Một ngày mới lại bắt đầu, ánh mặt trời rực rỡ chiếu rọi bên ngoài thành Cao Xương, cát vàng còn vương gợn màu máu khiến khóe mắt người đi đường ửng đỏ tựa như đang khóc ra máu vậy.
Ba người tay dắt theo ba con ngựa đi về cổng phía tây của Cao Xương. Trong vườn nho, lá rụng từ những dây mây tung bay trong gió, đạp dưới chân vang lên những tiếng xào xạc. Long Sương Nguyệt Chi mặc một bộ trang phục trắng như tuyết, dắt một con tuấn mã màu đỏ, nét mặt đượm buồn. Nê Thục và Khúc Trí Thịnh lặng lẽ theo sau nàng.
Nê Thục lật người nhảy lên lưng ngựa, cười một tiếng vô cùng hào sảng với hai người: “Hai vị, không cần tiễn nữa. Nam nhi Đột Quyết chúng ta giống như chim ưng trên thảo nguyên, cho dù mất đi gia đình hay bạn đời cũng không thể bẻ gẫy đôi cánh của nó!”.
“Nê Thục, xin lỗi!” Long Sương Nguyệt Chi thở dài xa xăm, “Ta lại không tuân thủ hôn ước mà phụ vương đã chấp thuận với chàng”.
“Ha ha, Sương Nguyệt Chi!” Nê Thục lắc đầu, “Đó không phải là ước định giữa ta và nàng. Sương Nguyệt Chi, hãy đi tìm hạnh phúc của nàng đi, nếu nàng muốn ở lại Cao Xương, ta nhất định dùng đao kiếm trong tay mình bảo vệ cho hạnh phúc của nàng. Nếu nàng muốn phiêu bạt đi tìm kiếm chân trời góc bể, ta cũng nguyện chúc phúc cho nàng bằng những lời ca tiếng hát đẹp nhất của thảo nguyên”.
“Nê Thục!” Khúc Trí Thịnh bước tới, chìa tay ra.
Nê Thục nhảy xuống ngựa, niềm nở ôm lấy Khúc Trí Thịnh: “Khúc huynh, người Đột Quyết chúng ta cho rằng nắm đao kiếm trong tay chưa chắc là một dũng sĩ đích thực, nhưng nếu có thể bất chấp tất cả không màng sống chết vì người mình yêu thì chắc chắn là một dũng sĩ đích thực. Ta rất khâm phục huynh, ta nhận thua, đồng thời mãi mãi rút khỏi cuộc đấu này!”.
Khúc Trí Thịnh cười gượng gạo, không nói gì thêm.
Nê Thục lại lần nữa nhảy lên lưng ngựa, trông về phía mặt trời mới mọc hướng đông, lớn tiếng kêu to: “Sa trường của nam nhi Đột Quyết chúng ta há lại có thể ở trên người một nữ nhân!”.
Dứt lời liền thúc chiến mã, vó ngựa vung lên, chạy như bay về phía sa mạc rộng lớn và thảo nguyên ở hướng tây, cũng không một lần ngoảnh đầu lại.
Long Sương Nguyệt Chi nhìn theo bóng lưng của hắn mà ngơ ngẩn như người mất hồn. Nàng ngoảnh đầu lại, nhìn Khúc Trí Thịnh nói: “Tam hoàng tử, ta cũng nên đi rồi!”.
“Nàng muốn đi đâu?” Khúc Trí Thịnh nhìn nàng vô cùng lưu luyến, viền mắt hắn lại đỏ hoe, thậm chí giọng nói thốt ra cũng có phần nghẹn ngào.
“Ai biết được!” Long Sương Nguyệt Chi rầu rĩ nói: “Ta là tội nhân của Yên Kỳ, lại còn khiến Quy Từ và Sơ Lặc cũng phải chịu tổn thất nghiêm trọng, cả đời này không còn chỗ dung thân ở Yên Kỳ hay Tây Vực nữa. Như vậy cũng tốt, có thể chặt đứt thứ mình lưu luyến nhất rồi”.
“Sương Nguyệt Chi” Khúc Trí Thịnh khóc lóc nghẹn ngào, “Đừng đi! Nàng đừng đi! Ta không nỡ rời xa nàng”.
“Không muốn hay không nỡ thì cũng phải bỏ hết đi.” Long Sương Nguyệt Chi chắp tay, lặng lẽ hành lễ với sa mạc lớn: “Tích lũy rồi cũng phải tiêu tán, ở trên cao rồi cũng phải ngã xuống, gặp nhau rồi cũng phải chia xa, có sinh thì không có bất tử. Quốc gia vẫn còn loạn lạc, khí giới lại bị phá hủy. Thế gian bao điều vui nhưng chẳng tìm được nơi nương tựa”.
Một thân áo trắng yêu kiều quỳ lạy trên sa mạc mênh mông vàng rực, ngỡ như một nhành sen mọc lên từ đất rồi vươn ra khắp sa mạc. Long Sương Nguyệt Chi dập đầu xuống đất như đang chúc phúc cho người thân, mà cũng như đang từ biệt chính mình. Hai mắt Khúc Trí Thịnh rưng rưng, trong làn nước mắt, hắn thấy Long Sương Nguyệt Chi đứng dậy, ngồi lên ngựa, dường như nàng ngoảnh đầu lại nở một nụ cười thật đẹp với hắn, lại cũng như nàng đã quyết bỏ đi một mực không ngoảnh lại.
Tiếng vó ngựa dần xa, váy trắng, ngựa đỏ, cát vàng và núi tuyết, hết thảy đều tan vào vũ trụ vô thường, hóa thành một hạt bụi nhỏ bé.
Khúc Trí Thịnh biết, nàng cũng mang cả cuộc đời hắn đi theo nàng mất rồi.
°°°
Ngoài cổng bắc cũng là một màn tiễn biệt.
