánh lên nỗi đau xưa, rồi cất giọng nghèn nghẹn:
“Năm ấy ôn dịch khởi tại Trường An rất kỳ quái. Túc vương phủ phòng bị chặt chẽ mà cũng chẳng tránh được. Ta vốn là hộ vệ trong phủ, còn phu nhân ta là thêu nương trong xưởng. Con trai chúng ta Vĩnh nhi thường theo tiểu Thế tử làm bạn học, bạn chơi. Khi dịch vừa bùng phát, phủ trên dưới đều hoảng hốt, người bệnh và người chưa bệnh đều tách riêng nghiêm ngặt. Ban đầu Vĩnh nhi vẫn khỏe, nhưng đến cuối tháng chín thì đột nhiên phát bệnh.”
“Hắn cùng Minh nhi – con Dương Bồi – gần như cùng lúc ngã bệnh. Lúc đầu chỉ rét run, phát sốt, mệt lả, chúng ta cũng không lo, vì trong phủ có Trình đại phu. Ông ấy là người tốt, thường trị bệnh cho bọn hạ nhân, phương dược của ông so với thầy thuốc bên ngoài đều linh nghiệm hơn. Khi dịch bùng phát, nhờ ông mà vương gia cứu được không ít người.”
Triển Dược thở dài nặng nề:
“Chúng ta tin Trình đại phu, còn đem Vĩnh nhi sang ở trong viện của ông cho tiện chăm sóc, mỗi ngày tới thăm một lần. Vài ngày đầu, bệnh tình cả hai đều khá lên, Trình đại phu còn nói, nhiều nhất hai mươi ngày sẽ khỏi hẳn. Ai ngờ giữa tháng mười, bệnh tình hai đứa lại trở nên nguy kịch.”
“Lúc ấy tiết trời đã lạnh, dịch ngoài phủ gần như khống chế được, người lớn trong phủ nhiễm bệnh đều khỏi, chỉ có hai đứa nhỏ càng lúc càng yếu. Trình đại phu nói tà khí đã nhập tim phổi, hai đứa thở gấp, lúc nóng lúc rét, thường xuyên hôn mê.”
“Sau đó ngày ngày uống thuốc, đến đầu tháng mười một, cả hai gầy rộc đi. Dù vậy, ta vẫn tin ông ấy chữa được. Giữa tháng mười một, mọi người trong phủ đều khỏi, chỉ còn hai đứa. Vương gia sợ bệnh tái phát, không cho ai tùy tiện ra vào, ngay cả Trình đại phu cũng bị giam trong viện.”
Triển Dược nghẹn giọng:
“Lúc ấy ta chỉ nghĩ nên nghe lệnh, lại thấy Trình đại phu ngày đêm sắc thuốc, nên tin ông không bỏ rơi con ta. Ai ngờ cứ thế nhìn Vĩnh nhi từ nóng lạnh thất thường đến mê man, nôn mửa, ăn không nổi. Mỗi khi ta vào xem, mặt nó xanh tím, hơi thở gấp, mạch yếu hơn cả người sắp chết. Đến mấy ngày cuối, ta đã biết nó khó qua khỏi, nhưng Trình đại phu vốn có tiếng trong phủ, y thuật chẳng kém thái y, chúng ta có nghi ngờ cũng không mời nổi ai khác. Đến khi nó tắt thở, Trình đại phu cũng khóc, nói đã tận lực mà không cứu nổi.”
“Trình đại phu có uy tín, lại được vương gia chống lưng. Sau việc đó, người trong phủ chỉ thương hại chúng ta, ai cũng nói hai đứa nhỏ mệnh khổ, chẳng ai trách ông ta. Vương gia còn ban bạc an ủi, cho phép mang con về quê an táng. Nhà ta ở không xa, nên cũng nghe lời. Đến khi chôn cất xong, ta quay lại phủ thu dọn di vật của con, mới phát hiện điều lạ.”
Triển Dược nhìn tờ đơn trong tay Khương Ly, giọng trầm xuống:
“Ta từng học võ, bị thương nhiều, nên biết chút y lý. Khi xem lại, chợt nhớ mấy phương thuốc của Trình đại phu có gì đó sai. Đáng lẽ khi bệnh nặng, phải thay thuốc, nhưng ngược lại, ông ta giữ một phương liên tục mười ngày không đổi. Lúc con ta đỡ, ông lại đổi thuốc ngay. Trình đại phu hành nghề nhiều năm, đâu phải hạng lang băm mù lối?”
“Ta sinh nghi, nhưng vẫn giữ lòng tin, nên tới hỏi cho rõ. Không ngờ chính từ lúc đó, càng thấy ông có tật giật mình—”
Bùi Yến và Khương Ly cùng siết chặt lòng bàn tay. Bùi Yến hỏi khẽ:
“Ông ta lộ vẻ hoảng hốt sao?”
Triển Dược gật mạnh:
“Phải! Ông ta trị người trong phủ chưa từng ghi rõ toa thuốc, toàn miệng đọc rồi sai người bốc. Viện của ông chất đầy dược liệu, ta vốn có ý ghi nhớ nên thuộc lòng vài thứ. Ông ta nào ngờ ta nhận ra từng vị thuốc, nên định qua loa che giấu, kết quả càng làm ta tin chắc — ông quả thật có điều bất thường.”
Triển Dược nói một hơi, rồi nghiến răng, giọng lộ rõ căm hận:
“Nhưng hai tháng trị bệnh, thuốc sắc sớm bị hủy hết, chôn con xong trở lại phủ thì trong viện Trình đại phu dược liệu cũng bị dọn sạch. Dù ta còn nhớ nhiều manh mối, cũng chẳng có chứng cứ thực. Vương gia lại bênh vực ông ta, trong phủ những kẻ từng chịu ơn cũng nói ta vì con chết mà phát điên, cố tình đổ lỗi cho Trình đại phu. Sau đó Vương gia còn nổi giận. Ta và thê tử vẫn phải ở lại phủ, bị người gièm pha đủ điều. Lâu dần, chính ta cũng bắt đầu hoài nghi mình đoán sai. Dương Bồi thì vốn chẳng hiểu y lý, lại còn có đứa con thứ, bị khuyên can mãi rồi nguôi ngoai, còn ta… cũng mất hết can đảm truy cứu, thế là hai đứa nhỏ coi như uổng mạng.”
