Trên đầu thành Cao Xương, Khúc Văn Thái và Trương Hùng cũng nghe thấy tiếng kèn hiệu, trong lòng hai người trầm xuống, họ biết rằng liên quân ba nước bắt đầu tấn công.
Trương Hùng cẩn thận quan sát trận thế của đối phương, im lặng một hồi lâu.
Khúc Văn Thái vội vàng hỏi: “Thái Hoan, ngươi thấy bọn chúng có thể phát động tấn công như thế nào?”.
“Khó mà nói được!” Trương Hùng lắc đầu, “Tính cơ động của kỵ binh công thành quá mạnh mẽ, rất khó đoán trước được hướng tấn công. Nhưng có một điểm này, kỵ binh muốn tấn công thành trì bắt buộc phải xuống ngựa. Bọn chúng đến vội vàng, không mang theo binh khí để công thành, bây giờ làm thang mây chắc chắn là không kịp, thứ duy nhất có thể dùng, chính là tìm một vài khối gỗ tròn, đụng vỡ cổng thành. Ngoài thành chúng ta không có nhà dân, chỉ có một ít cây hồ dương cao lớn. Bệ hạ, chỉ cần xem bọn chúng chặt cây hồ dương ở nơi nào, chỗ những thân cây lớn thì có thể biết hướng tấn công”.
Khúc Văn Thái đang muốn trả lời, bỗng nhiên ngây ngẩn cả người. Chỉ nhìn thấy chỗ đoàn quân đang đóng ngoài thành bốc lên một đám khói đen dày đặc. Ông ta đương nhiên không lạ gì đám khói đen này, ít nhất cũng phải nhìn thấy vài lần rồi, nhưng chưa một lần nào dày đặc như lần này!
“Chiếc bình của vua Đại Vệ” Hai người kêu lên sợ hãi.
“A ha, Chiếc bình của vua Đại Vệ” Hai người vừa dứt lời, thì có một người chạy bình bịch lên trên cổng thành, hai mắt sáng lên, nhìn xuống phía dưới thành, vẻ mặt phấn khởi.
Không ngờ đó lại là Mạc Hạ Đốt!
°°°
Đích thực là Chiếc bình của vua Đại Vệ.
Thoạt đầu, điều đó khiến cho ba người kinh hãi, Khúc Trí Thịnh thấy đám khói đen này xông tới, có phần giật mình, trong lòng thất kinh, chợt thả tay ra, Chiếc bình của vua Đại Vệ rơi xuống mặt đất vang lên một tiếng.
Sau đó, đám người Long Sương Nguyệt Chi, Nê Thục, Long Đột Kỵ Chi, thậm chí là liên quân ba nước ngay phía sau họ cũng kinh hãi, bọn họ nhất thời quên mất việc tấn công, từng người một hạ cung tên trong tay xuống, ngơ ngác nhìn chiếc bình thần thông trong truyền thuyết.
“Sương… Sương Nguyệt Chi…” Nê Thục thì thào hỏi, “Là nàng sao?”.
Lời hắn nói không đầu không cuối, nhưng Long Sương Nguyệt Chi hiển nhiên hiểu rõ, cũng kinh ngạc lắc đầu: “Không phải! Ngươi hãy nhìn đám khói này đi!”.
Mọi người nhìn chằm chằm vào đám khói đang bốc lên, đám khói đó cực kỳ quỷ dị, màu sắc không giống với thứ mà Long Sương Nguyệt Chi từng tạo ra, trong màu đen lại pha thêm chút màu đỏ như máu, hai loại màu sắc quấn lấy nhau, nhưng lại phân ra rõ ràng. Càng quỷ dị hơn là, trong đám sương khói kia dường như có một sinh mệnh thực sự, khi nó từ từ bốc lên, không hề giống với tất cả những thứ từng bốc lên trước đây, mà chỉ có một làn khói mảnh nhỏ ở miệng bình, lúc bốc lên mới từ từ biến to ra, bay thẳng lên cao tầm một trượng, cứ thế ngưng tụ lại không tan. Lúc này đám khói màu đen kia vây bọc ở phía bên ngoài, còn thứ màu đỏ như máu bên trong lại quằn quại vặn vẹo, hình như trong đống hỗn độn ấy còn sinh ra một tia chớp lóe sáng, bên trong có thứ gì đó đang hợp lại, biến hình.
Huyền Trang trong lòng kinh sợ, vội vàng chạy tới kéo A Thuật lại. Bên kia Chu Quý cũng hoảng sợ kéo Khúc Trí Thịnh ra.
Huyền Trang thấp giọng nói: “A Thuật, vừa có chuyện gì xảy ra vậy?”.
“Con không biết!” A thuật buồn bực nói, “con giúp tổng quản Chu Quý giành lấy chiếc bình trong tay tam hoàng tử, chiếc bình bỗng nhiên trở nên nóng rực, sau đó liền… bốc ra đám khói…!”.
Lần đầu tiên Huyền Trang thấy tim mình đập loạn nhịp, bất an không thôi, từ trong ánh mắt lộ ra nỗi lo sâu sắc, lẩm bẩm: “Chẳng lẽ bần tăng nghĩ sai rồi sao?”.
Nhưng Khúc Trí Thịnh nhìn thấy đám khói ấy lại điên cuồng cười lớn, hét to lên rằng: “A-tạp Mã-nạp, ra đây! Mau ra đây!”. Hắn vừa cười, vừa chỉ vào đám kỵ binh trước mặt, “giết hết tất cả những người này cho ta! Giết hết! Giết hết!”.
Tướng sĩ của liên quân ba nước hoảng sợ lui về phía sau, nhất thời người hô ngựa hý, thế trận hỗn loạn, mãi một lúc sau mới ổn định được. Đám khói đen còn đang quay vòng, nhưng cũng chẳng có con quỷ nào hiện thân để nói chuyện, Long Sương Nguyệt Chi nhẹ nhàng thở ra, quay đầu cười với đám kỵ binh: “Trên đời này làm gì có ma quỷ, có lẽ là mặc yên thạch của ta vẫn chưa hết!”.
Lời của nàng còn chưa dứt, chỉ nghe thấy trong không khí chợt vang lên một tiếng gào thét chói tai, giống như có một cơn gió đang gầm rít, nhanh chóng quét qua mặt đất. Một tên kỵ sĩ ở ngay hàng đầu tiên chợt hét lên một tiếng, bất ngờ ngã xuống khỏi chiến mã, giãy dụa một hồi, lập tức mất mạng.
Long Sương Nguyệt Chi kinh hãi: “Không! Không thể nào!”.
Sắc mặt Nê Thục cũng trắng bệch, nhảy xuống khỏi chiến mã, chạy như bay đến bên thi thể của tên kỵ sĩ kia, xem xét tỉ mỉ. Huyền Trang cũng tới lật thi thể lên để xem xét. Hai người cởi áo giáp trên thi thể ra, kiểm tra toàn thân, nhưng không phát hiện vết thương nào.
“Đại… Đại sư…!” Nê Thục cả người run lẩy bẩy, “Chuyện này là sao? Hắn chưa từng ăn cỏ nhiệt na!”.
