Từ thành Toái Diệp đi xuống phía nam, qua một vài sơn cốc và khe núi thấp là đến Thiên Tuyền. Đây chính là nơi ở của vương đình Thống Diệp Hộ vào mùa hè. Thiên Tuyền lớn hơn thành Toái Diệp rất nhiều, xây dựng thành bộ dạng một pháo đài quân sự, bên trong có đại cung mà khả hãn ở, chùa chiền đền miếu của các loại tôn giáo, nhà dân, cửa hàng và các phân xưởng nhiều không đếm xuể.
Huyền Trang đi trên đường phố Thiên Tuyền, trong lòng cảm khái, chỉ vẻn vẹn có mấy ngày, thành trì vẫn vẹn nguyên như cũ, còn Thống Diệp Hộ thì đã trở về với cát bụi rồi.
Thiên Tuyền là bờ phía đông của sông Tích Nhĩ, xuôi theo dòng sông Tích Nhĩ[124] (Syr Darya) xuống phía nam chính là thành Đát La Tư[125] (Talas). Đát La Tư là một thành nhỏ, chỉ dài tám chín dặm, chính tại thành nhỏ này, một trăm hai mươi năm sau, nổ ra trận quyết chiến[126] của hai đế quốc lớn mạnh nhất đông tây. Đại Đường quyết chiến với vương triều A Bạt Tư[127] (Abbas) mới quật khởi, cuối cùng ba vạn đại quân của Cao Tiên Chi đại bại, toàn quân bị diệt, chỉ có thể dẫn theo hai ba ngàn binh lính còn sống sót chạy về An Tây. Từ đó về sau Đại Đường rút khỏi Tây Vực.
Huyền Trang nghỉ lại một đêm ở Đát La Tư, ngày hôm sau, ngài và Khúc Trí Thịnh vào trong thành nghe ngóng tin tức về Chiếc bình của vua Đại Vệ. Những người được hỏi đều rối rít né tránh, còn có vài người trông vẻ mặt họ rất quái dị, khiến cho hai người kinh ngạc không thôi.
Nhưng Huyền Trang không để tâm, tiếp tục đi xuống phía nam, liền tiến vào sa mạc rộng lớn. Dân bản xứ gọi là vùng hoang vu đói khát. Đây là một vùng cát đỏ hoang vu, cát bụi phủ mờ mịt, không thấy đồng cỏ và nguồn nước, lại có độc trùng thường lui tới, làm hại lạc đà và ngựa. Trong sa mạc rộng lớn, Huyền Trang bắt gặp một toán thương nhân người Túc Đặc. Toán thương nhân này thấy ngài có kỵ binh Đột Quyết bảo vệ, ngưỡng mộ không thôi, khẩn cầu được đồng hành. Huyền Trang vui vẻ chấp nhận.
Không ngờ đến buổi tối dừng chân, toán thương nhân này đột nhiên rút đao kiếm ra, bất ngờ đánh úp Huyền Trang và đội ngũ. May mà Đạt Ma Chi xuất thân sa trường, lâm nguy không loạn, chỉ huy kỵ binh tiêu diệt toán thương nhân này. Huyền Trang được vây chặt, bảo vệ ở một bên, đợi đến khi ngài chạy về muốn ngăn cản thì toán thương nhân kia đã bị giết quá nửa. Ngài tìm tới một ông lão, truy hỏi: “Bần tăng và các người không thù không oán, tại sao lại phải mưu hại bần tăng?”
Ông lão kia dù đang bị trói chặt, nhưng nhìn sắc mặt vẫn lộ ra vẻ tham lam: “Đại sư còn chưa biết sao? Lời đồn đã lan truyền rộng khắp Con đường Tơ lụa rồi, nói rằng có một vị hòa thượng từ Đại Đường tới, là Phật tử chuyển thế, ăn thịt của hắn có thể trường sinh bất tử.”
“Hoang đường!” Khúc Trí Thịnh dở khóc dở cười, “làm gì có chuyện ăn thịt người có thể trường sinh chứ?”.
“Sao lại hoang đường?” Ông lão kia không phục, “ta còn tận mắt nhìn thấy ma quỷ hiện thân ở thành Đát La Tư, nói cho chúng ta bí mật này. Những người nghe thấy không dưới ngàn người! Hiện tại trên Con đường Tơ lụa, ai ai cũng muốn ăn thịt của ngươi!”
Huyền Trang trợn mắt há mồm, ngài biết là A Thuật đã ra tay rồi. Cậu muốn ngăn cản mình tới Thổ Hỏa La.
Huyền Trang không nói thêm gì nữa, bảo Đạt Ma Chi thả những người này ra, ôm đầy bụng bi thương tiếp tục lên đường. Bình minh hôm đó, Huyền Trang ngắm nhìn dãy núi và thảo nguyên phương Nam, lầm bầm hỏi: “A Thuật, con và ta thân như huynh đệ, phụ tử thực sự, con vứt bỏ tình thân trên đời để có được tự do, vậy con còn có thể đi dưới ánh mặt trời của Ba Tư sao?”
Khúc Trí Thịnh cũng biết chuyện của A Thuật, thở dài nói: “Sư phụ, đây chính là chấp niệm. Giống như con vì Sương Nguyệt Chi mà không màng đến sinh tử tồn vong của Cao Xương vậy, A Thuật vì tự do, cũng sẽ không quan tâm đến tính mạng của người khác. Con đường này, chúng ta phải cẩn thận gấp bội rồi.”
Ra khỏi sa mạc lớn, lại đi về phía Tây chính là Tát Mã Nhĩ Hãn.
Tát Mã Nhĩ Hãn là thị trấn quan trọng trên Con đường Tơ lụa, chu vi một ngàn sáu bảy trăm dặm, chu vi đô thành hơn hai mươi dặm, địa thế hiểm yếu, nhân khẩu nhiều. Đồng thời, Tát Mã Nhĩ Hãn có thực lực lớn mạnh, binh hùng tướng mạnh, quốc vương kiêu dũng thiện chiến, các nước láng giềng đều phải khuất phục, quân đội của bọn họ chủ yếu là theo chế độ lính đánh thuê, những chiến sĩ tinh nhuệ được thuê tới, có tên gọi là “Giả Kiệt”, tính tình anh dũng, mạnh mẽ, thấy chết không sờn, trên chiến trường không có sức mạnh nào địch nổi.
Huyền Trang vốn tràn đầy hứng thú với Tát Mã Nhĩ Hãn, không ngờ khi tới nơi mới biết, đây chính là quốc gia của Bái Hỏa giáo, Phật giáo không có cách nào sinh tồn được ở nơi đây, khi thấy hòa thượng tới nơi này, giáo đồ Bái Hỏa giáo liền đốt lửa xua đuổi.
Điều này khiến cho Huyền Trang rất đau đầu, khó khăn lắm mới tìm được một ngôi chùa hoang phế không bóng người trong thành để nghỉ chân. Không ngờ, đến đêm, đột nhiên có hơn nghìn người tay cầm đuốc vây chặt ngôi chùa lại, hò hét kêu gào muốn thiêu chết Huyền Trang.
Đạt Ma Chi giận tím mặt, dẫn đầu đám kỵ binh xông ra chém giết, nhưng những người này thề chết không lui, Đạt Ma Chi cũng sợ rồi, chỉ có thể đóng chặt cửa lớn ngôi chùa lại. Huyền Trang có chút hoài nghi, bảo hắn tìm một cây thang gác lên tường, ngài trèo lên tường cao nhìn đám người điên cuồng ngoài chùa, cao giọng hỏi: “Các vị thí chủ, bần tăng chỉ đi qua Tát Mã Nhĩ Hãn mà thôi, chưa từng vi phạm hình luật, tại sao các người lại muốn thiêu chết bần tăng?”
Có người cao giọng hét lên: “Tên hòa thượng triều Đường này, thần sớm đã hạ lời tiên đoán, nói ngươi là Phật tử chuyển thế, sinh ra chính là để đối địch với Bái Hỏa giáo ta. Ăn thịt ngươi thì có thể được thần chúc phúc, đạt được bất tử.”
Huyền Trang há hốc mồm cứng lưỡi, không cần nghĩ, lại là A Thuật đứng phía sau thao túng.
“Thiêu chết hắn! Thiêu chết hắn! Ăn thịt của hắn!”
Đám người điên cuồng reo hò, bắt đầu chen nhau lên, ném đuốc vào trong chùa, rầm rầm đập vào cửa lớn. Ầm ầm một tiếng cực lớn vang lên, cánh cửa bị đám người đập vỡ, bọn họ như nước thủy triều ùa vào, Khúc Trí Thịnh và Đạt Ma Chi vội vàng đỡ Huyền Trang từ trên cầu thang xuống, rút vào đại điện, mệnh lệnh cho các kỵ sĩ cầm cung tiễn và trường mâu, thề chết bảo vệ.
Ngôi chùa bắt đầu bốc cháy, đám người nhìn những kỵ binh Đột Quyết giương cung lắp tên, không dám tùy ý tới gần, chỉ vây chặt bọn họ trong đại điện, đợi đại điện bị thiêu hủy thiêu chết bọn họ.
Hai bên cứ bắt đầu giằng co như vậy, giáo đồ Bái Hỏa giáo trong sân bắt đầu đốt lửa trại, vây xung quanh như lửa trại mà ca hát nhảy múa, đám người Huyền Trang lại vô cùng sốt ruột, đứng ở trong đại điện đang cháy phừng phừng, mắt thấy đại điện sắp đổ sụp, khói lửa ngập tràn, hun tới nỗi bọn họ liên tục ho khan, nhưng lại không có cách nào cả.
Chính vào lúc này, chỉ nghe thấy mặt đất ở phía xa truyền đến những rung động vang rền như tiếng trống, không dưới một nghìn kỵ binh vội vã chạy đến, dẫn đầu là một vị nam tử khôi ngô đầu đội vương miện. Những giáo đồ Bái Hỏa giáo kia vừa nhìn thấy, liền rối rít quỳ gối: “Tham kiến quốc vương bệ hạ!”
Hóa ra quốc vương của Tát Mã Nhĩ Hãn cũng nghe được tin tức, dẫn đầu đám kỵ binh Giả Kiệt chạy tới. Quốc vương sau khi nghe ngóng được tình hình mới biết, bên trong không chỉ có tăng nhân tới từ Đại Đường, còn có đạt quan của Tây Đột Quyết, không khỏi thất kinh, vội vàng xua tan đám giáo đồ, dẫn người xông vào trong sân chùa, giải cứu đám người Huyền Trang ra.
°°°
Đạt Ma Chi giận không kìm được, chỉ vào hắn nói: “Đây là đại sư Huyền Trang đến từ Đại Đường, bất luận là Khả hãn Thống Diệp Hộ, hay là đại Thiết Nê Thục, đại Thiết Mạc Hạ Đốt, đều coi ngài như là vị khách tôn kính nhất. Nhưng đến quốc gia của ngươi, ngươi lại dung túng bách tính, vô lễ với ngài như vậy!”
