Đỗ Ngõa đến Bắc Kinh du lịch. Anh gặp người cạnh phòng là Lục Phi. Đỗ Ngõa là một người đàn ông rất khôi ngô, khỏe mạnh, dai sức, có bộ râu rậm. Anh đeo một cái ba lô to có rất nhiều túi nhỏ, loại ba lô này được sản xuất tại Canada. Đỗ Ngõa đã đi rất nhiều nơi, anh xem bản đồ và đi được rất nhiều nơi ở Trung Quốc. Năm nay anh đã 37 tuổi, những người đàn ông suốt ngày đi như anh cũng không nhiều. Nhưng từ trước tới nay anh chưa từng đến Bắc Kinh, mặc dù anh thường xuyên đi qua đây. Anh lớn lên vào đúng thời kỳ cuối của cuộc Cách mạng văn hóa, phải về lao động ở nông thôn, khi trên đường từ đông bắc trở về thăm thân nhân ở miền Nam anh phải đổi tầu ở Bắc Kinh. Anh đã từng được đứng ở ga Bắc Kinh nhốn nháo để ngắm nhìn bầu trời âm u của Bắc Kinh, nhưng hồi đó ngay cả đến quảng trường Thiên An Môn anh cũng chưa được nhìn thấy. Sau này anh quay về vùng quê bên dòng sông Trường giang và xây dựng gia đình, nhưng anh không muốn có con. Vài năm trước vợ anh nói cô muốn đi Tokyo du học, cô cảm thấy chán ngắt khi cuộc sống mãi mãi không có sự thay đổi nào. Anh nhìn mắt vợ, một ánh mắt hờ hững, anh nghĩ một lúc và cuối cùng cũng đồng ý. Vợ anh sang Nhật rồi dần dần cũng mất tăm tin tức. Anh sống một mình trong căn nhà đó một thời gian khá dài, cuối cùng anh cũng quyết tâm ra đi. Anh đến một nơi rất xa, anh quyết đi khỏi nơi có những mái nhà thấp lè tè, chật chội trong thành phố, anh muốn đi khỏi bầu trời u ám phủ trên những ngôi nhà lè tè đó. Anh đã đi thật và càng đi càng xa. Lúc đầu anh không biết mình nên đi đến đâu, anh chỉ muốn được đi trên đường. Đặc biệt mỗi khi đặt chân đến vùng đất rộng lớn không một bóng người là đầu anh lại xuất hiện nhiều ảo tưởng. Ví dụ khi uống nước anh tưởng tượng từ trong ao sẽ hiện ra một cô gái xinh đẹp, thực tế điều đó sẽ không bao giờ xảy ra. Anh đã đi qua rất nhiều nơi không có người, rất nhiều nơi hoang vắng như Tây Tạng, Nội Mông Cổ và anh cũng đi qua không ít nơi như ở các vùng đông, tây, nam, bắc. Hôm nay anh đến Bắc Kinh, đây là chuyến đi diễn ra sau nhiều năm kể từ ngày anh bắt đầu bước chân lên đường du ngoạn.
Anh nghe nói bên cạnh bãi hoang tàn trong Viên Minh Viên ở Bắc Kinh có một số nghệ sĩ sống lang thang ở đó, anh muốn đến đó tìm họ. Qua rất nhiều người tốt bụng chỉ dẫn, anh đã tìm được nơi cư ngụ của tốp nghệ sĩ lang thang đó, nhưng các nhà nghệ sĩ đó lại không còn sống ở đó nữa. Họ đi đâu nhỉ? Không ai biết cả, chỉ còn lại một vài cô gái từng sống chung với họ trong những căn phòng thấp nhỏ. Trong lúc anh còn đang thập thò, một cô gái trọc đầu bước ra hỏi: “Anh tìm ai?”.
Anh nói, anh muốn tìm các nghệ sĩ lang thang, không biết họ đi đâu rồi?
Cô gái đầu trọc hỏi anh “Anh là ai? Anh cũng là nghệ sĩ ư?"
Anh cười rồi đáp: “Không, tôi chỉ là khách du hành. Tôi muốn tìm họ, họ đi đâu rồi nhỉ?”.