Bùi Yến hỏi:
“Nhưng về sau, Trình đại phu chết rồi, đúng chứ?”
Triển Dược cười lạnh:
“Đúng. Ta và Dương Bồi ngừng truy cứu vào tháng hai, ai ngờ chỉ hơn một tháng sau, ông ta đột nhiên chết bất đắc kỳ tử.”
“Lúc ấy ông thấy có gì lạ không?”
Triển Dược lắc đầu:
“Không, khi đó ta chỉ nghĩ báo ứng đến rồi. Kẻ hại người lại giả danh thần y, sớm muộn cũng gặp quả báo. Nhưng sau hơn một năm, ta và thê tử mới bắt đầu cảm thấy cái chết của ông ta có gì đó không bình thường. Khi ấy ta đã rời phủ, chẳng dám quay lại tra cứu nữa.”
Khương Ly hỏi:
“Vì sao sau một năm các người mới nghi ngờ?”
Triển Dược nặng giọng đáp:
“Sau khi Trình đại phu chết, ta và Dương Bồi trong phủ bị người châm chọc, có kẻ còn nói chính chúng ta nguyền rủa khiến ông ta chết. Vương gia biết mà mặc kệ, đại quản gia cũng như thế, chúng ta bị ép đến cùng đường. Mùa đông năm ấy, chịu hết nổi, liền xin phóng thân thư, Vương gia cũng thuận theo. Từ đó phu thê ta quay về quê cũ.”
Nói đến đây, ông nhìn sang Vu thị — bà đã đỏ mắt, nghẹn ngào tiếp lời:
“Năm ấy Trình đại phu chết, chúng ta nghĩ là con trai đã được rửa oan, nên chỉ mong sống yên ổn. Nào ngờ Vĩnh nhi dưới suối vàng vẫn chưa yên, dường như còn mang oán khí, nên nó… quay lại tìm chúng ta.”
Khương Ly giật mình, Bùi Yến cũng kinh ngạc:
“Quay lại tìm các người?”
Vu thị nước mắt lưng tròng. Triển Dược nói tiếp:
“Là chuyện xảy ra một năm sau khi ta về quê. Năm đó chẳng có gì khác thường, chỉ là vùng ta đột nhiên có bọn trộm mộ quấy phá. Kỳ lạ thay, trong cả nghĩa địa chỉ có mộ Vĩnh nhi bị đào, mà đồ tùy táng chẳng mất gì. Lại có người trong thôn trông thấy… linh hồn của đứa nhỏ.”
Khương Ly cau mày, giọng bình tĩnh:
“Làm sao biết là hồn của đứa nhỏ?”
Triển Dược đáp:
“Là biểu thúc ta kể lại. Ông đi ngang qua nghĩa địa thì thấy trong huyệt mộ Vĩnh nhi có ánh sáng nhạt. Ông lại gần xem, thì ánh sáng đó bám lên di hài thằng bé, nhìn rõ ràng như hồn phách hiện về. Ông sợ quá chạy về báo, chúng ta cùng đến, thấy mộ quả bị đào, thi thể vẫn còn, hai món vàng tùy táng cũng nguyên vẹn. Chúng ta chỉ nghĩ, chắc là nhờ linh hồn Vĩnh nhi tự bảo hộ.”
Khương Ly hỏi ngay:
“Các người đến nơi, có thấy ánh sáng ấy không?”
Vu thị nghẹn ngào:
“Không, khi đến thì đã tắt. Nhưng biểu thúc ta vốn là người cẩn trọng, chưa từng nói dối, lúc ấy cũng không uống rượu, không bệnh tật, tỉnh táo mà thấy. Từ xưa đã có chuyện người chết hiện linh quang, có người gọi là ‘hồi hồn chi quang’, có người ví như ngọn đèn ma. Vĩnh nhi chắc vì mang oan chưa giải, hồn phách chẳng siêu thoát. Sau đó chúng ta tu sửa lại mộ, thỉnh cao tăng đến tụng kinh, sư phụ ấy nói: kẻ chết nếu còn tâm nguyện chưa trọn, tự nhiên khó yên nghỉ. Nghĩ lại, còn gì oan hơn là chết mà chẳng rõ nguyên do? Từ đó, ta thường mộng thấy Vĩnh nhi khóc, y như khi nó bệnh nặng. Những năm nay, phu thê ta chưa một đêm ngủ yên.”
rừng truyện chấm com
rừng truyện chấm com
Khương Ly cùng Bùi Yến nhìn nhau, trong lòng vẫn nghi hoặc, song thấy Vu thị khóc nức nở cũng không nỡ phản bác.
Khương Ly dịu giọng nói:
“Vậy là từ chuyện đó, hai vị mới sinh nghi về cái chết của Trình đại phu?”
Triển Dược gật đầu:
“Phải. Lúc ấy, ta và thê tử vừa đau vừa sợ, vẫn trung thành với Vương gia nên chẳng dám nghĩ xa. Sau này tính đi tính lại, càng thấy năm đó chuyện có điều uẩn khúc, nhưng thân phận thấp hèn, đâu dám mở miệng.”
Chuyện đang điều tra lại kéo sang chuyện hồn phách, khiến Bùi Yến cũng nhất thời lúng túng, liền nhìn sang Khương Ly hỏi:
“Phương dược có gì lạ không?”
Khương Ly lại nhìn kỹ năm tờ phương dược, chậm rãi nói:
“Thuốc này đều đúng cho bệnh ôn dịch.”
“Phương thứ nhất gồm Bắc sài hồ, hoàng cầm phiến, khương bán hạ, đảng sâm, chích cam thảo, hoàng liên phiến, qua lâu, liên kiều, đương quy, sinh thạch cao… tổng cộng mười lăm vị. Đây là bài Tiểu sài hồ thang hợp Sinh thạch cao thang(1), chuyên trị chứng phát nhiệt hàn chiến, hoàng thân hoàng mục, can phế phát nhiệt, đởm thống — tức chứng ôn ngược trung độ. Nếu kết hợp châm cứu tại huyệt Dương Lăng Tuyền, Khâu Khư, Túc Tam Lý, hiệu quả càng tốt.”