Quốc vương liên tục xin lỗi: “Đạt quan, đại sư, bổn vương thật sự không biết ngài tới tệ bang. Nếu như biết được, bổn vương lấy lễ tiếp ngài đón còn không hết, sao lại dám để bách tính vô lễ như vậy được!”
“Vậy bây giờ tại sao ngươi lại xuất hiện ở đây?” Đạt Ma Chi tức giận nói.
Quốc vương cười khổ: “Mấy ngày nay, bổn vương đang cung phụng một chiếc bình thần kỳ, trong chiếc bình đó có thần ma. Đêm nay, bổn vương đang cầu nguyện với chiếc bình thì thần ma trong bình hiện thân, nói cho ta biết đại sư đang gặp nạn, nên ta mới biết mà đến đây.”
Huyền Trang nhất thời ngây người: “Là Chiếc bình của vua Đại Vệ bảo ngài tới cứu ta?”
“Đúng vậy!” Quốc vương buồn bực nói, “Đại sư, người biết tên của chiếc bình kia sao?”
“Bần tăng không những biết tên của nó…” Huyền Trang cười khổ không thôi, “còn biết, tối nay chính là nó xúi giục giáo chúng đến thiêu chết bần tăng.”
Chính vào lúc này, trên lầu tháp cao nhất trong thành, đột nhiên truyền tới một âm thanh cực lớn, âm thanh rung động toàn thành, tựa như sấm nổ: “Sư phụ, đây chỉ là lời cảnh cáo nho nhỏ dành cho người. Tuyệt đối đừng ngăn cản con đường của con nữa, bằng không, duyên phận giữa con và người từ đêm nay sẽ chấm dứt!”
“A Thuật!” Huyền Trang ngắm nhìn tòa lầu tháp dưới trăng tròn, kích động không thôi, “Mau, bệ hạ! Mau đưa bần tăng tới tòa lầu đó!”
Quốc vương không hiểu ra sao, nhưng cũng nghe theo lời ngài, vội vã dẫn đoàn kỵ binh Giả Kiệt dẹp đám người sang một bên, đi trước mở đường. Huyền Trang nhảy lên lưng ngựa, vội vã chạy về phía lầu tháp. Lầu tháp kia cao hơn mười trượng, chính là tháp canh trong thành. Đợi Huyền Trang thở hồng hộc leo lên đến đỉnh tháp thì Chiếc bình của vua Đại Vệ đã hoàn toàn không thấy tung tích. Chỉ còn ánh trăng tròn cô đơn bao phủ lấy lầu tháp, vẩy xuống một mảnh ánh trăng.
“A Thuật…!” Huyền Trang khóc thất thanh.
Huyền Trang biết Chiếc bình của vua Đại Vệ cách mình không xa lắm, vì vậy mới vội vàng rời khỏi Tát Mã Nhĩ Hãn, lần theo bước chân Chiếc bình của vua Đại Vệ đi xuống phía nam. Xuống phía nam lại đi qua bảy tám quốc gia. Cuối cùng, đám người Huyền Trang dừng chân ở Thiết Môn Quan.
Thiết Môn Quan là quan ải nổi tiếng nhất Tây Vực, là đường ranh giới giữa lãnh thổ Tây Đột Quyết và Thổ Hỏa La. Đây là một tòa quan ải do thiên nhiên tạo tác thành, vách núi cao và dốc, sắc núi như sắt, chỗ hẹp nhất, một người giang hai cánh tay ra là có thể sờ vào được vách núi hai bên. Trên quan khẩu có cổng thành, cổng thành được bao sắt, trên cổng lại treo không ít chuông sắt, vì vậy mới được gọi là Thiết Môn.
Tiến vào Thiết Môn Quan chính là Thổ Hỏa La.
Thổ Hỏa La Quốc trong lịch sử đất đai rộng lớn, đầu bắc là Thiết Môn Quan, điểm tận cùng phương nam chính là núi Hưng Đô Khố Thập[128] (Hindu Kush), con sông A Mẫu chảy xuyên qua đó. Người Thổ Hỏa La từng xây dựng nên vương triều Quý Sương lớn mạnh ở đây, thời kì hưng thịnh có đến hai mươi vạn binh sĩ. Sau đó vương triều Tát San Ba Tư, Ấn Độ Kiệp Đa[129] (Gupta) nối tiếp nhau nổi dậy, vương triều Quý Sương suy yếu, sau đó người Áp Đạt đánh xuống phía nam tiêu diệt vương triều Quý Sương, và lập nên quốc gia ở nơi này.
Ba mươi năm trước, Tây Đột Quyết và Tát San Ba Tư liên thủ tiêu diệt Áp Đạt, từ đó về sau Thổ Hỏa La bị phân chia thành mấy chục nước nhỏ, bị Tây Đột Quyết khống chế, Khả hãn Thống Diệp Hộ đã phái trưởng tử của mình là Đát Độ Thiết đảm nhận vị trí quốc vương Thổ Hỏa La, sống trong thành A Hoãn, thống trị khu vực rộng lớn này.
Qua Thiết Môn Quan, lại đi thêm mấy trăm dặm nữa, vượt qua sông A Mẫu, là đến đô thành của Thổ Hỏa La - thành A Hoãn. Cách thành A Hoãn còn mười mấy dặm, Đạt Ma Chi liền phái người đi trước thông báo cho Đát Độ Thiết. Nhưng mãi cho đến khi tới cổng thành, Đát Độ Thiết lại không hề đích thân ra đón, mà chỉ phái trưởng tử của mình là một đặc cần tới nghênh tiếp.
Hỏi đến mới biết Đát Độ Thiết bệnh nặng. Huyền Trang vô cùng lo lắng, sợ A Thuật đi trước một bước hãm hại Đát Độ Thiết, vội vàng đi theo đặc cần vào vương cung. Đát Độ Thiết ngồi trên kiệu, bảo người khiêng tới cửa vương cung, nghênh đón Huyền Trang và Khúc Trí Thịnh.
Đát Độ Thiết tuổi đã bốn mươi, tướng mạo không giống với người Đột Quyết bình thường, vóc người cao lớn, khuôn mặt trắng muốt, có phần nho nhã, là một người rất có sức cuốn hút. Khúc Trí Thịnh là em vợ của hắn, hai người cũng từng gặp nhau trước kia rồi, Đát Độ Thiết nhìn thấy Khúc Trí Thịnh, còn chưa dám nhận, vừa giới thiệu, nhất thời vui mừng: “Trí Thịnh, đại sư, ta cuối cùng cũng trông ngóng được các người tới rồi!”
Huyền Trang sửng sốt: “Bệ hạ, ngài biết bần tăng sẽ tới ư?”
“Hai tháng trước, ta và khả hạ đôn nhận được lời nhắn từ quốc vương Cao Xương phái người đưa tới, nói Trí Thịnh đã bái đại sư làm sư phụ, cùng với ngài Tây du Thiên Trúc, sắp sửa đi qua tệ quốc, bảo phu thê hai người chúng ta tiếp đãi tử tế.” Đát Độ Thiết có chút thương cảm, “Từ lúc đó trở đi, Khả hạ đôn liền ngày đêm mong ngóng các người tới, dù sao thì nàng ấy cũng đã gả cho ta được hơn chục năm rồi, rời xa quê hương, không lúc nào là không nhớ về quê nhà, việc có thể gặp được Trí Thịnh, mang đến cho nàng ấy một niềm vui cực lớn.”
Huyền Trang biết, Khả hạ đôn trong miệng hắn chính là trưởng nữ của Khúc Văn Thái.
Khúc Trí Thịnh cũng rất nhiều năm không gặp đại tỷ của mình rồi, vội vàng hỏi: “Tỷ phu, tỷ tỷ của ta đâu?”
“Trí Thịnh, rốt cuộc nàng ấy lại không thể đợi được ngươi tới,” Đát Độ Thiết khóc lớn, “một tháng trước… nàng ấy ngã bệnh mà qua đời rồi.”
Khúc Trí Thịnh ngây ra như phỗng, cũng không nhịn được lớn tiếng khóc rống lên. Đát Độ Thiết giùng giằng xuống kiệu, ôm lấy hắn mà cùng khóc.
Huyền Trang tự trách bản thân sâu sắc. Bởi vì núi tuyết bị phủ kín, nên ngài phải dừng chân ở Quy Từ hai tháng, thêm vào đó còn ở lại thành Toái Diệp hơn nửa tháng, cuối cùng lại khiến Khả hạ đôn chẳng thể tận mắt đọc được thư tay của Khúc Văn Thái, mang theo tiếc nuối mà qua đời.
Đát Độ Thiết sau một hồi, hỏi thăm tình hình của Khúc Văn Thái, Huyền Trang và Khúc Trí Thịnh đưa mắt nhìn nhau, một lúc lâu sau, Khúc Trí Thịnh mới nhắm mắt kể lại một lượt cho hắn nghe về thảm kịch xảy ra ở Cao Xương. Đát Độ Thiết sợ đến ngây người ngay tại chỗ, hắn không thể nào ngờ được, một cuộc nội loạn do một tên hoạn quan bày ra lại có thể khiến cho hai vị hoàng tử mất mạng, đến cả Khúc Văn Thái cũng bị bại liệt cả hai chân.
Khúc Nhân Thư và Khúc Đức Dũng là huynh đệ ruột thịt cùng mẹ của Khả hạ đôn, đều là do vương phi người Đột Quyết sinh ra, Đát Độ Thiết thở dài đau xót không thôi. Nhưng mặt khác, hắn lại vẫn rất vui mừng vì đám người Huyền Trang cuối cùng cũng đến, tối hôm đó hắn mở tiệc chiêu đãi hai người tại vương cung, còn bảo hai đứa con của Khả hạ đôn đến tham kiến thúc thúc. Hai đứa trẻ, đứa lớn chưa quá mười một mười hai tuổi, đứa nhỏ mới bảy tám tuổi, đều nho nhã, hiểu lễ nghĩa, dung mạo lại có phần giống với Khúc Trí Thịnh. Khúc Trí Thịnh không nhịn được ôm lấy hai đứa trẻ mà òa khóc.
Trong bữa tiệc, Đát Độ Thiết nói với Huyền Trang: “Đại sư, ngài đường xa tới đây, chi bằng ở lại thành A Hoãn thêm vài ngày, đợi ta khỏi bệnh, liền đích thân cùng ngài đi tới Thiên Trúc.”
Huyền Trang chắp tay cảm tạ, rồi hỏi: “Bệ hạ, ngài bắt đầu bị bệnh từ lúc nào vậy?”
“Một tháng trước thì phải!” Đát Độ Thiết nói: “Từ sau khi Khả hạ đôn bệnh nặng mà qua đời, ta ngày đêm thương nhớ, sầu não uất ức, có thể vì vậy mà cơ thể ngày càng suy yếu.”
