Tây Vực Liệt Vương Ký

Lượt đọc: 2344 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Phụ lục
ghi chép về khả hãn tây đột quyết ký

Nê Thục thống lĩnh đại quân trở về Tây Đột Quyết để nhanh chóng ổn định, bèn lập A Sử Na Điệt Lực làm Khả hãn, là Khả hãn Tứ Diệp Hộ. Ngay sau đó Nê Thục và Mạc Hạ Đốt khai chiến toàn diện, hai bên ác chiến trên đại thảo nguyên không ngừng nghỉ.

Công nguyên năm 630, Mạc Hạ Đốt binh bại, chạy tới núi A Nhĩ Thái, cuối cùng bị Nê Thục giết chết.

Sau đó uy vọng của Nê Thục tăng cao, Khả hãn Tứ Diệp Hộ nóng lòng xây dựng uy tín, bắc chinh Thiết Lặc, lại bị Tiết Diên Đà đánh bại. Tứ Diệp Hộ vì đa nghi độc ác, lạm sát công thần, cuối cùng cũng trở mặt truy sát Nê Thục, Nê Thục chạy đến Yên Kỳ.

Công nguyên năm 632, sự tàn bạo của Tứ Diệp Hộ dẫn đến cuộc nổi loạn của bộ lạc Nỗ Thất Tất, Tứ Diệp Hộ không có sức phản kháng, chạy tới Khang Cư, không lâu sau thì chết. Bộ lạc Nỗ Thất Tất đón Nê Thục về lập làm làm Đại Hãn, gọi là Khả hãn Đốt Lục. Nê Thục sau khi được lập làm Khả hãn, liền phái sứ giả tới Trường An, tỏ ý bằng lòng lệ thuộc vào Đại Đường, Lý Thế Dân sắc phong Nê Thục làm “Khả hãn Thôn A Lâu Bạt Lợi Tất Đốt Lục”, hắn trở thành Khả hãn Tây Đột Quyết đầu tiên được triều Đường sắc phong, thế lực của Đại Đường bắt đầu tiến vào Tây Vực.

Công nguyên năm 634, Nê Thục mắc bệnh mà qua đời.

Ghi chép về hai đời quốc vương Cao Xương

Khúc Trí Thịnh trên đường Tây du tận mắt chứng kiến cái chết của A Thuật, cuối cùng cũng lĩnh ngộ ra trách nhiệm đời này của mình, sau đó trở về Cao Xương, được Khúc Văn Thái phong làm thế tử. Khúc Trí Thịnh bắt đầu cai quản quốc gia, tổ chức lại Cao Xương.

Khúc Trí Thịnh đời này chưa bao giờ quên được Long Sương Nguyệt Chi, sau khi lên làm thế tử, gần như đã cho tìm hết cả Tây Vực nhưng vẫn không có tin tức của nàng. Công nguyên năm 630, quốc vương Y Ngô là Thạch Vạn Niên chủ động quy thuận Đại Đường, Lý Thế Dân rất đỗi vui mừng, thành lập quận Y Ngô. Điều này khiến cho Khúc Văn Thái vô cùng lo sợ, dưới sự đề nghị của Khúc Trí Thịnh, phụ tử một nhà cùng tới thăm Trường An, nhận được sự tiếp đón trọng thể của Lý Thế Dân. Năm sau, Khúc Văn Thái về nước, còn Khúc Trí Thịnh thì ở lại Đại Đường để tìm kiếm tín ngưỡng đời này của hắn, Long Sương Nguyệt Chi.