Thanh thế của màn tiễn biệt này vô cùng hoành tráng, cổng thành treo đầy mành vàng chói lọi, đường đi lối lại đều được trải thảm đỏ, những ca kỹ và vũ nữ trong vương cung Cao Xương xếp hàng hai bên đường múa hát tưng bừng. Hàng ngàn hàng vạn người chen chật ních ngoài cổng thành, không chỉ tề tựu hết thảy trọng thần vương cung mà thậm chí hơn ba trăm chùa chiền trong vương quốc đều cử tăng lữ tới tụng kinh chúc phúc. Dân chúng trong thành lại càng tỏ ra sùng bái hơn, chen chúc nhau đông nghịt.
Bởi vì, hôm nay là ngày tiễn biệt đại sư Huyền Trang tới từ Đại Đường.
Sau khi Chu Quý chết, loạn trong giặc ngoài ở Cao Xương quốc cũng xem như là được dẹp tan. Trong cuộc biến cố này, Khúc Văn Thái mất đi hai vị nhi tử và một đôi chân mạnh khỏe, chịu đả kích vô cùng sâu sắc mà ngã bệnh liệt giường. Huyền Trang ngày đêm bên cạnh giảng kinh cầu phúc cho ông ta. Khúc Văn Thái tự ngộ ra tội nghiệt, cũng hiểu rằng chính bởi vì sự tàn bạo của mình với hai đời vương phi nên mới đưa tới trận phiến loạn và màn trả thù này. Nhân quả tuần hoàn, báo ứng xác đáng, Khúc Văn Thái rốt cục cũng thấy được sức mạnh của đạo trời trong những ngày tháng hoảng loạn vừa qua.
Tới khi ông ta khỏi bệnh, Huyền Trang định bụng muốn cáo từ nhưng lại bị Khúc Văn Thái cực lực giữ lại. Bây giờ đối với Khúc Văn Thái mà nói, Huyền Trang đã trở thành người thầy tâm linh và là trụ cột về tinh thần của ông ta. Khúc Văn Thái sao chịu để Huyền Trang rời đi cho được?
Thái độ của Khúc Văn Thái vô cùng cương quyết, lời lẽ khẩn thiết, bất kể thế nào cũng không để Huyền Trang rời đi.
Khúc Văn Thái hết lời ngon ngọt nhưng Huyền Trang vẫn kiên quyết không đồng ý. Khúc Văn Thái trong lúc nóng nảy, nói với ngài: “Ta tuyệt đối không để ngài đi, hoặc là ngài ở lại Cao Xương, hoặc là ta đưa ngài trở về Đại Đường, ngài hãy suy nghĩ cho kỹ đi!”
Huyền Trang không chút thỏa hiệp, trả lời: “Vậy được, ngài có thể giữ được hài cốt của ta, còn tâm nguyện của ta, ngài tuyệt đối không bao giờ có thể giữ được.”
Trước sự bức bách của Khúc Văn Thái, Huyền Trang cuối cùng đã quyết định tuyệt thực, ngồi thiền ba ngày cơm không động một hạt, nước cũng không uống dù chỉ một ngụm. Khúc Văn Thái lập tức khóc lớn, cuối cùng cũng chịu khuất phục: “Đại sư, đệ tử sẽ để ngài lên đường đi về phía tây, chỉ xin ngài mau dùng chút đồ ăn thức uống!”.
Trong tình cảnh này Khúc Văn Thái cuối cùng cũng nhận ra mình không giữ nổi chân Huyền Trang, đành phải chuẩn bị tất cả đồ đạc cho ngài tiễn ngài lên đường. Dân chúng Cao Xương biết Huyền Trang sắp đi thì vô cùng đau lòng, vội vàng ùa tới tiễn chân ngài.
Hai chân Khúc Văn Thái đã tàn phế, ông ngồi trên kiệu để người ta khiêng đi, đích thân tiễn Huyền Trang đến ngoài cổng thành. Ông sai người dâng những lễ vật tặng cho Huyền Trang lên. Huyền Trang nhìn thấy liền lập tức kinh ngạc, lễ vật mà Khúc Văn Thái tặng cho ngài không ngờ lại là một đoàn thương nhân, hay nói cách khác chính là một sứ đoàn!
“Đại sư, đệ tử không biết lấy gì báo đáp, mấy ngày nay đã sai người gấp rút làm ba mươi bộ áo cà sa cùng mặt nạ bảo hộ, găng tay, bít tất và giày để ngài che chắn khỏi gió cát sa mạc.” Khúc Văn Thái nói: “Đại sư Tây du Thiên Trúc đường xá xa xôi, đi và về e rằng cũng mất không dưới hai mươi năm. Đệ tử có chuẩn bị một trăm lượng vàng, ba vạn đồng tiền lưu hành ở Tây Vực và năm trăm xấp lụa là gấm vóc làm lộ phí cho hai mươi năm này của đại sư”.
Lòng Huyền Trang cảm thấy không được thanh thản: “Bệ hạ, những thứ này sao có thể dùng được?”.
“Được! Được chứ!” Khóe mắt Khúc Văn Thái đã đỏ hoe, “Ân đức của ngài đối với đệ tử dù là đỉnh Thông Lĩnh cao vợi cũng không sao sánh nổi. Con đường này ngài đi hết sức gian nan nên đệ tử còn chuẩn bị ba mươi con ngựa, hai mươi lăm người đầy tớ, ngoài ra còn cắt cử bốn hòa thượng mới xuất gia để phục dịch đại sư. Hành trình này có lẽ phải đi qua khoảng hai mươi tư vương quốc ở Tây Vực, đệ tử đã viết hai mươi tư bức thư cho hai mươi tư vị quốc vương, mỗi bức thư lại biếu tặng một xấp lụa, thỉnh cầu các vị ấy trên đường chiếu cố đại sư nhiều hơn. Dẫu vậy, đệ tử vẫn sợ trên đường đi có người gây khó khăn cho ngài. Khi đại sư tới đây cũng quen biết Hoan Tín nên đệ tử để Hoan Tín đi cùng đại sư tới vương đình Tây Đột Quyết bái kiến Khả hãn Thống Diệp Hộ một chuyến. Đệ tử đã tặng Khả hãn Thống Diệp Hộ năm trăm xấp tơ lụa và hai xe trái cây, ngài ấy nhất định sẽ quan tâm chăm sóc cho đại sư hơn nữa. Chờ lấy được con dấu qua biên giới Tây Đột Quyết thì coi như không còn trở ngại nào ở Tây Vực nữa rồi!”.