“Ồ!” Huyền Trang thở phào nhẹ nhõm, nếu là một tháng trước thì ắt hẳn không phải do A Thuật gây ra rồi.
Đát Độ Thiết cực kỳ thông minh, thấy vẻ mặt này của Huyền Trang, không nhịn được liền hỏi: “Đại sư, hình như ngài rất quan tâm tới thời gian bị bệnh của ta.”
Huyền Trang lưỡng lự một lúc: “Bệ hạ, có thể cho hai bên lui xuống không, bần tăng có vài lời muốn nói riêng với ngài.”
Đát Độ Thiết sửng sốt: “Xảy ra chuyện gì nghiêm trọng sao?”
“Tỷ phu,” Khúc Trí Thịnh vẻ mặt trầm trọng, “đích thực là sắp xảy ra chuyện lớn rồi, lần này bọn đệ tới, là liên quan đến an nguy của huynh đó.”
Đát Độ Thiết mặc dù bệnh nặng, nhưng thần trí vẫn cực kỳ tỉnh táo, lập tức lệnh cho người ở hai bên lui ra khỏi cung điện, sai người đưa cả hai vị hoàng tử về hậu cung, trong đại điện chỉ còn lại ba người ngồi đối diện nhau.
“Đại sư, có chuyện gì vậy, xin ngài cứ nói hết đi, đừng ngại.”
“Bệ hạ, ngài có biết trận đại loạn vừa xảy ra ở vương đình Đột Quyết không?” Huyền Trang hỏi.
Sắc mặt Đát Độ Thiết lập tức trầm xuống, cắn răng nói: “Đại sư, chuyện mà ngài nói là chuyện Mạc Hạ Đốt giết phụ vương ta sao? Ta đã sớm nhận được tin tức rồi, đang định dẫn đại quân qua Thiết Môn Quan tiến lên phía bắc, báo thù cho phụ vương đây! Nhưng, một là lúc này ta đang bệnh nặng, hai là đại quân của ta nếu ra khỏi Thiết Môn Quan rồi, e rằng sẽ khiến Nê Thục cảnh giác. Vì vậy ta mới phái sứ giả tới bộ lạc Nỗ Thất Tất trước để tìm Nê Thục, cho dù hắn không giúp ta, ít nhất phải giữ thái độ trung lập mới được. Hiện giờ sứ giả của ta còn chưa trở về, ta lệnh cho đại quân chuẩn bị chiến đấu trước.”
Huyền Trang thấy hắn có vẻ đều đã biết, bèn nói gọn gàng dứt khoát: “Bệ hạ, ngài xuất binh tấn công Mạc Hạ Đốt, Nê Thục chỉ có vui mừng chứ không ngăn cản. Nhưng ngài phải cẩn thận Điệt Lực. Nê Thục vốn muốn đích thân tới Thổ Hỏa La tìm ngài để xuất binh, tôn ngài lên làm Đại hãn, cùng tiêu diệt Mạc Hạ Đốt. Nhưng Điệt Lực lại căm giận Nê Thục không tôn hắn lên làm Đại hãn, nên âm thầm phá hoại, Nê Thục vì vậy mới không thể tới được.”
“Điệt Lực?” Đát Độ Thiết lâm vào trầm tư, cuối cùng thở dài nói: “Phải đến mười năm rồi ta chưa gặp nó. Lúc đó, nó vẫn còn là một đứa trẻ, thực uổng công phụ vương ta sủng ái nó rồi, không ngờ giờ đây lại vì vị trí Đại hãn, đến cả thù giết phụ vương cũng không màng tới. Thôi bỏ đi, ta đến Thổ Hỏa La này hơn hai mươi năm rồi, đã sớm quen với nơi đây, cũng không bằng lòng làm Đại hãn. Đợi ta xuất binh giết Mạc Hạ Đốt rồi liền quay về nơi đây, Điệt Lực muốn làm Đại hãn thì cứ để cho nó làm đi!”
Huyền Trang thấy Đạt Độ Thiết không màng tới quyền vị như vậy, không khỏi kính phục: “Bệ hạ, ngài muốn xuất binh, nhưng có người không muốn để người xuất binh.”
“Ồ?” Đát Độ Thiết vô cùng kinh ngạc, hỏi: “Là ai?”
“Là Mạc Hạ Đốt,” Huyền Trang nói.
Đột nhiên, Đát Độ Thiết ha ha cười lớn: “Đại sư, hắn là kẻ thù của ta, dựa vào cái gì mà ngăn cản ta?”
“Chiếc bình của vua Đại Vệ”. Huyền Trang lại khẽ nói.
Đát Độ Thiết ngẩn người: “Chính là bảo vật của Tát San Ba Tư đó sao?”
Phía Tây Thổ Hỏa La tiếp giáp với Tát San Ba Tư, hắn đương nhiên là biết bảo vật này.
Huyền Trang thấy hắn có biết đến Chiếc bình của vua Đại Vệ này, cũng tiết kiệm được chút hơi sức, liền kể một lượt chuyện Mạc Hạ Đốt có được Chiếc bình của vua Đại Vệ, giả danh hiến tặng bảo vật, giết Thống Diệp Hộ và toàn bộ quan viên trung khu vương đình, sau đó ngài mới nói tiếp: “Điều mà Mạc Hạ Đốt sợ nhất chính là ngài và Nê Thục liên thủ với nhau đối phó hắn, thế nên tâm nguyện thứ ba mà hắn ước với Chiếc bình của vua Đại Vệ, chính là sai nó giết chết ngài.”
Đát Độ Thiết nửa tin nửa ngờ: “Vậy tại sao ta lại không chết?”
“Không biết vì sao, Chiếc bình của vua Đại Vệ bắt buộc phải tới Thổ Hỏa La mới có thể giết được ngài.” Huyền Trang nói tiếp: “Sau khi bần tăng nghe nói vậy, liền lên đường lần theo dấu vết của nó, đến thành A Hoãn. Nó và bần tăng gần như một trước một sau, ước chừng lúc này nó cũng vừa mới tới vương thành.”
Đát Độ Thiết mặc dù có nghi ngờ về uy lực của thứ trong Chiếc bình của vua Đại Vệ, nhưng hắn cũng biết rằng, vị hòa thượng này đã trải qua bao nhiêu gian khổ, khó khăn, để tới đây bảo vệ mình, trong lòng không khỏi cảm động: “Đại sư yên tâm, ở thành A Hoãn, không ai có thể giết được ta.”
Khúc Trí Thịnh từng được lĩnh giáo uy lực từ Chiếc bình của vua Đại Vệ, nên trong lòng vẫn còn cảm thấy sợ hãi, bèn nói: “Tỷ phu, ma lực từ Chiếc bình của vua Đại Vệ cực kỳ đáng sợ, ta và sư phụ đã từng tận mắt chứng kiến. Trong khoảng thời gian này người nhất định phải tăng cường hộ vệ, bất cứ bình, lọ, hay chai nào, cũng không được để nó tới gần người.”
“Ta đã hiểu!” Đát Độ Thiết gật đầu, nói: “Sự an toàn của ta không cần phải lo lắng. Trí Thịnh à, khoảng thời gian này đệ hãy cùng đại sư nghỉ ngơi trong thành đi. Ta phải lập một Khả hạ đôn mới, ba ngày sau chính là ngày thành hôn, tới lúc đó quan khách nhiều, Chiếc bình của vua Đại Vệ muốn giết ta, e rằng đó mới chính là cơ hội tốt nhất.”
“Tỷ phu muốn lập Khả hạ đôn mới sao?” Khúc Trí Thịnh không khỏi sửng sốt. Hắn từ khi gặp được Đát Độ Thiết, liền cảm thấy người này đối với tỷ tỷ của mình tình sâu nghĩa nặng, hoàn toàn không một chút giả tạo, nhưng thật không ngờ tỷ tỷ vừa mới qua đời một tháng, hắn đã muốn cưới người mới rồi.
Mặt của Đát Độ Thiết đỏ lên, thấp giọng nói: “Trí Thịnh, ta vốn dĩ không có ý muốn lập thê, chỉ là Khả hạ đôn này cực kỳ giống tỷ tỷ của ngươi. Trưởng tử của ta mấy ngày trước tình cờ bắt gặp, liền đưa tới cho ta xem. Ta hoảng hốt cảm thấy như tỷ tỷ của ngươi vừa mới sống lại, đang đứng sờ sờ trước mặt ta vậy, hơn nữa còn trẻ ra hai mươi tuổi. Ta nhìn thấy nàng ấy mà muốn rơi lệ, lúc đó ta liền nghĩ, cưới một người giống y hệt tỷ tỷ của ngươi, có lẽ lại có thể khiến cho hai đứa con của ta cũng vui vẻ!”
“Ồ?” Khúc Trí Thịnh có chút kinh ngạc, “trên đời này lại có người trông giống tỷ tỷ của ta như vậy sao?”
Hắn còn muốn nói thêm, nhưng Huyền Trang kéo hắn lại, mỉm cười, chắp tay chúc phúc: “Vậy thì chúc mừng bệ hạ!”.
Trên mặt Huyền Trang đang mỉm cười, nhưng trong lòng lại dấy lên nỗi bất an, một cảm giác cực kỳ sợ hãi giống như một đóa hoa sen đang nở rộ nơi đáy lòng của ngài.
°°°
Đát Độ Thiết vốn muốn giữ hai người Huyền Trang ở lại trong cung, nhưng bị Huyền Trang khéo léo từ chối, lấy lý do ngài là một tăng nhân, ở trong vương cung rất bất tiện. Đát Độ Thiết cũng không miễn cưỡng, liền lệnh cho người trong Phật tự gần vương cung nhất dọn cho bọn họ một tiểu viện, lại sắp xếp người hầu hạ.
Đát Độ Thiết vẫn còn bệnh chưa khỏi, sau khi đưa bọn họ tới nơi ở, cơ thể không cầm cự nổi nữa, liền cáo từ hồi cung. Khúc Trí Thịnh tiễn hắn ra cửa, vừa tiễn người đi, liền vội vã chạy về: “Sư phụ, sư phụ!”
Huyền Trang đang rửa mặt, liền quay đầu lại: “Chuyện gì?”
“Ở trong cung, tại sao người lại kéo đệ tử, không cho đệ tử hỏi?” Khúc Trí Thịnh có chút không phục, “Tỷ tỷ của đệ tử vừa mới qua đời, mà tỷ phu lại vội muốn tái hôn. Đệ tử rất tức giận, sư phụ người tại sao không để đệ tử khiến hắn phải xấu mặt chứ?”
“Trí Thịnh,” Huyền Trang nói: “Hôm nay Đặc cần tới nghênh đón chúng ta, con có thấy quen thuộc không?”