Khúc Văn Thái ở Trường An chứng kiến Đại Đường ngày càng hưng thịnh thì vô cùng khiếp sợ, ông ta ý thức được, Đại Đường nhất định sẽ âm mưu thâu tóm Tây Vực, nên sinh lòng bất mãn, bằng mặt chứ không bằng lòng với Đại Đường. Công nguyên năm 638, Khúc Văn Thái và Long Đột Kỵ Chi lại xảy ra mâu thuẫn, ông ta xuất binh tấn công Yên Kỳ, đánh hạ năm tòa thành trì. Hắn thậm chí còn liên thủ với Tây Đột Quyết tấn công quận Y Ngô, ý đồ phong tỏa cửa ngõ, chia cách Trung Nguyên và Tây Vực. Lý Thế Dân nổi trận lôi đình, hạ chiếu lệnh hắn vào triều yết kiến, nhưng Khúc Văn Thái từ chối, chỉ phái một quan viên tới tạ lỗi với hoàng đế. Lý Thế Dân nhường nhịn một bước, lệnh cho ông ta đưa những người Hán lưu lạc tới Cao Xương khi Đông Đột Quyết diệt vong về nước. Nhưng Khúc Văn Thái cự tuyệt, nói rằng: “Chim ưng bay trên trời, chim trĩ đậu trong bụi cây ngải, mèo dạo chơi trong nhà, chuột ăn trong hang; mọi sự đâu vào đấy, chẳng phải vẫn có thể tự sinh tự diệt đó hay sao?”

Sau khi Khúc Trí Thịnh nghe được, vội vàng chạy về Cao Xương, nhưng lúc này cục diện đã chẳng thể vãn hồi. Ý định chiếm đoạt Tây Vực của Lý Thế Dân ngày càng rõ ràng, nguyện vọng giữ vững độc lập của Khúc Văn Thái ngày càng mãnh liệt.

Cuối cùng, Lý Thế Dân phái Hầu Quân Tập thống lĩnh đại quân chinh phạt Cao Xương. Khúc Văn Thái thề chết không hàng, muốn bảo vệ độc lập của Cao Xương. Nhưng sa mạc Mạc Hạ Diên vẫn không ngăn nổi bước chân của quân lính Đại Đường. Công nguyên năm 640, mùa thu, đại quân của Hầu Quân Tập vượt qua sa mạc, tới biên cảnh Cao Xương. Khúc Văn Thái hao tổn tâm sức quá độ, lo sợ mà chết.

Trước khi Khúc Văn Thái chết, Khúc Trí Thịnh nói với hắn: “Phụ vương, con trở về Cao Xương, chính là vì không muốn để người chịu nỗi nhục vong quốc.”

Khúc Trí Thịnh lên ngôi quốc vương Cao Xương, là đời thứ chín của họ Khúc nắm quyền trị vì Cao Xương, quốc vương thứ mười. Sau khi làm xong tang sự cho Khúc Văn Thái, Khúc Trí Thịnh ra khỏi thành đầu hàng Hầu Quân Tập, Cao Xương diệt vong.

Sau đó Khúc Trí Thịnh tới Trường An, Lý Thế Dân sắc phong cho Khúc Trí Thịnh làm Tả vũ vệ tướng quân, quận công Kim Thành, Khúc Trí Thịnh khước từ, nguyện ẩn cư ở Giang Nam, làm một bách tính bình thường. Vì thế nên Lý Thế Dân đã cho xây phủ ở Quảng Lăng, Khúc Trí Thịnh từ đó về sau lưu lại Giang Nam. Hắn tin rằng, Long Sương Nguyệt Chi nhất định có ngày nhớ tới ước mơ hai người từng có, nàng sẽ đến Giang Nam để gặp hắn.

Rất nhiều năm sau, bỗng vào một ngày, Khúc Trí Thịnh đang tản bộ bên sông Đại Vận, vô tình nhìn trên mặt sông, nước chảy thuyền trôi, thấy có một nữ tử áo trắng đang đứng trên thuyền. Nước mắt của Khúc Trí Thịnh không ngừng tuôn rơi, hắn bưng mặt khóc nức nở.

Ghi chép về quốc vương Yên Kỳ

Long Đột Kỵ Chi từ sau khi mất đi sự trợ giúp của Long Sương Nguyệt Chi, ngoại trừ việc giữ gìn tình hữu nghị với Đại Đường thì chính trị nội sự của vương quốc ngày càng hỗn loạn, tan rã, ông ta là người nóng nảy, nhiều lần xung đột với Khúc Văn Thái, dẫn đến cảnh nước mất nhà tan.