Cô ta nghĩ một lát rồi nói, họ đều biến thành khách lữ hành rồi. Rồi cô nở một nụ cười nghịch ngợm và mời anh vào nhà. Trong phòng bày rất nhiều tranh sơn dầu do chính cô làm người mẫu. Trong tranh, cô là một cô gái rất đáng sợ, tất cả đều đã biến hình và siêu hiện thực. Nhưng giờ đây, tác giả của bức tranh đó đã biến mất. Cô gái ngáp một cái, giờ đang là buổi trưa, không trung tỏa ra một vẻ mệt mỏi uể oải. Anh đoán cô gái chắc chỉ khoảng 20 tuổi. Này anh, ở đây ngủ trưa đã nhé, cô gái chỉ vào chiếc giường trong phòng và nói với anh. Cô lại ngáp một cái và mời anh ở lại ngủ trưa. Anh cảm thấy hơi bất ngờ khi nghe thấy lời mời đó “Không, không” tôi nghỉ thế thôi, tôi đi đây, cảm ơn cô nhé.
Anh bước ra khỏi phòng của cô gái đầu trọc và đi một vòng quanh khu nhà trước đây có các nghệ thuật gia vô công rồi nghề và đàn chó dại sinh sống. Anh không nhìn thấy gì cả, chỉ nhìn thấy bức tranh vẽ chân dung một người do một họa sĩ Đồ Nha nào đó vẽ. Cùng nhau ngủ trưa nhé? Anh nghĩ, cười rồi lắc đầu.
Anh lại đến khu phố cổ của Bắc Kinh, anh rất khoái những ngõ hẻm cũ kĩ của Bắc Kinh, những bức tường cổ rằn rện khiến anh có một cảm giác đau lòng. Ánh nắng mặt trời dường như cứ từng tầng từng tầng xếp lên, từ sáng đến tối, từng đời từng đời chồng lên dày đặc. Anh đến Cựu Vương Phủ gồm Thiêm Vương Phủ, Cựu thuần thân Vương Phủ, Hằng thân Vương Phủ, An thân Vương Phủ… Anh còn đến một số nhà thờ, đến Quốc Tử Giám và Ung Hòa Cung. Sau vài ngày anh đã đi hết một vòng Bắc Kinh, anh rất ghét những kiến trúc mới xây dựng đội trên đầu một “cái mũ” phỏng cổ mà hiện đại. Các kiến trúc đó hoàn toàn là kiến trúc hiện đại nhưng vẫn giữ lại những nét cổ xưa.
Anh quyết định đi xa hơn một chút, đến một nơi nào đó ở ngoại ô thành phố, sau đó sẽ thực hiện kế hoạch đi bộ đến vùng sa mạc Cổ Nhĩ Ban Thông Cổ Đặc (sa mạc lớn thứ hai ở TQ). Hiện giờ đã là tháng 8, thời tiết giữa hạ khiến mọi vật xanh tươi, rậm rạp vô cùng, đâu đâu cũng toát lên một sức sống mãnh liệt. Anh đi dọc theo một con đường khá lớn và ra khỏi thành phố. Con đường hướng lên phía bắc ngày càng rộng, hiện nó đã biến thành công trường, bụi đất bay mù mịt, xe cộ tắc nghẽn, xung quanh các loại xe bóp còi inh ỏi. Đỗ Ngõa phải nheo mắt trong đám bụi bặm đó để bước qua. Một số công nhân trong gió cát ngửa mặt nhìn anh với ánh mắt kì lạ. Con đường lớn đó rất bừa bộn, các xe ô tô thi nhau bóp còi và lao đi một cách gấp gáp. Anh đã đi được khoảng 1 tiếng, chừng 7, 8 cây số gì đó , anh đã cách thành phố khá xa. Anh quay lại nhìn những ngôi nhà cao tầng nằm giữa trung tâm thành phố, chúng giống như những đợt hải triều đang lùi ra phía xa, xung quanh trở nên rộng mênh mông bát ngát. Một số công trường trong tiểu khu vườn hoa chạy dọc theo hai bên đường, tiểu khu này nối liền với tiểu khu khác. Họ đều đang rất bận rộn, chỉ có mình anh đang bước đi trong vội vã hướng về phía không có người, anh nghĩ, không biết mục đích ra đi của mình là gì nhỉ? Anh cũng không biết. Nhưng quá trình là rất quan trọng. Tất cả sự ồn ào dần dần rồi sẽ mất đi, anh nhìn thấy một rừng cây bên đường, trong rừng cây có một nhà hai tầng, đó là một nhà trọ ven đường, anh vội bước vào.
