Những Nghịch Lý Của Thời Gian

Lượt đọc: 2613 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi
Về Tác Giả. Thay Lời Tựa. Dẫn Nhập Những Nghịch Lý Của Thời Gian. Phần I: Xã Hội:Chương 1: “Một Ngôi Nhà Cũ Kỹ”. Chương 2 Chương 3 Chương 4 Chương 5 Chương 6 Chương 7 Chương 8 Chương 9 Chương 10 Chương 11 Chương 12 Chương 13 Chương 14 Chương 15 Chương 16 Chương 17 Chương 18 Chương 19 Chương 20 Chương 21 Chương 22 Chương 23 Chương 24 Chương 25 Chương 26 Chương 27 Chương 28 Chương 29 Chương 30 Chương 31 Chương 32 Chương 33 Chương 34 Chương 35 Chương 36 Chương 37 Phần II: Chính Trị:Chương 38: “Chính Trị Cốt Ở Ít Việc”. Chương 39 Chương 40 Chương 41 Chương 42 Chương 43 Chương 44 Chương 45 Chương 46 Chương 47 Chương 48 Chương 49 Chương 50 Chương 51 Chương 52 Chương 53 Chương 54 Chương 55 Chương 56 Chương 57 Chương 58 Chương 59 Chương 60 Chương 61 Chương 62 Chương 63 Chương 64 Chương 65 Chương 66 Chương 67 Chương 68 Chương 69 Chương 70 Chương 71 Chương 72 Chương 73 Chương 74 Chương 75 Chương 76 Chương 77 Phần III: Kinh Tế:Chương 78: Bán Đấu Giá Quyền Sử Dụng Đất. Chương 79 Chương 80 Chương 81 Chương 82 Chương 83 Chương 84 Chương 85 Chương 86 Chương 87 Chương 88 Chương 89 Chương 90 Chương 91 Chương 92 Chương 93 Chương 94 Chương 95 Chương 96 Chương 97 Chương 98 Chương 99 Chương 100 Chương 101 Chương 102 Chương 103 Chương 104 Chương 105 Chương 106 Chương 107 Chương 108 Chương 109 Phần IV: Trả Lời Phỏng Vấn:Phản Biện Đầu Xuân 2007. Trí Thức Sẽ Làm Gì Vào Thời Có Hẳn Một Nghị Quyết Cho Mình?. Chống “Lạm Phát” Văn Bản, Thủ Tục: Cân Đối Giữa Tự Do Và Điều Chỉnh. Tiến Sĩ Nguyễn Sĩ Dũng Và “Thế Giới Ít Ràng Buộc”. Suy Nghĩ Trước Thềm Đại Lễ 1000 Năm Thăng Long:Hà Nội. “Người Tài Không Thiếu, Chỉ Sợ Thiếu Chỗ”. Trả Lời Phỏng Vấn Báo Nhà Báo Và Công Luận. Trả Lời Phỏng Vấn Tuần Báo Sinh Viên Việt Nam.
Tiến »
Chương 50
đôi điều về lý thuyết lập pháp.

❊ ❊ ❊

Lý thuyết lập pháp là hệ thống các quan điểm lý luận về hoạt động lập pháp. Nó bao gồm phương pháp luận để xử lý các hành vi của con người dưới và ngày càng trở nên trầm trọng hơn. Lấy ví dụ như vấn đề tham nhũng, vấn đề đầu tư kém hiệu quả; nạn xe chở quá tải v.v. và v.v..

Dưới đây, xin được trình bày đôi điều về lý thuyết lập pháp. Trước hết, lý thuyết lập pháp cho rằng làm luật thì phải nhắm vào các vấn đề xã hội đang phát sinh. Vấn đề nào quan trọng thì cần được xử lý trước, vấn đề nào ít quan trọng hơn thì xử lý sau. Không nên làm luật theo ý muốn chủ quan vì các vấn đề xã hội và cách thức lý giải các tác động của quy phạm pháp luật. Đây là một lĩnh vực khoa học còn tương đối mới mẻ và chưa được nghiên cứu nhiều ở Việt Nam ta.

“Mọi lý thuyết đều là màu xám…” Từ trước đến nay, không có lý thuyết nói trên, hoạt động lập pháp vẫn cứ diễn ra. Và nhiều vấn đề của đất nước vẫn được giải quyết, kinh tế vẫn phát triển, xã hội vẫn ổn định. Tuy nhiên, việc các văn bản pháp luật phải soạn thảo rất nhiều lần, không ít văn bản chậm đi vào cuộc sống hoặc vừa mới ban hành đã phải sửa đổi cho thấy cách làm hiện nay chưa chắc đã là cách làm hay nhất.