Công nguyên năm 640, sau khi Cao Xương diệt vong, Long Đột Kỵ Chi lúc đầu thì hưng phấn, sau đó liền bị Tây Đột Quyết xúi giục, ông ta dần ý thức được sự đáng sợ của “gã khổng lồ” Đại Đường. Ông ta gả thứ nữ cho tướng quân Tây Đột Quyết là A Sử Na Khuất Lợi, để đổi lấy sự giúp đỡ của Tây Đột Quyết. Quốc sách của Yên Kỳ được sửa đổi hoàn toàn, ngả về phía Tây Đột Quyết. Năm Trinh Quán thứ mười tám, công nguyên năm 644, hoàng đệ của Long Đột Kỵ Chi là Long Lật Bà Chuẩn đầu hàng Đại Đường, Lý Thế Dân lệnh cho Quách Hiếu Khác bất ngờ đánh úp Yên Kỳ. Quách Hiếu Khác dưới sự hướng dẫn của Long Lật Bà Chuẩn, vượt qua vùng nước bốn phía xung quanh vương thành Yên Kỳ, sáng hôm sau liền công chiếm vương thành, bắt Long Đột Kỵ Chi làm tù binh.

Năm Trinh Quán thứ hai mươi ba, công nguyên năm 649, sau khi Lý Thế Dân qua đời, Long Đột Kỵ Chi được cho tạc tượng đá, đặt đứng cùng với tượng đá của Khúc Trí Thịnh ở bên cạnh Chiêu Lăng của Đường Thái Tông.

Năm Vĩnh Huy thứ hai, công nguyên năm 651, hoàng đệ của Long Đột Kỵ Chi là Long Tiên Na Chuẩn qua đời, Đường Cao Tông thả Long Đột Kỵ Chi về nước, để hắn làm quốc vương Yên Kỳ một lần nữa.

Ghi chép về các đời vua Ba Tư

Công nguyên năm 590, quốc vương Ba Tư đương nhiệm là Hoắc Nhĩ Mạc Tư Dức đệ tứ đã làm một chuyện vô cùng ngu xuẩn. Khi ấy danh tướng Ba Tư là Ba Hách Lạp Mô Sở Tân đang giằng co với Bái Chiêm Đình ở tiền tuyến, chiến sự hung hiểm có khi thua trận, nhưng thiệt hại không nhiều, Hoắc Nhĩ Mạc Tư Đức đệ tứ bèn phái sứ giả tới quân doanh truyền chỉ giải trừ binh quyền của Ba Hách Lạp Mỗ Sở Tân, đồng thời còn ban cho hắn một bộ quần áo đàn bà và một guồng xe tơ, chế giễu hắn chỉ xứng làm việc của đàn bà thôi.

Sở Tân giận tím mặt, quyết định làm phản, quay lại tấn công Thái Tây Phong.

Khó khăn trong ngoài dồn dập, nhi tử của Hoắc Nhĩ Mạc Tư Đức đệ tứ là Khố Tư Lỗ đệ nhị nhân cơ hội giết vua đoạt vị, móc hai mắt của phụ vương mình ra, nhốt trong nhà lao, sau đó xử tử một cách tàn khốc.

Sau khi Khố Tư Lỗ đệ nhị lên ngôi, không chống đỡ được đại quân của Sở Tân, chạy khỏi Thái Tây Phong, nương nhờ Bái Chiêm Đình. Hoàng đế của Bái Chiêm Đình là Mạc Lí Tư[130] (Mauricius) nhận Khố Tư Lỗ đệ nhị làm nghĩa tử, điều động đại quân giúp hắn phục quốc.

Công nguyên năm 591, Sở Tân chiến bại, chạy khỏi Thái Tây Phong, nương nhờ Tây Đột Quyết. Khố Tư Lỗ đệ nhị dùng một số tiền lớn mua chuộc sủng phi của Khả hãn Đạt Đầu, nghe lời xúi giục Khả hãn Đạt Đầu đã giết Sở Tân. Ngay sau đó, Khố Tư Lỗ đệ nhị dùng thời gian mười năm để bình định Ba Tư, sức mạnh của Ba Tư ngày một phát triển.