“Không quen, nhưng con biết hắn.” Khúc Trí Thịnh nói, “Đặc cần đó là trưởng tử của tỷ phu, nhưng không phải do tỷ tỷ sinh ra, là do Khả hạ đôn trước của tỷ phu sinh ra. Tỷ phu tính cách ôn hòa, Đặc cần kia thì lại thích chinh chiến, tàn nhẫn hiếu sát, không được tỷ phu yêu mến. Hai năm trước khi đệ tử còn ở Cao Xương, phụ vương nhận được thư của tỷ tỷ, nói tỷ phu có ý muốn lập chất tử của đệ tử làm người thừa kế, sau đó hình như vẫn chưa ra được quyết định chính thức, cũng không biết vì sao.”
Huyền Trang vân vê Phật châu, trầm mặc trong giây lát: “Tại sao Đặc cần lại nhiệt tình tìm mối này cho Đát Độ Thiết chứ? Trưởng tử lo liệu hôn sự cho phụ thân, ở Đại Đường thật sự là chuyện rất hiếm gặp.”
“Ha ha…” Khúc Trí Thịnh cười lớn, “Người Đột Quyết không có nhiều lễ nghi phiền phức như Đại Đường đâu, hắn muốn lấy lòng tỷ phu, muốn được sủng ái, dĩ nhiên phải đem hết khả năng ra rồi.”
“Vậy thì hắn tại sao lại tìm một người trông giống y hệt như tỷ tỷ của con?” Huyền Trang tiếp tục hỏi, “Tỷ tỷ của con là huyết thống người Hán, muốn tìm một người có tướng mạo như vậy ở Thổ Hỏa La, e rằng cực kỳ khó khăn nhỉ?”
“Vậy cũng phải!” Khúc Trí Thịnh gãi đầu, “sư phụ, người cảm thấy trong này có vấn đề?”
“Khó nói,” Huyền Trang lắc đầu, “chúng ta vừa mới đến, không hiểu tình hình. Hai ngày này thăm dò nghe ngóng một chút, ta luôn cảm thấy trong lòng có chút bất an.”
Khúc Trí Thịnh thấp giọng hỏi: “Sư phụ đang lo lắng A Thuật sao?”
Huyền Trang nhìn ra ngoài cửa sổ, thở dài: “Tính toán thời gian, nó hẳn cũng tới rồi. Hoặc có khi, nó còn tới sớm hơn chúng ta rồi.”
Tâm trạng của Khúc Trí Thịnh cũng trở nên nặng nề.
Đêm đó, hai người đều không ngủ ngon giấc, sáng sớm ngày hôm sau thức dậy, thong thả dạo bước trong thành Thổ Hỏa La tràn ngập ánh nắng. Thành Thổ Hỏa La là đầu mối giao thông quan trọng giữa ba đế quốc Tây Đột Quyết, Tát San Ba Tư và Thiên Trúc, phồn hoa náo nhiệt vô cùng, chỉ riêng kiến trúc đã tập hợp đủ tinh hoa của ba nền văn hóa khác nhau, chùa chiền trên đường cũng rất nhiều, từ các chùa đền miếu mạo không ngừng vọng ra tiếng tụng kinh của các tăng lữ, thầy tế… đến từ rất nhiêu tôn giáo khác nhau, cả thành phố như khoác lên mình một bầu không khí thần bí.
Hai người đang bước đi trên đường phố chật hẹp, sau lưng Đạt Ma Chi dẫn theo mấy binh lính Đột Quyết trang bị loan đao bảo vệ, Huyền Trang ngắm nhìn phố xá phồn hoa, trong lòng vẫn luôn không yên.
“Sư phụ, người đang nghĩ gì thế?” Khúc Trí Thịnh hỏi.
“Ta đang nghĩ, nếu A Thuật tới đây rồi, thì nó đang ở nơi nào”, Huyền Trang nói.
Khúc Trí Thịnh cười khổ: “Thành Thổ Hỏa La lớn như thế này, người muốn tìm kiếm, thì chẳng khác nào mò kim đáy bể.”
“Không,” Huyền Trang lắc đầu, “Thổ Hỏa La mặc dù thờ phụng Phật giáo, nhưng giáo đồ Bái Hỏa giáo cũng rất nhiều, A Thuật là giáo đồ Bái Hỏa thành tín, nó đã rời xa quê hương, nhớ thương người thân, đến nơi chỉ cách Ba Tư có một bước chân như thế này, nhất định sẽ nhớ tới phụ thân của mình. Đời này người mà nó kính sợ nhất chính là thần Hoắc Nhĩ Mạc Tư Đức mà Bái Hỏa giáo tôn sùng. Bởi vì nó cảm thấy thân thế của nó cũng giống như Hoắc Nhĩ Mạc Tư Đức, đều là vì một lời hứa của phụ thân mà chờ đợi khổ sở. Nó sẽ thành kính cầu nguyện, cầu xin Hoắc Nhĩ Mạc Tư Đức phù hộ để bản thân có thể trở về dưới ánh mặt trời của Ba Tư.”
Hai mắt của Khúc Trí Thịnh sáng lên: “Vậy thì, nơi mà nó ở chính là… Hiên từ của Bái Hỏa giáo!”
“Không sai!” Huyền Trang gật đầu, “chính là Hiên từ!”
Khúc Trí Thịnh suy nghĩ một lát, lại cảm thấy uể oải: “Nhưng trong thành này, Hiên từ có không dưới một trăm cái, chúng ta tìm thế nào đây?”
“Không còn cách nào khác”, Huyền Trang cũng cười khổ, “có lúc cũng phải dùng chút công phu thôi. A Thuật nếu muốn tới, nhất định phải mê hoặc thương nhân mang Chiếc bình của vua Đại Vệ vào thành, con đi tới thương sở của Thổ Hỏa La nghe ngóng trước xem các đoàn thương nhân vào trong Thổ Hỏa La từ phía bắc nửa tháng gần đây, hỏi họ tên từng người dẫn đầu đoàn, sau đó đến từng tòa Hiên từ hỏi xem họ có dừng chân ở đó không. Thương nhân thường thì sẽ vào nhà trọ ở, nhưng nếu như có vào ở trong Hiên từ, vậy thì nhất định có mang theo Chiếc bình của vua Đại Vệ!”
“Cách này hay!” Khúc Trí Thịnh vui mừng nói: “Sư phụ, chi bằng để đệ tử nhờ tỷ phu phái người giúp đỡ, như vậy rất nhanh sẽ có thể nghe ngóng ra được.”
“Không được, không được”, Huyền Trang vội vàng xua tay, “A Thuật cực kỳ cảnh giác, con làm to chuyện như vậy, ắt sẽ kinh động đến nó. Trên thực tế, có lẽ nó luôn chăm chú quan sát chúng ta, nói không chừng, giờ này phút này, có một cặp mắt trong đám người đang nhìn chúng ta chằm chằm đấy.”
Khúc Trí Thịnh sợ hết hồn, nhìn trái ngó phải một lúc, đương nhiên không nhìn ra được gì.
“Trí Thịnh,” Huyền Trang lại căn dặn: “Người bị Chiếc bình của vua Đại Vệ mê hoặc điên cuồng như thế nào, con đã từng được trải nghiệm, nhất định không được lơ là, thiếu cảnh giác, cũng không cần phải thúc ép quá, bởi vì lúc này, A Thuật đã trở thành một người thật sự không có gì là không dám làm rồi đó, nó có thể khiến quốc gia này rối loạn dễ như trở bàn tay.”
Khúc Trí Thịnh rùng mình một cái, lặng lẽ gật đầu, lập tức đến thương sở trong thành.
Hắn là em vợ của Đát Độ Thiết, có thể lấy được thủ dụ của Đát Độ Thiết dễ như trở bàn tay, lệnh cho quan viên các cấp phối hợp vô điều kiện, rất dễ dàng lấy được tư liệu thương nhân vào thành từ chỗ quan thu thuế. Khúc Trí Thịnh không dám dùng người của Thổ Hỏa La, liền dẫn đám binh lính Đột Quyết của Đạt Ma Chi đi hỏi lần lượt từng đoàn thương nhân.
Cùng lúc đó, Đát Độ Thiết đang bận rộn chuẩn bị hôn lễ của mình. Đại hôn của quốc vương một nước, đầu mối cực nhiều, dường như huy động lực lượng toàn thành, đến các nước xung quanh cũng phái sứ giả tới chúc mừng. Trong thành Thổ Hỏa La lại càng thêm bận rộn.
Khúc Trí Thịnh tìm ba ngày, hỏi mấy chục đội thương nhân cũng không phát hiện ra tung tích của A Thuật, hắn vẫn kiên trì miệt mài tìm kiếm, nhưng hôm nay, hôn lễ của Đát Độ Thiết bắt đầu cử hành rồi. Đát Độ Thiết đích thân mời Huyền Trang chủ trì nghi thức cầu phúc cho hắn, Huyền Trang cũng lo lắng cho sự an nguy của hắn, chỉ có thể gác chuyện truy tìm A Thuật sang một bên để đến vương cung. Khúc Trí Thịnh vốn không vui vẻ khi phải tham dự hôn lễ của tỷ phu mình lắm, cho nên hắn liền tiếp tục đi tìm kiếm A Thuật.
Hôn lễ này vô cùng long trọng, Huyền Trang đích thân kiểm tra các hộ vệ bên cạnh Đát Độ Thiết, lại dò hỏi tâm phúc của hắn - vị tổng quản thị vệ, xem liệu Đặc cần có thể cài chân tay vào trong đám hộ vệ hay không?
Tổng quản thị vệ cười nói: “Đại sư, ngài yên tâm. Đặc cần nhiều năm không được sủng ái, mấy năm gần đây ngay cả vương cung cũng khó vào được một lần, hắn có bản lĩnh gì mà mua chuộc được thủ hạ của ta chứ?”
Huyền Trang thấy hắn có lòng tin như thế, lúc này mới có chút yên tâm.
Thị vệ tổng quản lại nói: “Đại sư, bệ hạ lệnh cho ta phải tuân thủ mệnh lệnh của ngài vô điều kiện, quân đội trong vương cung ngài có thể tùy ý điều động. Đại sư còn có chỉ thị gì, xin cứ nói đừng ngại.”
Huyền Trang không ngờ rằng Đát Độ Thiết lại tin tưởng mình đến mức độ này, càng cảm thấy gánh nặng trên vai mình quá nặng: “Bần tăng cũng không có chỉ thị gì, chỉ là có một điểm, bất cứ bình gì, hay lọ gì, miễn là những thứ có thể chứa đồ thì không được để gần Bệ hạ.” Tổng quản thị vệ mặc dù không hiểu, nhưng vẫn nghiêm nghị làm theo, Huyền Trang suy nghĩ một chút, lại nói: “Ngoại trừ hai vị hoàng tử, những đứa trẻ nam khoảng mười tuổi tất cả đều không được phép đến gần Bệ hạ.”
“Rõ!” Tổng quán thị vệ cảm khái nói: “Xin đại sư yên tâm.”
Lúc chủ trì nghi thức cầu chúc, Đát Độ Thiết và Khả hạ đôn mới bái tạ dưới chiếc ghế sư tử của Huyền Trang, Huyền Trang đặc biệt nhìn vị Khả hạ đôn mới này vài lần. Ngài chưa từng gặp công chúa Cao Xương, nhưng vị Khả hạ đôn này vừa nhìn liền biết là có huyết thống của người Hán, xinh đẹp như hoa, không gì sánh bằng.