Sắc mặt của Huyền Trang cũng rất khó coi, vạch mí mắt thi thể ra xem thử, cánh tay lập tức run lên. Trên đồng tử của thi thể kia, rõ ràng có một đốm máu to bằng hạt gạo!
Huyền Trang lạnh cả người: “A Di Đà Phật, tình trạng này, bần tăng đã từng gặp qua! Ngày đó bần tăng bị vây trong giếng mương, bị đám người lưu vong Tùy Tần đuổi giết, những người đó về sau đều chết như thế này!”.
Lời còn chưa dứt, chỉ nghe thấy trong không khí lại vang lên tiếng gào thét, lập tức lại có một gã kỵ binh ngã ngựa mất mạng. Đám kỵ binh hoảng hốt, liên tiếp vang lên những tiếng gào thét thê lương, đám kỵ binh ào ào ngã xuống như ngả rạ, liên quân ba nước nhất thời đại loạn, người hô ngựa hý, tất cả đều kinh sợ.
Không một ai thấy hung khí từ đâu tới, không ai biết bọn họ chết như thế nào, cho dù đám kỵ binh này có võ dũng hơn nữa, can đảm hơn nữa, đối mặt với một kẻ địch vô hình, cũng không khỏi kinh hồn bạt vía.
“Ổn định trận hình! Ổn định trận hình!” Trong lòng Long Sương Nguyệt Chi cũng rối loạn, mới vừa rồi, nàng đã cẩn thận quan sát từng người, muốn tìm ra chân tướng, nhưng không phát hiện được gì cả. Nàng công chúa nổi tiếng thông tuệ này, lòng nhất thời không nhịn được trào lên một cảm giác bất lực, dường như thực sự cảm nhận được cảnh khốn cùng của Khúc Văn Thái lúc đó.
°°°
Trên lầu thành Cao Xương, ba người Khúc Văn Thái, Trương Hùng và Mạc Hạ Đốt cũng nghẹn họng nhìn trân trối, bọn họ không hề biết được chuyện gì đang xảy ra, chỉ lờ mờ nhìn thấy liên tục có kỵ binh của liên quân té xuống ngựa, sau đó đội hình của liên quân trở nên hỗn loạn.
Trương Hùng đột nhiên nói: “Bệ hạ, đây là cơ hội tốt để chúng ta chuyển bại thành thắng!”.
“Ngươi muốn nói…” Khúc Văn Thái bỗng nhiên chợt tỉnh ngộ.
“Thần tuy rằng không biết ngoài thành rốt cuộc đang xảy ra chuyện gì, nhưng sĩ khí của liên quân rất bất ổn. Thần có tập trung được một ngàn thiết kỵ tinh nhuệ, nếu lúc này ra khỏi thành đánh vào trận địa của địch, chắc chắn có thể đánh bại chúng!”, Trương Hùng xúc động nói.
“Được!” Mạc Hạ Đốt cũng hăng hái bừng bừng, “Trương Hùng, nếu ngươi dám ra đánh, một ngàn Phụ ly binh của lão tử sẽ giúp ngươi một tay! Nhưng sau khi đánh tan liên quân, Chiếc bình của vua Đại Vệ nhất định phải giao nộp lại cho chúng ta!”.
Trương Hùng và Khúc Văn Thái quay mặt nhìn nhau, Khúc Văn Thái rốt cuộc vẫn là kẻ có dã tâm tại Tây Vực, đương nhiên biết uy lực của một ngàn Phụ ly binh này, ông ta suy nghĩ một lát, cân nhắc chuyện sống chết của vương quốc, cũng không thèm quan tâm tới Chiếc bình của vua Đại Vệ nữa, bèn nói: “Được! Đại thiết, xin lệnh cho binh mã ra trận!”.
Hai người Trương Hùng và Mạc Hạ Đốt vội vàng chạy xuống thành lầu, triệu tập kỵ binh của mình. Trương Hùng sớm đã có chuẩn bị, Mạc Hạ Đốt cũng đã sớm tụ tập Phụ ly binh lại, vốn tính toán lúc thành bị phá có thể dùng để bảo vệ hắn chạy trốn, lúc này vừa vặn hai quân có thể hợp lại một chỗ. Trương Hùng sai người mở cổng thành ra, gầm lên giận dữ, hai ngàn thiết kỵ binh chồm lên gào thét chạy ra ngoài.
Cổng thành cách đội quân của liên quân ba nước chỉ có hơn một dặm, vừa hay lại là khoảng cách tấn công thích hợp nhất của kỵ binh, nhân lực và mã lực đều đạt tới đỉnh cao, giống như hai thanh dao găm sắc bén, cắm thẳng vào liên quân ba nước!
Long Sương Nguyệt Chi và Nê Thục sớm biết có điều không ổn, liều mạng thu hẹp đội ngũ, nhưng kỵ binh liên quân cứ thế ào ào ngã xuống, làm cho cả đội quân khủng hoảng lui về phía sau, cách Chiếc bình của vua Đại Vệ áng chừng bảy tám chục trượng, mới coi như tránh được vòng xoáy của cái chết. Đến lúc này mối họa chết người mới tạm lắng xuống, nhưng trên chiến trường, dù vì bất kỳ nguyên nhân nào mà lùi binh về phía sau, cũng sẽ dẫn đến phản ứng liên tiếp. Cái chết của đồng đội, nỗi sợ không rõ, sự hỗn loạn của trận hình, sự suy sụp sĩ khí, tất cả đều khiến cho kỵ binh của liên quân từng khí thế bừng bừng, nay lại biến thành một đàn cừu non đang chờ bị làm thịt.
Trương Hùng và Mạc Hạ Đốt đột nhiên xung phong liều chết tiến ra ngoài, khoảng cách giữa hai bên quá ngắn, binh sĩ liên quân căn bản không kịp phản ứng, liền bị hai đoàn quân sắt này hung hăng tấn công vào trận địa. Kỵ binh quyết đấu với nhau, chính là dựa vào lực cơ động và tốc độ, một bên cố thủ tại chỗ, một bên khác nhanh chóng xông vào, cả đội quân nứt toác, bị sụp đổ ngay lập tức. Trương Hùng và Mạc Hạ Đốt chinh chiến cả đời, nên hiểu đạo lý này một cách sâu sắc. Sau khi bọn họ đâm vào đội quân cũng không hề dừng lại chút nào, vẫn tiếp tục duy trì tốc độ chạy nước rút của ngựa, vừa dùng loan đao trong tay tàn sát binh sĩ liên quân, vừa thống lĩnh kỵ binh chạy băng băng tới, làm cho đội quân đang đông đúc bị phá tan tành.
Chiến trường trong nháy mắt trở thành địa ngục trần gian, tiếng kêu thảm thiết, tiếng gào thét, tiếng đao kiếm va vào nhau, tiếng mũi đao đâm vào da thịt, tiếng thiết kỵ chạy băng băng trên đường, tiếng cơ thể người và ngựa ngã xuống, tiếng rít của mũi tên nhọn, từng tiếng kêu la làm chấn động mặt đất, cát vàng trước mặt trong chớp mắt bị máu tươi thấm đẫm thành vùng đất máu lầy lội!