Công nguyên năm 602, một vị quan quân cấp thấp của Bái Chiêm Đình là Phúc Ca Tư[131] (Phocas) đã giết chết Mạc Lí Tư, cướp đoạt ngai vị. Khố Tư Lỗ đệ nhị mượn danh nghĩa trả thù cho nghĩa phụ huy động quân đội tiến đánh Bái Chiêm Đình. Quân đội Ba Tư thế như chẻ tre, Bái Chiêm Đình sụp đổ. Công nguyên năm 610, hiền tế của Phúc Ca Tư là Khắc Lý Tư Phổ Tư (Priscus) kiến nghị triệu tổng đốc của Già Thái Cơ[132] (Carthago) là Hi Lạp Khắc Lược xuất binh cứu hoàng đế, Phúc Ca Tư đồng ý ngay, không ngờ Hi Lạp Khắc Lược vừa vào đến Quân Sĩ Thản Đinh Bảo[133] (Constantinopolis) liền phát động chính biến, chém đứt đầu Phúc Ca Tư, tự lập mình làm hoàng đế.

Sau khi Hi Lạp Khắc Lược xưng đế, liền đề xuất nghị làm hòa với Ba Tư. Nhưng, Khố Tư Lỗ đệ nhị không đồng ý, tiếp tục tiến quân, công nguyên năm 613, đánh xuống Đại Mã Sĩ Cách, cướp sạch An Điều Khắc. Công nguyên năm 614, đánh bại thành Thánh Gia Lộ Tát Lãnh, trắng trợn cướp đốt giết hiếp. Đến bảo vật trân giáo của Cơ đốc giáo - giá thập tự đóng đinh Chúa Gia Tô cũng bị hắn cướp đi.

Công nguyên năm 615, quân Ba Tư tiến tới eo biển Bác Tư Phổ Lỗ Tư[134] (Bosporus). Công nguyên năm 619, quân đội Ba Tư lại chinh phục Ai Cập. Đến lúc này sự huy hoàng của Tát San Ba Tư đạt đến đỉnh cao trước nay chưa từng có. Nhưng đến Công nguyên năm 620, Hi Lạp Khắc Lược sau mười năm chiêu binh, đã đánh bại đại quân hải lục của Ba Tư, bắt đầu phản công. Đồng thời Khả hãn Thống Diệp Hộ của Tây Đột Quyết cũng liên minh với Hi Lạp Khắc Lược, xuất quân công đánh Ba Tư. Công nguyên năm 627, Hi Lạp Khắc Lược đánh vào lãnh thổ Ba Tư, một đường thế như chẻ tre, đánh thẳng tới Thái Tây Phong.

Công nguyên năm 628, trưởng tử của Khố Tư Lỗ đệ nhị là Hi Lỗ Gia phát động chính biến, trục xuất Khố Tư Lỗ đệ nhị, sau đó bí mật xử tử. Hi Lỗ Gia lên kế nhiệm ngai vị hoàng đế Ba Tư, lịch sử gọi là Ca Ngõa Đức đệ nhị. Ca Ngõa Đức đệ nhị thỉnh cầu nghị hòa với Bái Chiêm Đình, bồi thường cắt đất, Hi Lạp Khắc Lược lui binh.

Sau khi Bái Chiêm Đình lui binh, Ca Ngõa Đức đệ nhị phát động đại tru diệt đối với hoàng thất, gần như chém tận giết tuyệt tất cả các hoàng tử và công chúa, nhưng hắn chỉ làm hoàng đế được vẻn vẹn nửa năm thì đã mắc bệnh hiểm nghèo mà chết. Quyền thần Sa Hách Bối Lạp Tư[135] (Shahrbaraz) giúp đỡ nhi tử bảy tuổi của Ca Ngõa Đức đệ nhị làm hoàng đế kế nhiệm, lịch sử gọi là A Đạt Hi Nhĩ đệ tam[136] (Ardashir III), nhưng chẳng bao lâu lại bị phế truất.