Khương Ly nói thong thả, giọng trầm ổn, Triển Dược chăm chú nghe, gật gù theo từng câu.
“Này là phương thứ hai,” nàng nói tiếp, “chín vị thuốc đầu không đổi, thêm quế chi, bạch thược, kim ngân hoa, lại phối sinh thạch cao, sinh khương, đại táo — là bài Sài hồ quế chi thang hợp Sinh thạch cao thang(2), có thể trị chứng hôn mê, sốt cao kéo dài, khí huyết tổn hao.”
“Phương thứ ba thêm nhân trần, phù sao chỉ thực(3), công hiệu không khác mấy, chủ yếu điều vị, ích can thông dương.”
Đến đây, ánh mắt Khương Ly lạnh lại, giọng trở nên nghiêm trọng:
“Phương thứ tư đổi hẳn, gồm phụ tử hắc thuận phiến, phục linh, phù sao bạch truật, phù sao thương truật, long cốt, sinh thạch cao, trư linh cùng mười bảy vị khác. Đây là sự hòa hợp của Chân vũ thang, Quế chi cam thảo long cốt mẫu lệ thang, Linh cam ngũ vị khương tân thang, Đình lịch đại táo tả phế thang và Ngũ linh tán(4) — chủ trị ôn dương khử độc. Khi ấy bệnh nhân tuy hạ sốt nhưng tà khí nhập tâm phế, tim yếu, phổi sưng, hô hấp khó khăn — chính là giai đoạn chí tử của ôn dịch.”
“Phương cuối cùng có khương bán hạ, đảng sâm, phục linh, bạch truật, chỉ thực, sinh thạch cao… là Phục linh ẩm hợp Ngũ linh tán gia Hạ cao đậu quy thảo thang(5), chuyên trị người bệnh không còn sốt, nhưng vị khí tổn thương, nấc, hồi hộp, mồ hôi trộm, mạch suy.”
Triển Dược liên tục gật đầu:
“Cô nương nói rất đúng. Ta sau này cũng từng đem toa cho thầy thuốc khác xem, ai nấy đều bảo không sai, nên mới chẳng biết phải tra từ đâu.”
Bùi Yến khẽ nhíu mày:
“Không sai chút nào sao?”
Khương Ly lắc đầu:
“Không hẳn. Dược liệu đúng, nhưng liều lượng và chất lượng mới là then chốt. Ví như phụ tử, bán hạ đều là dược độc, phải pháo chế khử độc, nếu làm sai thì chẳng khác nào cho uống độc dược. Hơn nữa, theo thứ tự các phương này, bệnh tình vốn giảm dần, không phải càng lúc càng nặng. Đặc biệt phương cuối dùng rất dè dặt — chứng tỏ người kê thuốc tin rằng bệnh đã ổn định.”
Triển Dược vội hỏi:
“Cô nương nói vậy, có phải là do thuốc pháo chế sai chăng?”
Khương Ly trầm ngâm chốc lát, rồi hỏi:
“Tiên sinh và phu nhân còn nhớ rõ lúc hài tử tạ thế, tình trạng ra sao chăng?”
Câu hỏi ấy quả thật tàn nhẫn, nhưng Khương Ly không thể không hỏi.
Vu thị nghẹn giọng đáp:
“Hôm đó là nửa đêm gọi chúng ta sang, Trình đại phu mặt mày tái nhợt, thân thể Vĩnh nhi đã gần như lạnh cứng. Hai đứa trẻ là Vĩnh nhi đi trước, ta chỉ thấy môi nó tím bầm, mặt cũng xanh xao, trong mắt đầy tia máu, người gầy sọp đi, nhưng tứ chi cùng ngực bụng lại hơi sưng. Khi ấy Trình đại phu nói ngũ tạng bị bệnh tà xâm thực, tổn hại quá độ, lại nhắc tới gì đó như ‘phế lậu’, ‘đàm ẩm’, bảo rằng các chứng cùng phát nên không thể cứu nổi.”
Khương Ly lại hỏi:
“Vậy lúc hai đứa có biểu hiện nôn mửa là vào khi nào?”
Vu thị nhìn sang Triển Dược, ông ta đáp:
“Lúc nôn nhiều nhất là đầu tháng Đông nguyệt, giữa và cuối tháng thì ăn uống tuy khó nuốt nhưng cũng ít nôn hơn.”
Khương Ly trầm ngâm nói:
“Triệu chứng rõ nhất của ngộ độc phụ tử là nôn mửa, tiêu chảy và đau bụng——”
Triển Dược nghe vậy vội nói:
“Không giống thế đâu, hai đứa lúc bệnh thì tiểu tiện, đại tiện đều khó, trước khi mất thậm chí hai ngày chẳng có lần nào. Trình đại phu vì vậy còn thử nhiều phương thuốc và món ăn, có khi là do thực phẩm chăng?”
Khương Ly khẽ lắc đầu:
“Nếu chỉ dựa vào tình trạng khi tử vong, lại giống hơn với tổn thương tim phổi, chết vì ngạt thở mà suy kiệt. Dẫu có là trúng độc, e cũng là loại độc tính thẩm thấu chậm, nên không thể hoàn toàn loại trừ khả năng là độc của phụ tử hoặc bán hạ.”
Lời ấy vẫn còn dè dặt, khiến phu thê Triển Dược nhìn nhau, muốn hỏi lại mà không dám, trong lòng tự nhiên bứt rứt. Khương Ly hiểu nỗi lo của họ, song cũng không thể tùy tiện phán đoán.
Bùi Yến bèn lên tiếng an ủi:
“Đừng nôn nóng. Hôm nay mời hai người đến đây chính là để tra rõ chuyện này. Tiết cô nương là người học y, tất không thể dựa vào suy đoán mà kết luận. Phương dược này tạm lưu lại cho nàng ấy, hai người nếu nhớ thêm điều gì khác thường thì báo ngay. Giờ khuya rồi, hãy về nghỉ trước đi.”