Vừa chủ trì xong nghi thức, liền nhìn thấy Khúc Trí Thịnh đầu đầy mồ hôi chạy từ trong đám người tới, vừa nhìn thấy Huyền Trang, ngay cả thở cũng không kịp thở: “Sư phụ! Sư phụ! Tìm thấy Chiếc bình của vua Đại Vệ rồi!”
Huyền Trang kinh ngạc: “Ở đâu?”
“Trong một tòa Hiên từ ở phía tây bắc thành!” Khúc Trí Thịnh sùng bái nhìn Huyền Trang, “Sư phụ quả nhiên tính toán tài tình, đệ tử nghe ngóng được từ chỗ quan thu thuế, những đoàn thương nhân nửa tháng nay từ phương bắc vào thành, tổng cộng có hai mươi mốt đoàn. Đệ tử liền đến từng đoàn thương nhân để tra hỏi, đa số bọn họ đều nghỉ chân ở nhà trọ, trong đó có một thương nhân người Túc Đặc, tên là A Lí Bố, sau khi đến Hiên từ lễ bái liền nghỉ lại ở đó luôn không về nữa. Đệ tử liền tìm tên A Lí Bố đó, quả nhiên đã tìm thấy hắn trong một tòa Hiên từ cực kỳ hoang vu ở phía tây bắc thành. Đệ tử không dám kinh động hắn liền vội vã chạy tới đây tìm người.”
Huyền Trang hít sâu một hơi: “Được. Chúng ta lập tức đi gặp A Lí Bố!”.
Lúc này hôn lễ đã chuẩn bị kết thúc, nhưng cũng vô cùng yên tĩnh, không có bất cứ chuyện gì xảy ra cả. Huyền Trang lại dặn dò tổng quản thị vệ vài câu, liền dẫn Khúc Trí Thịnh tìm đến tòa Hiên từ nọ.
Lúc này đã là hoàng hôn, ánh chiều tà mênh mông chiếu sáng thành Thổ Hỏa La cổ xưa.
Chợ đang chuẩn bị giải tán, những thương nhân trải qua một ngày kinh doanh vui vẻ đang kiểm kê lại thu hoạch của mình, những người đi về nhà thì bước chân vội vã. Trên đường phố chật hẹp, tràn đầy sức sống bình thường mà khiến người ta mê luyến cả đời người.
Huyền Trang và Khúc Trí Thịnh dẫn theo đám kỵ binh Đột Quyết của Đạt Ma Chi phi nhanh trên đường phố, vất vả vượt qua khu chợ, chạy về phía tây bắc. Thành Thổ Hỏa La bắc cao nam thấp, chạy theo hướng tây bắc là một đường leo lên trên dốc nên không thể đi nhanh được.
Hiên từ nằm trên một gò đất cao, xung quanh vô cùng hoang vắng, chỉ có một ngôi miếu lẳng lặng đứng đó, có một loại cảm giác thê lương bị thế giới vứt bỏ. Khi đến gần tòa Hiên từ kia, sắc trời cũng nhạt dần, chiếu lên mái hiên của ngôi miếu, tỏa ra thứ ánh sáng màu vàng kim lấp lánh.
Cách Hiên từ còn một dặm, Huyền Trang liền sai Khúc Trí Thịnh và Đạt Ma Chi dừng lại, bản thân cũng nhảy xuống ngựa, chậm rãi đi về phía Hiên từ.
Những người đi ngang qua gần đó đều nhìn ngài bằng ánh mắt kỳ quái, một hòa thượng đến miếu của Bái Hỏa giáo, quả là chuyện khiến người ta thấy khó hiểu. Huyền Trang không hề để tâm, bình tĩnh bước lên bậc thang của ngôi miếu.
Ngôi miếu này rất nhỏ, chỉ có một tòa đại điện, lại có chút hoang phế, có lẽ là do cách khu dân cư khá xa, hương hỏa không thịnh vượng, hình vẽ trên vách tường cũng đã bong ra từng mảng, có cảm giác thật thê lương.
Lúc này, cổng Hiên từ đang đóng, Huyền Trang đi tới trước cổng, đang định gõ thì cổng lại két một tiếng mở ra, một chủ tế đầu đội mũ trắng thật cao đi ra, sau lưng còn có một thương nhân, ắt hẳn chính là A Lí Bố. Hai người dùng lễ tiết của Bái Hỏa giáo thi lễ với Huyền Trang.
“Xin hỏi ngài chính là đại sư Huyền Trang đến từ triều Đường sao?” Vị chủ tế kia nói.
“A Di Đà Phật, chính là bần tăng”, Huyền Trang không hề kinh ngạc, bình tĩnh chắp tay thi lễ.
Vị chủ tế kia lập tức nghiêng người sang một bên, nói: “Thần đợi ngài đã lâu. Mời đại sư!”
Huyền Trang trầm mặc bước vào trong, chủ tế và thương nhân nọ không hề đi theo, mà bước ra ngoài cổng, nhẹ nhàng đóng cổng lại, quỳ trước cổng, mặt hướng về phía mặt trời, trong miệng tụng niệm thứ kinh văn khó hiểu.
Cổng vừa đóng, trong Hiên từ liền tối om, ở chính giữa đang đốt một ngọn lửa thánh, ngọn lửa thánh kia cũng không biết đã cháy được bao nhiêu năm rồi, dường như nó đang nhún nhảy chiếu sáng đại điện, ánh sáng và bóng hình loang lổ trông thật huyền ảo. Chính giữa đại điện là tượng thần Hoắc Nhĩ Mạc Tư Đức, gương mặt và thân trên của tượng là thân người nghiêm trang, phần eo có một vầng sáng cực lớn, hai bên là cánh chim khổng lồ, dưới thân cũng là một cái đuôi chim đang giang rộng. Tay trái của tượng cầm vầng sáng, đó là vòng hứa hẹn, tay phải dang rộng sang ngang, là đang chỉ dẫn đường đến thiên đường. Dưới vầng sáng ở eo, có hai dải lụa rũ xuống. Bái Hỏa giáo là thuyết nhị nguyên thiện ác, hình mẫu tượng đây là đang nói với các tín đồ, hoặc là hành thiện, hoặc là hành ác.
Phía dưới tượng thần Hoắc Nhĩ Mạc Tư Đức, dưới ánh sáng của lửa thánh, là Chiếc bình của vua Đại Vệ đang nằm lặng im.
Huyền Trang không nói chuyện, trầm mặc đi tới, ngồi xếp bằng đối diện với Chiếc bình của vua Đại Vệ, dùng ánh mắt bi thương nhìn chằm chằm vào nó.
“Sư phụ, người cuối cùng cũng vẫn đuổi tới đây”, Chiếc bình đột nhiên phát ra tiếng thở dài thườn thượt, dường như rất đau lòng.
“Ta tới đưa con về nhà”, Huyền Trang nói.
“Sư phụ, sau khi người đưa con về nhà, thật sự con có thể đi lại dưới ánh mặt trời của Ba Tư sao?” Chiếc bình của vua Đại Vệ hỏi.
“Có thể! Ánh mặt trời soi chiếu toàn bộ chúng sinh, sao có thể không chiếu rọi đến con.”
“Sư phụ, con thật sự có thể đến gánh xiếc thú làm một chú hề, mỗi ngày đều vui vẻ sao?”
“Có thể! Nơi đó là quê hương của con, có người thân của con, con nhìn thấy họ vui vẻ, bản thân cũng sẽ trở nên vui vẻ.”
“Sư phụ, làm một chú hề, có thể đem đến niềm vui cho người con yêu thương sao?”
“Có thể! Tất cả chúng sinh đều sẽ cười vui vẻ, lúc bọn họ bi thương có thể quên đi mất nên cười vui vẻ như thế nào, bọn họ nhìn thấy niềm vui trên gương mặt con, bản thân liền vui vẻ trở lại.”
“Nhưng mà, sư phụ, con sợ!” Chiếc bình nói, “Ba mươi năm nay, con đã giấu mình trong chiếc bình chật hẹp này, chiếc bình đồng này bao quanh con, mặc dù lạnh lẽo, nhưng con lại cảm thấy an toàn, giống như phụ vương lạnh lùng đang ôm lấy con. Còn thế giới bên ngoài lớn như vậy, con sợ sẽ cảm thấy cô đơn, tịch mịch, sợ hãi, không nơi nương tựa.”
“Con có muốn biết Quan Thế Âm Bồ Tát chúc phúc cho con như thế nào không?”
“Sư phụ, con muốn nghe thử xem.”
“Trên nhân thế, khi cảm nhận được rằng tất cả những đứa trẻ và chúng sinh đang lo sợ, đau khổ, ta đã từng thề, phải giúp cuộc sống của con được viên mãn không trở ngại, rời xa đau khổ, phải khiến con nhìn thấy sinh tử phiền não, hiểu rõ ánh sáng thật sự. Ta khẩn cầu cho con tất cả đều viên mãn, không phải chịu mọi sự xâm hại của quỷ sai…”
Huyền Trang thấp giọng tụng niệm, ngài nhắm mắt lại, vân vê Phật châu, trong vành mắt tràn đầy nước mắt, tựa như đem toàn bộ tu hành, tình cảm, thành kính những năm nay, hết thảy nhập vào trong bài “Chú Đại Bi” cải biên này.
“Sư phụ…” Trong Chiếc bình của vua Đại Vệ phát ra tiếng khóc nức nở, hoa văn trên thân bình biến ảo quỷ dị, im hơi lặng tiếng trượt sang hai bên. Viên thịt khiến người ta bi thương lăn ra ngoài, chậm rãi mở ra trên mặt đất, rồi hóa thành hình người.
A Thuật trần truồng đứng đó, nước mắt đầy mặt, cậu nức nở ôm lấy Huyền Trang, lớn tiếng khóc rống lên.
Huyền Trang chậm rãi mở mắt ra, ngài không nói gì, lấy ra một bộ quần áo từ trong bao vải mang bên người: “A Thuật, đây là quần áo ta đặc biệt làm cho con. Ta biết, nhất định có một ngày, con sẽ mặc bộ quần áo này, tự do đi dưới ánh mặt trời và trong dòng người. Lại đây, mặc thử xem có vừa người không.”
A Thuật vừa khóc vừa mặc quần áo vào, nhìn đôi giày dưới chân, lẩm bẩm: “Sư phụ, con nhớ tới miếng da dê mà người từng dùng để bọc chân cho con.”
Huyền Trang cười, nắm tay A Thuật: “Đi, A Thuật, ta dẫn con đi xem thế giới này trông như thế nào.”
A Thuật cũng nắm lấy tay ngài, bước ra khỏi đại điện tối om. Sau lưng, Chiếc bình của vua Đại Vệ đã nứt ra lại im hơi lặng tiếng khép lại.