Sa Hách Bối Lạp Tư nở mày nở mặt chẳng được mấy ngày, nhi nữ của Khố Tư Lỗ đệ nhị là công chúa Bố Lãng[137] (Borandukht), lập kế treo cổ hắn, tự mình lên làm nữ vương kế nhiệm, nhưng cũng không lâu sau lại bị phế, Tỉ Lộ Chi đệ nhị (Pirudshi II), Hoắc Nhĩ Mạc Tư Đức đệ ngũ (Hormizd V), Hoắc Nhĩ Mạc Tư Đức đệ lục (Hormozd VI)… trong vòng ba năm sau khi Khố Tư Lỗ đệ nhị chết, chín vị đế vương đoản mệnh liên tiếp kế vị, lại liên tiếp bị chặt đầu. Cả Ba Tư rơi vào thời kỳ suy tàn hỗn loạn, mãi cho đến khi Y Tự Hầu[138] (Yazdegerd) hai mươi mốt tuổi lên đài, lịch sử gọi là Y Tự Hầu đệ tam, Ba Tư mới dần dần ổn định.

Nhưng đây chỉ là hồi quang phản chiếu của Tát San Ba Tư, bởi vì kẻ địch đáng sợ nhất của đế quốc này là người Ả Rập đã nổi dậy trong sa mạc.

Công nguyên năm 636, quân đội Ả Rập trong trận đụng độ ở Ca Địch Tây Á (al-Qādisiyyah) đã đánh tan quân đội Ba Tư, năm sau đánh vào Thái Tây Phong, Y Tự Hầu đệ tam chạy trốn. Dưới sự chỉ huy của hắn, Tát San Ba Tư lại ngoan cường chống đỡ suốt mười lăm năm nữa.

Công nguyên năm 647, Y Tự Hầu đệ tam viết thư cầu Đại Đường viện trợ. Lý Thế Dân từ chối xuất binh, trả lời rằng: “Cứu giúp quốc quân, về lý là điều trẫm hẳn nên làm. Nhưng trẫm lại được nghe từ chính miệng của tiết độ sứ về con người tộc Ả Rập, về phong tục, tín ngưỡng, phẩm cách của người cai trị họ ra sao… tất cả đều rất tường tận. Bách tính trung tín đến vậy, thủ lĩnh tài năng như thế, sao họ có thể không giành được chiến thắng cơ chứ. Ngươi tốt nhất là nên dùng hành động đức độ và cẩn thận để lấy lòng của bọn họ đi thôi.”

Công nguyên năm 651, Y Tự Hầu đệ tam bị giết trong một nhà xay bột ở thành Mộc Lộc, Tát San Ba Tư diệt vong.

Nhi tử hắn là Ti Lộ Tư (Pirooz) chạy về phía Tây đến Thổ Hỏa La, muốn cầu viện từ Đại Đường, lúc này Đường Cao Tông tại vị, vẫn cự tuyệt xuất binh. Ti Lộ Tư dựa vào người Thổ Hỏa La để phát động đánh giằng co với người Ả Rập. Công nguyên năm 661, Ti Lộ Tư chiến bại, lại một lần nữa cầu viện Đại Đường, Đường Cao Tông thành lập phủ đô đốc Ba Tư, sắc phong Ti Lộ Tư là quốc vương Ba Tư. Chịu sự tấn công liên tục của quân đội Ả Rập, cuối cùng thì Ti Lộ Tư không chống đỡ nổi nữa, công nguyên năm 675, thông qua Con đường Tơ lụa chạy tới Trường An, Đường Cao Tông trao tặng hắn chức Hữu uy vệ tướng quân.

Công nguyên năm 677, Ti Lộ Tư mất tại Trường An. Niềm vinh quang cuối cùng của Tát San Ba Tư, cuối cùng lại biến mất trong cát bụi của Đại Đường.

Ghi chép về đại tướng quân Cao Xương - Trương Hùng

Trương Hùng (583 - 633), tự Thái Hoan, nguyên quán Nam Dương, Hà Nam, sống tại Cao Xương, tổ phụ là Trương Vụ, từng đảm nhiệm chức vụ Tả vệ đại tướng Quân, Quán tào lang trung, chịu trách nhiệm xử lý chính vụ. Phụ thân Trương Đoan, từng nhậm chức Kiến nghị tướng quân, Quán tào lang trung. Cô cô của hắn là vương phi của quốc vương Khúc Bá Nhã, quốc vương Khúc Văn Thái là họ hàng của Trương Hùng.