Sảnh lớn rất lạnh, các bức tường được ốp bằng gỗ, anh cảm thấy mình có thể nghỉ ở đây được. Anh đăng ký phòng trọ, bỗng nhiên người phụ nữ trung niên - nhân viên đang đăng kí cho anh nhìn anh và hỏi: "Tôi đọc ở trên báo có tin anh là người đi bộ du lịch phải không? Rất tiếc hôm nay ông chủ không có nhà, nếu không ông chủ sẽ miễn phí cho anh".
Anh cười rồi lắc đầu, nộp tiền đặt cọc rồi đi lên phòng trên tầng hai. Phòng này không có nhà vệ sinh và nhà tắm, nó nằm ở cuối của hành lang, nhưng anh cũng cảm thấy rất hài lòng. Đối với những người lữ hành mệt mỏi, có được chỗ ngủ yên tĩnh là tốt lắm rồi.
Sau khi đ ánh răng rửa mặt thu dọn gọn gàng, anh đứng trước cửa sổ và nhìn ra ngoài, lúc này mọi thứ đều rất yên tĩnh, anh có thể nhìn thấy mặt trời đang lặn ở phía xa thành phố, nó đỏ rực như máu. Anh ngắm nó một lát rồi quyết định đi ngủ. Hôm nay anh cảm thấy tinh thần rất sảng khoái nên nằm mãi mà anh không ngủ được. Đến nửa đêm, tất cả đều đang chìm trong màn đêm, tự nhiên anh nghe thấy một âm thanh rất kỳ lạ. Đó là tiếng động của một vật thể nào đó đang chuyển động, âm thanh đó còn mạnh hơn cả tiếng nước chảy. Cả đêm anh cứ ngủ chập chờn, trong giấc mơ anh lại nghe thấy âm thanh đó. Sáng hôm sau, tỉnh dậy, anh có cảm giác những âm thanh trong giấc mơ đêm qua đã xuyên qua rất nhiều thế kỷ.
Anh xuống nhà ăn sáng, khi ngồi xuống anh nhìn thấy một phụ nữ mặc áo ba lỗ màu đen đang ăn một đĩa thịt nướng. Anh giật mình tự hỏi sao mới sáng ra mà người phụ nữ kia đã ăn một đĩa thịt nướng, cô cũng ngẩng đầu ngó nghiêng tứ phía. Mặt cô hơi xương, người cảm giác hơi lạnh lùng, nhưng rất có sức hút. Cô ăn một cách vui vẻ, xem ra mấy món thịt nướng rất hợp khẩu vị của cô. Cô lại gọi một bát cháo ngô và một đĩa bánh bao. Anh vừa ăn vừa quan sát cô. Họ ăn sáng xong cùng một lúc, sau đó cô rời nhà ăn và đi lên tầng.
Cô leo cầu thang một cách nhanh nhẹn, chân tay rất dẻo. Cô mở cửa phòng mình, phòng cô ngay bên cạnh phòng của anh. Đỗ Ngõa bước nhanh đến và nói: “Xin cô hãy đợi một tí, tôi là hàng xóm của cô...”.
Cô dừng lại hỏi: “Có gì thế?”.
“Tôi muốn hỏi cô trong phòng cô có cái gì mà cả đêm nó cứ kêu thế, cái tiếng động đó rất nhẹ, nhưng lại phát ra liên hồi, nó là cái gì vậy?”
Cô nhìn anh rồi nói: “Vậy mời anh vào xem xem, có cái gì…”. Cô cười, toát ra vẻ thân thiện không lạnh lùng chút nào cả.
Anh bước vào phòng cùng cô, anh sững người. Phòng của cô đúng là một phòng làm việc, khắp nơi đều là đồ khắc nặn bằng đất và bằng gốm. Một máy chế tạo đồ gốm đang quay, bên trên có một cục đất đã quay thành hình.
“Có phải là nó không?”. Cô chỉ vào cái máy đó “Có phải nó phát ra cái âm thanh đó không?”.