“Không!” Long Sương Nguyệt Chi được một đám kỵ binh bảo vệ, tuy rằng vô sự, nhưng nhìn thấy thảm cảnh trước mắt, lòng đau như dao cắt không thể chịu nổi. Cho dù thế nào nàng cũng không thể tin nổi, mưu kế của mình chặt chẽ như vậy, rõ ràng là bức Cao Xương đến bên bờ diệt quốc, chỉ cần nhẹ nhàng vung tay lên một cái liền có thể khiến nó vĩnh viễn biến mất trong đại mạc này, tại sao tất cả bỗng chốc đều đảo lộn? Con quỷ trong Chiếc bình của vua Đại Vệ kia, rõ ràng chỉ là thứ giả tưởng mà mình từng tạo ra, làm sao có thể đột nhiên phát huy ma lực được chứ?
Long Sương Nguyệt Chi ngơ ngác nhìn binh sĩ của mình bị tàn sát như những con cừu, trong lòng giận dữ, đột nhiên phun ra một ngụm máu tươi, ngã khỏi chiến mã.
“Công chúa!” Đám kỵ binh bên cạnh nàng hoảng hốt, vội vàng nhảy xuống ngựa khiêng nàng lên. Long Sương Nguyệt Chi cắn chặt hai hàm răng, rồi sau đó vì quá tức giận mà hôn mê bất tỉnh.
Lúc này Nê Thục đang đầu bù tóc rối chém giết mở đường, vừa nhìn thấy Long Sương Nguyệt Chi ngất đi, vội vàng chạy vọt tới trước mặt nàng: “Giao công chúa cho ta! Mau theo ta liều chết xông ra ngoài!”
Đám kỵ binh vội vàng giao Long Sương Nguyệt Chi cho hắn, Nê Thục đặt nàng lên lưng ngựa của mình, dưới sự bảo vệ của một đám kỵ binh liều mạng xông ra ngoài.
Ở bên ngoài trận địa chết chóc này, Huyền Trang lo sợ không yên, nhìn chăm chú vào trận tàn sát ác liệt thê thảm này, sắc mặt trắng bệch, ngài ôm chặt lấy A Thuật, lặng lẽ niệm Phật hiệu, trong lòng nảy sinh một nỗi bi ai khó nói bằng lời. Bên cạnh ngài, Chu Quý đang che chở cho Khúc Trí Thịnh, ông ta cũng bị cảnh chém giết kinh hoàng trước mặt làm cho sợ đến ngây người. Chiếc bình của vua Đại Vệ nằm một bên, đám khói cũng dần dần tan đi, hai người chẳng còn lòng dạ nào để ý đến nó.
“Đi mau!” bốn người đang nhìn, đột nhiên trong đội quân vang lên một tiếng thét to, Huyền Trang vội vàng nhìn lại, chỉ thấy cả người Nê Thục toàn là máu, vô cùng chật vật nhấc thanh loan đoan lên, bảo vệ Long Sương Nguyệt Chí liều chết xông ra.
Long Sương Nguyệt Chi lúc này vẫn đang hôn mê bất tỉnh. Nê Thục ra sức vung đao, chém hai tên kỵ binh của Cao Xương ngã khỏi ngựa, thúc ngựa chạy ra khỏi vòng vây, hướng về phía Hỏa Diệm Sơn ở phía bắc.
“Nê Thục!” Khúc Trí Thịnh giận giữ, “thả Sương Nguyệt Chi xuống!”.
Khúc Trí Thịnh nhìn quanh bốn phía, chạy qua dắt đến một con ngựa vô chủ, xoay người nhảy lên, hướng về phía Chu Quý thét to: “Công công, đưa Chiếc bình của vua Đại Vệ cho ta!”.
“A, được được!”, Chu Quý đáp một tiếng, cố hết sức ôm lấy chiếc bình chạy đến.
Khúc Trí Thịnh dùng dây cương buộc chiếc bình trên lưng ngựa, hai chân kẹp chặt chiến mã, roàn roạt phi ngựa đuổi theo Nê Thục.
“Sư phụ, con cũng đuổi theo!” A Thuật chạy như bay sang một bên, trèo lên một con ngựa, lập tức phóng ngựa đuổi theo.
“A Thuật!” Huyền Trang lo lắng không thôi, lúc này Chu Quý cũng tìm một con ngựa, dự định đuổi theo Khúc Trí Thịnh, Huyền Trang không kịp giải thích gì liền giật lấy, xoay người lên ngựa, đuổi theo A Thuật.
“Ôi ôi, đại sư, sao ngài lại giành ngựa của ta!”, Chu Quý dậm chân đuổi theo, nhưng Huyền Trang đã chạy xa rồi.
Chu Quý lo lắng không chịu nổi, tìm loạn xung quanh, cuối cùng tìm thấy một con ngựa, nhưng vừa mới nhảy lên cưỡi, thì bỗng có một mũi tên nhọn hoắt gào rít bay đến đâm trúng ngay cổ ngựa, con ngựa hí dài một tiếng, rồi ngã vật xuống đất. Chu Quý cũng ngã nhào xuống theo. Không đợi ông ta đứng lên, đã thấy Mạc Hạ Đốt kêu la om sòm: “Khúc Trí Thịnh, ngươi đứng lại cho lão tử! Phụ vương ngươi đã đồng ý với ta rồi, chiếc bình kia là của ta!”.
Hắn thống lĩnh hơn mười tên Phụ ly binh trong đội quân đuổi theo Khúc Trí Thịnh.
Chu Quý nhìn chiến trường ngơ ngác, lúc này liên quân ba nước có thể nói là hoàn toàn tan tác, năm ngàn kỵ binh thì chết trận gần ba ngàn tên, trên chiến trường tầng tầng lớp lớp đều là xác người xác ngựa, vô cùng thê thảm. Những kẻ còn lại dưới sự thống lĩnh của Long Đột Kỵ Chi hoảng loạn chạy trốn, Trương Hùng đuổi sát theo không tha, lấy chưa tới một ngàn người đuổi ép Long Đột Kỵ Chi không còn đường chạy thoát.
Kẻ trốn cứ trốn, kẻ chạy cứ chạy, mới vừa rồi chiến trường còn như địa ngục Tu La, trong chớp mắt lại yên tĩnh vô cùng. Lúc này đã vào chính ngọ, ánh mặt trời chiếu rọi máu tươi đầy mặt đất, có vài kẻ vừa mới chết, máu còn đang không ngừng tuôn chảy, trong bầu không khí lạnh lẽo, còn bốc lên hơi nóng hầm hập. Trên trời không biết từ lúc nào có một đám kền kền đang bay lượn vòng quanh, những kẻ săn mồi này sắp được tận hưởng một bữa ăn ngon lành hiếm có. Chúng kiên nhẫn chờ đợi, chờ đợi khoảnh khắc những kẻ đang rên rỉ, giãy giụa kia trút hơi thở cuối cùng trên chiến trường.
Chu Quý yên lặng nhìn, bỗng nhiên thở dài: “Khi ván cờ này kết thúc, rốt cuộc ai mới là con mồi trong cái bẫy kia?”.