Chuyện đã qua sáu năm, Khương Ly lại chưa từng chứng kiến tận mắt, nên dĩ nhiên chẳng thể vội vàng luận định. Phu thê Triển Dược đợi đằng đẵng bao năm, nay cũng chẳng gấp trong một sớm một chiều, liền cáo lui ra về.
Vừa khi họ đi khỏi, Bùi Yến lập tức hỏi:
“Ngươi nghĩ ra điều gì rồi?”
Hắn hiểu chỉ cần nhìn nét mặt Khương Ly là biết nàng có điều không tiện nói trước mặt người ngoài. Quả nhiên, nàng trầm giọng đáp:
“Ta tuy nói không thể loại trừ, nhưng nếu Trình Thuật Thực thật đang thử dược, thì chuyện ấy há lại đơn giản thế sao? Năm đó trong Đông cung có năm sáu vị thái y cùng hội chẩn, nếu độc của phụ tử thật rõ rệt, đến y công thấp nhất cũng có thể nhận ra. Còn nếu là độc nhẹ, ngấm dần qua thời gian, thì người bệnh ắt phải dùng thuốc ấy suốt nhiều tháng, vậy làm sao bảo đảm đám thái y không ai phát hiện? Huống hồ khi Đông cung dùng thuốc, còn có cung nữ, thái giám nếm trước. Nếu Lý Dực trúng độc, họ cũng sẽ lộ triệu chứng, há chẳng quá rõ ràng ư?”
Bùi Yến trầm mặt, chợt nói:
“Nghe ngươi phân tích, ta lại nghĩ tới độc ‘Nguyệt Trung Sương’. Loại độc này chỉ phát tác với người đang mang bệnh, còn người khỏe thì gần như vô sự, vì thế mới có thể che mắt thiên hạ. Nhưng chất độc ấy cực khó hóa giải, lại dễ bại lộ sau khi tử vong…”
Khương Ly gật đầu:
“Lý là vậy, song loại độc ấy trên đời cực hiếm.”
Nói đoạn, nàng lại xem kỹ phương dược hai lượt,
“Phương thuốc này nhìn qua không có gì khác thường, song chỉ dựa vào phương dược thôi chưa đủ. Dị vật trong chuỗi Phật châu ta đã nghiền nghiên mấy ngày mà vẫn chưa rõ, nhưng mấy hôm trước đến Thái y thự, ta được biết năm đó khi ôn dịch bộc phát, Bạch Kính Chi là người phụ trách dược giám, tất cả dược liệu nhập cung đều qua tay ông ấy.”
Khương Ly khẽ thở dài:
“Có thể xác định việc dùng thuốc khi ấy hẳn đã xảy ra sơ xuất, chỉ là chưa tìm được chứng cứ cụ thể. Theo lời phu nhân Triển thị kể, hai đứa trẻ ở phủ Túc vương có vẻ chết vì suy kiệt tim phổi, rất giống cái chết của Lý Dực năm đó. Ta phải nghĩ lại thật kỹ mới được.”
Bùi Yến gật đầu:
“Cứ yên tâm. Phủ Túc vương và nhà họ Tiền dạo này đều chẳng yên, dẫu cuối cùng không tra ra dị vật trong Phật châu, ta vẫn còn cách khác để chứng thực.”
Lời ấy chỉ là an ủi, nhưng Khương Ly là người học y, chuyện mấy mạng người chết oan đều dính líu tới y đạo, nàng sao có thể để bản thân mơ hồ qua loa.
Chợt nghe Bùi Yến nhắc, nàng nhớ tới việc Ngu Tử Đồng đến tìm mình ban sáng, liền đem chuyện ấy kể lại.
“Muốn chuộc thân cho Sương Nghê ư?” – Bùi Yến nhíu mày,
“Bảo Nghiễn quả nhiên đáng ngờ. Hắn bỗng có vài trăm lượng bạc, tất có kẻ sai hắn tới phủ Bạch dập đầu, nhằm đổ cái chết của Liên Tinh lên đầu Ninh Quắc.”
Khương Ly hơi sáng mắt:
“Ngươi xác định rồi?”
Bùi Yến gật đầu:
“Xác định, nhưng chưa bắt người.”
Khương Ly nói nhanh:
“Ta hiểu rồi, Bảo Nghiễn chỉ là con cờ. Chỉ khi có chứng cứ đủ vững để chỉ ra kẻ đứng sau, mới có thể động thủ. Giờ bằng chứng vẫn còn quá ít…”
Thấy nàng chau mày, Bùi Yến hỏi:
“Hôm trước ngươi có vào Cảnh Hòa cung?”
Khương Ly ngẩn ra:
“Sao ngươi biết?”
Hắn đáp nhẹ:
“Trưa nay, khi ta ở Thái Cực điện chầu vua, đúng lúc Thục phi nương nương tới thăm bệ hạ, có nhắc đến chuyện này.”
“Thục phi nương nương?” – tim Khương Ly khẽ chùng.
Bùi Yến nói:
“Nghe đâu thái tử phi đến thỉnh an Quý phi nương nương, cũng ghé qua cung Thục phi.”
Khương Ly lập tức hiểu mục đích của Tiết Lan Thời. Thấy Bùi Yến nhìn mình không rời, nàng ánh mắt khẽ lóe:
“Lý Cẩn nhớ Ninh Quắc mà phát bệnh, Ninh nương nương liền xin thái tử cho ta vào cung. Ta chữa bệnh cho Lý Cẩn, chuyện ấy giờ cũng đã lộ ra ngoài rồi. Ta còn đến cả Hàm Quang điện——”
Bùi Yến biết rõ Hàm Quang điện là nơi nào, lập tức siết chặt mày.
Khương Ly cảm khái:
“Không ngờ hơn sáu năm qua, nơi ấy chẳng thay đổi gì, đồ vật của Lý Dực vẫn y nguyên. Lý Cẩn vốn thân thể yếu, nhiều năm gánh vác kỳ vọng của mọi người cũng chẳng dễ gì. Ta không kìm được, thử gợi hai câu, nhưng Ninh nương nương dường như vẫn chưa tin ta, chẳng chịu thổ lộ gì. Với thân phận họ Tiết này của ta, đành phải từ từ vậy.”