Anh nghiêng tai lắng nghe rồi nói: “Không, không phải nó, mà là một tiếng động khác cơ”. Anh quay người lại, tìm kỹ cái nơi phát ra âm thanh đó, bởi vì chỉ có anh mới nhận ra được tiếng động đó. Anh vẫn chưa tìm ra được cái âm thanh toát ra từ căn phòng này. Cuối cùng anh cũng tìm ra nó, trên bệ cửa sổ một pho tượng nửa người giống cô như đúc. “Nó là cái gì thế?”.
“À, nó là chiếc đồng hồ cát. Vật kỉ niệm của bố tôi cho tôi ấy mà. Nó phát ra âm thanh à?”. Gương mặt đẹp của cô tỏ vẻ kinh ngạc lạ lùng. Anh nhìn chiếc đồng hồ cát, những hạt cát mịn chuyển động trong bánh răng cưa giúp cho kim giờ trên mặt đồng hồ có thể chỉ đúng giờ. Anh phát hiện ra rằng cái đồng hồ cát này là một chiếc đồng hồ có sáu vòng cát, âm thanh rất nhẹ, nhưng anh lại nghe thấy rất rõ. Cô không tin liền hỏi: “Anh đúng là nghe thấy tiếng cát chảy thật sao?”.
“Đúng vậy”. Anh bước đến gần chiếc đồng hồ cát, những hạt cát chuyển động một cách chậm rãi, mắt thường không thể nhìn thấy được. Nhưng nếu nhìn một cách kỹ lưỡng vẫn có thể nhìn thấy những hạt cát đang chảy xuống. Sự chuyển động của các hạt cát như thời gian đã qua đi, không ngừng bất cứ giây phút nào, mãi mãi tiến về phía trước.
Cô nhìn anh liền nói: “Tôi không nghe thấy, đúng là tôi không nghe thấy tiếng cát chuyển động thật mà”.
Anh ngẩng đầu hỏi: “Cô tên là gì?”.
“Lục Phi”.
“Tôi là Đỗ Ngõa, cả đêm tôi đều nghe thấy tiếng động này. Chiếc đồng hồ cát nó phát ra tiếng cát chảy, cô nghe xem, có phải đúng là tiếng cát đang chảy không?”. Anh chỉ vào chiếc đồng hồ cát, rất cảm động và nói: “Nhà thơ người Áchentina, Jorge Luis Borges có một bài thơ viết về chiếc đồng hồ cát, trong đó có những vần thơ sau:
Trong hạt cát từng giây từng phút
Tôi cảm nhận được thời gian trong vũ trụ
Trong gương của nó bao hàm lịch sử kí ức
Gạt bỏ dòng sông đầy bí hiểm…
Nỗi niềm đó thôi thúc không nguôi
Hạt cát nhỏ không ngừng tuôn chảy
Cuốn đi tất cả sương khói thời gian
Tôi chỉ là vật phiêu du vô định của thời gian
Mỏng manh yếu đuối không thể cứu.
Anh chìa tay ra và nói: “ T ôi là khách đi du lịch bộ, cô là nhà điêu khắc tượng đúng không?"
Cô đáp: “Sau khi tôi tốt nghiệp khoa điêu khắc học viện mỹ thuật, tôi làm giáo viên một thời gian, sau đó xin nghỉ và tôi đến đây đã được mấy tháng rồi. Tôi thích ở đây”. Cô dừng lại “Tôi không nghe thấy tiếng cát chảy trong đồng hồ, thế anh đã đi được những đâu rồi?”.
“Rất nhiều nơi rồi. Đông, tây, nam, bắc tôi đã đi rất nhiều nơi rồi. Tôi cho cô xem một số ảnh nhé”. Đỗ Ngõa cảm thấy khá hưng phấn nhưng anh cũng thấy lo lo, chiếc đồng hồ cát và cô gái Lục Phi đã khiến anh lo lắng bất an. Anh đi về phòng lấy mấy chiếc ảnh và quyển sổ nhật ký của mình. Đắn đo một lúc anh lại lấy mấy bài báo viết về mình ra. Họ ngồi bên mấy bức tượng kỳ dị, cô giở từng tấm ảnh và đọc lời anh viết thuyết minh. Anh giảng giải cho cô, bên tai anh vẫn văng vẳng tiếng cát chảy. Âm thanh đó giống như dòng nước chảy.
“Anh đi được nhiều nơi thật, anh bắt đầu đi bộ du lịch từ khi nào vậy?”. Cô hỏi.
“5 năm trước”.