Ngự sử Hoan Tín trong điện sớm đã chờ ở một bên, khom người hành lễ với Huyền Trang: “Đại sư, đệ tử đã chuẩn bị ổn thỏa”.
Huyền Trang chăm chú nhìn dân chúng tiễn biệt ngài bên đường, xe ngựa đỗ trên đường. Ngài biết đây là Khúc Văn Thái đã dốc hết tài lực của quốc gia ủng hộ mình Tây du: “Bệ hạ, tình nghĩa sâu nặng của người bần tăng biết lấy gì đền đáp đây?”.
Khúc Văn Thái lau nước mắt, cười nói: “Đại sư, đệ tử có một một điều thỉnh cầu, muốn được kết nghĩa huynh đệ với đại sư, chẳng hay đại sư có bằng lòng không?”.
Huyền Trang vô cùng bất ngờ, cảm động trước tình nghĩa của Khúc Văn Thái, ngài lập tức nhận lời. Hai người tuyên lời thề kết nghĩa, trở thành huynh đệ khác họ ngay giữa đường lớn trước cổng thành.
“Được rồi!” Kết nghĩa xong, Khúc Văn Thái nở nụ cười hài lòng, “Nếu đại sư đã kết thành huynh đệ với ta, thì toàn bộ Cao Xương quốc chính là sở hữu chung của ta và đại sư! Đại sư, ngài không cần phải cảm ơn ta nữa nhỉ?”.
Nước mắt của Huyền Trang chậm rãi chảy xuống, hai người ôm nhau khóc nức nở, thần dân xung quanh cũng cất giọng khóc lớn, tiếng khóc biệt ly nhói lòng rung động cả Giao Ấp.
Giữa đau thương, Huyền Trang và Khúc Văn Thái từ biệt nhau trong làn nước mắt tuôn trào, ngài hòa mình vào gió cát xoay mòng tiếp tục dấn thân trên con đường Tây du.
Nhìn đoàn xe của Huyền Trang lộc cộc xa dần, Khúc Văn Thái cao giọng khóc rống, lớn tiếng kêu lên: “Đại sư, ngày thỉnh kinh trở về nhất định phải đến Cao Xương!”.
Huyền Trang trên lưng ngựa ngoảnh đầu lại, lặng lẽ chắp tay, nhận lời.
°°°
Ra khỏi thành Cao Xương hướng về phía bắc chính là Hỏa Diệm Sơn, men theo con đường buôn bán dưới chân Hỏa Diệm Sơn hướng về phía tây không xa chính là thành Giao Hà. Con đường này Huyền Trang đã quá thông thuộc rồi. Sáng sớm ra khỏi thành, tới khi hoàng hôn buông xuống đã tới được thành Giao Hà. Thái Thú thành Giao Hà sớm đã nhận được tin tức, dẫn đầu quan viên và dân chúng trong thành ra nghênh đón từ trước.
Thế nhưng Huyền Trang lại bất ngờ phát hiện ra một người đứng lẫn trong đoàn người.
“Tam hoàng tử!” Huyền Trang kinh hãi, vội vàng xuống ngựa.
Khúc Trí Thịnh mặc áo choàng trên người, mang bao tay bao chân, trên mặt còn đeo mặt nạ bảo hộ, ăn mặc giống như một người viễn hành. Nhìn thấy Huyền Trang, Khúc Trí Thịnh mỉm cười bước tới: “Đại sư, nếu người đã muốn Tây du, sao không chào hỏi ta một câu?”.
Huyền Trang rất mực hổ thẹn: “A Di Đà Phật, là lỗi của bần tăng. Tam hoàng tử, sao người lại tới đây?”.
“Đương nhiên là để Tây du cùng đại sư rồi!” Khúc Trí Thịnh hờ hững nói.
Huyền Trang có chút khó xử nhìn Thái thú Giao Hà, vị thái thú này cũng tỏ ra bất đắc dĩ, nói: “Đại sư, tam hoàng tử đã chờ sẵn ở đây từ trưa nay rồi. Ngài ấy nói đã để lại thư cho bệ hạ nói mình muốn cùng đại sư đi Thiên Trúc cầu Phật. Hạ quan… hạ quan cũng không dám ngăn cản, chỉ có thể sai người phi ngựa nhanh về vương thành bẩm báo với bệ hạ”.
“Bệ hạ nói sao?” Huyền Trang hỏi.
“Bệ hạ nói mỗi người đều có số mệnh đã định sẵn. Như việc đại sư ứng kiếp Tây du, làm trọn lẽ trời thì tam hoàng tử cũng phải rời xa thâm cung, tìm kiếm số mệnh đời mình”, thái thú Giao Hà nói.
Khúc Trí Thịnh rạng rỡ: “Đại sư, hãy cho đệ tử theo gót người trên con đường Tây du này!”.
“Sao ngài lại muốn theo con đường Tây du?” Huyền Trang hỏi.
“Đệ tử…” Khúc Trí Thịnh ngẫm nghĩ một lát, “muốn theo chân sư phụ, kiếm tìm đạo lý đúng đắn của ngã Phật”.
Huyền Trang lắc đầu: “Tam hoàng tử, xin ngài trở về cho”.
Khúc Trí Thịnh nôn nóng: “Sư phụ, nói thật với ngài, ta là muốn đi tìm Sương Nguyệt Chi. Không cần biết nàng ấy ở nơi đâu, dù cho chân của ta có phải mài khắp mặt đất này, ta cũng phải tìm bằng được nàng ấy!”.
Huyền Trang bật cười: “Đây mới là con đường Tây du của ngài. Đi thôi!”.