Ngoài cửa sổ đêm đã sâu, Khương Ly cất phương dược vào tay áo, nói:
“Thôi, khuya rồi. Ta phải về phủ nghĩ kỹ lại chuyện phương thuốc này, không thể chậm trễ.”
Bùi Yến cũng nhìn ra ngoài, thấy trời tối như mực, bèn gật đầu đi cùng nàng ra cổng.
Khi bước khỏi thượng phòng, hoa cỏ trong viện giữa đầu hạ càng thêm tươi rợp. Ánh mắt Khương Ly khẽ quét một vòng, chợt nói:
“Kỳ lạ thật, lần đầu ta đến đây đã thấy phủ này quen thuộc vô cùng.”
Bùi Yến cụp hàng mi:
“Vậy ư? Phủ như thế ở Trường An rất nhiều.”
Khương Ly nhướng mày:
“Ta lại chưa thấy nhà nào giống như vậy.”
Nói thì nói vậy, nhưng lúc này còn bao chuyện trọng yếu, nàng cũng chẳng buồn truy xét. Khương Ly bước ra ngoài, lên xe ngựa, rồi vén rèm dặn lại người đang tiễn mình:
“Chờ tin tốt của ta nhé——”
Khi Bùi Yến gật đầu, nàng buông rèm. Roi ngựa vung lên, xe phóng thẳng trên con phố dài.
Bùi Yến đứng nơi cổng, dõi theo xe ngựa khuất bóng. Chốc lát sau, hắn hỏi Cửu Tư:
“Tiết Lan Thời và Thục phi trước nay thân thiết lắm sao?”
Cửu Tư ngớ người:
“Hả? Tiểu nhân chưa nghe họ qua lại mấy đâu, chẳng phải ai cũng nói Tiết Lan Thời khéo xem ý tứ, luôn lấy Quý phi nương nương làm đầu mà…”
Bùi Yến nhớ lại vẻ mặt Khương Ly vừa nãy, đôi mắt lạnh lẽo khẽ hẹp lại——
“Hắt xì——”
Trên xe ngựa phi nhanh qua trường phố, Khương Ly bất chợt hắt hơi, xoa xoa mũi, trong miệng vẫn lẩm nhẩm đọc phương thuốc của Trình Thuật Thực.
Hoài Tịch vội vén rèm, che kín gió:
“Dù là mùa hạ, ban đêm vẫn lạnh, cô nương mặc phong phanh quá.”
Khương Ly chỉ khẽ lắc đầu, vẫn thì thầm tính toán, Hoài Tịch biết nàng đang miệt mài suy nghĩ, không dám quấy rầy. Hai chủ tớ im lặng suốt dọc đường.
Về tới phủ Tiết, Khương Ly cau mày đi thẳng vào Doanh Nguyệt Lâu.
Hoài Tịch theo sau nói:
“Cô nương chớ nóng, càng nóng càng khó nghĩ ra.”
Khương Ly lại lắc đầu:
“Ta chỉ sợ đó là vật ta chưa từng thấy. Nếu cả nghe cũng chưa từng nghe, thì sao đoán được là thứ gì. Dù Đại Lý tự tìm ra nhân chứng vật chứng, có thể rửa oan cho Ninh Quắc, nhưng vẫn không chứng minh được âm mưu ‘chẩn đoán sai’ năm ấy với Hoàng thái tôn.”
Hoài Tịch cũng hiểu đạo lý ấy, nhưng chẳng biết giúp thế nào. Khi về đến Doanh Nguyệt Lâu, Khương Ly không buồn ăn tối, sai Cát Tường và người hầu nghỉ trước, rồi cùng Hoài Tịch lên lầu hai.
Lầu hai tối đen, Khương Ly đi trước, Hoài Tịch cầm đèn theo sau. Nàng bước nhanh, vừa vào khuê phòng, bóng tối khiến mắt như lóa đi. Nhưng cũng trong khoảnh khắc ấy, một tia sáng yếu ớt lóe lên bên cửa sổ.
Khương Ly sững lại, chớp mắt nhìn, ánh đèn trong tay Hoài Tịch vừa hắt tới.
Nàng lập tức nói nhỏ:
“Tắt đèn.”
Hoài Tịch hơi ngẩn ra, nhưng nhanh chóng làm theo.
Trong nháy mắt, gian phòng lại chìm vào bóng tối, song ánh sáng yếu ớt bên cửa sổ lại càng rõ hơn.
Khương Ly nhìn chăm chú, Hoài Tịch cũng thấy:
“Cô nương, kia là gì thế? Mùa này đã có đom đóm rồi ư?”
Khương Ly ngẩn người, rồi chậm rãi bước đến bên án thư gần cửa sổ. Trước khi tới nơi, nàng đã nhận ra toàn bộ đồ đạc mình dùng ban chiều đều vẫn ở đó.
Ánh sáng ấy, đang yếu ớt tỏa ra từ trong chiếc chén sứ xanh.
Tâm niệm lóe lên, Khương Ly dừng phắt lại. Nàng nhìn kỹ chiếc chén, rồi lại lia mắt sang khung cửa sổ nửa mở.
Cửa sổ, chén sứ… chén sứ, cửa sổ.
So đi so lại mấy lượt, ánh mắt nàng bỗng bừng sáng, thốt lên:
“Ta biết rồi——”
rừng truyện chấm com
rừng truyện chấm com
Khương Ly cùng Bùi Yến nhìn nhau, trong lòng vẫn nghi hoặc, song thấy Vu thị khóc nức nở cũng không nỡ phản bác.
Khương Ly dịu giọng nói:
“Vậy là từ chuyện đó, hai vị mới sinh nghi về cái chết của Trình đại phu?”
Triển Dược gật đầu:
“Phải. Lúc ấy, ta và thê tử vừa đau vừa sợ, vẫn trung thành với Vương gia nên chẳng dám nghĩ xa. Sau này tính đi tính lại, càng thấy năm đó chuyện có điều uẩn khúc, nhưng thân phận thấp hèn, đâu dám mở miệng.”