“Mỗi lần đến nơi không người, anh có suy nghĩ gì? Anh đi du lịch kiểu này để làm gì?"
“Tôi không biết, tôi chỉ muốn không ngừng được bước, có thời gian là tôi lại bước đi trên đường”.
“Có lẽ anh thích đi khắp đất nước, anh là người thích gần gũi với đất trời?”.
Anh nhìn cô và nói: “Tôi không biết”. Anh ngước mắt nhìn những bức tượng trong phòng, những bức tượng như đang sống. Anh chỉ vào chúng và nói: “Tôi thích các tác phẩm của cô vì chúng đều biến dạng rồi”.
Cô cảm thấy hơi lạ, cô có cảm giác anh là một người rất đặc biệt, nhưng tại sao anh lại cứ thích đi một mình trên đường dài nhỉ?
“Tôi không nhìn thấy những hạt cát đó chuyển động”. Anh lại nhìn chiếc đồng hồ cát và nói: “Những âm thanh chuyển động của những hạt cát đó rất to”. Anh thấy hơi băn khoăn: “Gống như tôi không nhìn thấy thời gian trôi đi, nhưng thời gian vẫn cứ trôi đi rất nhanh”.
Cô cũng nhìn chiếc đồng hồ cát, một lúc sau liền nói: “Tôi có thể nhìn thấy cát trong đó đang chảy, anh nhìn này, một hạt, hai hạt, rất nhiều hạt đang chảy. Nhưng tôi không nghe thấy những âm thanh phát ra từ nó, tôi lại hoàn toàn ngược lại với anh”.
Anh cười và bước đến bên cửa sổ, thời tiết hôm nay đẹp thật, hình như hôm qua có gió to nên hôm nay bụi bặm và mây đã tan hết, anh có thể nhìn thấy những ngọn núi sừng sững đằng xa.
“Tôi phải đi đến những ngọn núi đó, tôi vừa đi vừa ngắm núi”. Anh nói xong, ánh mắt sáng rực lên, chỉ cần được đi bộ là anh như được tiếp thêm sức lực. “Bây giờ tôi phải đi thôi, tối gặp lại nhé”. Nói rồi anh đi ra ngoài.
Trời nhập nhoạng tối, Đỗ Ngõa trở về, họ lại gặp nhau ở nhà ăn. Cô chào anh và hỏi: “Anh ăn gì?”.
“Thịt bò, tôi muốn ăn món thịt bò xào với ớt”. Anh nói rồi tiến tới ngồi đối diện với cô.
“Trên người anh có mùi cỏ, rất thơm, anh đến ngọn núi đó rồi chứ?”.
“Không, tôi mới chỉ đến chân ngọn núi đó thôi”.
“Thế anh nhìn thấy những gì?”.
“Chẳng nhìn thấy gì cả”. Anh thản nhiên đáp, thực ra cảnh ở đó đều giống nhau cả. Thức ăn đã mang lên, anh bắt đầu ăn.
“Tôi đã đọc xong quyển nhật ký của anh rồi”. Cô chống tay vào cằm và nói: “Anh viết hay hơn cả nhà văn chuyên nghiệp”. Mắt cô sáng lên và hỏi anh “Anh có định cho xuất bản không?”.
“Có” Anh nói. Thịt bò nấu rất thơm nên anh ăn rất nhanh như gió cuốn mây tàn. Anh nói: “Tôi phải gọi thêm một món canh nữa. Anh phục vụ ơi! Cho thêm món nữa nhé!"
“Anh Đỗ Ngõa”, cô nhìn anh ngập ngừng rồi nói: “Tôi nghĩ anh cũng nên đi bước nữa đi, chứ đừng đi mãi như thế nữa”.
Anh ngẩng đầu, trên mép còn nguyên một vệt dầu, “đó cũng là một ý kiến hay đó… nhưng tôi không thể dừng lại được, tôi phải đến được sa mạc Cổ Nhĩ Ban Thông Đặc”.
“Sa mạc Cổ Nhĩ Ban Thông Đặc là sa mạc gì vậy?”.
Đó là một sa mạc ở Tân Cương.
Cô nhìn anh, nhìn rất lâu và nói: “Tự nhiên tôi có một cảm giác”.
“Cảm giác gì vậy?”.
“Anh sẽ chết”.