Trên bản khắc bia mộ của Trương Hùng khai quật được ở Cao Xương có viết “Bản tính hiếu hữu, trời sinh thông tuệ, không vì địa vị cao mà khinh người, không vì có tài mà sinh kiêu. Dáng vẻ thư sinh nho nhã nhưng lại am hiểu dụng binh, tiên liệu như thần, thông tuệ, sáng suốt”, là một tướng tài văn võ song toàn.

Trương Hùng thâm minh đại nghĩa, có tầm nhìn chính trị xa, làm mọi cách để khuyên Khúc Văn Thái đừng nương nhờ Tây Đột Quyết, phụ thuộc vào Đại Đường mới là gốc rễ lập quốc, nhưng không được lắng nghe, còn mất đi sự tín nhiệm. “Chí Văn Ký” chép rằng hắn “khuyên nhủ vô dụng, lo lắng thành bệnh”, sau đó buồn bực mà chết, tuổi gần năm mươi.

Năm 1973, trong ngôi mộ số 206 ở Astana Cemetery, phần mộ hợp táng phu thê Trương Hùng được khai quật. Thi thể của Trương Hùng được ướp thuốc, giữ gìn nguyên vẹn hoàn chỉnh. Vóc người hắn khôi ngô, thân cao trên một mét chín, hai chân bởi vì cưỡi ngựa trong thời gian dài nên đã biến dạng.

Ghi chép về Vương Huyền Sách

Vương Huyền Sách, người Lạc Dương, Hà Nam, từng nhận chức Huyện lệnh Hoàng Thủy, Dung Châu, Hữu vệ suất phủ trưởng Sử. Từ năm Trinh Quán thứ mười bảy đến năm Long Sóc nguyên niên (Công nguyên năm 643 - 661) ba lần đi sứ Ấn Độ. Sự tích này trong sách “Tân Cựu Đường Thư” cũng có ghi chép, nhưng năm tháng sống chết không rõ. Tuổi tác của hắn có lẽ nhỏ hơn Huyền Trang hơn mười tuổi, bởi vậy năm Trinh Quán thứ tư, sứ giả Đại Đường mà Huyền Trang đã gặp ở vương đình Tây Đột Quyết không thể là Vương Huyền Sách, người đó rốt cuộc là ai, tác giả vẫn chưa thể tra rõ.

Dưới đây là ghi chép trong “Cựu Đường Thư”:

Năm Trinh Quán thứ mười, Phật tử Huyền Trang tới ngoại quốc, đem hơn sáu trăm bộ kinh văn tiếng Phạn về. Đầu tiên là phái Hữu suất phủ trưởng Sử là Vương Huyền Sách đi sứ Thiên Trúc, quốc vương thứ tư của Thiên Trúc phái sứ giả tới cống nạp. Lại đúng vào lúc quốc vương Thiên Trúc là Thi La Dật Đa (Siláditya) chết, trong nước đại loạn, triều thần Na Phục Đế A La Thuận Na soán ngôi, phát động toàn bộ binh lính người Hồ chiến đấu với Huyền Sách. Huyền Sách mang theo ba mươi kỵ binh chiến đấu với quân Hồ, tên hết, toàn bộ bị bắt. Giặc Hồ cũng cướp được đồ cống nạp của các nước. Huyền Sách dũng cảm đào thoát trong đêm, chạy tới Thổ Phồn, huy động một ngàn hai trăm quân tinh nhuệ, lại mượn của Bà La Quốc hơn bảy ngàn kỵ binh, phục tùng Huyền Sách. Huyền Sách cùng phó sứ Tương Sư Nhân dẫn đầu quân đội hai nước tiến vào đô thành của Thiên Trúc, đánh trận liên tiếp ba ngày, đại phá thành trì, chặt đầu hơn ba ngàn người, dìm chết vạn người, A La Na Thuận bỏ thành chạy trốn, Sư Nhân đuổi theo bắt được. Tù binh là hơn một vạn hai ngàn người, trâu ngựa hơn ba vạn.