Lúc này cổng vương thành cũng mở rộng ra, tiếng vó ngựa chấn động mặt đất, Khúc Văn Thái mắt thấy Cao Xương đại thắng, thống lĩnh đại quân ra khỏi thành. Chu Quý sửa sang lại y phục, trên mặt lộ ra nụ cười nhàn nhạt, hướng về phía Khúc Văn Thái nghênh đón.
°°°
Huyền Trang thúc ngựa chạy như điên, rất nhanh liên đuổi kịp A Thuật, hai người chạy theo đường đi của Khúc Trí Thịnh, đuổi về hướng Hỏa Diệm Sơn.
Ngoài thành Cao Xương là các vườn nho liên miên nối tiếp nhau, phía bắc là sa mạc hoang vắng thông đến Hỏa Diệm Sơn, đi hơn mười dặm là tới dưới chân Hỏa Diệm Sơn, hai người theo lũng sông tiến vào thung lũng Tân Hưng, sau đó liền bắt đầu chạy như bay trên những con đường núi nhỏ hẹp ở bờ tây, đi sâu vào trong lòng núi. Hai bên sườn Hỏa Diệm Sơn dưới ánh mặt trời gay gắt xám xịt chiếu rọi, khắp nơi đỏ rực như lửa, giống như hai lò thiêu đang đốt lửa, khiến lòng người hoảng hốt, chỉ sợ trong thời gian ngắn có thể hóa thành tro bụi.
Đường núi quanh co, hai người không thể nhìn thấy Khúc Trí Thịnh ở phía trước, càng không nhìn thấy Nê Thục và Long Sương Nguyệt Chi, nhưng trong sơn cốc lại có tiếng vó ngựa vang vọng, thực không nghĩ nhanh vậy đã mất dấu người rồi.
“A Thuật!” Huyền Trang nhìn bộ dạng khẩn trương vội vàng của A Thuật, không nén được thở dài, “Chiếc bình của vua Đại Vệ này, đối với con quan trọng như vậy sao? Đến mức con không tiếc sinh mạng để có được nó?”.
A Thuật ngẩn người: “Sư phụ, người đã biết?” .
Huyền Trang yên lặng gật đầu, A Thuật lộ ra vẻ xấu hổ, “Thực sự xin lỗi, sư phụ, con đã lừa gạt người”.
“Không sao!” Huyền Trang cười xua tay, “Bần tăng giống như cái mõ trong tay hòa thượng, chỉ cần có thể giúp con đạt được tâm nguyện, tùy ý gõ thế nào cũng được”.
“Sư phụ, con…” Vành mắt A Thuật đỏ lên, “Sư phụ, trên đời này chưa bao giờ có ai tốt với con như người”.
Huyền Trang thở dài một tiếng: “Con vẫn còn là một đứa trẻ, chờ sau khi con lớn lên sẽ hiểu được, người đối xử tốt với con nhất chính là người thân của con. Trên đời này họ mới là người quan tâm đến con nhất.”
“Người thân sao…” A Thuật ngơ ngẩn suy nghĩ, nước mắt không ngừng rơi xuống, cậu lau nước mắt, gương mặt biểu hiện sự quyết tâm, ngẩng đầu lên nhìn Huyền Trang, “Sư phụ, con đã lừa người, con không phải là người Tát Mã Nhĩ Hãn, con là người Tát San Ba Tư!”.
“Ta biết!” Huyền Trang cười.
A Thuật sợ đến ngây người: “Chuyện này ngài cũng biết?”.
Huyền Trang gật đầu: “Lúc trước khi ta mai táng thúc thúc của con là Gia Tư Đinh, phát hiện trên người ông ấy có dấu đi qua cửa khẩu của nước Phạ Đề Á và Ma Lý Ngột[104] (Merv). Phạ Đề Á và Ma Lý Ngột đều nằm ở phía tây Tát Mã Nhĩ Hãn, gần với Tát San Ba Tư. Cho nên mọi người nhất định là xuất phát từ Tát San Ba Tư, đi qua hai nước Phạ Đề Á và Ma Lý Ngột, rồi đi qua Tát Mã Nhĩ Hãn, tới Tây Vực!”.
A Thuật lúc này thật sự kinh ngạc: “Vậy… Vậy vì sao người…?”.
“Vì sao không vạch trần con ư?” Huyền Trang mỉm cười, “Con vẫn còn là một đứa trẻ, nơi đây là đất khách quê người, lẻ loi một mình, muốn giấu diếm thân phận của mình, bần tăng sao lại có thể vạch trần được chứ? A Thuật, con thật sự còn có một vị phụ thân sao?”.
A Thuật lộ ra vẻ thương nhớ sâu sắc: “Đúng!”.
“Như vậy, lời hứa của bần tăng vẫn còn hiệu lực”, Huyền Trang nói, “Ta sẽ đưa con về quê hương. Đưa con về bên cạnh phụ thân của con”.
A Thuật vô cùng đau khổ: “Nhưng mà, sư phụ, con lại không thể trở về được”.
Huyền Trang kinh ngạc vô cùng: “Vì sao?”.
A Thuật do dự một lúc lâu, mới nói: “Sư phụ, con nói thật với người nhé! Gia Tư Đinh - thúc thúc của con, thật ra là mật sứ của hoàng đế Tát San Ba Tư, ông ấy không ngại ngàn dặm xa xôi tới Tây Vực, gánh vác sứ mệnh bí mật của hoàng đế, chính là muốn hộ tống Chiếc bình của vua Đại Vệ kia tới Đại Đường!”.
Huyền Trang sửng sốt: “Vậy là hoàng đế Tát San Ba Tư muốn đưa Chiếc bình của vua Đại Vệ tới Đại Đường?”.
“Đúng vậy!” A Thuật nói, “Nguyên nhân cụ thể con cũng không rõ, con còn nhỏ, có một số việc thúc thúc cũng không nói cho con biết. Lúc đi, thúc thúc đã từng thề với hoàng đế, cho dù sau khi chết không được chôn trong tòa tháp tĩnh lặng, cũng phải hoàn thành sứ mệnh. Gia tộc của con ở Ba Tư là một vọng tộc, phụ thân con muốn con nhìn thấy sự phồn hoa của Con đường Tơ lụa, để về sau có thể tiếp nhận việc buôn bán của gia tộc, mới bảo thúc thúc đưa con đi về phía đông. Không ngờ thúc thúc lại…” Cậu nghẹn ngào, lau nước mắt, “Sư phụ, Chiếc bình của vua Đại Vệ mất trong tay của thúc thúc, con phải giúp ông ấy tìm về, sau đó đưa đến Đại Đường!”.
Huyền Trang nhíu mày thật chặt, dường như đang suy nghĩ điều gì đó, một lúc lâu sau mới nói: “Lúc trước tại Y Ngô, cũng là con âm thầm lẻn vào dịch quán ám sát Khúc Trí Thịnh? Còn giết ba thủ vệ của hắn?”, Huyền Trang hỏi.
“Là con.” A Thuật thản nhiên nói, “Nhưng con không muốn giết người, mà chỉ muốn lấy Chiếc bình của vua Đại Vệ đi, con đã dùng gạch đập vào sau gáy của chúng”.
Huyền Trang dở khóc dở cười, đứa nhỏ này quả nhiên là nhỏ người tinh ranh, dám xông vào dịch quán, còn làm cho túc vệ vương cung thân kinh bách chiến hết thảy đều phải tái mặt.