Anh nói: “Không chết được, tôi đã chuẩn bị kỹ lắm rồi, cô là phù thủy à?”.
“Không, bởi vì anh có thể nghe thấy âm thanh của chiếc đồng hồ cát”.
Anh cười, “đúng vậy, rất lạ bây giờ đi đến đâu tôi cũng đều nghe thấy tiếng cát chảy. Vừa nãy tôi đi ra ngoài cũng nghe thấy tiếng cát chảy trong đồng hồ của cô, lạ thật”.
“Anh sợ chết không?" Cô nhìn anh bằng ánh mắt sâu thẳm.
“Không, không sợ”.
Anh có cảm giác anh và cô đã gần nhau hơn vì cô đã xem xong cuốn nhật ký của anh. “Thôi lần này anh đừng đi nữa”. Cô nói với vẻ lo lắng.
“Lục Phi, cảm ơn em”. Anh lắc đầu nói: “Anh chỉ là một hạt cát nhỏ bé trong chiếc đồng hồ cát đó”.
Họ về phòng, đột nhiên hành lang bốc cháy, trong chốc lát điện đã được ngắt, xung quanh tối om như rơi vào vực thẳm. Anh nghe thấy một âm thanh phát ra nhè nhẹ, một cánh tay giơ ra, đó là tay của cô, nó giống như ngọc khí băng lạnh, anh nắm lấy tay cô. Hai người liền bước vào phòng, cô đốt nến thắp sáng khắp phòng.Bốn ngọn nến được đặt giữa các bức tượng khiến cho cả căn phòng sáng hẳn lên, bóng các bức tượng lung linh trên tường. Đó là những linh hồn kì dị, chúng đang nói chuyện với nhau trong ánh nến. Cô mang chiếc đồng hồ cát đặt ở giữa hai người. Anh đỡ lấy nó, có cảm giác hơi nặng, nặng giống như thời gian vậy. Anh nói anh thích chiếc đồng hồ cát này.
Hai người ngồi xuống cùng nhìn nhau, họ đều nghe thấy tiếng cát chảy nhanh. “Em một mình đến đây khắc tượng à? Cảm giác thế nào?”.
“Em và anh cùng là một kiểu người”. Cô nói: “Đỗ Ngõa à, bao giờ anh đi?”.
“Đi đâu?”.
“Đến nơi anh nói đấy, sa mạc ở miền Tây ấy”.
“Anh phải nghỉ ngơi một ngày nữa, sau đó đi về phía tây”.
“Thế sau đó?”.
“Sau đó, anh cũng không biết nữa”. Đỗ Ngõa có vẻ hơi buồn, “Anh không biết, có lẽ anh sẽ đi đến nơi khác, anh phải đi tiếp thôi”.
“Không có mục đích, không cần kết quả à?”.
Anh nhìn cô rồi nói: “Cái đồng hồ cát này nặng quá”. Anh liền bỏ nó xuống.
Các pho tượng trong phòng cũng tỏ ra trầm ngâm. Đây là một nhóm các bức tượng biết lắng nghe. Cô đứng dậy, đi đến bên anh và ôm lấy đầu anh. Anh gục đầu vào ngực cô, anh ngửi thấy mùi đất cao lanh. Rồi anh đứng dậy ôm lấy cô, cô chìa môi rất gợi tình, anh cảm thấy vô cùng đê mê và hầu như chẳng biết gì trời đất nữa. Đây đúng là sự gợi tình tương ngộ, anh biết cô đã yêu anh giống như yêu một pho tượng vậy. Cô có thể tự nặn ra được một pho tượng trong cả đống tượng ở trong phòng, các nhà điêu khắc khác đã ra đi không nói lời từ biệt, họ để tất cả các pho tượng ở lại và quy đinh rõ thời gian khôi phục lại từng chiếc. Giờ đang là thời gian cô phải khôi phục lại chúng, cô rất vui khi anh đến, cô đợi anh rất lâu. Khi ôm hôn, cô thở ra mùi đất cao lanh, anh muốn được hít vào toàn bộ cái mùi đó. Màn đêm buông xuống, trời tối đen như mực nhưng anh vẫn nghe thấy âm thanh của chiếc đồng hồ cát, nó làm việc không mệt mỏi, giống như hết nụ hôn này lại đến nụ hôn khác, hoặc có thể nói nụ hôn giống như cát chảy. Anh có cảm giác đôi môi cô rất lạnh, nhưng lưỡi thì hơi nóng, cô hơi gầy, điều đó càng chứng minh được trước đây cô là một pho tượng. Các đường cong trên cơ thể cô rất hấp dẫn, eo rất nhỏ, tóc cô tỏa ra một mùi hoa dại khiến anh không cảm nhận được đầu bên kia của sự gợi tình.