Thế là Thiên Trúc chấn động sợ hãi, bắt A La Na Thuận trở về. Năm hai mươi hai đến kinh sư, Thái Tông cực kỳ vui mừng, lệnh cho quan lại thông báo với tông miếu, và gọi quần thần tới nói: “Một đám người suốt ngày chỉ biết nghe ca ngắm múa, miệng mồm mở ra chỉ toàn lời xúc xiểm xấu xa, ấy chính là nguyên nhân dẫn đến suy đồi đạo đức. Nếu Bà La Môn không trở mặt đánh cướp của sứ giả ta, thì cớ gì lại bị bắt làm tù binh như thế được đây? Xưa Trung Sơn có thói xấu là tham lam tài bảo, đến Thục hầu cũng vì tham trâu đá đẻ vàng[139] mà dẫn đến họa diệt quốc, mọi sự đều có căn nguyên gốc rễ mà thành cả”. Nói rồi lệnh cho các chư thần khấu lạy Huyền Sách rồi cho lui cả.

Chú Thích

[130] Mauricius là Hoàng đế Đông La Mã từ năm 582 đến 602.

[131] Phocas là Hoàng đế Đông La Mã từ năm 602 đến 610. Ông chiếm đoạt ngôi vị từ Hoàng đế Mauricius để rồi lại bị Heraclius lật đổ sau khi thua trận trong cuộc nội chiến.

[132] Carthago là tên gọi của một thành phố cổ thuộc xứ Tunisia ngày nay và cũng để chỉ khu vực ngoại ô Tunis hiện nay.

[133] Constantinopolis, còn được biết đến với tên Constantinople, là kinh đô của Đế quốc La Mã, của Đế quốc Byzantine/Đông La Mã, của Đế quốc La Tinh và của Đế quốc Ottoman.

[134] Bosphorus hay Bosporus, là một eo biển chia cắt phần thuộc châu Âu của Thổ Nhĩ Kỳ với phần thuộc châu Á của nước này. Nó nối biển Marmara với biển Đen.

[135] Shahrbaraz, còn được gọi là Shahrvaraz là vua của đế chế Sassanid từ ngày 27 tháng 4 năm 629 đến 17 tháng 6 nam 629. Ông đã cướp ngôi vua của Ardashir III, và chỉ bốn mươi ngày sau ông đã bị các quý tộc Sassanid sát hại.

[136] Ardashir III là vua của đế chế Sassanid từ ngày 06 tháng 9 năm 628 đến 27 tháng 4 năm 629.

[137] Borandukht, là con gái của vua Khosrau II. Bà là một trong hai người phụ nữ ngồi trên ngai vàng của đế chế Sassanid. Bà là nữ hoàng Sassanid đầu tiên của Ba Tư, trị vì từ 17 Tháng sáu năm 629 đến 16 tháng 6 năm 630, và sau đó là vào giai đoạn 631-632 sau một lần soán ngôi ngắn ngủi. Trong giai đoạn bà trị vì, lãnh thổ của đế chế Sassanid đã vươn tới cực đại.

[138] Yazdegerd III, cũng gọi là Yazdgerd hay Yazdiger là hoàng đế thứ 38 và cũng là vị hoàng đế cuối cùng của Vương triều Sassanid.

[139] Thục vương tham lam ngu tối, có sở thích sưu tầm những đồ vật lạ quý hiếm. Bấy giờ Tần Huệ Văn Vương đang có kế hoạch đánh chiếm nước Thục nhưng ngặt nỗi đường đi rất khó khăn nên sai thợ lấy đá khối tạc thành hình con trâu đặt ở giữa biên giới Tần và Thục. Hàng ngày ta sai người đem một thỏi vàng ra đặt dưới đít trâu rồi phao tin ầm nên rằng “trâu đá ỉa ra vàng”, vua Thục hám của lạ đã cho quân dọn đường để lấy bằng được con trâu đá đó. Tuy nhiên Thục đế chưa kịp mang con “trâu đá” về lấy vàng thì quân đội nước Tần đã bất thình lình tràn theo con đường mới làm tiến thẳng vào kinh đô nước Thục, vua Thục không chống cự nổi phải mở cửa thành đầu hàng rồi bị phế truất thành Thục hầu.

Nhà xuất bản Thế Giới 2019
Nguồn: TVE-4U - VCTVEGROUP
Được bạn:Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 22 tháng 1 năm 2024

« Lùi
Tiến »