A Thuật thấy ngài không nói lời nào, tưởng là ngài nổi giận, không khỏi có chút thấp thỏm, nghiêng đầu nhìn ngài, nói: “Sư phụ, hãy giúp con!”.
“A Thuật!” Huyền Trang suy nghĩ một lát rồi nói, “Phật gia dạy nhân duyên sinh diệt chính là vì cái này có mà cái kia mới có, vì cái này sinh mà cái kia mới sinh, nếu cái này không thì cái kia cũng không, bởi cái này diệt mà cái kia cũng diệt. Nếu Chiếc bình của vua Đại Vệ lưu lạc đến Cao Xương, tất nhiên là có nguyên nhân của nó, cũng sẽ có kết quả của nó. Đây đều là chuyện mà con không thể khống chế được. Con còn nhỏ, cũng không cần gánh vác trách nhiệm mà con không đủ sức làm. Ngay như lúc vương thành Cao Xương sắp sụp đổ, biết bao dũng sĩ trong tay có đao, dưới người có ngựa, vẫn phải trơ mắt nhìn khói lửa trên đầu thành mà rơi lệ khóc ra máu nhưng lại không thể ngăn cản. A Thuật, ta không hy vọng con vì thứ tà thuật này mà hy sinh uổng phí”.
“Sư phụ!” A Thuật thấp giọng nói, “Con hiểu được ý của ngài, nhưng đây là sứ mệnh của con. Mất đi Chiếc bình của vua Đại Vệ, mạng sống của con cũng không còn ý nghĩa gì nữa. Sư phụ, con muốn hoàn thành sứ mệnh, sau đó đứng dưới ánh mặt trời của Ba Tư”.
Huyền Trang không còn nói gì nữa, trong lòng thầm cảm khái.
Lúc này, hai người đã đuổi tới sâu trong Thiên Sơn, trên con đường núi, tuyết đọng trắng xóa, ẩm ướt vô cùng, tốc độ của hai người cũng chậm lại, thận trọng dè dặt. Khi đang chạy vội, Huyền Trang bỗng nhiên ghìm cương ngựa dừng lại.
Đã tới cuối đường. Phía trước mặt là một ngọn núi thấp, Nê Thục nắm tay Long Sương Nguyệt Chi, đứng ở trên đỉnh núi, ngựa của hai người bị bỏ lại dưới núi. Có lẽ bởi vì phía trước không còn đường để đi, hai người nhìn về phía trước, có chút lo sợ không yên. Mà phía dưới chân núi, Khúc Trí Thịnh đang ôm Chiếc bình của vua Đại Vệ trèo lên, cách hai người kia không còn xa nữa.
A Thuật mừng rỡ, nhảy xuống ngựa: “Sư phụ, đi nhanh lên!”.
Huyền Trang vội vàng ngăn cản: “Từ từ, A Thuật, con không nhận ra ngọn núi này có điều gì cổ quái sao?”.
A Thuật kinh ngạc nhìn, lại thấy có chút khó hiểu. Huyền Trang chỉ vào chung quanh: “Con xem, nơi này nằm sâu trong Thiên Sơn, Thiên Sơn lạnh giá tuyết đọng, tuyết lớn phủ kín cả ngọn núi, sao chỉ có riêng ngọn núi này không hề có tuyết đọng?”.
A Thuật lúc này mới để ý, ngọn núi này quả nhiên không có tuyết, phơi bày ra những tảng đá trơn bóng và cây cỏ xanh mượt, cũng không có bóng cây lớn nào, chỉ có cỏ dại thấp bé. Càng kỳ lạ là, cỏ mọc ở đây đa phần đều xanh tốt, dường như giá lạnh chưa từng chạm tới đây.
Hai người dừng lại ở đây, chợt nghe thấy trong sơn cốc phía sau truyền đến tiếng vó ngựa nặng nề, hai người quay đầu nhìn lại, chỉ thấy trên đường núi phía xa, một đám hơn mười tên kỵ binh đang lao đến như tên bắn.
Tuy rằng nhìn không rõ gương mặt, nhưng theo trang phục có thể nhận ra, không ngờ Mạc Hạ Đốt cũng đuổi tới rồi.
“Đi, đi mau rồi nói sau!” Huyền Trang quyết định thật nhanh, kéo A Thuật trèo lên đỉnh núi.
Hai người càng trèo càng cảm thấy quái dị, càng đi lên trên nhiệt độ càng cao, một lúc sau thì thấy cả người oi bức, giống như dưới đất có một lò lửa khổng lồ đang thiêu đốt ngọn núi vậy.
Lúc này, Khúc Trí Thịnh đã trèo lên trên ngọn núi, hắn đem Chiếc bình của vua Đại Vệ đặt ở trên mặt đất, lau mồ hôi trên mặt, nhìn Long Sương Nguyệt Chi thở hồng hộc, vẻ mặt dịu dàng: “Sương Nguyệt Chi, không phải sợ, ta tới cứu nàng đây”.
“Cút!”, Nê Thục giận dữ, rút loan đao ra chỉ vào hắn, “Khúc Trí Thịnh, chớ có vọng tưởng rằng ta sợ ngươi!”.
Khúc Trí Thịnh đá vào Chiếc bình của vua Đại Vệ dưới chân, cười gằn nói: “Nê Thục, hôm nay Chiếc bình của vua Đại Vệ đã chứng minh nó thật sự là ma vật, cũng chứng minh Sương Nguyệt Chi chưa từng gạt ta, ngươi còn quấy rầy nàng làm chi?”.
Nê Thục rõ là tức giận, nhưng nhìn thấy Chiếc bình của vua Đại Vệ,trong ánh mắt lại tràn ngập sợ hãi: “Ngươi…. Ngươi điên rồi sao? Sương Nguyệt Chi thực sự lừa ngươi, nàng không hề yêu ngươi!”.
“Nói láo!”, Khúc Trí Thịnh hét lớn, rút loan đao ra, đặt lên cánh tay của chính mình, “Nàng rốt cuộc có yêu ta hay không, chúng ta hãy để cho Chiếc bình của vua Đại Vệ phán xét đi!”.
Nói xong, hắn như muốn chém xuống một nhát đao. Huyền Trang và A Thuật ngay lúc đó đã trèo được lên đỉnh núi, vội vàng kêu lên: “Tam hoàng tử, không được làm liều!”.
Huyền Trang vừa hô lên, vừa chạy đến bên Khúc Trí Thịnh, lúc này Huyền Trang mới bất ngờ phát hiện, phía sau Nê Thục và Sương Nguyệt Chi là ngọn lửa cháy hừng hực, giống như cả ngọn núi đang bị thiêu đốt, hơi nóng khủng khiếp đập thẳng vào mặt, cả người giống như đang bị đặt trong lò lửa vậy!