Tự nhiên đèn bật sáng, các bóng của các bức tượng cũng nhanh chóng trở về vị trí của mình. Tự nhiên lúc này trời sáng như ban ngày, anh thấy hơi bất ngờ, anh buông cô ra và hôn lên cô một nụ hôn. “Chúc em ngủ ngon nhé!”. Rồi anh rời khỏi phòng cô và đi về phòng.
Đêm đó anh ngủ rất ngon, anh không nghe thấy tiếng đồng hồ cát nữa. Khi tỉnh dậy anh phát hiện đã giữa trưa, anh có cảm giác hơi sợ. Anh xuống nhà ăn, người vẫn chưa đông, anh lại nhìn thấy cô, một cô gái cứ đến đêm là bức tượng nhưng ban ngày lại biến thành một cô gái xinh đẹp. Cô mỉm cười với anh, nụ cười toát ra một tình yêu sâu thẳm. Anh ngồi đối diện cô và nói: “Ngày mai anh rời khỏi nơi đây để đi về phía tây”.
Cô hồi hộp liền hỏi: “Anh đã nghỉ khỏe chưa?”.
“Cũng tạm rồi. Tối qua anh ngủ ngon quá, không hề nghe thấy tiếng đồng hồ cát chảy, đến tận trưa anh mới tỉnh.”
Cô cúi đầu, ăn một chiếc bánh và hỏi: “ Anh đi thật à?”.
“Đi thật”.
“Có lẽ chúng ta sẽ khó gặp lại nhau nữa rồi”. Cô cảm thấy hơi buồn.
“Không đâu”, anh giơ tay nắm chặt tay cô và nói: “Chúng ta vẫn có thể gặp lại vào một thời gian nào đó, trong chiếc đồng hồ cát chúng ta là hai hạt cát nhỏ bé”.
“Thật thế sao?”. Mắt cô mờ đi. Anh không nói nữa mà ăn nhanh hơn. Họ trầm tư, một nỗi buồn đang xâm chiếm hồn cô. Tương ngộ là lưỡng nan, cô nghĩ và họ không nói với nhau nữa. Ăn xong, họ lên phòng, ở hành lang cô nói với anh:
“Em sẽ nặn cho anh một bức tượng”. Tiếng cô nặng trịch như cột vào một vật nặng.
“Ừ”. Anh nói.
Anh vào phòng cô ngồi, cô bắt đầu nặn tượng cho anh, hai người không nói với nhau một lời. Trên tay cô, chiếc máy nặn cứ quay tròn, tay bên kia đang dần nặn thành hình. Quá trình này diễn ra trong khoảng vài tiếng đồng hồ. Anh cũng có cảm giác như đã yêu cô nhưng anh không nói. Chúng ta đều là hai hạt cát gặp nhau trong chiếc đồng hồ cát, anh nghĩ. Một lúc sau, bức tượng của anh đã được nặn xong.
Đây đúng là anh rồi, trong chốc lát vẻ mặt anh đã được cô đặc lại, anh có bộ râu rậm, cơ thể rắn chắc, đôi mắt sâu như mây trắng có thể nhìn xuyên suốt được thời gian. Anh nhìn thấy bức tượng đã được nặn ra giống mình, anh thấy hơi cảm động, rồi anh đứng lên và đi về phía trước, ôm lấy cô. Hai tay cô vẫn đang cầm đất, nhưng nó không thể ngăn được họ ôm nhau, lúc này họ giống như những người sắp phải chia tay nhau. Cả hai đều cảm thấy vô cùng đau khổ vì lần gặp nhau này.
“Đỗ Ngõa, em cần anh! Em cần anh mà…”. Tự nhiên cô không thể kìm nén được tình cảm của mình, cô mong muốn có một dòng điện chạy qua giữa cơ thể của hai người. Đỗ Ngõa cảm thấy thể xác mình như có một ngọn cờ bay lên, một ngọn cờ có máu. Họ ôm nhau và quay trong phòng rồi va vào một số bức tượng, nhưng anh đã kiềm nén lòng mình, cuối cùng quyết định mình vẫn là một du khách xa...