Khúc Trí Thịnh quỳ phục xuống: “Vậy thì đệ tử sẽ bái người làm thầy! Từ nay về sau, con chính là đại đệ tử của người”.
Huyền Trang vội vàng đỡ Khúc Trí Thịnh lên, cười gượng: “Ngài muốn bái bần tăng làm thầy cũng được, nhưng không thể làm đại đệ tử của ta”.
“Vì sao?” Khúc Trí Thịnh thắc mắc.
“Có một đứa trẻ kể từ khi bần tăng quen biết cậu bé thì cậu ấy vẫn luôn gọi bần tăng là sư phụ. Tuy cậu không phải là Phật đồ nhưng trong lòng bần tăng, cậu bé đã trở thành đệ tử đầu tiên trong đời này của bần tăng rồi”, Huyền Trang cảm thấy thương cảm, chậm rãi nói.
“Cậu bé mà sư phụ nói là A Thuật sao?” Khúc Trí Thịnh bỗng nhiên hiểu ra, nghĩ tới A Thuật đã bị chôn vùi ở lò lửa Thiên Sơn thì không nén nổi có chút khó chịu, “Được rồi, sư phụ, vậy thì con làm nhị đệ tử của sư phụ. A Thuật mãi mãi là đại sư huynh của con”.
°°°
Sau khi thu nhận Khúc Trí Thịnh, Huyền Trang nghỉ lại thành Giao Hà một đêm, tờ mờ sáng hôm sau đã khởi hành, tiếp tục hành trình Tây du.
Con đường Tơ lụa bắt đầu từ Giao Hà, lắt léo qua tây nam, thuận theo sa mạc giữa các dãy núi uốn lượn hướng tới Yên Kỳ. Đội ngũ của Huyền Trang có ba bốn mươi người, thêm cả ngựa và lạc đà thật sánh ngang với một đội buôn cỡ nhỏ.
Bấy giờ là cuối đông năm Trinh Quán thứ ba, sa mạc lớn lạnh lẽo khôn cùng.
Con đường Tơ lụa phồn hoa nhưng lại xa xôi nghìn dặm, phần lớn các đoạn đường đều không có bóng người, sau khi vào vùng núi, phong cảnh nghìn nơi như một hết sức đơn điệu. Sau một ngày đi đường, nếu may mắn có thể gặp được quán trọ bình dân nghỉ chân, còn bình thường chỉ có nước tìm một chỗ ngủ ngoài trời ngay ven đường đi, nằm kề bên ngựa, lạc đà, chịu đựng qua màn đêm lạnh giá.
Quán trọ trên Con đường Tơ lụa hầu hết đều ở những nơi có thể đào được giếng nước, điều kiện cũng rất đơn sơ, nhiều nhất cũng chỉ có ba phòng tồi tàn, một giếng nước, thậm chí còn không có cỏ khô cho gia súc. Không chỉ có vậy, quán trọ cũng khó duy trì sự ổn định, vì giếng nước rất có khả năng sớm khô cạn nên họ đành phải bỏ đi nơi khác.
Phía trước chính là Ngân Sơn, ngọn núi này là ranh giới tự nhiên giữa Yên Kỳ và Cao Xương, qua khỏi hẻm núi cũng coi như đã tới được Yên Kỳ. Trước mặt sẽ có một thành trấn khá lớn, đoàn người Huyền Trang lúc này mới thở phào một hơi, tìm được quán trọ nghỉ chân, cũng tìm được thức ăn cho gia súc. Đồng thời ở nơi đây còn có thể gặp được một vài đội buôn lớn, trao đổi cho nhau mục đích và những tin tức trên đường đi, chẳng hạn như nơi nào có giếng nước, quán trọ nào có cung cấp cỏ khô cho gia súc, nơi nào giặc cướp thường lui tới, thậm chí nơi nào đang xảy ra chiến tranh, cần phải đi đường vòng.
Những tin tức này vô cùng quan trọng vì nó can hệ trực tiếp đến tính mạng con người. Tại một trấn cách vương thành Yên Kỳ gần một trăm dặm, đoàn người Huyền Trang gặp được một đội thương buôn từ vương thành Yên Kỳ đi ra, nói cho mọi người biết một tin tức, phía trước không xa có giặc cướp thường lui tới, họ khuyên các nhà buôn sau khi mặt trời mọc nên kết thành đoàn mà đi.
Huyền Trang bàn bạc với Hoan Tín xong xuôi liền sửa lại kế hoạch, nghỉ ngơi tới giờ Thìn mới lên đường. Nhưng có một đội thương buôn đã lén khởi hành trước khi mặt trời lên, hi vọng có thể tới vương thành Yên Kỳ trước những người khác để hàng hóa của mình bán được giá hơn. Tới khi đoàn người Huyền Trang đến được một thung lũng thì phát hiện đội buôn này đã bị giặc cướp giết sạch, không một ai may mắn sống sót.
Huyền Trang thở dài không thôi, sai người đưa những thi thể thương nhân đi chôn cất rồi niệm kinh siêu độ cho họ. Hơn nữa ngài cũng thấy rất kì lạ, nơi này chỉ cách vương thành Yên Kỳ có mười mấy dặm, sao lại có giặc cướp thường lui tới?
Một thương khách người Hồ nói với ngài: “Quốc vương Yên Kỳ tính tình qua loa, nóng nảy, kỉ cương nội quốc Yên Kỳ không nghiêm. Trước đây nhờ có công chúa Long Sương mà quan lại lớn nhỏ mới miễn cưỡng làm tròn cương vị, nhưng kể từ sau chiến tranh với Cao Xương, công chúa rời khỏi Tây Vực, chính vụ của Yên Kỳ liền trở nên rối ren”.
Khúc Trí Thịnh nghe thấy nhắc tới Long Sương Nguyệt Chi liền không nén nổi buồn bã, chán nản. Chôn cất những thi thể thương nhân kia xong, họ lại tiếp tục lên đường, trước khi mặt trời lặn đã tới được vương thành Yên Kỳ.