Soạn thảo một văn bản pháp luật thiếu sự dẫn dắt của lý thuyết lập pháp thực chất là làm theo kinh nghiệm hoặc theo phương pháp “thử nghiệm và phạm sai lầm”. Mặc dù, đây là cách làm đã được kiểm nghiệm và trong nhiều trường hợp tỏ ra có ích, hiệu quả của nó thường rất thấp. Những tốn kém rất lớn về thời gian, tiền của và công sức là điều khó lòng tránh khỏi. Đó là chưa nói tới tình trạng các vấn đề của đất nước chậm được xử lý nguồn lực của đất nước có thể bị tiêu tốn vào những việc chưa chắc đã cần thiết nhất. Ngoài ra, các vấn đề đã phát sinh thì sẽ không tự biến mất. Nếu không được xử lý đúng lúc, các chi phí để giải quyết chúng chỉ ngày càng tăng lên gấp bội.

Hai là, chỉ những vấn đề do hành vi “có vấn đề” của con người gây ra mới giải quyết được bằng cách ban hành pháp luật. Trước khi soạn thảo một văn bản pháp luật phải nhận biết những loại hành vi nào (cả của đối tượng điều chỉnh lẫn của quan chức thi hành) đã làm phát sinh vấn đề. Thiếu một công trình nghiên cứu khoa học và nghiêm túc không thể trả lời chính xác câu hỏi nêu trên.

Phương pháp luận để xử lý các vấn đề gồm bốn bước như sau:

1. Nhận biết vấn đề;

2. Lý giải nguyên nhân gây ra vấn đề;

3. Đề ra giải pháp để giải quyết vấn đề (nhắm vào việc loại bỏ các nguyên nhân gây ra vấn đề);

4. Giám sát và đánh giá việc thực hiện.

Ba là, để điều chỉnh những hành vi “có vấn đề” phải lý giải được tại sao con người lại hành động như vậy. Có bảy yếu tố tác động lên hành vi của con người. Điều chỉnh các yếu tố này sẽ trực tiếp tác động đến hành vi của con người. Dưới đây là bảy yếu tố nói trên: pháp luật, cơ hội, năng lực, thông tin, lợi ích, quy trình, niềm tin. Xin được lý giải đôi điều về các yếu tố này:

• Pháp luật: Pháp luật quy định không rõ ràng, hoặc chồng chéo có thể là nguyên nhân của việc làm thế nào cũng được (trong đó có việc “xử thế nào cũng được”) hoặc không biết phải làm thế nào. Như vậy, có nhiều hành vi làm phát sinh các vấn đề xã hội do chính các quy định của hệ thống pháp luật hiện hành gây ra.

• Cơ hội: Không có cơ hội để vi phạm thì không thể vi phạm. Và có cơ hội để gây khó dễ, một số quan chức sẽ tận dụng để nhũng nhiễu. Để điều chỉnh hành vi của con người, chúng ta có thể tạo điều kiện cho các hành vi liên quan có thể xảy ra hoặc làm ngược lại để hạn chế chúng.

• Năng lực: Không có năng lực thì công việc không thể được giải quyết. Nếu năng lực của cán bộ làm địa chính hạn chế thì việc xét cấp sổ đỏ không thể giải quyết nhanh chóng. Nếu nông dân không có năng lực phân tích thị trường, thì luôn luôn tồn tại rủi ro về việc các nông sản không bán được. Nâng cao năng lực sẽ làm cho hành vi mà các nhà lập pháp mong đợi có thể xảy ra.

• Thông tin: Không biết các quy định của pháp luật thì khó

có thể tuân thủ chúng. Biết rẽ sang trái sẽ sập hố ga, thì sẽ không ai rẽ sang đó cả. Thông tin là cách điều chỉnh hành vi hữu hiệu và nhân bản. Nó ít xúc phạm con người.

• Lợi ích: Đánh vào lợi ích thì điều chỉnh được hành vi. (Có lẽ, đây là cách được chúng ta áp dụng nhiều nhất hiện nay. Tuy nhiên, phạt nặng nhiều khi chưa chắc đã giải quyết được vấn đề, đặc biệt là trong điều kiện năng lực của các cơ quan bảo vệ và thực thi pháp luật hạn chế. Phạt nặng trong điều kiện như vậy chỉ khuyến khích việc che dấu vi phạm và làm cho vấn đề trầm trọng thêm).

