Khâu Thư Nghiên nhắm thẳng vào đầu rùa mà xịt nước.
Con rùa vừa mới thò đầu ra đã bị cô xịt cho thụt vào.
Xịt xong con này lại bắn con kia.
Cô cứ cầm khẩu súng nước, ngồi xổm bên cạnh bể cá, canh chừng lũ rùa để luân phiên bắn phá.
Vừa bắn cô vừa tự lồng tiếng: "Biu biu, páp! Đánh mày này, đánh mày này! Biu~ páp! Trúng rồi, trúng rồi! Biu, biu biu!"
Đứa bé thấy rùa bị bắn đến mức không ngẩng đầu lên nổi thì thích thú vỗ tay bôm bốp, hai chân ngắn cũn cỡn chạy lon ton lại gần.
Cậu bé chạy đến bên cạnh Khâu Thư Nghiên, chổng mông nhỏ lên, chăm chú quan sát lũ rùa.
Mỗi lần đầu rùa bị bắn thụt vào trong, bé con lại phấn khích cười ha hả, còn không quên vỗ tay reo hò cổ vũ cho Khâu Thư Nghiên.
Vị khách hàng thở phào nhẹ nhõm nói: "Vẫn là Thư Nghiên có cách. Thằng bé nhà tôi bướng bỉnh quá."
Tôi trêu chọc: "Độ chín chắn của Khâu Thư Nghiên chỉ hợp chơi với trẻ con một, hai tuổi thôi. Trẻ lên ba còn chê cô ấy trẻ con ấy chứ."
Giữa tiếng cười đùa "biu biu" rộn rã đó, khách hàng đã vui vẻ ký vào thư ủy thác cho chúng tôi.
Trong những ngày sau đó, Khâu Thư Nghiên phụ trách khuấy động bầu không khí, còn tôi chịu trách nhiệm đàm phán chi tiết. Chúng tôi nhanh chóng giành được hợp đồng với vài tập đoàn ẩm thực lớn tại Singapore, bao gồm cả Hoàng tổng của một công ty đã niêm yết.
Bàn xong chính sự, Hoàng tổng mời chúng tôi đi ăn.
Tôi ghé tai nói nhỏ với Khâu Thư Nghiên: "Để Hoàng tổng mời khách thì không hay lắm nhỉ?"
Khâu Thư Nghiên dửng dưng đáp: "Ai mời chẳng thế. Ông ấy giàu hơn chúng ta, mình cứ khách tùy ý chủ thôi!"
Có thật là như vậy không?
Tuy tôi không chủ động tặng quà cho khách hàng như Kỳ Nhi, nhưng bình thường tôi cũng không để khách hàng mời mình ăn cơm.
Cứ có cảm giác chiếm hời của người khác là không tốt.
Nếu bắt buộc phải ăn cùng nhau, tôi thà là phía mình chi tiền.
Khâu Thư Nghiên lại vô tư nói: "Không sao đâu, không sao đâu. Kể cả không hợp tác thì lần nào tôi đi ăn với ông ấy cũng là ông ấy trả tiền mà. Chúng ta đi tranh trả tiền với ông chủ của một công ty niêm yết thì lại càng không hợp lý đúng không?"
Cô ấy nói thế nghe cũng có lý.
Điểm tôi ngại giao tiếp xã hội chính là ở chỗ này.
Tôi mời? Sợ làm mất mặt người ta.
Để người ta mời? Tôi lại không muốn không dưng chiếm hời của người khác.
Trong quá trình giao thiệp, tôi thường xuyên rơi vào trạng thái vừa đắn đo vừa mâu thuẫn như vậy.
Khâu Thư Nghiên dửng dưng ném cho tôi bốn chữ: "Thì đã sao chứ?"
Bốn chữ này lập tức khiến lòng tôi nhẹ nhõm hẳn.
Tôi mời? Thì đã sao chứ?
Nếu đối phương hiểu cho tấm lòng thì cả hai cùng vui.
Nếu đối phương không nhận lòng tốt, loại người hẹp hòi như vậy không qua lại cũng chẳng sao.
Đối phương mời? Thì đã sao chứ?
Ai lại đi bận tâm chuyện bữa ăn thêm một hai đôi đũa? Ngay cả tôi còn chẳng thèm để ý đến tiền một bữa ăn, huống chi là ông chủ của một công ty niêm yết tầm cỡ.
Chỉ cần bản thân tôi không tự làm khó mình thì mọi chuyện cũng chẳng có gì to tát.
Tinh túy đầu tiên của tâm lý học chính là "đối mặt".
Mọi vấn đề, chỉ cần dám đối mặt thì sẽ không còn chấp niệm.
Hồi nhỏ vì ngoại hình không đủ ưa nhìn, tôi từng tìm mẹ tính sổ, chất vấn bà tại sao không sinh tôi ra đẹp đẽ hơn một chút?
Cùng một bộ đồng phục, người ta mặc vào trông cực ngầu, còn tôi mặc vào lại trông quê mùa làm sao.
Cho dù thành tích học tập cũng khá, nhưng ở cái tuổi mới biết yêu, ai có thể thật lòng yêu thương một bản thân quê mùa, cục mịch như thế chứ?
Phải cho đến khi ở bên Khâu Thư Nghiên, tôi mới thực sự yêu lấy chính mình.
Tôi thầm cảm thấy may mắn: May mà mình trông "an toàn" thế này.
Chỉ có như vậy, mọi người mới tin rằng mọi thành quả tôi đạt được đều dựa vào thực lực chứ không phải nhan sắc.
Bởi vì, tôi làm gì có cái thứ đó đâu.