Vương thành Yên Kỳ cũng không lớn, nằm ở bờ nam sông Đô[112], phía đông giáp hồ Bác Tư Đằng, vương thành dài chừng sáu bảy dặm, bốn mặt tựa vào núi, dễ phòng thủ khó tấn công, xung quanh là những dòng suối dẫn nước từ sông Đô vào, đồng ruộng xanh rì tốt tươi.
Hoan Tín sớm đã phái người mang thư tín và lụa của Khúc Văn Thái phi ngựa nước đại tới vương thành, báo cho Long Đột Kỵ Chi biết trước. Tuy hai quốc gia không hòa thuận nhưng sau trận đại chiến vẫn còn rất nhiều việc cần giải quyết, ví dụ như vấn đề thương binh và di hài của những binh sĩ tử trận, còn nhiều chuyện Yên Kỳ vẫn cần phải nhờ cậy vào Cao Xương, về thể diện vẫn có thể tạm xét cho qua.
Đoàn người đã tới trước cổng thành Yên Kỳ, Long Đột Kỵ Chi dẫn theo một đoàn thần dân ra nghênh đón, bề ngoài tỏ ra vô cùng niềm nở nhưng trong lời nói và nét mặt lại có chút lạnh nhạt. Huyền Trang biết nỗi oán hận trong lòng Long Đột Kỵ Chi vẫn chưa tiêu tan hết nên cũng không tính toán. Có điều, Long Đột Kỵ Chi tuy khách sáo với Huyền Trang nhưng lại không chút khách khí với Hoan Tín. Hoan Tín có nguyện vọng muốn được đổi ngựa nhưng Long Đột Kỵ Chi lại không chút do dự từ chối: “Quý sứ, ngựa tốt của Yên Kỳ ta đã chết bên ngoài thành Cao Xương cả rồi, bây giờ quả thực chẳng lấy đâu ra ngựa nữa!”.
Hoan Tín giận sôi người nhưng cũng đành bó tay.
Huyền Trang cũng không muốn ở lại Yên Kỳ lâu, chỉ ở một đêm rồi tờ mờ sáng hôm sau lại khởi hành. Long Đột Kỵ Chi cũng không giữ ngài lại, lễ tiết ông ta đều đã xong xuôi, chỉ tiễn chân một đoạn đường liền cáo từ. Trước khi trở về, Long Đột Kỵ Chi trả lại thư và xếp lụa kia cho Hoan Tín: “Bổn vương chiêu đãi đại sư nồng hậu bởi vì ngài là cao tăng thượng quốc, chứ chẳng phải vì nể nang mặt mũi Khúc Văn Thái đâu. Xếp lụa này các ngươi mang về đi!”.
Hoan Tín bị người ta thẳng tay giáng cho một cái tát đau điếng như vậy, trên đường đi liền lớn tiếng chửi mắng Long Đột Kỵ Chi, Huyền Trang chỉ cười gượng không thôi. Xem ra bởi vì chuyện Chiếc bình của vua Đại Vệ mà các quốc gia Tây Vực đã giương cung bạt kiếm với nhau rồi. Lại đi về phía tây, đường xá càng thêm hoang vắng. Nơi đây cách vương thành Quy Từ hơn bảy trăm dặm, trên đường đều là đại mạc nối nhau không ngớt, đến cả thương nhân trên Con đường Tơ lụa cũng ít đi rất nhiều, trong bán kính mấy trăm dặm không có người ở, ven đường mặc dù có thành trấn, nhưng cũng đều đã bị bỏ hoang, nghiêng đổ, bị gió cát vùi lấp. Những cỗ thi thể người bị phong hóa khô đét, xương động vật, cây cối hóa đá, chính là dấu hiệu dọc đường, chỉ dẫn cho người tới sau tiến lên phía trước.
Quy Từ là kinh đô âm nhạc trứ danh trên Con đường Tơ lụa, người ở đông đúc, vương đô là thành Y La Lô[113] quy mô to lớn. Ngoài thành đều là đồng ruộng rộng lớn, bên đường trồng toàn những cây bạch dương cao ngất, xung quanh có các vườn cây ăn quả rậm rạp, sản xuất nhiều hạnh đào, lê và lựu.
Quốc vương Quy Từ bấy giờ tên gọi là Tô Phạt Điệp. Trên thực tế, lần này Quy Từ tham gia ba nước công phạt Cao Xương, cũng là do Long Đột Kỵ Chi đã mua chuộc quyền thần trong tay của Tô Phạt Điệp, mới dẫn đến trận đại bại này. Có điều khác với Long Đột Kỵ Chi, Tô Phạt Điệp không hề coi Huyền Trang như kẻ địch, hắn trời sinh cởi mở hiếu khách, cực kỳ hoan nghênh và nhiệt tình chiêu đãi đối với Huyền Trang. Huyền Trang vốn muốn sớm ngày đi về phía tây, Tô Phạt Điệp nói cho ngài biết, đi tiếp về hướng tây chính là Lăng Sơn, trên núi cực kỳ lạnh, bốn mùa phủ băng, cho dù là mùa hè, băng tuyết chỉ hơi tan ra, ngay lập tức đã lại đóng băng trở lại. Trước mắt vào mùa này, băng tuyết che phủ càng dày, không thể nào đi lại được.
Huyền Trang bất đắc dĩ, chỉ đành dừng chân tại Quy Từ, tham bái Phật tự, giảng kinh tranh luận. Quốc sư Quy Từ là Mộc Xoa Cúc Đa không phục, khiêu chiến với Huyền Trang, kết quả là tự chuốc lấy thảm bại. Hai tháng sau, xuân đến tuyết tan, Huyền Trang mới cáo từ Tô Phạt Điệp, tiếp tục lên đường về phía tây. Tô Phạt Điệp tặng cho ngài mười mấy con lạc đà, lại phái mấy chục binh lính hộ tống, mới quyến luyến bịn rịn tiễn Huyền Trang rời đi.