Chuyện đang điều tra lại kéo sang chuyện hồn phách, khiến Bùi Yến cũng nhất thời lúng túng, liền nhìn sang Khương Ly hỏi:
“Phương dược có gì lạ không?”
Khương Ly lại nhìn kỹ năm tờ phương dược, chậm rãi nói:
“Thuốc này đều đúng cho bệnh ôn dịch.”
“Phương thứ nhất gồm Bắc sài hồ, hoàng cầm phiến, khương bán hạ, đảng sâm, chích cam thảo, hoàng liên phiến, qua lâu, liên kiều, đương quy, sinh thạch cao… tổng cộng mười lăm vị. Đây là bài Tiểu sài hồ thang hợp Sinh thạch cao thang(1), chuyên trị chứng phát nhiệt hàn chiến, hoàng thân hoàng mục, can phế phát nhiệt, đởm thống — tức chứng ôn ngược trung độ. Nếu kết hợp châm cứu tại huyệt Dương Lăng Tuyền, Khâu Khư, Túc Tam Lý, hiệu quả càng tốt.”
Khương Ly nói thong thả, giọng trầm ổn, Triển Dược chăm chú nghe, gật gù theo từng câu.
“Này là phương thứ hai,” nàng nói tiếp, “chín vị thuốc đầu không đổi, thêm quế chi, bạch thược, kim ngân hoa, lại phối sinh thạch cao, sinh khương, đại táo — là bài Sài hồ quế chi thang hợp Sinh thạch cao thang(2), có thể trị chứng hôn mê, sốt cao kéo dài, khí huyết tổn hao.”
“Phương thứ ba thêm nhân trần, phù sao chỉ thực(3), công hiệu không khác mấy, chủ yếu điều vị, ích can thông dương.”
Đến đây, ánh mắt Khương Ly lạnh lại, giọng trở nên nghiêm trọng:
“Phương thứ tư đổi hẳn, gồm phụ tử hắc thuận phiến, phục linh, phù sao bạch truật, phù sao thương truật, long cốt, sinh thạch cao, trư linh cùng mười bảy vị khác. Đây là sự hòa hợp của Chân vũ thang, Quế chi cam thảo long cốt mẫu lệ thang, Linh cam ngũ vị khương tân thang, Đình lịch đại táo tả phế thang và Ngũ linh tán(4) — chủ trị ôn dương khử độc. Khi ấy bệnh nhân tuy hạ sốt nhưng tà khí nhập tâm phế, tim yếu, phổi sưng, hô hấp khó khăn — chính là giai đoạn chí tử của ôn dịch.”
“Phương cuối cùng có khương bán hạ, đảng sâm, phục linh, bạch truật, chỉ thực, sinh thạch cao… là Phục linh ẩm hợp Ngũ linh tán gia Hạ cao đậu quy thảo thang(5), chuyên trị người bệnh không còn sốt, nhưng vị khí tổn thương, nấc, hồi hộp, mồ hôi trộm, mạch suy.”
Triển Dược liên tục gật đầu:
“Cô nương nói rất đúng. Ta sau này cũng từng đem toa cho thầy thuốc khác xem, ai nấy đều bảo không sai, nên mới chẳng biết phải tra từ đâu.”
Bùi Yến khẽ nhíu mày:
“Không sai chút nào sao?”
Khương Ly lắc đầu:
“Không hẳn. Dược liệu đúng, nhưng liều lượng và chất lượng mới là then chốt. Ví như phụ tử, bán hạ đều là dược độc, phải pháo chế khử độc, nếu làm sai thì chẳng khác nào cho uống độc dược. Hơn nữa, theo thứ tự các phương này, bệnh tình vốn giảm dần, không phải càng lúc càng nặng. Đặc biệt phương cuối dùng rất dè dặt — chứng tỏ người kê thuốc tin rằng bệnh đã ổn định.”
Triển Dược vội hỏi:
“Cô nương nói vậy, có phải là do thuốc pháo chế sai chăng?”
Khương Ly trầm ngâm chốc lát, rồi hỏi:
“Tiên sinh và phu nhân còn nhớ rõ lúc hài tử tạ thế, tình trạng ra sao chăng?”
Câu hỏi ấy quả thật tàn nhẫn, nhưng Khương Ly không thể không hỏi.
Vu thị nghẹn giọng đáp:
“Hôm đó là nửa đêm gọi chúng ta sang, Trình đại phu mặt mày tái nhợt, thân thể Vĩnh nhi đã gần như lạnh cứng. Hai đứa trẻ là Vĩnh nhi đi trước, ta chỉ thấy môi nó tím bầm, mặt cũng xanh xao, trong mắt đầy tia máu, người gầy sọp đi, nhưng tứ chi cùng ngực bụng lại hơi sưng. Khi ấy Trình đại phu nói ngũ tạng bị bệnh tà xâm thực, tổn hại quá độ, lại nhắc tới gì đó như ‘phế lậu’, ‘đàm ẩm’, bảo rằng các chứng cùng phát nên không thể cứu nổi.”
Khương Ly lại hỏi:
“Vậy lúc hai đứa có biểu hiện nôn mửa là vào khi nào?”
Vu thị nhìn sang Triển Dược, ông ta đáp:
“Lúc nôn nhiều nhất là đầu tháng Đông nguyệt, giữa và cuối tháng thì ăn uống tuy khó nuốt nhưng cũng ít nôn hơn.”
Khương Ly trầm ngâm nói:
“Triệu chứng rõ nhất của ngộ độc phụ tử là nôn mửa, tiêu chảy và đau bụng——”
Triển Dược nghe vậy vội nói:
“Không giống thế đâu, hai đứa lúc bệnh thì tiểu tiện, đại tiện đều khó, trước khi mất thậm chí hai ngày chẳng có lần nào. Trình đại phu vì vậy còn thử nhiều phương thuốc và món ăn, có khi là do thực phẩm chăng?”
Khương Ly khẽ lắc đầu:
“Nếu chỉ dựa vào tình trạng khi tử vong, lại giống hơn với tổn thương tim phổi, chết vì ngạt thở mà suy kiệt. Dẫu có là trúng độc, e cũng là loại độc tính thẩm thấu chậm, nên không thể hoàn toàn loại trừ khả năng là độc của phụ tử hoặc bán hạ.”