Đi tới ngoài đại điện, màn đêm đã hạ xuống, chủ tế và thương nhân vẫn còn quỳ trước cổng, bọn họ ngẩng đầu lên, nước mắt đầy mặt nhìn chằm chằm vào A Thuật: “Thần ơi, ngài muốn rời khỏi chúng tôi sao?”.
A Thuật ngẩng đầu, ngắm nhìn ánh đèn trong thành Thổ Hỏa La dưới núi: “Ta muốn đi tìm niềm vui của con người.”
Sau đó, cậu nắm tay Huyền Trang, chậm rãi bước xuống bậc thang. Hai người sau lưng gào khóc thất thanh.
Huyền Trang cùng cậu đi xuống núi, Khúc Trí Thịnh và Đạt Ma Chi vẫn còn đợi ở phía xa, nhưng hai người đều không đi qua, chỉ yên lặng đứng nhìn theo.
Huyền Trang cứ như vậy dẫn cậu bé bước lên đường phố của Thổ Hỏa La: “A Thuật, con có thể tưởng tượng ra không? Lúc này màn đêm đang bao phủ cả tòa thành trì, chúng ta không thể nhìn thấy gì cả, nhưng chỉ mấy canh giờ sau, ở phía đông sẽ có một vầng mặt trời rực rỡ, mọc trên bầu trời của thành phố, lúc đó, tòa thành trì này liền trở nên sáng sủa, thậm chí có thể nhìn rõ cả bụi bẩn ở mọi xó xỉnh.”
A Thuật ngắm nhìn với vẻ say mê.
“A Thuật, con có thể tưởng tượng không? Lúc này, trên đường phố không một bóng người, tất cả kiến trúc đều yên lặng như tờ. Nhưng khi mặt trời mọc lên, ở trong vách tường hai bên liền có tiếng đám trẻ con bắt đầu khóc nỉ non, người lớn cũng bắt đầu thức dậy. Đầu tiên bọn họ rửa đi sự mệt mỏi trên gương mặt, giúp tinh thần sảng khoái để nghênh đón cuộc sống của một ngày mới. Trên đường phố mọi người chen chúc nhau, cơ thể của bọn họ không ngừng đụng vào con, kề bên con. Cũng giống như một người cha hiền hòa dùng hai tay ôm lấy con vậy, hoàn toàn khác so với cái ôm từ Chiếc bình của vua Đại Vệ lạnh lẽo kia.”
“Còn có mùi mồ hôi, còn có tiếng kêu la, dưới đất còn có những chiếc giày bị người chen lấn giẫm phải mà rơi xuống.” A Thuật nhắm mắt lại, chậm rãi tưởng tượng khung cảnh ấy.
“Đó chính là cách sống của chúng sinh,” Huyền Trang nói: “Rất bình thường, mọi người đều sẽ gặp bi thương và bất hạnh, chính vì thế, đợi sau khi bi thương và bất hạnh qua đi, bọn họ mới có thể vui vẻ. A Thuật, tại sao con người lại vui vẻ? Bởi vì bi thương của họ đi qua rồi.”
A Thuật mở mắt ra, nhìn chằm chằm vào thành Thổ Hỏa La cổ xưa, trong ánh mắt tràn đầy bi thương: “Sư phụ, xin lỗi, con vẫn khiến người phải thất vọng rồi.”
“Tại sao?” Huyền Trang hỏi.
“Bởi vì, Đát Độ Thiết tối nay nhất định sẽ chết.”
Huyền Trang cả kinh, A Thuật lẩm bẩm nói: “Thực ra, nửa tháng trước con đã tới thành Thổ Hỏa La này rồi. Con bảo A Lí Bố tặng con cho Đặc cần. Đặc cần là trưởng tử của Đát Độ Thiết, nhưng nhiều năm không được sủng ái. Con thi triển thần thông, dễ dàng chinh phục được hắn. Con nói với hắn, Mạc Hạ Đốt phản loạn, giết chết Khả hãn Thống Diệp Hộ rồi, Điệt Lực cũng chết rồi. Gia tộc A Sử Na hiện nay có thể kế thừa vị trí Đại hãn, chỉ có Đát Độ Thiết. Nê Thục không lâu nữa sẽ nghênh Đạt Độ Thiết đến vương đình để kế vị. Nếu như Đát Độ Thiết chết đi, vậy thì hắn chính là người thừa kế duy nhất. Đặc cần sớm đã nghĩ ra cách để lấy lòng Đạt Độ Thiết. Công chúa Cao Xương chết không được bao lâu, hắn liền tìm một người trông giống y hệt công chúa, định tặng cho Đát Độ Thiết, cầu được sủng ái. Nhưng qua sự đầu độc của con, lòng cầu sủng ái liền biến thành sát tâm.”
Huyền Trang hoảng sợ: “Lẽ nào… Khả hạ đôn mới kia, chính là người thích sát Đát Độ Thiết?”
“Đúng vậy, sư phụ”, A Thuật lẩm bẩm, “Có phòng vệ chặt chẽ như thế nào, cũng làm sao ngăn cản được rượu độc đêm tân hôn chứ?”
“A Thuật,” Huyền Trang lập tức toát mồ hôi lạnh đầy đầu, “Con về Hiên từ trước đi, ta đi cứu Đát Độ Thiết.”
“Ừm!” A Thuật gật đầu, vẻ mặt bi thương, “sư phụ, nếu như Đát Độ Thiết chết, người còn có thể đối xử với con như thế này không?”
“A Thuật, ta đã lập lời thề, phải khiến cuộc đời con viên mãn, không gặp trở ngại, tránh xa đau khổ.” Huyền Trang nghiêm túc nói, “bất luận con phạm sai lầm gì, hay là thấy sợ hãi trong lòng, ta đều luôn ở bên giúp con nhìn thấy ánh sáng lần nữa, không còn lo lắng.”
Nói xong, Huyền Trang vội vàng gọi Khúc Trí Thịnh và Đạt Ma Chi tới, nói lại với hai người, bọn họ ai cũng đều hoảng hốt, lập tức lên ngựa, phi ầm ầm như bay về vương cung trên con đường đêm.
A Thuật lặng lẽ nhìn bóng lưng Huyền Trang dần dần đi xa, nước mắt rơi như mưa.
°°°
Đám người Huyền Trang chạy đến trước cửa vương cung, chỉ thấy ánh đèn đuốc trên thành lâu sáng choang, quân đội trong thành được điều động, từng nhóm từng nhóm chạy về hướng vương cung. Lòng Huyền Trang trầm xuống, ngài biết, đã quá muộn rồi.
Kế hoạch hành thích vua của Đặc cần rất chu đáo.
Đêm tân hôn, Đát Độ Thiết nhìn tân Khả hạ đôn giống y hệt công chúa Cao Xương, không nhịn được mà tinh thần hoảng hốt, say mê không thôi. Khả hạ đôn bưng chén vàng lên kính rượu Đát Độ Thiết, Đát Độ Thiết một hơi uống cạn sạch, sau đó liền chết bất đắc kỳ tử ngay tại chỗ. Sau đó, Khả hạ đôn liền lấy ấn giám của Đát Độ Thiết, viết một phong thủ dụ, lệnh cho người triệu Đặc cần vào cung.
Đặc cần lấy được ấn giám điều động đại quân của Đát Độ Thiết, lập tức lệnh cho người điều động quân đội, phong tỏa vương cung và thành Thổ Hỏa La, mãi cho đến tờ mờ sáng ngày hôm sau, sau khi đã khống chế triệt để toàn thành, mới tuyên bố Đát Độ Thiết băng hà, truyền ngôi lại cho hắn. Căn cứ vào chế độ thu nạp kế thừa hôn thú của Đột Quyết, hắn liền nạp vương hậu thành Khả hạ đôn của mình.
°°°
Huyền Trang và Khúc Trí Thịnh đau buồn khôn nguôi, Khúc Trí Thịnh càng lo lắng cho hai đứa cháu trai của mình hơn, nói với Huyền Trang rằng hai đứa trẻ này đã mất hết phụ thân phụ mẫu, nếu còn ở trong tay của Đặc cần, ắt sẽ bị sát hại. Huyền Trang cũng vô cùng lo lắng, ngày hôm sau liền xin được vào cung phúng viếng, Đặc cần cho phép. Hai người dưới sự giúp đỡ của viên tổng quản thị vệ kia, bí mật đưa hai người nhi tử của công chúa Cao Xương ra khỏi vương cung, giấu ở trong chùa.
Đặc cần quả nhiên có ý định đầu độc hai hoàng tử, vừa nghe nói hai hoàng tử mất tích liền lập tức đoán là do Huyền Trang và Khúc Trí Thịnh làm, nhất thời giận đến tím mặt, dẫn kỵ binh bao vây ngôi chùa lại, định cướp hai cậu bé đi. Khi hai bên đang đối đầu, liền nghe thấy phía cổng thành sấm sét rền vang, cũng không biết có bao nhiêu nhân mã đột nhập vào trong thành.
Đặc cần hoảng hốt, đang muốn phái người đi nghe ngóng xem rốt cuộc đang xảy ra chuyện gì thì nhìn thấy một đoàn người mặc áo giáp sắt đen ầm ầm chạy tới, kỵ sĩ dẫn đầu chính là Nê Thục!
Đặc cần nhìn thấy Nê Thục, liền cảm thấy chột dạ, đối mặt với vị đại thiết uy chấn Đột Quyết này dẫn binh tới đây, trong lòng thấp thỏm không yên, vội vàng qua chào. Nê Thục không quan tâm đến hắn, nhảy xuống ngựa, vào trong chùa bái kiến Huyền Trang trước. Đặc cần cũng ngượng ngùng theo vào.
Đám người Huyền Trang và Khúc Trí Thịnh nhìn thấy Nê Thục mới thở phào nhẹ nhõm: “A Di Đà Phật, Nê Thục, sao ngài lại đột nhiên tới Thổ Hỏa La vậy?”
“Đại sư, sau khi ta đánh bại Mạc Hạ Đốt ở thành Toái Diệp, luôn truy sát hắn, sau đó hắn chạy tới Kim Sơn, lúc này ta mới lui quân, vội vội vàng vàng dẫn người tới đón Đát Độ Thiết về đăng cơ. Không ngờ vừa vào Thiết Môn Quan liền nghe tin Đạt Độ Thiết chết bất đắc kỳ tử. Nên mới phi như bay một đêm tới thành Thổ Hỏa La.” Nê Thục nói xong, lại quay đầu nhìn chằm chằm đặc cần, lạnh lùng nói: “Đặc cần, ngươi nên gọi ta là gì?”
“Th… Thúc thúc…” Đặc cần nơm nớp lo sợ nói.
“Rất tốt, nếu như ngươi coi ta là thúc thúc của ngươi, vậy thì ngươi hãy thành thật nói cho ta biết, phụ vương ngươi chết như thế nào!” Nê Thục trợn mắt giận dữ hét lên.