Lăng Sơn nằm ở phía bắc Thông Lĩnh, quanh năm tuyết đọng, địa hình gồ ghề, đồng thời trên có sông băng, thường xuyên xảy ra tuyết lở. Một con đường hiểm trở như vậy, lại là trục đường quan trọng của Con đường Tơ lụa. Trong kí ức của Huyền Trang, Lăng Sơn chỉ đứng sau sa mạc Mạc Hạ Diên.
Lúc vượt qua Lăng Sơn, bão tuyết ập đến, cuốn theo những hạt tuyết, tựa như một con rồng màu trắng vần vũ tung hoành trong núi, đập lên mặt, lên thân thể của mọi người, đau buốt khôn cùng. Đám người Huyền Trang ai nấy đều buộc dây thừng dài, xếp thành một hàng, gian nan lặn lội trên con đường núi chật chội. Đột nhiên một tiếng nổ vang lên, một đỉnh núi băng ầm ầm đổ xuống, đè chết mấy con lạc đà và ngựa, hai tên đầy tớ Cao Xương cũng bị đập thành thịt vụn, rơi xuống sơn cốc.
Không ít người bắt đầu khóc lóc, Huyền Trang chỉ có thể niệm tụng kinh Phật, cổ vũ mọi người. Khúc Trí Thịnh lúc này thể hiện dũng khí phi phàm, dẫn đầu đám tùy tùng Cao Xương và binh lính Quy Từ, dùng rìu đục từng chút tạo ra một con đường bậc thang bằng băng trên đỉnh núi, kéo đám tùy tùng và ngựa, lạc đà ở phía sau khó nhọc trèo lên.
Mãi đến sau bảy ngày bảy đêm, đám người Huyền Trang mới ra được khỏi Lăng Sơn. Một đoàn người tổn thất nặng nề, sa di quy y mà Khúc Văn Thái cho ngài đã chết hai người, binh lính và tùy tùng từ mười người có ba bốn người cũng chôn thân trong núi, lạc đà và ngựa chết càng nhiều hơn. Còn về đám người Khúc Trí Thịnh và Hoan Tín, thì càng chật vật, đặc biệt là Khúc Trí Thịnh, trên năm ngón tay máu tươi đầm đìa, máu đã sớm đông thành một lớp băng mỏng.
“Sư phụ”, Khúc Trí Thịnh lại vô cùng vui sướng, “đã qua được Lăng Sơn rồi, đệ tử dường như cảm thấy thế giới trước mắt mang một màu sắc hoàn toàn mới”.
°°°
Qua Lăng Sơn không xa, là đến được Đại Thanh Trì.
Đại Thanh Trì bốn bề toàn núi, nước từ trong núi chảy ra đổ vào trong hồ, sắc hồ xanh đen, nước hồ hơi mặn. Lăng Sơn kề cạnh đó một năm bốn mùa băng tuyết ngập trời, còn Đại Thanh Trì lại chưa đóng băng bao giờ.
Ở Tây Đột Quyết, khu vực Đại Thanh Trì lấy thành Toái Diệp làm trung tâm, không những là vùng cỏ chăn nuôi mà khả hãn Tây Đột Quyết chăn thả, đồng thời cũng là đầu mối quan trọng mà Con đường Tơ lụa phía bắc nhập vào đường trung tâm, đi tới nam bắc Thiên Sơn, thương nhân các nước trên Con đường Tơ lụa tập trung buôn bán, đủ loại hàng hóa tập hợp và phân tán từ đây, vô cùng náo nhiệt. Đặc biệt là vào mùa này, mùa xuân sắp qua, sắp tới mùa cắt lông cừu, thương nhân từ Tát Mã Nhĩ Hãn thậm chí là Tây Vực đều muốn thu mua lông cừu ở đây, vận chuyển đến Đại Đường để buôn bán, trong lũng sông nơi đâu cũng là chợ giao dịch lông cừu, màn đêm vừa buông xuống, cả vùng lũng sông huyên náo dị thường, các thương nhân tụ tập uống rượu điên cuồng, thoải mái nói chuyện cười đùa.
Vương đình Tây Đột Quyết hiện nay ở thành Toái Diệp, người Đột Quyết là bộ lạc du mục, nơi này là nơi ở mùa đông của khả hãn. Mỗi năm vào mùa đông, khả hãn sẽ di chuyển vương đình, quân đội và gia súc tới đây, chăn thả, nghỉ dưỡng, trải qua mùa đông dài đằng đẵng. Trong thành ngoại trừ quân đội Tây Đột Quyết thì là thương nhân, trên đồng cỏ hai bên đường có đến hàng ngàn hàng vạn con ngựa, bò, cừu và lạc đà, không biết đâu là điểm tận cùng.
Đám người Huyền Trang men theo con đường kẹp giữa bò và cừu, đi tới thành Toái Diệp, trên đường mặc dù tiếng ngựa hí bò rống, mùi phân ngút trời, nhưng tâm trạng mọi người lại rất tốt. Sau khi tới được thành Toái Diệp, đám người Hoan Tín và những binh lính Quy Từ có thể trở về phục mệnh rồi. Không ngờ trong lúc đi đường, đột nhiên trước mặt bụi đất tung bay, tiếng vó ngựa tiếng sấm rền vang, gõ lên mặt đất.
Mọi người hoảng sợ biến sắc, cho rằng đã gặp phải giặc cướp. Hoan Tín đứng trên ngựa nhìn ra xa, chỉ nhìn thấy một đội kỵ binh giống như nước lũ màu đen cuồn cuộn kéo tới, ở chính giữa dựng một cây cờ đầu sói lớn màu vàng, lập tức mừng rỡ: “Đại sư, là cờ của Khả hãn Thống Diệp Hộ!”.
Đội kỵ binh kia đến trước mặt, Hoan Tín vội vàng nhảy xuống ngựa, quỳ xuống bên đường nghênh đón. Đội quân dừng lại, Hoan Tín vội vàng tiến lên giao thư tín và hoa quả, lụa là của Khúc Văn Thái ra. Thư được nội thị trình lên Thống Diệp Hộ, vị khả hãn chí cao vô thượng của Tây Vực này đọc xong thư tín, vội vàng chạy tới gặp Huyền Trang.