Lời ấy vẫn còn dè dặt, khiến phu thê Triển Dược nhìn nhau, muốn hỏi lại mà không dám, trong lòng tự nhiên bứt rứt. Khương Ly hiểu nỗi lo của họ, song cũng không thể tùy tiện phán đoán.
Bùi Yến bèn lên tiếng an ủi:
“Đừng nôn nóng. Hôm nay mời hai người đến đây chính là để tra rõ chuyện này. Tiết cô nương là người học y, tất không thể dựa vào suy đoán mà kết luận. Phương dược này tạm lưu lại cho nàng ấy, hai người nếu nhớ thêm điều gì khác thường thì báo ngay. Giờ khuya rồi, hãy về nghỉ trước đi.”
Chuyện đã qua sáu năm, Khương Ly lại chưa từng chứng kiến tận mắt, nên dĩ nhiên chẳng thể vội vàng luận định. Phu thê Triển Dược đợi đằng đẵng bao năm, nay cũng chẳng gấp trong một sớm một chiều, liền cáo lui ra về.
Vừa khi họ đi khỏi, Bùi Yến lập tức hỏi:
“Ngươi nghĩ ra điều gì rồi?”
Hắn hiểu chỉ cần nhìn nét mặt Khương Ly là biết nàng có điều không tiện nói trước mặt người ngoài. Quả nhiên, nàng trầm giọng đáp:
“Ta tuy nói không thể loại trừ, nhưng nếu Trình Thuật Thực thật đang thử dược, thì chuyện ấy há lại đơn giản thế sao? Năm đó trong Đông cung có năm sáu vị thái y cùng hội chẩn, nếu độc của phụ tử thật rõ rệt, đến y công thấp nhất cũng có thể nhận ra. Còn nếu là độc nhẹ, ngấm dần qua thời gian, thì người bệnh ắt phải dùng thuốc ấy suốt nhiều tháng, vậy làm sao bảo đảm đám thái y không ai phát hiện? Huống hồ khi Đông cung dùng thuốc, còn có cung nữ, thái giám nếm trước. Nếu Lý Dực trúng độc, họ cũng sẽ lộ triệu chứng, há chẳng quá rõ ràng ư?”
Bùi Yến trầm mặt, chợt nói:
“Nghe ngươi phân tích, ta lại nghĩ tới độc ‘Nguyệt Trung Sương’. Loại độc này chỉ phát tác với người đang mang bệnh, còn người khỏe thì gần như vô sự, vì thế mới có thể che mắt thiên hạ. Nhưng chất độc ấy cực khó hóa giải, lại dễ bại lộ sau khi tử vong…”
Khương Ly gật đầu:
“Lý là vậy, song loại độc ấy trên đời cực hiếm.”
Nói đoạn, nàng lại xem kỹ phương dược hai lượt,
“Phương thuốc này nhìn qua không có gì khác thường, song chỉ dựa vào phương dược thôi chưa đủ. Dị vật trong chuỗi Phật châu ta đã nghiền nghiên mấy ngày mà vẫn chưa rõ, nhưng mấy hôm trước đến Thái y thự, ta được biết năm đó khi ôn dịch bộc phát, Bạch Kính Chi là người phụ trách dược giám, tất cả dược liệu nhập cung đều qua tay ông ấy.”
Khương Ly khẽ thở dài:
“Có thể xác định việc dùng thuốc khi ấy hẳn đã xảy ra sơ xuất, chỉ là chưa tìm được chứng cứ cụ thể. Theo lời phu nhân Triển thị kể, hai đứa trẻ ở phủ Túc vương có vẻ chết vì suy kiệt tim phổi, rất giống cái chết của Lý Dực năm đó. Ta phải nghĩ lại thật kỹ mới được.”
Bùi Yến gật đầu:
“Cứ yên tâm. Phủ Túc vương và nhà họ Tiền dạo này đều chẳng yên, dẫu cuối cùng không tra ra dị vật trong Phật châu, ta vẫn còn cách khác để chứng thực.”
Lời ấy chỉ là an ủi, nhưng Khương Ly là người học y, chuyện mấy mạng người chết oan đều dính líu tới y đạo, nàng sao có thể để bản thân mơ hồ qua loa.
Chợt nghe Bùi Yến nhắc, nàng nhớ tới việc Ngu Tử Đồng đến tìm mình ban sáng, liền đem chuyện ấy kể lại.
“Muốn chuộc thân cho Sương Nghê ư?” – Bùi Yến nhíu mày,
“Bảo Nghiễn quả nhiên đáng ngờ. Hắn bỗng có vài trăm lượng bạc, tất có kẻ sai hắn tới phủ Bạch dập đầu, nhằm đổ cái chết của Liên Tinh lên đầu Ninh Quắc.”
Khương Ly hơi sáng mắt:
“Ngươi xác định rồi?”
Bùi Yến gật đầu:
“Xác định, nhưng chưa bắt người.”
Khương Ly nói nhanh:
“Ta hiểu rồi, Bảo Nghiễn chỉ là con cờ. Chỉ khi có chứng cứ đủ vững để chỉ ra kẻ đứng sau, mới có thể động thủ. Giờ bằng chứng vẫn còn quá ít…”
Thấy nàng chau mày, Bùi Yến hỏi:
“Hôm trước ngươi có vào Cảnh Hòa cung?”
Khương Ly ngẩn ra:
“Sao ngươi biết?”
Hắn đáp nhẹ:
“Trưa nay, khi ta ở Thái Cực điện chầu vua, đúng lúc Thục phi nương nương tới thăm bệ hạ, có nhắc đến chuyện này.”
“Thục phi nương nương?” – tim Khương Ly khẽ chùng.
Bùi Yến nói:
“Nghe đâu thái tử phi đến thỉnh an Quý phi nương nương, cũng ghé qua cung Thục phi.”