“Thúc thúc à!” Đặc cần lập tức khóc rống lên, “Nguyên nhân cái chết của phụ vương con cũng không biết, đêm qua là tân hôn của phụ vương, con uống say, đang ngủ trong phủ thì thấy người trong cung cầm thủ dụ của phụ vương tới gặp, triệu con vào cung. Sau khi vào cung, chỉ thấy phụ vương con đã chết rồi. Con có hỏi Khả hạ đôn, thì nàng ta nói với con rằng, bọn họ đang định đi ngủ thì đột nhiên trong phòng có một cơn gió xoáy thổi qua, từ đó có một con quỷ đen nhánh xuất hiện. Con quỷ đó tay cầm trường kích, hét to một tiếng nói Mạc Hạ Đốt phái ta tới giết ngươi, sau đó liền đâm một nhát. Toàn thân cha con không có vết thương nhưng sắc mặt lại tím đen, chết ngay tại chỗ. Con quỷ kia cũng biến mất không thấy tăm hơi. Con lúc đó quá sợ hãi, sợ rằng yêu ma đến quấy phá, vì vậy liền cầm ấn giám của cha, điều động đại quân, không chế vương thành.”
“Ma quỷ?” Nê Thục cười lạnh: “Nói như vậy là có thể khiến ta tin sao?”
“Nhưng con không thể không tin.” Đặc cần nghiêm mặt nói, “hôm nay con có hạ lệnh tìm kiếm hết tất cả các cửa các nhà, hòng tìm kiếm hung thủ. Cuối cùng lại hay biết một tin, hóa ra Mạc Hạ Đốt kia có được Chiếc bình của vua Đại Vệ, hắn đã ước với chiếc bình, bảo ma quỷ trong chiếc bình giết chết phụ vương con. Nghe nói chuyện này tất cả người Đột Quyết đều biết. Thúc thúc à, phụ vương con, tổ phụ con đều bị Mạc Hạ Đốt giết hại, người nhất định phải làm chủ cho con! Con sẽ đem hết đại quân, đi theo người, nhất định phải giết chết Mạc Hạ Đốt.”
Vẻ mặt Nê Thục biến ảo, trầm tư hồi lâu, mới phất tay nói: “Bỏ đi, nếu như ngươi có lòng báo thù, vậy thì không cần đợi ở đây nữa. Lập tức đi chỉnh đốn quân đội của ngươi, đến lúc đó theo ta tiến lên phía bắc báo thù! Còn về vị trí quốc vương của ngươi, đợi bình định xong Mạc Hạ Đốt, Đại hãn mới lên ngôi lại tiến hành sắc phong sau.”
“Đa tạ thúc thúc!” Đặc cần thở phào một hơi, liên tục khom lưng, dẫn người đi mất.
Hắn vừa đi, Khúc Trí Thịnh không nhịn được nói: “Nê Thục, tên đần độn này, rõ ràng là tên Đặc cần kia hại tỷ phu của ta, tại sao ngươi lại không giết hắn?”
“Khúc Trí Thịnh, ngươi mới là tên đần độn đó!” Nê Thục chửi ầm lên, “mặc dù biết hắn bịa chuyện, nhưng với lý do này thì ai có thể vạch trần hắn được đây? Còn nữa, ta chỉ mang theo có một ngàn người tới, nếu khai chiến với Đặc cần ở Thổ Hỏa La, ngươi muốn khiến toàn bộ người của ta chết ở đây sao?”
“Hừ, cuối cùng ngươi cũng thừa nhận bản thân sợ chết rồi”, Khúc Trí Thịnh cười kinh.
“Nói láo!” Nê Thục bị hắn làm tức đến nổi cơn tam bành, “lão tử là loại ham sống sợ chết sao? Ngươi có biết khi khai chiến với Mạc Hạ Đốt, lão tử mất đi biết bao nhiêu dũng sĩ rồi không? Lão tử làm sao có thể tới được Thổ Hỏa La? Bởi vì ta và Mạc Hạ Đốt đều đã không thể chống đỡ được nữa rồi, chỉ có quân đội Thổ Hỏa La tiến lên đánh bắc, mới có thể thay đổi tình hình chiến sự!” Hắn không muốn quan tâm đến Khúc Trí Thịnh nữa, bèn quay sang tố khổ với Huyền Trang: “Đại sư, Đát Độ Thiết chết rồi, người chết không thể sống lại. Lẽ nào ta phải mạo hiểm khiến Tây Đột Quyết, khiến Thổ Hỏa La đều rơi vào nguy hiểm diệt vong, để báo thù cho một người sao? Đặc cần cũng đã tỏ rõ ý với ta, chỉ cần hắn được làm quốc vương sẽ dùng toàn bộ đại quân, cùng ta chinh chiến với Mạc Hạ Đốt. Vì Tây Đột Quyết nhanh chóng ổn định, không rơi vào chiến loạn lâu dài, ta nhịn cơn tức giận thì có là gì chứ?”
“A Di Đà Phật!” Huyền Trang chắp tay trước ngực, “bần tăng chỉ quen với Phật pháp, không hiểu chính trị và chiến tranh.”
Nê Thục gật đầu: “Đa tạ đại sư có thể thông cảm cho ta”. Trên mặt hắn hiện ra vẻ giận dữ, “nhưng chuyện này cũng không thể cứ thế bỏ qua được, Chiếc bình của vua Đại Vệ đi tới đâu, nơi ấy ắt gặp tai họa liên tiếp, Cao Xương, Tây Đột Quyết, Thổ Hỏa La, toàn bộ đều bị nó hại cho khổ sở, nước mất người tan, hôm nay ta nhất định phải thiêu hủy mầm tai họa này!”
Huyền Trang sợ đến giật nảy mình: “Nê Thục, không được lỗ mãng!”.
“Đại sư, ý ta đã quyết”, Nê Thục nói xong, xoay người lên ngựa, dẫn theo đám kỵ binh thủ hạ ầm ầm đi xa.
Huyền Trang lập tức sốt ruột, gọi Khúc Trí Thịnh, vội vàng đuổi theo đến Hiên từ.
Đợi bọn họ đến nơi, đám người Nê Thục và đặc cần đã đang bao vây Hiên từ rồi, bọn họ đập vỡ cổng miếu, khiêng Chiếc bình của vua Đại Vệ ra, cùng hò hét mắng nhiếc chiếc bình một cách tức giận, nhổ nước bọt, vây quanh rồi chạy về hướng quảng trường trước vương cung.
“Nê Thục, đừng…” Huyền Trang liều mạng chen vào trong, nhưng người trên đường quá đông, thông qua lời thông báo của Đặc cần, người trong thành Thổ Hỏa La đều cho rằng Chiếc bình của vua Đại Vệ là thứ đã sát hại Đát Độ Thiết, quần chúng cực kỳ phẫn nộ, có giáo đồ Bái Hỏa giáo giơ cao ngọn đuốc, kêu la muốn thiêu hủy chiếc bình.
Đám người chen chúc đầy con đường dài.
Huyền Trang đang len lỏi trong đám người, đột nhiên có người kéo ống tay áo của ngài. Huyền Trang quay đầu lại nhìn, nhất thời sợ ngây người, A Thuật đang đứng trong dòng người cười với ngài.
“A Thuật!” Huyền Trang bế A Thuật lên, “con không ở trong bình sao?”.
“Sư phụ,” A Thuật tỏ vẻ vui sướng, “con muốn đi dưới ánh mặt trời, vĩnh viễn không làm người trong bình nữa.”
“Được, được, được!” Huyền Trang vô cùng vui vẻ, “Chiếc bình của vua Đại Vệ đó…”
“Nê Thục muốn đốt thì cứ để hắn đốt đi!” A Thuật nhìn Chiếc bình của vua Đại Vệ đang bị đám người vây quanh, có chút thê lương, “nó rốt cuộc đã phạm quá nhiều tội ác rồi. Đó coi như là xác thịt của con, hiện tại xác thịt bị thiêu hủy rồi, con vĩnh viễn có thể ở lại nhân gian!”
Đoàn người ồn ào đi xa, Nê Thục và Đặc cần cưỡi lên lưng ngựa, có ý cổ động sự tức giận của bách tính, bọn họ muốn có chỗ gán tội cho sự tức giận này, gán tội cho Chiếc bình của vua Đại Vệ, gán tội cho Mạc Hạ Đốt.
Dòng người qua lại bên người Huyền Trang và A Thuật, giống như nước thủy triều rút xuống, rất nhanh thôi, cả con phố lại trống trải không còn ai, chỉ có Khúc Trí Thịnh ở bên cạnh họ. Ba người trầm mặc bước đi trong thành Thổ Hỏa La. Bọn họ đi tới đầu phố, thương nhân đến từ các quốc gia trên thế giới đang thao thao bất tuyệt đủ các loại ngôn ngữ để chào hàng, hàng hóa rực rỡ muôn màu.
A Thuật chỉ vào một người thương nhân lớn tuổi, mũi cao mắt sâu, râu quai nón rồi nói: “Sư phụ, hắn đang nói tiếng Ba Tư đó. Khẩu âm gần với Thái Tây Phong.”
“Vậy thì coi như là người cùng quê với con rồi!” Huyền Trang cười nói.
“Đúng vậy!” A Thuật cảm khái, “hai năm rồi, lần đầu tiên con nghe được tiếng của quê hương.”
A Thuật tiến lên phía trước, khom người với thương nhân lớn tuổi kia, dùng tiếng Ba Tư chào hỏi: “Trưởng lão.”
Ông lão kia nghe thấy giọng nói của cậu bé cũng có chút bất ngờ: “Cậu là người Thái Tây Phong?”
“Đúng vậy, ta đến từ Thái Tây Phong.” A Thuật vui vẻ cười nói, “ta đã xa quê hai năm rồi, lần đầu tiên nhìn thấy người cùng quê thật sự.”
“Ồ, cậu bé, nguyện cho vinh quang của Hoắc Nhĩ Mạc Tư Đức vĩnh viễn soi sáng cho cậu!” Ông lão chúc phúc cậu.
“Trưởng lão, ta có thể hỏi thăm một chút được không? Hoàng đế Khố Tư Lỗ đệ nhị, hiện nay sức khỏe thế nào?” A Thuật nhớ đến cha mình, “khi ta rời khỏi Thái Tây Phong, nghe nói hoàng đế đang bị bệnh kiết lỵ, luôn ốm đau.”
“Khố Tư Lỗ Đệ nhị sao?” Ông lão kia sửng sốt, “ngài ấy băng hà từ lâu rồi.”
“Cái gì?” Sắc mặt A Thuật thay đổi nhanh chóng.
Huyền Trang mặc dù không hiểu tiếng Ba Tư, nhưng cũng nghe ra được có gì đó không ổn, vội vàng xoa đầu A Thuật, hỏi ông lão kia: “Đã xảy ra chuyện gì?”