Thống Diệp Hộ tuổi gần năm mươi, thân thể vạm vỡ, tựa như một tòa tháp sắt. Ông ta ăn mặc tùy tiện, khoác trên người một chiếc long bào màu xanh biếc, mái tóc dài buông xõa, trên trán buộc một dải lụa trắng dài chừng một trượng, hai đầu dải lụa tung bay sau lưng. Hơn hai trăm vị quan lớn Đột Quyết đi theo ai nấy đều mặc cẩm bào, tết tóc, kỵ binh tinh nhuệ nhất của vương đình vây chặt hai bên, vô cùng uy nghiêm.
Thống Diệp Hộ thấy Huyền Trang thì rất vui mừng: “Đã sớm nghe nói đến đại danh của đại sư, nghe nói ngài lên đường Tây du, những nơi đã qua, tín đồ trên khắp mặt đất giống như chim nhạn di trú, từ bốn phương tám hướng đi theo ngài!”.
“Đó là bởi vì thứ mà bần tăng theo đuổi là bước chân của ngã Phật từ bi, chúng sinh tứ phương đều khẩn cầu có được sự chỉ dạy của Phật”, Huyền Trang chắp tay.
Thống Diệp Hộ quan sát ngài từ trên xuống dưới một lượt, không nhịn được gật đầu lia lịa: “Đại sư à, vừa rồi ta nhìn thấy thư của quốc vương Cao Xương. Trên thư viết rằng, ‘đại sư là nô đệ, muốn đến Bà La Môn cầu pháp, mong khả hãn thương đại sư như thương nô, xin ban sắc lệnh để các quốc gia phương Tây cung cấp chỗ dừng chân, đưa ngài xuất cảnh. Ôi, vị thông gia này của ta thời niên thiếu tính khí cao ngạo, trước giờ không chịu cúi đầu, hôm nay lại vì đại sư, mà viết ra lời lẽ khiêm tốn đến mức độ này, có thể thấy được mị lực của đại sư!”.
“Đó là vương huynh hậu ái, bần tăng cảm kích khôn xiết!” Huyền Trang chưa hề đọc qua thư tín của Khúc Văn Thái, thấy lời văn viết trong thư giống như là cầu xin, nhớ lại tình nghĩa của Khúc Văn Thái, cũng không khỏi cảm động sâu sắc.
Thống Diệp Hộ cười lớn: “Đại sư yên tâm, trong lãnh địa của Tây Đột Quyết, ta đảm bảo ngài sẽ lên đường thông thuận không gặp trở ngại gì. Nói đến thì ngài cũng là phúc báo của ta, mấy ngày nay ta nghe được một vài tin tức tốt của Đại Đường, đang muốn chúc mừng liền gặp được cao tăng Đại Đường, đây há chẳng phải ý trời hay sao?”.
“Tin tức tốt của Đại Đường sao?” Huyền Trang kinh ngạc.
“Lẽ nào đại sư còn chưa biết sao?” Thống Diệp Hộ vui mừng hớn hở nói, “Đông Đột Quyết đã diệt vong rồi!”.
“Cái gì?” Huyền Trang giật nảy người. Đối với bất cứ một bách tính nào của vương triều Trung Nguyên mà nói, Đông Đột Quyết giống như một cơn ác mộng đáng sợ. Từ thời Tiên Tùy đến đời Tùy Mạt, Đông Đột Quyết nhiều lần đem quân xuống phía nam, bách tính biên thùy thậm chí là cả kinh đô và các vùng lân cận khổ không thể tả. Nơi bọn chúng từng đi qua, thôn trang hóa thành đống đổ nát, dân cư thì bị giết hết, tài sản bị cướp sạch không còn lại chút gì. Cuối nhà Tùy, Đông Đột Quyết lại ra sức giúp đỡ cường hào khắp nơi tiến hành chém giết, bản thân mình ngồi làm ngư ông đắc lợi. Đối với những người Đại Đường đã từng trải qua loạn thế cuối nhà Tùy, Đông Đột Quyết giống như một cây kiếm sắc treo ngay trên đỉnh đầu.
Nhưng hiện tại, cơn ác mộng này đã kết thúc hoàn toàn rồi sao?
“Đại sư vẫn còn chưa biết nhỉ?” Thống Diệp Hộ cười ha hả, “tháng Mười một năm ngoái, Lý Thế Dân phái các tướng quân Lý Tịnh, Lý Tích, dẫn mười vạn đại quân, chia làm sáu đường, phát động tiến công Đông Đột Quyết. Tên tiểu tử Hiệt Lợi còn tự cao tự đại, cho rằng quân Đại Đường không dám tiến công. Tháng giêng năm nay, Lý Tịnh dẫn đầu ba ngàn người đánh bất ngờ vào sào huyệt của hắn, Hiệt Lợi lúc này mới hoảng sợ, bỏ thành chạy trốn, không ngờ giữa đường lại gặp phải Lý Tích đánh gọng kìm. Hắc, nhân tài Đại Đường xuất hiện lớp lớp, thảo nguyên mênh mông, mà lại có thể phối hợp tinh diệu như vậy, Hiệt Lợi có thể không bại sao? Đáng thương thay, tên tiểu tử Hiệt Lợi còn chơi trò cân não với Lý Thế Dân, phái đặc sứ đến Trường An xin đầu hàng, định kéo dài thời gian, di chuyển đại quân. Không ngờ Lý Thế Dân tương kế tựu kế, để đại quân đi theo sứ giả đến chiêu hàng, tập kích bất ngờ vào nha trướng của Hiệt Lợi, Đông Đột Quyết tan tác triệt để, hơn mười vạn người bị bắt làm tù binh, Hiệt Lợi chạy thoát tới Sa Bát La, giữa đường cũng bị quân Đường bắt được, đưa về Trường An. Đại sư à, Đông Đột Quyết đã bị tiêu diệt hoàn toàn rồi”.