Khương Ly lập tức hiểu mục đích của Tiết Lan Thời. Thấy Bùi Yến nhìn mình không rời, nàng ánh mắt khẽ lóe:
“Lý Cẩn nhớ Ninh Quắc mà phát bệnh, Ninh nương nương liền xin thái tử cho ta vào cung. Ta chữa bệnh cho Lý Cẩn, chuyện ấy giờ cũng đã lộ ra ngoài rồi. Ta còn đến cả Hàm Quang điện——”
Bùi Yến biết rõ Hàm Quang điện là nơi nào, lập tức siết chặt mày.
Khương Ly cảm khái:
“Không ngờ hơn sáu năm qua, nơi ấy chẳng thay đổi gì, đồ vật của Lý Dực vẫn y nguyên. Lý Cẩn vốn thân thể yếu, nhiều năm gánh vác kỳ vọng của mọi người cũng chẳng dễ gì. Ta không kìm được, thử gợi hai câu, nhưng Ninh nương nương dường như vẫn chưa tin ta, chẳng chịu thổ lộ gì. Với thân phận họ Tiết này của ta, đành phải từ từ vậy.”
Ngoài cửa sổ đêm đã sâu, Khương Ly cất phương dược vào tay áo, nói:
“Thôi, khuya rồi. Ta phải về phủ nghĩ kỹ lại chuyện phương thuốc này, không thể chậm trễ.”
Bùi Yến cũng nhìn ra ngoài, thấy trời tối như mực, bèn gật đầu đi cùng nàng ra cổng.
Khi bước khỏi thượng phòng, hoa cỏ trong viện giữa đầu hạ càng thêm tươi rợp. Ánh mắt Khương Ly khẽ quét một vòng, chợt nói:
“Kỳ lạ thật, lần đầu ta đến đây đã thấy phủ này quen thuộc vô cùng.”
Bùi Yến cụp hàng mi:
“Vậy ư? Phủ như thế ở Trường An rất nhiều.”
Khương Ly nhướng mày:
“Ta lại chưa thấy nhà nào giống như vậy.”
Nói thì nói vậy, nhưng lúc này còn bao chuyện trọng yếu, nàng cũng chẳng buồn truy xét. Khương Ly bước ra ngoài, lên xe ngựa, rồi vén rèm dặn lại người đang tiễn mình:
“Chờ tin tốt của ta nhé——”
Khi Bùi Yến gật đầu, nàng buông rèm. Roi ngựa vung lên, xe phóng thẳng trên con phố dài.
Bùi Yến đứng nơi cổng, dõi theo xe ngựa khuất bóng. Chốc lát sau, hắn hỏi Cửu Tư:
“Tiết Lan Thời và Thục phi trước nay thân thiết lắm sao?”
Cửu Tư ngớ người:
“Hả? Tiểu nhân chưa nghe họ qua lại mấy đâu, chẳng phải ai cũng nói Tiết Lan Thời khéo xem ý tứ, luôn lấy Quý phi nương nương làm đầu mà…”
Bùi Yến nhớ lại vẻ mặt Khương Ly vừa nãy, đôi mắt lạnh lẽo khẽ hẹp lại——
“Hắt xì——”
Trên xe ngựa phi nhanh qua trường phố, Khương Ly bất chợt hắt hơi, xoa xoa mũi, trong miệng vẫn lẩm nhẩm đọc phương thuốc của Trình Thuật Thực.
Hoài Tịch vội vén rèm, che kín gió:
“Dù là mùa hạ, ban đêm vẫn lạnh, cô nương mặc phong phanh quá.”
Khương Ly chỉ khẽ lắc đầu, vẫn thì thầm tính toán, Hoài Tịch biết nàng đang miệt mài suy nghĩ, không dám quấy rầy. Hai chủ tớ im lặng suốt dọc đường.
Về tới phủ Tiết, Khương Ly cau mày đi thẳng vào Doanh Nguyệt Lâu.
Hoài Tịch theo sau nói:
“Cô nương chớ nóng, càng nóng càng khó nghĩ ra.”
Khương Ly lại lắc đầu:
“Ta chỉ sợ đó là vật ta chưa từng thấy. Nếu cả nghe cũng chưa từng nghe, thì sao đoán được là thứ gì. Dù Đại Lý tự tìm ra nhân chứng vật chứng, có thể rửa oan cho Ninh Quắc, nhưng vẫn không chứng minh được âm mưu ‘chẩn đoán sai’ năm ấy với Hoàng thái tôn.”
Hoài Tịch cũng hiểu đạo lý ấy, nhưng chẳng biết giúp thế nào. Khi về đến Doanh Nguyệt Lâu, Khương Ly không buồn ăn tối, sai Cát Tường và người hầu nghỉ trước, rồi cùng Hoài Tịch lên lầu hai.
Lầu hai tối đen, Khương Ly đi trước, Hoài Tịch cầm đèn theo sau. Nàng bước nhanh, vừa vào khuê phòng, bóng tối khiến mắt như lóa đi. Nhưng cũng trong khoảnh khắc ấy, một tia sáng yếu ớt lóe lên bên cửa sổ.
Khương Ly sững lại, chớp mắt nhìn, ánh đèn trong tay Hoài Tịch vừa hắt tới.
Nàng lập tức nói nhỏ:
“Tắt đèn.”
Hoài Tịch hơi ngẩn ra, nhưng nhanh chóng làm theo.
Trong nháy mắt, gian phòng lại chìm vào bóng tối, song ánh sáng yếu ớt bên cửa sổ lại càng rõ hơn.
Khương Ly nhìn chăm chú, Hoài Tịch cũng thấy:
“Cô nương, kia là gì thế? Mùa này đã có đom đóm rồi ư?”
Khương Ly ngẩn người, rồi chậm rãi bước đến bên án thư gần cửa sổ. Trước khi tới nơi, nàng đã nhận ra toàn bộ đồ đạc mình dùng ban chiều đều vẫn ở đó.
Ánh sáng ấy, đang yếu ớt tỏa ra từ trong chiếc chén sứ xanh.
Tâm niệm lóe lên, Khương Ly dừng phắt lại. Nàng nhìn kỹ chiếc chén, rồi lại lia mắt sang khung cửa sổ nửa mở.
Cửa sổ, chén sứ… chén sứ, cửa sổ.
So đi so lại mấy lượt, ánh mắt nàng bỗng bừng sáng, thốt lên:
“Ta biết rồi——”