Ngài nhìn kỹ, thì ra phía sau của đỉnh núi này, quả nhiên là một cái hố khổng lồ, trong hố chất đầy những viên than đá[105] đang cháy đỏ rực. Những viên than đá kia ở khắp trên mặt đất, chồng chất như núi, cũng không biết từ năm nào tháng nào, thế nhưng chúng lại tự bốc cháy lên, làm cả ngọn núi đều cháy đến đỏ rực, cả ngày lẫn đêm không ngừng. Huyền Trang lúc này mới bừng tỉnh hiểu ra, nhớ tới hôm qua vương phi cầu xin mình, đem thi thể của nàng ta và Khúc Đức Dũng hợp táng trong ngọn lửa của lò lửa nằm ở trong khe sâu của Thiên Sơn, thì ra là nơi này!
Huyền Trang chạy đến phía sau Khúc Trí Thịnh, liền bị hơi nóng kia thổi ép cho không thể tiến lên, Nê Thục và Long Sương Nguyệt Chi ở phía trước, thật sự là đã đi vào bước đường cùng rồi.
Khúc Trí Thịnh thấy Huyền Trang đi lên, lập tức chĩa loan đao về phía ngài, lạnh lùng nói: “Đại sư, ngài hại ta tới bước đường này, còn chưa đủ hay sao?”.
Huyền Trang thành khẩn nói: “Tam hoàng tử, bần tăng là tín đồ nhà Phật, tuyệt nhiên không dám có lòng hại người. Bần tăng đi tới nơi này, là không muốn thấy tam hoàng tử phạm phải lỗi lớn!”.
“Ta phạm phải lỗi lớn nào chứ?” Khúc Trí Thịnh cười khẩy.
Huyền Trang chỉ vào Long Sương Nguyệt Chi: “Người thúc ép thêm một bước nữa, chẳng lẽ muốn khiến công chúa phải nhảy xuống lò lửa này sao?”.
Khúc Trí Thịnh dường như lúc này mới sực tỉnh mà để ý đến phía sau Long Sương Nguyệt Chi là lò than đang cháy rừng rực, hắn liền lắp bắp kinh hãi, vội vàng ném loan đao xuống, vẻ mặt lo lắng: “Sương Nguyệt Chi, nàng… Sao nàng lại chạy đến nơi nguy hiểm thế này? Mau quay lại! Mau quay lại!”.
Nê Thục tức điên lên, thầm nghĩ, đây còn không phải là việc tốt do ngươi dồn ép sao? Lúc này lại còn giả bộ, rốt cuộc muốn chơi trò bịp bợm gì?
Long Sương Nguyệt Chi hiểu quá rõ về Khúc Trí Thịnh, biết hắn chẳng sợ làm ra những việc hoang đường, nhưng đều hết sức chân thành, không thể nhịn được mà nở nụ cười đầy cay đắng: “Tam hoàng tử, ta rốt cuộc có lừa ngươi hay không, trong lòng ngươi thực sự hiểu rõ, đúng không?”.
Khúc Trí Thịnh nhìn thấy mỏ than đang cháy rừng rực làm cháy khô mái tóc của nàng ta thì lo âu vô cùng, nói bằng giọng cầu xin: “Sương Nguyệt Chi, nàng có lừa ta hay không đều không quan trọng, nàng… nàng qua bên này trước có được không? Bên đó rất nguy hiểm… Quá nguy hiểm!”.
“Nguy hiểm sao?” Long Sương Nguyệt Chi quay đầu nhìn mỏ than đá đang cháy rừng rực dưới chân, cười thê lương, “Tam hoàng tử, từ khi ở ngoài thành Giao Hà, ta cưỡi ngựa nhảy từ trên sườn núi Giả Thạch xuống, ta đã đem mạng mình ra để đánh cược vào ván cờ này rồi. Ta theo ngươi vào vương cung Cao Xương, âm mưu tiêu diệt Cao Xương, bên người nơi nơi đều là kẻ địch, chỉ cần sơ sẩy một cái, sẽ chết không có chỗ chôn, ta có thể sống đến hôm nay, đã là may mắn rồi!”.
Khúc Trí Thịnh nhìn chằm chằm vào nàng ta đầy đau khổ, nói: “Sương Nguyệt Chi, bọn họ đều cho là ta điên rồi, đều cho là ta ngu ngốc, kỳ thật ta không có điên, cũng không hề ngu ngốc, đại sư vẫn luôn muốn ta tin rằng nàng lừa ta, đến bên cạnh ta vì muốn tiêu diệt Cao Xương. Ta không muốn tin, vì cái gì? Không phải ta hồ đồ tới nỗi rồi không phân biệt được đúng sai, mà là ta muốn lưu lại những hồi ức đẹp nhất của nàng và ta. Thật đó, Sương Nguyệt Chi, nàng ở bên cạnh ta một tháng, là những ngày tháng vui vẻ nhất trong cuộc đời ta, cũng là những hồi ức tốt đẹp nhất trong đời ta. Nếu cuối cùng nàng vẫn rời bỏ ta mà đi, vì sao ta không thể lưu giữ lại chút hồi ức này, để chúng làm bạn với mình? Vì sao ta lại cứ phải ép bản thân đối mặt với sự thật?”.
“Nhưng…” Long Sương Nguyệt Chi có chút giật mình, “Nhưng mà tình cảm của ta với ngươi đều là giả!”.
“Là giả sao?” Khúc Trí Thịnh nở nụ cười dịu dàng, “Hãy để đại sư nói xem, cái gì là thật? Cái gì là giả? Dưới con mắt của Phật gia, thế giới trước mắt này đều là ảo vọng, nhưng đối với ta, con kiến dưới chân cũng thực sự tồn tại. Sương Nguyệt Chi, nếu như nàng lừa gạt ta, trong lúc diễn trò, không phải là cũng diễn hết lòng hay sao? Nàng chẳng lẽ chưa từng coi bản thân là người yêu thương ta sao, chẳng lẽ nàng chưa từng để bản thân đắm mình trong cảm xúc yêu thương ta sao?”.
Long Sương Nguyệt Chi lắng nghe, vẻ mặt dường như có chút hoảng hốt, nàng từ từ nhớ lại từng ly từng tí những khoảnh khắc khi mình còn ở vương thành Cao Xương và ở bên Khúc Trí Thịnh.
“Sương Nguyệt Chi, nếu nàng đối với ta thực sự hết lòng, thì đó chính là yêu! Kiếp này, nàng có từng hết lòng đối với người khác như vậy không?” Khúc Trí Thịnh cười hạnh phúc, chầm chậm chìa cánh tay về phía nàng, “Đến đây, Sương Nguyệt Chi, nếu nàng còn muốn đi, vậy hãy đi đi! Cho dù nàng có quyết bỏ ta mà đi, nhưng ta vẫn tin rằng chúng ta đã từng yêu nhau”.
Long Sương Nguyệt Chi cũng có chút mơ màng: “Đó là tình yêu sao?”.
“Phải!” Khúc Trí Thịnh gật đầu khẳng định.
“Không phải!” Nê Thục hét to, “Sương Nguyệt Chi, sự sáng suốt của nàng để đi đâu cả rồi? Sự thông minh của nàng để đi đâu cả rồi? Hắn ta đang muốn mê hoặc nàng!”.
Khúc Trí Thịnh nhìn theo hắn đầy phẫn nộ: “Nê Thục, ta hỏi ngươi, ngươi yêu nàng phải không?”.
“Đúng!” Nê Thục không chút do dự lớn tiếng nói.