Ngài nói bằng tiếng Thổ Hỏa La, ông lão kia đương nhiên có thể hiểu được, liền nói với Huyền Trang: “Vị tăng nhân này, ta vừa nói với đứa trẻ này, hai năm trước, Khố Tư Lỗ đệ nhị đã băng hà rồi. Cũng chính là vào tháng hai năm ngoái, trưởng tử của ngài là Hi Lỗ Gia ra tay mưu hại hắn, đầu tiên dùng than hương đốt cháy cổ họng của hắn, sau đó treo cổ hắn.”
Cả người A Thuật như ngây dại, cậu đã đợi trong bình ba mươi năm, cuối cùng cũng đợi được tâm nguyện cuối cùng của phụ vương, vạn dặm xa xôi đến Đại Đường, ước mơ duy nhất chính là sau khi hoàn thành tâm nguyện của ngài, sẽ không cần phải làm người trong bình nữa, mỗi ngày có thể đi lại dưới ánh mặt trời Ba Tư. Trên đường gian khổ vật lộn, trải qua trận chặn giết trên sa mạc Mạc Hạ Diên, rồi tới chuyện chiếc bình bị thất lạc, trải qua nguy cơ sống chết trong cuộc nội loạn ở Cao Xương, cuối cùng cũng mở ra được một con đường khác, thông qua Mạc Hạ Đốt, khuấy cho Tây Đột Quyết tan đàn xẻ nghé, máu chảy thành sông, cuối cùng khiến cho Tây Đột Quyết không thể nào hợp tác với Hi Lạp Khắc Lược xâm lược Ba Tư được nữa.
Nhưng khi cậu tràn đầy mong chờ muốn về nhà thì phụ vương cậu lại chết mất rồi. Lúc cậu mới vừa rời khỏi Ba Tư, ông ta đã chết rồi.
Khi cậu đang phấn đấu, người cho cậu lý do để nỗ lực phấn đấu đã rời khỏi thế gian này rồi. Sự gian nan và nỗ lực của cậu suốt hai năm nay qua coi như là vô nghĩa rồi.
“Sau đó thì sao?” Huyền Trang vội vàng hỏi, “Hiện tại Ba Tư như thế nào rồi?”
“Loạn thế diệt vong! Hi Lỗ Gia sau khi lên ngôi liền giết sạch toàn bộ mười bảy huynh đệ của mình, nhưng hắn cũng bị trời phạt, sáu tháng sau liền nhiễm ôn dịch mà chết.” Ông lão nói: “Sau đó hoàng tử bảy tuổi là A Nhĩ Đạt Hi Nhĩ đệ nhị lên ngôi, tháng tư năm nay lại bị tướng quân Sa Hách Bối La Tư phế truất rồi. Một tháng trước, nghe nói Sa Hách Bối La Tư bị đối thủ treo cổ ở Thái Tây Phong, nhi tử nhỏ của Khố Tư Lỗ đệ nhị là Giả Vượng Hi Nhĩ lên ngôi, mấy ngày trước có một đoàn thương nhân từ Ba Tư đến, nói rằng Giả Vượng Hi Nhĩ lại bị giết rồi, hiện tại con gái của Khố Tư Lô đệ nhị là Bố Lãng đang chấp chính.”
Ba người trầm mặc không nói, ai cũng không thể ngờ được rằng Ba Tư lại loạn thành như vậy, hoàn toàn là mạt thế của một vương triều.
“Sư phụ!” A Thuật như khóc như cười, “con còn có thể về nhà sao?”
Trong lòng Huyền Trang vô cùng khó chịu, nắm lấy tay cậu, không biết nên nói gì: “A Thuật…”
“Sư phụ, Ba Tư còn có ánh mặt trời không?” A Thuật hỏi.
Huyền Trang không biết trả lời thế nào.
A Thuật từ từ rút tay khỏi tay ngài, một mình cô đơn bước đi. Ánh mặt trời chiếu sáng lên thành Thổ Hỏa La, chiếu lên người cậu, nhưng dường như cậu đang không bước đi dưới ánh mặt trời, mà vẫn bước đi trong bóng tối của Chiếc bình của vua Đại Vệ.
°°°
Trước quảng trường của vương cung, những bách tính đang tức giận không ngừng chen lấn. Chính giữa quảng trường dựng lên một chiếc đài cao, phía dưới là ngọn lửa đang cháy hừng hực, Chiếc bình của vua Đại Vệ được đặt trên đài cao, đang bị lửa thiêu đốt.
Đám người hô lên những tiếng kêu la tức giận như sóng biển dâng cao: “Thiêu hủy nó! Thiêu hủy nó! Ma quỷ! Yêu quái! Báo thù cho Đát Độ Thiết! Báo thù cho Đại hãn!”
Dưới đài, các tăng lữ mà Nê Thục và Đặc cần mời tới đang ngồi ngay ngắn ở một bên, cao giọng tụng niệm kinh Phật, lấy Phật pháp trấn áp chiếc bình tà ác này.
Chính vào lúc này, một đứa trẻ bước ra từ trong đám người, cậu trèo lên đài cao, giẫm lên thanh ngang, đi tới bên Chiếc bình của vua Đại Vệ. Mọi người nhất thời đều im lặng, kinh ngạc nhìn đứa trẻ đó.
Dưới chân là ngọn lửa đang cháy phừng phừng, trước mặt là Chiếc bình của vua Đại Vệ đang bị thiêu hủy, xung quanh là xích sắt to lớn, đứa trẻ kia yên lặng đi lên thanh ngang, bước vào trong ngọn lửa, tiến về phía chiếc bình. Đám người bên dưới yên lặng nhìn, quảng trường vương cung trên vạn người đồng thời chết lặng, không có ai biết đứa trẻ này từ đâu tới và muốn đi tới đâu.
Đứa trẻ đó đi tới bên cạnh Chiếc bình của vua Đại Vệ, rồi vươn tay vuốt ve nó, chiếc bình chậm rãi phân thành hai mảng, lộ ra ruột bình bên trong, trống rỗng như một cái tử cung bằng đồng. Phía dưới có ngọn lửa đang thiêu đốt, lúc này, nó không hề lạnh lẽo như băng mà vô cùng ấm áp. Cũng không tối om như trước, bởi có ánh mặt trời và ánh lửa soi sáng lòng bình.
Huyền Trang và Khúc Trí Thịnh lúc này cũng vừa chạy tới dưới đài cao, Huyền Trang ngẩng mặt lên nhìn, hai mắt ngấn lệ, thì thào nói: “Quay lại, con ơi, quay lại…”
Đứa trẻ kia dường như nghe thấy tiếng gọi của ngài, cúi đầu, mỉm cười với ngài, cơ thể cậu co rút lại thành một viên thịt, thoải mái nằm lọt thỏm trong ruột Chiếc bình của vua Đại Vệ. Sau đó, chiếc bình từ từ khép lại.
Trong truyền thuyết của Bái Hỏa Giáo, vũ trụ vốn dĩ không có gì cả, chỉ có thần không gian và thời gian Trát Nhĩ Vạn tồn tại cô độc trong vũ trụ này. Mãi cho đến một ngày, thần thấy cô đơn, thần muốn làm một người cha, vì vậy bèn cầu khẩn một ngàn năm. Sau khi đứa con ngài yêu thương giáng sinh, ngài lại không thể nào để nó đến được thế giới này, thế là nỗi áy náy, day dứt tràn đầy cõi lòng ngài: “Nhi tử của ta, ta đã đợi sự ra đời của con một ngàn năm rồi, sau đó ta lại cần con phải chờ đợi thêm chín ngàn năm nữa”.
Sau đó ngài biến mất khỏi không gian và thời gian, cũng không trở lại nữa. Đứa trẻ đó, vĩnh viễn đợi chờ trong bóng tối và cô tịch.
Hai mắt Huyền Trang ngấn lệ, thấp giọng nức nở, ngài nhìn chằm chằm vào Chiếc bình của vua Đại Vệ từ từ nóng rực, trở nên đỏ bừng, cuối cùng bị thiêu thành từng giọt, từng giọt đồng, nhỏ xuống ngọn lửa. Ngài biết, đứa trẻ bị chính phụ thân của mình vứt bỏ kia sẽ không thể nào trở về nhà được nữa. Ánh mặt trời Ba Tư cho dù ngàn năm vạn năm vẫn chiếu rọi mảnh đất đó, cũng không thể nào xua tan được sự lạnh lẽo và bóng tối trong lòng đứa trẻ kia.
“Sư phụ, con nhớ nhà rồi!” Khúc Trí Thịnh òa khóc, “nhớ phụ vương của con rồi.”
“Trí Thịnh, hành trình Tây du của con có thể kết thúc rồi, bởi vì con đã tìm thấy thứ mà Phật pháp muốn nói với con.” Huyền Trang nhìn về Thiên Trúc ở phía đông nam trong dòng nước mắt nhạt nhòa, “Còn bần tăng, vẫn phải tiếp tục bước đi trên con đường Tây du dài đằng đẵng kia.”
Chú Thích
[124] Syr Darya là một con sông ở Trung Á, đôi khi còn gọi là Jaxartes hay Yaxartes. Dọc theo luồng chảy của mình, nó tưới tiêu cho phần lớn các khu vực đất màu mỡ của toàn bộ khu vực Trung Á, cùng với việc cấp nước cho các thành phố như Kokand, Khujand, Kyzyl Orda và Turkestan.
[125] Thủ phủ trực thuộc khu vực cùng tên là Talas (Đát La Tư), vùng này thuộc địa phận Kyrgyzstan.
[126] Trận chiến Talas (Đát La Tư hội chiến) diễn ra vào năm 751 là một cuộc xung đột giữa triều đại Hồi giáo Abbas và nhà Đường Trung Quốc nhằm giành quyền kiểm soát Syr Darya. Trận chiến được đặt tên theo dòng sông nơi diễn ra trận đánh cuối cùng là Talas (Đát La Tư), các lực lượng Ả Rập và Turk phối hợp liên thủ đã đánh bại quân xâm lược nhà Đường, thành công ngăn chặn sự mở rộng về phía tây của nhà Đường.
[127] Nhà Abbas còn được gọi là nước Đại Thực theo cách gọi của người Trung Quốc, là triều đại Hồi giáo thứ ba của người Ả Rập.
[128] Hindu Kush là một dãy núi nằm giữa Afghanistan và Pakistan. Tên gọi Hindu Kush có nguồn gốc từ tiếng Ả Rập và có nghĩa là “Các ngọn núi của Ấn Độ”. Nó là phần kéo dài nhất về phía tây của dãy núi Pamir, rặng Karakoram và là phần kéo dài của dãy núi Himalaya.
[129] Vương triều Gupta tồn tại từ năm 320 tới 550 ở phần lớn Bắc Ấn Độ, Đông Nam Pakistan, một phần của Gujarat và Rajasthan mà ngày nay là Tây Ấn Độ và Bangladesh. Thủ đô của vương triều này ở Pataliputra, ngày nay là Patna, thuộc nhà nước Ấn hóa ở Bihar.