Anh đẩy cô ra, cô run lên, đó là nỗi lo sợ và cuộc chiến đối với tình yêu và cái đẹp, “không, anh phải đi đây”. Anh cúi đầu nghĩ một lát rồi bước ra khỏi phòng cô.
Đêm hôm đó anh vẫn nghe thấy âm thanh của chiếc đồng hồ cát, từng hạt từng hạt chảy không ngừng. Sáng sớm hôm sau, trời vẫn chưa sáng hẳn anh đã tỉnh và chuẩn bị lên đường.
Chín ngày sau, như được đền đáp, một mình anh đã tới được sa mạc ở phía bắc của Tân Cương. Anh đi một mình giữa lòng trời đất, lòng vẫn nhớ đến chiếc đồng hồ cát, tên của cô đã khắc sâu trong lòng anh. Đi được một ngày anh nghỉ một lúc, đến ngày thứ hai tiếp tục cuộc hành trình. Gió thổi, gió cát rất to, mặt trời không ủng hộ anh chút nào, nó như vật thể có chất độc đang tuôn trào. Anh phải uống nước liên tục, giống như cơ thể anh là sa mạc vậy. Bảy tiếng sau anh đã hết sạch không còn nước uống. Nhưng anh vẫn chẳng thấy điểm cuối của bãi sa mạc đâu cả, anh đúng là một hạt cát trong bãi sa mạc. Đầu đau nên anh phải quỳ xuống và nằm xuống đầu hướng về phía đông, anh nghĩ có lẽ mình không thể đi tiếp được nữa rồi vì không còn nước nữa. Anh dùng túi ngủ quấn quanh người, anh hy vọng sẽ chống cự được buổi chiều nóng khủng khiếp, hy vọng đến đêm nhiệt độ sẽ hạ xuống, dù hết nước anh vẫn có thể đi tiếp được.
Nhưng không được, mặt trời đúng là rất độc, nó hong cạn từng giọt nước trong cơ thể anh, anh có cảm giác mình như nặng lên, rồi nhẹ đi, sau đó bay cao. “Lục Phi, Lục Phi”, anh lẩm bẩm gọi tên cô. Khi mặt trời lặn, cát đã mang đi một nửa linh hồn của anh. Anh đúng là đã biến thành một hạt cát, bị gió thổi bay vào trong đám sa mạc màu vàng đó và biến mất.
Cô bị một tiếng động làm choàng tỉnh, mở mắt, bây giờ vẫn là đêm, cô phát hiện chiếc đồng hồ cát kia tự nhiên dừng quay, tất cả các bức tượng trong phòng không hiểu do tác động của cái gì mà vỡ tan từng mảnh. Cô giật mình đứng đờ người ra. Chiếc đồng hồ cát ngừng quay, tất cả các bức tượng trong phòng đều vỡ tan, trong phòng chỗ nào cũng có các mảnh vụn rơi vỡ. Cô sợ run người, cô đang gặp phải một chuyện mà từ trước tới nay chưa bao giờ gặp phải. Cô nghĩ, liệu bây giờ Đỗ Ngõa ở đâu nhỉ? Anh chết rồi chăng? Một linh cảm không lành ập đến bên cô, thời gian dường như đang dừng lại. Cô gọi nhẹ tên anh: “Đỗ Ngõa, Đỗ Ngõa”, cô khóc, cô bò xuống dưới đất đi nhặt những mảnh vỡ của các bức tượng, cô không có cách nào có thể ghép được các mảnh vụn đó với nhau, cuối cùng cô đành dừng lại và nhìn chúng bằng ánh mắt tuyệt vọng.
Chiếc đồng hồ cát đang ở trong dòng cát chảy của thời gian, tất cả đều sẽ bị chôn vùi. Nhưng sức mạnh của sự tương ngộ là vĩnh hằng, là sự gặp nhau trong khoảnh khắc ngắn ngủi. Cô khóc, cô có cảm giác mình cũng như một hạt cát bé nhỏ nằm trong chiếc đồng hồ cát đó.
Một người lữ hành Lục Phi khác quyết định ngày mai sẽ tiếp tục đi về phía nam du lịch.