“Ta cũng vậy!” Khúc Trí Thịnh gật đầu, “vậy thì, rốt cuộc là ngươi yêu nàng sâu đậm? Hay là ta yêu nàng sâu đậm?”.
“Ta! Đương nhiên là ta!” Nê Thục lớn tiếng nói, “Ba năm trước, ta nhìn thấy nàng lần đầu tiên đã yêu nàng, năm đó quốc vương Yên Kỳ đã đồng ý lời cầu hôn của ta, muốn gả nàng cho ta. Là ta cảm thấy tuổi nàng vẫn còn nhỏ, ta yêu nàng, thương nàng, mới ước định ba năm sau mới cưới nàng. Ngươi vì người mình yêu, có đồng ý chịu đựng, chờ đợi nàng ba năm không?”.
“Tốt lắm!” Khúc Trí Thịnh vô cùng chăm chú, đi tới bên cạnh Nê Thục, hai người đối mặt trợn mắt nhìn nhau.
“Nê Thục” Khúc Trí Thịnh có chút thê lương, “Kiếp này ta đã được định sẵn, kiểu gì cũng mất đi Sương Nguyệt Chi rồi! Nhưng ta tin, ta chắc chắn yêu nàng hơn ngươi rất nhiều, hôm nay, chúng ta đặt cược đi!”.
“A ha, bọn chúng ở trong này!” Lúc này, trên sườn núi vọng đến tiếng kêu của Mạc Hạ Đốt, Huyền Trang và A Thuật quay đầu lại nhìn đã thấy Mạc Hạ Đốt thống lĩnh mười mấy tên trong Phụ ly binh trèo lên sườn núi, tạo ra thế nửa bao vây, vây xung quanh bọn họ, cả đám đều giơ mũi tên lên, đầu mũi tên chĩa về phía mọi người.
Khúc Trí Thịnh quay đầu lại nhìn Mạc Hạ Đốt một cái, không thèm để ý đến hắn, lạnh lùng nhìn chằm chằm vào Nê Thục: “Chúng ta đánh cược xem, rốt cuộc ai mới yêu Sương Nguyệt Chi nhất!”.
“Đánh cược như thế nào?”, Nê Thục hỏi.
“Ngươi để Sương Nguyệt Chi đi sang một bên đi!” Giọng điệu của Khúc Trí Thịnh bình tĩnh.
Nề Thục có chút kinh ngạc, Khúc Trí Thịnh ném thanh loan đao trong tay đi, nói châm biếm: “Sợ ta làm ngươi bị thương sao? Chuyện của hai người đàn ông, hà tất lại để nữ nhân bị kẹp ở giữa?”.
Chiến binh Đột Quyết không chịu nổi loại nhục nhã này, sắc mặt Nê Thục xanh mét, nhẹ nhàng đẩy Long Sương Nguyệt Chi sang một bên. Long Sương Nguyệt Chi thấp giọng nói: “Nê Thục, đừng đánh cược với hắn ta!”.
Nê Thục cũng ném loan đao xuống, ngạo nghễ nói: “Ta, con cháu của A Sử Na, hậu duệ của loài sói, sao lại phải sợ trò đánh cược nhỏ bé này? Khúc Trí Thịnh, ngươi muốn cược như thế nào?”.
“Chiếc bình của vua Đại Vệ đang ở đây!”, Khúc Trí Thịnh chỉ vào chiếc bình bên cạnh, “Ta, Khúc Trí Thịnh, hôm nay ta sẽ đưa ra ước nguyện cuối cùng với A-tạp Mã-nạp: chúng ta nắm tay nhảy xuống lò lửa này, ai yêu Sương Nguyệt Chi nhiều hơn, Chiếc bình của vua Đại Vệ sẽ để cho người đấy sống sót!”.
Huyền Trang và mọi người đều sững sờ, ngay cả Mạc Hạ Đốt đang ở dưới sườn núi cũng bị hù dọa. Tên hoàng tử Cao Xương này điên rồi, thật sự điên rồi. Nếu ném một cục sắt vào mỏ than đá đang cháy rừng rực kia cũng có thể bị nấu thành nước, huống chi là muốn một người còn sống lành lặn? Chỉ sợ ném Chiếc bình của vua Đại Vệ xuống đó thì đến cả yêu ma quỷ quái như A-tạp Mã-nạp cũng phải xong đời.
“Ngươi… Ngươi điên rồi!” Nê Thục nhìn lò lửa phía sau lưng, quệt đi lớp mồ hôi ấm nóng đang chảy trên gương mặt, nhất thời không nói gì.
“Ha ha, ta điên rồi sao?” Khúc Trí Thịnh cười ha hả, quay đầu lại phía Long Sương Nguyệt Chi cười thê lương, “Sương Nguyệt Chi, ta vì nàng mà phát điên”.
Nói xong hắn hét lớn một tiếng, nhào người tới, ôm lấy thắt lưng của Nê Thục, lăn xuống vách núi, Nê Thục không kịp tránh, hai người cùng ngã xuống dưới lò lửa.
“A…!” Huyền Trang và Long Sương Nguyệt Chi cùng nhau hét lên một tiếng sợ hãi, nhào tới túm lấy hai người họ lại, nhưng không ai tới kịp, hai người đã lăn xuống sườn núi. Huyền Trang và Long Sương Nguyệt Chi tới bên vách núi, suýt nữa cũng ngã xuống dưới, may mắn lúc này A Thuật chạy tới, giơ tay tóm được Huyền Trang, Huyền Trang lại tóm được Long Sương Nguyệt Chi, tuy rằng A Thuật nhỏ người sức yếu, nhưng nhờ chút sức lực như vậy, cả ba đều không bị ngã xuống dưới.
Long Sương Nguyệt Chi sau khi đứng vững, lập tức đẩy Huyền Trang ra, lao tới bên vách núi nhìn xuống, lúc này mới tạm thời nhẹ nhàng thở ra. Vách núi này không thẳng tắp, mà là một sườn dốc tầm tám mươi độ, trên sườn núi có không ít đá tảng gồ lên. Lúc này, hai tay Nê Thục đang bám chặt lấy một tảng nham thạch nhô ra, Khúc Trí Thịnh lại ôm lấy thắt lưng của hắn, dưới chân rõ ràng có những hòn đá để trợ sức nhưng hắn cũng không buồn giẫm lên, hai chân đạp loạn xạ, liều mạng kéo Nê Thục xuống. Cả mặt Nê Thục đỏ bừng, hòn nham thạch nóng bỏng kia thiêu đốt tay hắn đến mức bốc khói xèo xèo, có chết cũng không dám buông tay.
“Khúc Trí Thịnh, chúng ta có chuyện gì từ từ nói, ngươi mau lên đây đi!”, Long Sương Nguyệt Chi sốt ruột đến mức mặt mày biến sắc, vội vàng cởi thắt lưng ném xuống, Huyền Trang cũng ghé đến bên cạnh nàng, giúp nàng kéo thắt lưng. Cho dù chỉ đứng ghé vào trên vách núi, bọn họ cũng đã bị luồng hơi nóng thiêu đốt của mỏ than kia tạt lên, nóng đến độ không thể mở mắt ra, da đầu giống như bị thiêu cháy vậy.