• Quy trình: Thiếu một quy trình chuẩn, các quyết định có thể được đưa ra theo ý muốn chủ quan của các quan chức. Hậu quả là tham nhũng, tiêu cực sẽ xảy ra. Áp đặt một quy trình là tạo hành lang dẫn dắt hành vi của con người.

• Niềm tin: Lòng tin có thể dẫn dắt hành động của con người. Ví dụ: lòng tin về việc đất đai là của toàn dân nên việc gì có lợi cho đất nước thì cứ thế mà làm có thể dẫn đến sự cứng nhắc trong công tác quy hoạch. Hậu quả là việc đền bù, giải phóng mặt bằng sẽ bị ách tắc. Thay đổi ý thức hệ là điều khó khăn. Tuy nhiên, có thể sử dụng các yếu tố khác để hạn chế những hành vi do lòng tin thôi thúc.

Suy cho cùng, tất cả các hành vi của con người đều chịu tác động của bảy yếu tố nói trên. Trong quá trình nghiên cứu để đề ra chính sách lập pháp và soạn thảo văn bản pháp luật, cần làm rõ yếu tố nào là nguyên nhân chính mới đề ra được những giải pháp thiết thực và hiệu quả.

Cuối cùng, lý thuyết lập pháp không phải là lời giải cho tất cả mọi vấn đề mà chúng ta đang phải đối mặt trong hoạt động lập pháp. Nó chỉ là một công cụ. Tuy nhiên, làm chủ công cụ này là cần thiết để nâng cao chất lượng soạn thảo và thẩm định các văn bản pháp luật.

Nguồn: TVE 4U
Được bạn: Mot Sach đưa lên
vào ngày: 16 tháng 4 năm 2024

« Lùi
Về Tác Giả. Thay Lời Tựa. Dẫn Nhập Những Nghịch Lý Của Thời Gian. Phần I: Xã Hội:Chương 1: “Một Ngôi Nhà Cũ Kỹ”. Chương 2 Chương 3 Chương 4 Chương 5 Chương 6 Chương 7 Chương 8 Chương 9 Chương 10 Chương 11 Chương 12 Chương 13 Chương 14 Chương 15 Chương 16 Chương 17 Chương 18 Chương 19 Chương 20 Chương 21 Chương 22 Chương 23 Chương 24 Chương 25 Chương 26 Chương 27 Chương 28 Chương 29 Chương 30 Chương 31 Chương 32 Chương 33 Chương 34 Chương 35 Chương 36 Chương 37 Phần II: Chính Trị:Chương 38: “Chính Trị Cốt Ở Ít Việc”. Chương 39 Chương 40 Chương 41 Chương 42 Chương 43 Chương 44 Chương 45 Chương 46 Chương 47 Chương 48 Chương 49 Chương 50 Chương 51 Chương 52 Chương 53 Chương 54 Chương 55 Chương 56 Chương 57 Chương 58 Chương 59 Chương 60 Chương 61 Chương 62 Chương 63 Chương 64 Chương 65 Chương 66 Chương 67 Chương 68 Chương 69 Chương 70 Chương 71 Chương 72 Chương 73 Chương 74 Chương 75 Chương 76 Chương 77 Phần III: Kinh Tế:Chương 78: Bán Đấu Giá Quyền Sử Dụng Đất. Chương 79 Chương 80 Chương 81 Chương 82 Chương 83 Chương 84 Chương 85 Chương 86 Chương 87 Chương 88 Chương 89 Chương 90 Chương 91 Chương 92 Chương 93 Chương 94 Chương 95 Chương 96 Chương 97 Chương 98 Chương 99 Chương 100 Chương 101 Chương 102 Chương 103 Chương 104 Chương 105 Chương 106 Chương 107 Chương 108 Chương 109 Phần IV: Trả Lời Phỏng Vấn:Phản Biện Đầu Xuân 2007. Trí Thức Sẽ Làm Gì Vào Thời Có Hẳn Một Nghị Quyết Cho Mình?. Chống “Lạm Phát” Văn Bản, Thủ Tục: Cân Đối Giữa Tự Do Và Điều Chỉnh. Tiến Sĩ Nguyễn Sĩ Dũng Và “Thế Giới Ít Ràng Buộc”. Suy Nghĩ Trước Thềm Đại Lễ 1000 Năm Thăng Long:Hà Nội. “Người Tài Không Thiếu, Chỉ Sợ Thiếu Chỗ”. Trả Lời Phỏng Vấn Báo Nhà Báo Và Công Luận. Trả Lời Phỏng Vấn Tuần Báo Sinh Viên Việt Nam.
Tiến »