Huyền Trang nhìn dáng vẻ hả hê của Thống Diệp Hộ khi nói đến Đông Đột Quyết, không khỏi nảy sinh cảm giác kì quái. Trên thực tế Đông-Tây Đột Quyết thù sâu như biển, mâu thuẫn này còn sâu hơn cả so với ngoại tộc. Năm ngoái, Đông Đột Quyết gặp phải sự tấn công của quân Đường, Hiệt Lợi đã từng cầu xin viện trợ từ Thống Diệp Hộ, nhưng Thống Diệp Hộ ngoảnh mặt làm ngơ. Mà sau khi Hiệt Lợi thất bại và diệt vong, thà rằng trốn tới tộc Thổ Dục Hồn[114], cũng không muốn dây dưa với Thống Diệp Hộ.
“Đại sư à”, tâm trạng Thống Diệp Hộ rất tốt, “ngài từ xa tới, thì ở lại thành Toái Diệp thêm vài ngày đi, chúng ta hôm nay đang muốn ra ngoài đi săn, hai ba ngày nữa sẽ về. Ta phái người đưa ngài vào trong thành nghỉ ngơi trước có được không?”.
Huyền Trang đương nhiên đồng ý, Thống Diệp Hộ lập tức gọi một viên đạt quan tên Đạt Ma Chi tới, lệnh cho hắn đi cùng Huyền Trang về nội nha sắp xếp nơi ở, còn bản thân thì dẫn đầu kỵ binh gào thét mà đi.
Đạt Ma Chi biết chút tiếng Hán, trên đường Huyền Trang hỏi hắn về Nê Thục. Đạt Ma Chi nói: “Thiết Nê Thục mấy ngày trước từ Cao Xương trở về, liền đến bộ lạc của mình. Nghe nói qua mấy ngày nữa muốn đến tiễn chân hãn”.
“Tiễn chân khả hãn ư?” Huyền Trang vô cùng kinh ngạc.
Đạt Ma Chi nghe thấy ngài quen biết Nê Thục, lại càng thêm cung kính, giải thích: “Lúc này xuân về hoa nở, sắp sang mùa hè rồi. Đợi cắt xong lông cừu, khả hãn sẽ rời khỏi đây, trở về Thiên Tuyền. Ở đó là Hạ cung của khả hãn, mỗi năm vào mùa hè khả hãn đều phải tới đó để tránh nắng. Vì vậy tiểu khả hãn của các bộ lạc lân cận đều sẽ tới tiễn biệt”.
Huyền Trang chợt hiểu ra, lại hỏi: “Vậy còn Thiết Mạc Hạ Đốt thì sao? Ngài ấy hiện đang ở đâu?”.
Đạt Ma Chi không ngờ đến cả Mạc Hạ Đốt mà hòa thượng này cũng quen biết, có chút kính nể, vội vàng nói: “Đại thiết Mạc Hạ Đốt chắc hẳn cũng sẽ đến tiễn biệt khả hãn, đại sư xin đợi thêm mấy ngày, đến lúc ấy hẳn đều có thể gặp được ạ”.
“Ừ!” Huyền Trang luôn nhớ đến Chiếc bình của vua Đại Vệ đã bị Mạc Hạ Đốt đem đi, ngài từng đồng ý với A Thuật, phải đưa chiếc bình này đến Đại Đường, hiện nay nó đã lọt vào tay của Mạc Hạ Đốt. Điều này khiến cho ngài rất phiền não.
“Đạt quan, nghe nói Thiết Mạc Hạ Đốt đem về một chiếc bình thần kỳ từ Cao Xương, ngài có biết hay không?”, Huyền Trang hỏi.
Đạt Ma Chi nhất thời sắc mặt đại biến, nhìn ngó xung quanh, trên mặt hiện ra vẻ sợ hãi, thấp giọng nói: “Đại sư, chuyện này không nói được!”.
Huyền Trang kinh ngạc: “Tại sao?”.
“Đại sư là người ngoại quốc, tiểu nhân cũng không giấu ngài.” Đạt Ma Chi hít sâu một hơi, vẻ mặt lén lút, “Thiết Mạc Hạ Đốt mang chiếc bình đó từ Cao Xương về, nghe nói có ma lực vô thượng. Sau khi ngài ấy trở về, trong Chiếc bình của vua Đại Vệ đột nhiên bốc lên một con quỷ, đưa ra tiên đoán, nói Thiết Mạc Hạ Đốt sẽ là đại khả hãn tương lai. Chuyện này đã truyền khắp cả thảo nguyên và đại mạc rồi, nhưng mọi người đều giấu Khả hãn Thống Diệp Hộ, ai cũng không dám nói cho ngài ấy biết. Cũng xin đại sư tuyệt đối đừng nhắc đến”.
Huyền Trang và Khúc Trí Thịnh đưa mắt nhìn nhau, cả hai đều cảm thấy ớn lạnh đến tận xương tủy.
Chú Thích
[112] Sông Đô, sông Khai Đô là một sông tại Khu tự trị Duy Ngô Nhĩ Tân Cương tại Trung Quốc và là một nguồn nước quan trọng đối với khu vực. Khởi nguồn của sông Khai Đô nằm ở sườn giữa phía nam của Thiên Sơn, và từ đây sông chảy qua bồn địa Yulduz và bồn địa Yên Kỳ rồi đổ nước vào hồ Bosten (Bác Tư Đằng) và là nguồn cấp nước quan trọng nhất của hồ này.
[113] Đây là địa điểm trọng yếu trên Con đường Tơ lụa xưa. Đời Hán gọi đây là Diên Thành, đến đời Đường đổi tên gọi là Y La Lô.
[114] Thổ Dục Hồn, cũng phiên thành Thổ Cốc Hồn hay Đột Dục Hồn cũng gọi là Hà Nam Quốc là một vương quốc hùng mạnh được các bộ lạc du mục người Tiên Ti lập nên tại Kỳ Liên Sơn và thung lũng thượng du Hoàng Hà, tồn tại từ năm 285 đến năm 670.