Hai tay Nê Thục bám lấy nham thạch, rõ ràng nhìn thấy dây thắt lưng ở ngay trước mặt, cũng không dám buông tay bắt lấy, trong miệng nín một hơi, lại càng không dám mở miệng nói chuyện. Khúc Trí Thịnh toàn thân lơ lửng, nghe thấy tiếng của Long Sương Nguyệt Chi, lẩm bẩm nói: “Sương Nguyệt Chi, điều hạnh phúc nhất trên thế gian này, nàng có biết là gì không?”.
“Không biết. Ngươi lên đây nói với ta có được không?”, Long Sương Nguyệt Chi vô cùng lo lắng, nhưng cũng chẳng có cách nào.
“Đó chính là, vì nàng mà sống, vì nàng mà chết!” Tiếng Khúc Trí Thịnh nghẹn ngào, “Sương Nguyệt Chi, ta thật sự yêu nàng, nhưng đời này ta không có phúc ở bên cạnh nàng. Tên Nê Thục này, ta biết nàng cũng không yêu hắn, chỉ là phụ thân nàng ham muốn quyền thế của hắn mới đem nàng gả cho hắn, vậy ta sẽ kéo hắn cùng chết. Cho nàng tự do tự tại sống trên thế gian này”.
“Nói… nói láo!” Mãi một lúc lâu sau Nê Thục mới nghẹn ra một câu, hơi nới lỏng tay ra, suýt nữa thì trượt xuống, làm hắn sợ tới mức lại phải vội vàng nắm chặt lấy mỏm đá nham thạch.
Long Sương Nguyệt Chi nước mắt tuôn trào: “Trí Thịnh, ngươi yêu ta như thế này sao? Ngươi kéo Nê Thục cùng chết, ngươi tất nhiên thanh tịnh, nhưng sau khi hắn chết vương triều Đột Quyết giận cá chém thớt, trút giận lên ta, ngươi bảo ta gánh chịu thế nào đây?”.
Điều này Khúc Trị Thịnh lại không nghĩ đến, không khỏi có chút ngạc nhiên, do dự một lát: “Đại sư, phiền ngài nói với Khả hãn Thống Diệp Hộ, nói Nê Thục chết ở trong tay của ta. Xin hắn đừng làm khó Sương Nguyệt Chi!”.
“Tam hoàng tử”, Huyền Trang nói, “Nê Thục là chủ nhân mười bộ lạc của Đột Quyết, cho dù Khả hãn Thống Diệp Hộ có thể lượng thứ, nhưng chẳng lẽ người muốn ta lần lượt đi thuyết phục cả mười bộ lạc sao? Mau lên đây đi, tấm lòng của người, công chúa đã nhìn thấy được, tin rằng các người nhất định có thể có một kết cục viên mãn.”
“Nàng không yêu ta”, Khúc Trị Thịnh bật khóc, “cho dù ta có đợi cho toàn bộ tuyết trên đỉnh Thiên Sơn tan chảy, toàn bộ nước Giao Hà chảy cạn, cũng không thể khiến cho nàng yêu ta”.
Lúc này, Nê Thục đã không thể chống đỡ được nữa, bàn tay từ từ trượt xuống, hắn không dám nói lời nào, chỉ ngẩng mặt lên nhìn Long Sương Nguyệt Chi khẩn cầu. Long Sương Nguyệt Chi buồn bã nói: “Khúc Trị Thịnh, ngươi thật sự muốn ép chết ta sao? Được, ngươi muốn chết, ta sẽ chết cùng với ngươi!”.
Nói xong, nàng buông thắt lưng ra, bỗng nhiên đứng lên, phi thân nhảy xuống dưới. Huyền Trang hoảng hốt, vội vàng nhào tới tóm lấy nàng, kéo nàng đến bên vách núi: “Công chúa, tuyệt đối không thể! A Thuật, giữ chắc lấy thắt lưng!”.
A Thuật vội vàng quỳ rạp trên mặt đất, bắt lấy thắt lưng.
Hai chân Long Sương Nguyệt Chi quỳ xuống mặt đất, cánh tay bị Huyền Trang kéo. Khúc Trí Thịnh ở dưới la lên: “Đại sư, Sương Nguyệt Chi làm sao vậy?”.
“Công chúa muốn nhảy xuống!”, Huyền Trang đáp, “Bần tăng đã sắp không giữ được nàng nữa rồi!”.
Khúc Trí Thịnh kinh hãi, giọng nói đều run rẩy: “Đại đại đại… đại sư, phiền ngài nhất định phải giữ lấy nàng, đừng để nàng rơi xuống. Sương Nguyệt Chi, nàng đừng dọa ta sợ được không?”.
Long Sương Nguyệt Chi vẻ mặt thê lương: “Trí Thịnh, Nê Thục, ta không biết ta yêu ai, nhưng ta biết, trên đời này yêu ta nhất chỉ có các ngươi, các ngươi chết rồi, ta hà tất phải sống tạm bợ qua ngày? Ván cờ của ta đã kết thúc, vậy hãy để cái mạng này của ta cũng chấm dứt theo đi! Chúng ta ba người chết cùng một chỗ, không phải tốt lắm sao?”.
“Không tốt!” Khúc Trí Thịnh khóc lớn, “Sương Nguyệt Chi, nàng đi lên có được không?”.
“Ngươi chết, ta cũng phải chết”, Long Sương Nguyệt Chi nói.
Ta…” Khúc Trí Thịnh cúi đầu nhìn thoáng qua lò lửa ở dưới chân, vẻ mặt lưu luyến, giống như nơi đó là thiên đường, “Đại sư, ta van xin người hãy giữ chặt. Sương Nguyệt Chi, ta không chết, nàng cũng đừng chết có được không? Ta xin nàng, nàng phải thực sự yêu thương Nê Thục, ta thả cho các người đi! Chỉ cần các người cả đời hạnh phúc, ta thế nào cũng được!”.
“Được!”, Long Sương Nguyệt Chi nói, “Ngươi thả Nê Thục ra, các ngươi cùng lên trên này đi!”.
Khúc Trí Thịnh thở dài một tiếng: “Ta sẽ thả Nê Thục, nhưng ta sẽ không lên. Sương Nguyệt Chi, nơi này chính là chốn táng thân của ta. Chúc nàng và Nê Thục cả đời hạnh phúc! Chờ con của các người lớn, hãy dẫn nó tới nơi này thăm ta, như vậy ta đã mãn nguyện rồi. Sương Nguyệt Chi, vĩnh biệt!”.
Chú Thích
[104] Merv là một thành phố cổ, từng được coi là thủ phủ của đế chế Seljuk, trải dài từ Trung Á đến Địa Trung Hải. Thành phố này nằm ngay trên trục lộ của Con đường Tơ lụa.
[105] Than đá ở Tây Vực được sử dụng khá sớm, trong “Tây Vực ký” của đại sư Đạo An thời Đông Tấn có viết: Phía bắc Khuất Từ (tức Quy Từ) hai trăm dặm, có núi. Ban đêm lại có ánh lửa, ban ngày chỉ có khói, lấy than đá của núi này, nấu ra sắt của núi này, đủ để dùng cho ba mươi sáu nước. (Chú thích của biên tập sách gốc)